Mục tiêu hoạt động của SERV-5 là cung cấp trợ giúp kỹ thuật cho Việt Nam trong việc thiết lập một hệ thống thống kê thương mại quốc tế về dịch vụ dựa trên các chuẩn mực quốc tế, phù hợp
Trang 1
BÁO CÁO KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
“HỖ TRỢ THIẾT LẬP HỆ THỐNG THỐNG KÊ THƯƠNG MẠI
QUỐC TẾ VỀ DỊCH VỤ – SERV- 5”
Thực hiện chính
Bà Trần Thị Hằng Trưởng nhóm chuyên gia trong nước - Tổng cục Thống kê
Ông Julian Arkel và Dietrich Barth Chuyên gia EU Dự án MUTRAP
Tham gia
Bà Nguyễn Thị Liên, Bà Lê Thị Minh Thủy, Ông Nguyễn Bích Lâm,
Bà Nguyễn Thị Hồng, Ông Lê Hoàng Lân, Bà Nguyễn Thị Mơ, Ông Dương Duy Hưng
Tháng 5 năm 2007
BỘ KẾ HOẠCH VÀ ĐẦU TƯ
TỔNG CỤC THỐNG KÊ
DỰ ÁN HỖ TRỢ THƯƠNG MẠI ĐA BIÊN
(MUTRAP II)
Trang 2LỜI CẢM ƠN
Báo cáo này được thực hiện trong khuôn khổ hợp phần “Hỗ trợ thiết lập hệ thống thống kê
thương mại quốc tế về dịch vụ của Việt Nam” với mã số SERV-5 của Dự án “Hỗ trợ
Thương mại Đa biên giai đoạn II” (Mutrap II) giai đoạn 2005 – 2008 do Bộ Thương mại thực hiện với sự tài trợ của Uỷ ban Châu Âu
Mục tiêu hoạt động của SERV-5 là cung cấp trợ giúp kỹ thuật cho Việt Nam trong việc thiết
lập một hệ thống thống kê thương mại quốc tế về dịch vụ dựa trên các chuẩn mực quốc tế, phù hợp với điều kiện thực tế của Việt Nam cũng như đáp ứng được các đòi hỏi về số liệu của nhiều đối tượng sử dụng trong nước và quốc tế Kết quả quan trọng phải đạt được từ hoạt động
này là “kiến nghị một hệ thống thống kê thương mại dịch vụ của Việt Nam với nội dung và
cơ chế thực hiện có hiệu quả”
Hợp phần SERV-5 được phối hợp thực hiện bởi các chuyên gia trong nước thuộc Tổng cục Thống kê, Ngân hàng Nhà nước, Bộ Thương mại, Trường Đại học Ngoại thương, Tổng công
ty hàng hải và các chuyên gia EU Do nội dung nghiên cứu được chia thành hai giai đoạn khác nhau nên sự tham gia của các chuyên gia cũng khác nhau cho từng giai đoạn:
Giai đoạn I: Quý IV/2005 - Quý II/2006 do nhóm chuyên gia trong nước gồm Bà Trần Thị Hằng, Bà Nguyễn Thị Liên, Bà Lê Thị Minh Thủy, Ông Nguyễn Bích Lâm, Ông Lê Hoàng Lân (Tổng cục Thống kê), Bà Nguyễn Thị Hồng (Ngân hàng Nhà nước), Ông Dương Duy Hưng (Bộ Thương mại), Bà Nguyễn Thị Mơ (Trường Đại học Ngoại thương), Ông Bùi Hữu Ánh (Tổng công Ty Hàng Hải) phối hợp với các chuyên gia EU gồm Tiến
sỹ Dietrich Barth và Ông Julian Arkell thực hiện;
Giai đoạn II: Quý III/2006 - Quý I/2007 do nhóm chuyên gia của Tổng cục Thống kê và Ngân hàng Nhà nước thực hiện với sự phối hợp của Ông Julian Arkell
Nhóm nghiên cứu xin chân thành cám ơn Tiến sỹ Lê Mạnh Hùng, Tổng cục trưởng Tổng cục Thống kê; Tiến sỹ Maria Cristina Hernandez, Cố vấn kỹ thuật cao cấp của Dự án VIE/02/09 UNDP-MPI; Ông Hans Farhammer, Bí thư thứ nhất Phái đoàn EC tại Việt Nam; Bà Trần Thị Thu Hằng, Giám đốc Dự án MUTRAP; Tiến sỹ Peter Naray, Cố vấn trưởng Dự án MUTRAP; Ban đặc trách Dự án MUTRAP; Ông Lê Việt Đức, Phó vụ trưởng Vụ Tổng hợp Kinh tế quốc dân, Bộ Kế hoạch và Đầu tư về sự quan tâm, hỗ trợ quan trọng, thiết thực, hiệu quả, và các ý kiến đóng góp trong quá trình nghiên cứu và chuẩn bị báo cáo
Xin chân thành cảm ơn sự hợp tác tích cực của các cơ quan có liên quan như Cục Đầu tư nước ngoài(Bộ Kế hoạch và Đầu tư), Cục Quản lý lao động ngoài nước (Bộ Lao động TB và XH),
Vụ Thương mại, Dịch vụ và Giá cả, Vụ Tài khoản quốc gia, Vụ Công nghiệp và Xây dựng, Vụ Phương pháp Chế độ, Vụ Hợp tác Quốc tế của Tổng cục Thống kê, Cục Thống kê Hà Nội trong các buổi làm việc và các hoạt động nghiên cứu của nhóm chuyên gia
Trân trọng
Trang 3NỘI DUNG
TÓM TẮT
PHẦN I: THỰC TRẠNG VÀ NHU CẦU XÂY DỰNG HỆ THÔNG THỐNG KÊ THƯƠNG MẠI
QUỐC TẾ VỀ DỊCH VỤ Ở VIỆT NAM
Chương 1: Hoạt động dịch vụ trên thế giới và ở Việt Nam
1.1 Thương mại dịch vụ quốc tế
1.2 Chính sách phát triển dịch vụ của Việt Nam
1.3 Thực trạng hoạt động dịch vụ và các doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực dịch vụ ở Việt Nam
9 9 9 10 Chương 2: Các chuẩn mực quốc tế về thống kê thương mại quốc tế trong lĩnh vực dịch vụ 2.1 Cẩm nang thống kê thương mại quốc tế về dịch vụ………… ………
2.2 Giới thiệu các danh mục quốc tế………
2.3 Những sửa đổi cơ bản về chuẩn mực quốc tế thời gian tới
13 15 17 Chương 3: Khuôn khổ thống kê …
3.1 Những khó khăn của việc thiết lập hệ thống thống kê TMQT về dịch vụ…
3.2 Thực trạng thống kê thương mại quốc tế về dịch vụ ở Việt Nam
3.3 So sánh với các chuẩn mực quốc tế và khu vực
3.4 Nhu cầu về một khuôn khổ thống kê
19 19 19 21 23 PHẦN II: KHUYẾN NGHỊ VỀ HỆ THỐNG THỐNG KÊ TMQT VỀ DỊCH VỤ Ở VIỆT NAM………
Chương 4: Khuyến nghị về hệ thống báo cáo thống kê……… ………
4.1 Thu thập số liệu XNK dịch vụ trong điều tra doanh nghiệp hàng năm
4.2 Sửa đổi, bổ sung chế độ báo cáo/điều tra doanh nghiệp tháng, qúy
4.3 Khai thác số liệu hiện có và hoàn thiện thống kê FDI để tách riêng bộ dữ liệu về FATS
4.4 Tăng cường sự phối hợp Bộ/ngành để khai thác nguồn số liệu từ hệ thống ghi chép hành chính
4.5 Cần nghiên cứu và sớm thực hiện một cuộc điều tra chuẩn về thương mại dịch vụ quốc tế ……… ………
4.6 Phân bổ số liệu EBOPS theo 4 phương thức cung cấp dịch vụ
4.7 Thiết lập cơ sở dữ liệu siêu văn bản và thực hiện từng bước việc công bố số liệu thương mại dịch vụ
4.8 Nghiên cứu và phát triển phương pháp ước tính dựa trên các nguồn số liệu khác nhau
Chương 5: Khuyến nghị về danh mục dịch vụ trong thương mại quốc tế về dịch vụ đáp ứng
26
27
28
44
45
45
46
47
48
Trang 4yêu cầu điều tra và báo cáo thống kê……… ……… 49
PHẦN III: MỘT SỐ KẾT QUẢ CHỦ YẾU CỦA VIỆC ÁP DỤNG KHUYẾN NGHỊ XÂY DỰNG HỆ THỐNG THỐNG KÊ MỚI Ở VIỆT NAM Chương 6: Dự thảo Danh mục dịch vụ trong TMQT của Việt Nam………… ………
Chương 7: Điều tra chọn mẫu chi phí bảo hiểm và vận tải hàng nhập khẩu năm 2005
7.1 Xây dựng phương án điều tra và thiết kế phiếu điều tra
7.2 Tổng hợp số liệu
7.3 Xử lý kết quả điều tra
7.4 Đánh giá chung
Chương 8: Điều tra doanh nghiệp hàng năm và việc bổ sung chỉ tiêu XNK dịch vụ
Chương 9: Điều tra chi tiêu khách du lịch quốc tế đến Việt Nam……
Chương 10: Sử dụng các nguồn số liệu hiện có cho việc tổng hợp và công bố số liệu thống kê xuất nhập khẩu dịch vụ năm 2006
52 54 56 57 57 57 59 62 63 PHẦN IV: NHỮNG VẤN ĐỀ CẦN ƯU TIÊN THỰC HIỆN VÀ NHU CẦU TRỢ GIÚP KỸ THUẬT……… ………
Chương 11: Những vấn đề cần ưu tiên thực hiện 65
Chương 12: Nhu cầu hỗ trợ và trợ giúp kỹ thuật… 68
KẾT LUẬN 70
PHỤ LỤC
Phụ lục 1: Tài liệu tham khảo 72
Phụ lục 2: Dự thảo Danh mục dịch vụ trong TMQT của Việt Nam, các bảng mã số tương thích……… ……… 73
Phụ lục 3: Điều tra chọn mẫu chi phí vận tải, bảo hiểm hàng nhập khẩu 2005 1035
Phụ lục 4: Số liệu thống kê FATS luồng vào tổng hợp từ kết quả Điều tra doanh nghiệp 107
Trang 5DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
BPM5 Cẩm nang Cán cân thanh toán của IMF - Tái bản lần thứ 5
CPC 1.0 Danh mục sản phẩm trung tâm, phiên bản 1.0
EBOPS Danh mục dịch vụ mở rộng trong cán cân thanh toán
EUROSTAT Ủy ban thống kê của Liên minh châu Âu
FATS Thống kê thương mại dịch vụ của các công ty con, chi nhánh nước ngoài
FISIM Dịch vụ trung gian tài chính được tính phí gián tiếp
GATS Hiệp định chung về thương mại dịch vụ
ISIC Phân loại chuẩn quốc tế các hoạt động kinh tế
OECD Tổ chức phát triển và hợp tác
PCPC Danh mục sản phẩm trung tâm, ban hành tạm thời
UNCTAD Hội nghị về thương mại và phát triển của Liên hợp quốc
BD 3 Định nghĩa chuẩn về đầu tư trực tiếp nước ngoài
Trang 6TÓM TẮT
Giới thiệu chung
Hoạt động “Hỗ trợ thiết lập hệ thống thống kê thương mại quốc tế về dịch vụ của Việt Nam - SERV-5” là một trong nhiều hoạt động được thực hiện trong khuôn khổ Dự án Hỗ trợ Thương mại Đa biên” giai đoạn II (Mutrap II) thực hiện từ năm 2005 đến 2008 Đây là dự án được phối hợp thực hiện và tài trợ bởi Cộng đồng Châu Âu và Bộ Thương mại Việt Nam nhằm trợ giúp cho Việt Nam trong quá trình đàm phán gia nhập Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO) cũng như tham gia vào các hiệp định thương mại khu vực, hiệp định thương mại song phương
Mục đích nghiên cứu của SERV-5 là cung cấp trợ giúp kỹ thuật cho Việt Nam trong việc thiết lập một hệ thống thống kê thương mại quốc tế về dịch vụ dựa trên các chuẩn mực quốc tế, phù hợp với điều kiện thực tế của Việt Nam, đáp ứng các đòi hỏi về số liệu của các đối tượng sử
dụng của Việt Nam Một trong những kết quả quan trọng đòi hỏi phải đạt được là “kiến nghị
một hệ thông thống kê thương mại dịch vụ của Việt Nam với nội dung và cơ chế thực hiện có hiệu quả”
Năm 2004, Bộ Kế hoạch và Đầu tư (MPI), Tổng cục Thống kê (GSO) đã thực hiện một nghiên cứu nhỏ trong khuôn khổ trợ giúp kỹ thuật của UNDP nhằm đánh giá thực trạng hệ thống thống
kê thương mại dịch vụ của Việt Nam1 Kết quả của nghiên cứu này rất quan trọng cho việc xác định các công việc cần thực hiện cả ở cấp trung ương và địa phương nhằm đáp ứng yêu cầu số liệu ngày càng tăng của nhiều đối tượng sử dụng Trên cơ sở đó, yêu cầu thực hiện của SERV-5 đòi hỏi các khuyến nghị được đưa ra phải dựa trên 5 khuyến nghị cơ bản được nêu trong dự án UNDP-MPI-GSO đã thực hiện liên quan đến danh mục thống kê, phương pháp luận và tổ chức
hệ thống thống kê
Nội dung
Trong phần I, Báo cáo này đề cập thực trạng và nhu cầu xây dựng một hệ thống thống kê thương mại quốc tế về dịch vụ của Việt Nam, bao gồm các nội dung liên quan đến vai trò của khu vực dịch vụ trong nền kinh tế thế giới cũng như Việt Nam, các chuẩn mực quốc tế về thống
kê lĩnh vực này, thực trạng hệ thống thống kê thương mại quốc tế về dịch vụ của Việt Nam, từ
đó đưa ra nhu cầu cho việc xây dựng một khuôn khổ thống kê
Phần II của Báo cáo thể hiện nội dung quan trọng nhất của hoạt động SERV-5 - các khuyến nghị về việc xây dựng hệ thống thống kê thương mại quốc tế về dịch vụ theo các chuẩn mực về phương pháp luận, tổ chức luồng thông tin, phát triển điều tra thống kê, danh mục, các vấn đề quan trọng khác của hoạt động thống kê thương mại quốc tế về dịch vụ Các khuyến nghị về tổng thể và chi tiết cho từng lĩnh vực dịch vụ xuất phát từ những đặc thù của từng lĩnh vực trong
đó đề cập sự cần thiết phải tiến hành một cuộc điều tra chuẩn mực, chi tiết về thương mại dịch
vụ quốc tế, các cuộc điều tra chuyên đề riêng cho 6 lĩnh vực dịch vụ ưu tiên Trên cơ sở đó mới
có thể đánh giá được hoạt động này trong mối quan hệ với các nước đối tác, hoạt động của các chi nhánh, công ty con nước ngoài về dịch vụ Các lĩnh vực dịch vụ ưu tiên theo định hướng của Chính phủ gồm: vận tải biển, vận tải hàng không, du lịch, bưu chính viễn thông, bảo hiểm và tài chính ngân hàng
Nghiên cứu, trao đổi giữa Chuyên gia EU và Chuyên gia trong nước thuộc Tổng cục Thống kê, các Bộ/ngành, Cục Thống kê đã chỉ ra sự cần thiết phải xây dựng hệ thống thống kê với hướng dẫn cụ thể về phương pháp luận, phù hợp với chuẩn mực quốc tế và điều kiện cụ thể của Việt
bối cảnh hội nhập, Báo cáo về thống kê thương mại dịch vụ của Việt Nam, Hanoi, tháng 12/2004
Trang 7Nam cũng như tổ chức hệ thống trên cơ sở phối hợp chặt chẽ giữa cơ quan thống kê nhà nước, các Bộ/ngành, doanh nghiệp
Cần đặt ra mục tiêu tổng hợp được số liệu thống kê xuất nhập khẩu dịch vụ theo 11 ngành của BPM5 trong 3 năm tới đây và phân tổ số liệu này theo các nước bạn hàng chủ yếu trong 2 năm tiếp theo và sớm thực hiện cơ chế cập nhật thường xuyên, phối hợp hiệu quả, chặt chẽ các nguồn thông tin từ đăng ký doanh nghiệp (Bộ Kế hoạch và Đầu tư), thuế (Bộ Tài chính) và thông tin từ các cuộc điều tra doanh nghiệp của Tổng cục Thống kê để có được bộ cơ sở dữ liệu phản ánh sát nhất về hoạt động của các doanh nghiệp trên cơ sở phân ngành mới về các hoạt động kinh tế của Việt Nam (VSIC 2007)
Trên cơ sở các khuyến nghị, SERV-5 cũng đã tiến hành một số hoạt động thử nghiệm và thu được những kết quả quan trọng, thể hiện trong Phần III của báo cáo, bao gồm: Dự thảo Danh mục dịch vụ trong thương mại quốc tế của Việt Nam, Điều tra chọn mẫu về chí phí bảo hiểm, vận tải hàng nhập khẩu thực hiện trong năm 2006, Điều tra chi tiêu của khách du lịch, Điều tra doanh nghiệp hàng năm (AES) với phần bổ sung mới về chỉ tiêu xuất nhập khẩu dịch vụ Ngoài các chỉ tiêu cho thống kê chuyên ngành, cuộc điều tra doanh nghiệp hàng năm còn có thể cung cấp số liệu về thống kê thương mại dịch vụ của các chi nhánh, công ty con nước ngoài tại Việt Nam (FATS luồng vào) với nhiều chỉ tiêu cơ bản
Phần IV của Báo cáo đề cập các vấn đề cần ưu tiên thực hiện và nhu cầu hỗ trợ, trợ giúp kỹ thuật cho thống kê Việt Nam những năm tới đây nhằm vào 3 mục tiêu lớn:
• Thực hiện 9 khuyến nghị đã nêu trong phần III với mức độ ưu tiên cao nhất cho các khuyến nghị số 1, 2, 3, 4, 5 và 9
• Tập trung vào 6 lĩnh vực dịch vụ ưu tiên theo quyết định của Chính phủ, tiếp theo là các lĩnh vực dịch vụ ưu tiên trong ASEAN và các lĩnh vực dịch vụ phức tạp
• Cung cấp số liệu về thống kê TMDVQT có chất lượng tốt hơn, xuất phát từ việc thực hiện các cuộc điều tra dựa trên nhu cầu của EBOPS và FATS
Cần có sự quan tâm, đầu tư thích đáng hơn nữa về nguồn lực từ phía Chính phủ cho Tổng cục Thống kê, Cục Thống kê địa phương và thống kê Bộ/ngành để phát triển tốt hơn hệ thống thống
kê
Cần có sự hỗ trợ và trợ giúp kỹ thuật từ các nước, các tổ chức quốc tế liên quan đến các nội dung:
1 Hỗ trợ hoàn thiện hệ thống thống kê thương mại dịch vụ:
• Thiết kế và thực hiện một cuộc điều tra chuẩn (benchmark census) về thương mại dịch vụ trong năm 2008 hoặc 2009
• Hoàn thiện phương án và phiếu điều tra doanh nghiệp cho các năm tiếp theo trên cơ sở dàn mẫu và kết quả của cuộc điều tra chuẩn nêu trên, phát triển kỹ thuật ước tính (estimation and imputation) để có được các số liệu định kỳ tháng/qúy
• Điều tra chuyên ngành về các lĩnh vực dịch vụ ưu tiên và các lĩnh vực dịch vụ phức tạp khác để có được thông tin sâu hơn, chi tiết hơn
2 Hỗ trợ thiết kế và xây dựng trung tâm tích hợp và cập nhật dữ liệu doanh nghiệp phục vụ điều tra thống kê thương mại dịch vụ trên cơ sở các nguồn số liệu Bộ Kế hoạch Đầu tư về đăng ký doanh nghiệp, từ Tổng cục Thống kê về điều tra doanh nghiệp và từ Tổng cục Thuế về dữ liệu thuế hàng tháng
3 Hỗ trợ nghiên cứu sửa đổi và hoàn thiện thống kê FDI, làm cơ sở cho việc phát triển thống kê FATS
4 Hỗ trợ xây dựng cơ sở dữ liệu siêu văn bản và cơ sở dữ liệu về thống kê thương mại dịch vụ
Trang 85 Hỗ trợ đào tạo về thống kê thương mại dịch vụ cho cán bộ của Tổng cục Thống kê, Cục Thống kê địa phương, các Bộ/ngành và doanh nghiệp
Hỗ trợ và trợ giúp kỹ thuật từ các nước, các tổ chức quốc tế có thể được thực hiện thông qua các phương thức
• Các chuyến công tác tại Việt Nam của chuyên gia EU hoặc những nước đã phát triển điều tra TMQT về dịch vụ như Mỹ, Ôxtrâylia để trao đổi kinh nghiệm, phổ biến kỹ thuật
• Cử cán bộ của Tổng cục Thống kê sang cơ quan thống kê một số nước EU có kinh nghiệm
về lĩnh vực này để thực tập, hỗ trợ họ kinh phí cho các đợt thực tập để tìm hiểu, học hỏi kiến thức, kinh nghiệm thu thập, tổng hợp số liệu, thực hiện điều tra, trao đổi nghiệp vụ với các đồng nghiệp của mình, áp dụng những điểm thích hợp với điều kiện Việt Nam
• Hỗ trợ kinh phí cho các cuộc điều tra chuyên sâu ở những lĩnh vực dịch vụ ưu tiên và phức tạp, các cuộc hội thảo, tập huấn nghiệp vụ thống kê thương mại dịch vụ
Việc xây dựng hệ thống thống kê thương mại của Việt Nam cần dựa trên các chuẩn mực nêu trong Cẩm nang liên quan đến hai nội dung “Cột trụ”, đó là (a) Cán cân thanh toán” và (b) “các chi nhánh, công ty con do nước ngoài sở hữu 50% vốn - gọi tắt là FATS” Tổng cục Thống kê
là cơ quan quản lý về chuyên môn thống kê và có nhiều kinh nghiệm tổ chức các cuộc tổng điều tra, điều tra thống kê Theo định hướng về cổ phần hóa các doanh nghiệp nhà nước, số lượng các doanh nghiệp ngoài nhà nước đã và sẽ tăng lên nhanh chóng, vì vậy cần tăng cường điều tra doanh nghiệp trên cơ sở các qui định của Luật Thống kê nhằm đẩy mạnh thu thập thông tin từ mọi loại hình doanh nghiệp, từ báo cáo của Bộ/ngành ở một số lĩnh vực Điều đó giúp cho Tổng cục Thống kê sử dụng kết hợp các nguồn số liệu để tổng hợp được các chỉ tiêu thống kê thương mại quốc tế về dịch vụ
Thiết lập một hệ thống thống kê mới về TMDV quốc tế là một quá trình khó khăn, lâu dài và cần được thực hiện từng bước Thực tế cho thấy cần một vài năm để thực hiện điều tra, trên cơ
sở đó Tổng cục Thống kê có thể tổng hợp, phân tích trên cơ sở số lớn về các lĩnh vực dịch vụ vốn dĩ rất phức tạp Hệ thống thống kê mới về thương mại dịch vụ quốc tế được xây dựng và phát triển theo các chuẩn mực do Liên hợp quốc khuyến nghị trong Cẩm nang sẽ giúp cho Việt Nam dần dần thiết lập được hệ thống các chỉ tiêu thống kê TMDV Cơ sở pháp lý và chức năng nhiệm vụ của Tổng cục Thống kê sẽ đảm bảo cho việc xây dựng và vận hành hệ thống thống kê mới theo lộ trình cụ thể, kế hoạch khả thi
Ở giác độ khu vực ASEAN, việc thực hiện mục tiêu phát triển và hài hòa thống kê thương mại quốc tế về dịch vụ giữa các nước thành viên với việc thiết lập một Nhóm nghiên cứu khu vực trong đó Việt Nam được cử làm Chủ tịch, thống kê Việt Nam sẽ có những điều kiện tốt để nghiên cứu, phát triển hệ thống thống kê của mình trên cơ sở hài hòa với khu vực về danh mục, phương pháp điều tra, phạm vi thống kê, thiết kế phiếu cũng như các vấn đề có liên quan khác
Trang 9PHẦN I THỰC TRẠNG VÀ NHU CẦU XÂY DỰNG HỆ THỐNG THỐNG KÊ
THƯƠNG MẠI QUỐC TẾ VỀ DỊCH VỤ Ở VIỆT NAM
CHƯƠNG 1 HOẠT ĐỘNG DỊCH VỤ TRÊN THẾ GIỚI VÀ Ở VIỆT NAM
1.1 Thương mại dịch vụ quốc tế
Trong hơn hai thập kỷ qua, hoạt động dịch vụ có xu hướng phát triển nhanh và ngày càng đóng vai trò quan trọng trong nền kinh tế của hầu hết các nước nói chung và thương mại thế giới nói riêng Những năm qua, tốc độ tăng trưởng của thương mại dịch vụ thường cao hơn thương mại hàng hoá Tuy nhiên gần đây, xu hướng này đã có sự thay đổi, thời kỳ 2000-2004, xuất khẩu hàng hoá và dịch vụ đều tăng trưởng ở mức 9%/năm Năm 2004, xuất khẩu dịch vụ thương mại thế giới lần đầu tiên đã vượt qua mức 2 nghìn tỷ USD, so với xuất khẩu hàng hoá là 8,9 nghìn tỷ USD Tầm quan trọng ngày càng tăng của dịch vụ kéo theo sự gia tăng về tỷ trọng dịch vụ thương mại trong tổng số xuất khẩu hàng hoá và dịch vụ trên thế giới từ 15% lên đến 19% năm 2004.2 Mặc dù tăng trưởng ổn định như vây nhưng tỷ trọng dịch vụ trong thương mại thế giới luôn nhỏ hơn tỷ trọng dịch vụ trong sản xuất Dịch vụ hiện chiếm khoảng trên 60% GDP của thế giới và khoảng 30% lao động toàn cầu Vì vậy, có thể nói vai trò của dịch vụ trong nền kinh tế thế giới chưa được phản ánh một cách đầy đủ về tỷ trọng thương mại thế giới Một trong những lý do là công tác thống kê về dịch vụ, sẽ được thảo luận chi tiết hơn dưới đây
Có thể thấy rằng, các nước đang phát triển đang đóng một vai trò ngày càng quan trọng về thương mại dịch vụ Trong số 40 nước xuất khẩu dẫn đầu thế giới 3, có 13 nước là các nước đang phát triển (Trung Quốc, Hồng Kông, Hàn Quốc, Ấn Độ, Xinh-ga-po, Đài Loan, Thổ Nhĩ Kỳ, Thái Lan, Ma-lai-xi-a, Ai Cập, Mê-hi-cô, Bra-xin và Nam Phi) Tổng trị giá xuất khẩu dịch vụ của các nước này chiếm 18% trong tổng trị giá xuất khẩu dịch vụ thế giới năm 2004
1.2 Chính sách phát triển dịch vụ của Việt Nam
Tiếp nối sự phát triển các hoạt động dịch vụ, từ khoảng năm 1998 đến nay, Việt Nam bắt đầu mở cửa cho đầu tư nước ngoài vào khu vực dịch vụ Các nhà cung cấp nước ngoài được phép thâm nhập thị trường dịch vụ Việt Nam ở mức độ nhất định, ở một số lĩnh vực như tư vấn pháp lý, kiểm toán, cơ khí, kiến trúc, viễn thông, ngân hàng bảo hiểm và chứng khoán Tuy nhiên, các biện pháp hạn chế tiếp cận thị trường vẫn tiếp tục được áp dụng đối với các nhà cung cấp dịch vụ nước ngoài Trong khuôn khổ các hiệp định thương mại song phương và khu vực, Việt Nam cũng thận trọng từng bước hướng tới tự do hoá thương mại dịch vụ theo các Hiệp định đa phương trong khuôn khổ WTO, song phương như Hiệp định thương mại Việt- Mỹ năm 2002, Hiệp định khung ASEAN về dịch vụ năm 1995 Tuy nhiên có thể nói cho đến nay, tỷ lệ tăng trưởng khu vực dịch vụ của Việt Nam còn thấp, các dịch vụ hiện đại, hỗ trợ sản xuất còn thiếu hoặc không có, môi trường pháp lý
và các công cụ pháp lý cho thị trường dịch vụ còn thiếu và chưa được coi trọng Phần lớn những khiếm khuyết này là do trình độ nhận thức của các Bộ ngành, cơ quan quản lý và chính quyền địa phương về vai trò của dịch vụ trong nền kinh tế còn hạn chế Các giải pháp thúc đẩy phát triển nền kinh tế trong một thời gian dài vừa qua thường tập trung vào phát triển sản xuất nông nghiệp, công nghiệp, các định hướng và ưu tiên về chính sách tập trung chủ yếu vào mục tiêu tăng trưởng xuất khẩu hàng hóa, thu hút đầu tư cho khu vực sản xuất vật chất Vì vậy tỷ trọng đầu tư cho khu vực dịch vụ còn thấp, thu hút vốn đầu tư nước ngoài cho khu vực này chưa được chú trọng Ngoài ra
Trang 10
còn một số vấn đề khác là thiếu các phương pháp phát triển thực tế, kinh nghiệm quản lý nghèo nàn, thiếu thông tin cho việc phát triển các kế hoạch và chính sách hợp lý và không cập nhật được thông tin về các hoạt động thực tế của các thị trường dịch vụ hiện đại mà một trong những lý do chính là do Việt Nam chưa xây dựng được hệ thống thống kê dịch vụ nói chung và thương mại quốc tế về dịch vụ nói riêng
Kế hoạch phát triển kinh tế của Việt Nam giai đoạn 2006 - 2010 đã tập trung nhấn mạnh mục tiêu phát triển khu vực dịch vụ với mục tiêu tăng trưởng bình quân 7,7 - 8,2%, tỷ trọng khu vực dịch
vụ trong GDP năm 2010 đạt 41 - 42%, tỷ trọng lao động chiếm 26 - 27% vào năm 2010
1.3 Thực trạng hoạt động dịch vụ và các doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực dịch vụ ở Việt Nam
Trong những năm gần đây, Việt Nam đạt mức tăng trưởng kinh tế cao so với các nước trong khu vực và trên thế giới Cơ cấu kinh tế chuyển đổi mạnh mẽ Phần lớn kết quả tăng trưởng này là do tăng trưởng trong khu vực dịch vụ, đóng góp của khu vực dịch vụ trong GDP tăng từ 20% trong những năm 1990 lên 39-41% trong thời kỳ 2000-2005 Đóng góp của khu vực dịch vụ vào GPD thể hiện:
Bảng 1 - Cơ cấu GDP của từng ngành dịch vụ trong khu vực dịch vụ (theo giá thực tế)
2001 2002 2003 2004 2005 Tổng số 100.0 100.0 100.0 100.0 100.0 Thương nghiệp; sửa chữa xe có động cơ, mô tô,
xe máy, đồ dùng cá nhân và gia đình
36.46 36.67 35.74 35.84 35.66 Khách sạn, nhà hàng 8.29 8.32 7.93 8.23 9.19 Vận tải, kho bái, thông tin liên lạc 10.45 10.23 10.61 11.17 11.48 Tài chính tín dụng 4.71 4.74 4.66 4.68 4.72 Hoạt động khoa học và công nghệ 1.42 1.46 1.59 1.59 1.64 Hoạt động kinh doanh tài sản và dịch vụ tư vấn 11.61 11.86 11.71 11.51 10.54 Quản lý NN, an ninh quốc phòng và bảo đảm xã
hội bắt buộc
6.88 6.71 7.16 7.01 7.22 Giáo dục và đào tạo 8.74 8.79 9.18 8.58 8.45 Hoạt động y tế và xã hội 3.45 3.41 3.80 3.99 3.89 Hoạt động giải trí, văn hoá và thể thao 1.51 1.43 1.45 1.36 1.3
Hoạt động của Đảng , đoàn thể và hiệp hội 0.35 0.35 0.33 0.33 0.33 Hoạt động dịch vụ cá nhân, cộng đồng và các hoạt
động khác
5.60 5.54 5.36 5.28 5.11 Dịch vụ cá nhân giúp việc gia đình 0.53 0.50 0.48 0.45 0.45
Nguồn: Niên giám thống kê - TCTK
Thực hiện chính sách Đổi Mới nền kinh tế từ năm 1986, đến năm 1996, tăng trưởng dịch vụ đã cao hơn các ngành khác (41-42%) Tuy nhiên từ năm 2000, tỷ trọng dịch vụ trong GDP có xu hướng giảm do tốc độ gia tăng mạnh mẽ của công nghiệp khai thác và công nghiệp chế biến (39% năm 2003 và 38% năm 2004 và 2005)
Số lượng các doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực dịch vụ tăng lên nhưng gia tăng việc làm trong khu vực này lại thấp hơn so với công nghiệp khai thác và chế biến Hiện nay, có khoảng 62,2% các doanh nghiệp đang hoạt động trong lĩnh vực dịch vụ (trong đó tỷ lệ cao nhất thuộc về hoạt động thương nghiệp) Tuy nhiên, tỷ trọng lao động trong các doanh nghiệp dịch vụ chỉ chiếm 26,3%
Bảng 2 - Số lượng doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực dịch vụ
31/12/02 31/12/03 31/12/04 31/12/05
Tổng số doanh nghiệp 62,908 72,012 91,755 113,352
Trang 11Trong đó: Doanh nghiệp dịch vụ 35,826 41,690 53,868 70,472
Tỷ trọng (%) 56.9 57.9 58.7 62.2 Tổng số lao động (nghìn người) 4,657 5,175 5,770 6,244 Trong đó: Doanh nghiệp dịch vụ 1,152 1,254 1,413 1,642
Tỷ trọng (%) 24.7 24.2 24.5 26.3
Nguồn: Kết quả Điều tra doanh nghiệp hàng năm 2003-2005 - TCTK
Các doanh nghiệp Việt Nam chủ yếu là các doanh nghiệp quy mô nhỏ, đặc biệt là trong lĩnh vực dịch vụ Kết quả điều tra doanh nghiệp năm 2005 cho thấy 51,3% số doanh nghiệp có dưới 10 lao động
Bảng 3 - Quy mô doanh nghiệp theo lao động- Tỷ lệ %
31/12/02 31/12/03 31/12/04 31/12/05
Doanh nghiệp có dưới 10 lao động 48.0 46.6 48.4 51.3 Doanh nghiệp có từ 10-49 lao động 32.9 35.0 35.4 34.4 Doanh nghiệp có trên 50 lao động 19.0 18.4 16.2 14.3
Nguồn: Điều tra doanh nghiệp hàng năm 2003-2005 - TCTK
Chính phủ đã đặt mục tiêu phát triển dịch vụ cho thời kỳ 2006-2010 với mức tăng trưởng chung là 29%/năm Ưu tiên phát triển một số ngành dịch vụ chủ chốt như: Bưu chính viễn thông 25%/năm, Dịch vụ tài chính (ngân hàng) 22%/năm, vận tải biển 22%/năm
Năm 2005, xuất nhập khẩu dịch vụ của Việt Nam đạt khoảng 8,7 tỷ USD, năm 2006 ước đạt10,2
tỷ USD Cũng như nhiều nước khác, thực tế, con số này có thể lớn hơn Số liệu thống kê WTO cho thấy trong hơn một thập kỷ qua, xuất khẩu dịch vụ của Việt Nam đã tăng từ 1,3 tỷ USD năm
1994 lên 3,8 tỷ USD năm 2003 Điều này có nghĩa là xuất khẩu dịch vụ tăng gần gấp 3 lần trong thời kỳ này, tất nhiên do khởi đầu ở mức độ thấp Tuy nhiên không giống như xu hướng chung trên thế giới, tăng trưởng trong xuất khẩu dịch vụ của Việt Nam thấp hơn nhiều so với tăng trưởng trong xuất khẩu hàng hoá Tăng trưởng bình quân về về xuất khẩu dịch vụ từ 1998 (2,6 tỷ USD) đến 2006 (5,1 tỷ USD) là 8,7%, trong khi xuất khẩu hàng hoá tăng 20%, từ 9,4 tỷ USD (1998) lên 39,6 tỷ USD (2006) Xuất khẩu dịch vụ trong tổng trị giá xuất nhập khẩu hàng hoá và dịch vụ năm
2003 chiếm 14%, năm 2006 giảm xuống còn 11%, thấp hơn mức tăng trung bình trên thế giới (khoảng gần 20%).Cán cân thương mại dịch vụ của Việt Nam luôn ở tình trạng nhập thâm hụt Theo ước tính của Tổng cục Thống kê, năm 2006 xuất khẩu đạt 5,1 tỷ USD, nhập khẩu 5,122 tỷ USD, mức nhập siêu 22 triệu USD nhưng thâm hụt trong thương mại hàng hoá cao hơn rất nhiều với 5.2 tỷ USD
Trong thời kỳ 2006 – 2010, xuất khẩu dịch vụ được kỳ vọng là sẽ đạt mức tăng trưởng bình quân 16,3%, đến năm 2010, xuất khẩu dịch vụ sẽ đạt mức 12 tỷ USD Tuy nhiên có thể thấy đây là mục tiêu khá cao so với thực tế
Theo dự báo của Bộ Thương mại, các dịch vụ bảo hiểm, bưu chính viễn thông, tài chính và vận tải biển sẽ là những ngành có mức tăng trưởng xuất khẩu cao nhất, từ 22% - 29% Kim ngạch xuất khẩu của mỗi ngành này sẽ đạt từ 470 đến 550 triệu USD Xuất khẩu dịch vụ du lịch vẫn sẽ đạt kim ngach cao nhất trong số các ngành dịch vụ mũi nhọn với mục tiêu tăng trưởng 10% hàng năm
về số lượng khách quốc tế đến Việt nam Hy vọng đến năm 2010, ngành du lịch sẽ phục vụ hơn 6 triệu khách quốc tế, mang lại thu nhập khoảng 4,5 tỷ USD
Trang 12Với mức đóng góp hàng năm gần 2 tỷ USD, “xuất khẩu lao động” - một chủ trương tích cực của Chính phủ - có thể đem lại thu nhập ngoại tệ khoảng 3 tỷ USD cho đất nước Bộ Lao động đang phấn đấu đưa số lượng lao động Việt Nam ra nước ngoài làm việc lên đến 70-80.000 người/năm Tuy nhiên về mặt lý thuyết, xuất khẩu lao động không phải là mục tiêu và cũng không phải là một khái niệm trong GATS GATS chỉ bao gồm thể nhân cung cấp các dịch vụ theo hợp đồng ở nước ngoài trên cơ sở tạm thời, không nhằm mục đích mở cửa thị trường lao động ra nước ngoài hay chấp nhận công dân, người cư trú hay lao động nước ngoài trên cơ sở ổn định lâu dài 4
Vận tải biển sẽ có mức thu xuất khẩu ước khoảng 650 triệu USD và vận tài hàng không khoảng
950 triệu USD
Mặc dù trong vài năm qua, xuất khẩu phần mềm còn thấp song Bộ Thương mại vẫn hy vọng vào khu vực dịch vụ này, với thu nhập từ 300-400 triệu USD đến năm 2010 Ước tính này của Bộ Thương mại dựa trên những đánh giá khả quan của Hiệp hội công nghiệp máy tính Châu Á Thái bình dương về công nghiệp phần mềm của Việt Nam Theo Hiệp hội này, hiện nay Việt Nam được xếp vào nhóm 25 nước và lãnh thổ có mức thu hút nhất về phát triển phần mềm trên thế giới
Một nhân tố kinh tế rất quan trọng khác nữa đối với lĩnh vực dịch vụ của Việt Nam là vai trò ngày càng tăng của dịch vụ trong đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI), mà Việt Nam là nước đi sau so với
xu hướng chung của thế giới Các thông tin hiện có về FDI cho thấy dịch vụ chiếm khoảng 14% tổng số các dự án FDI được cấp phép ở Việt Nam và 6% tổng số vốn đăng ký Con số này thấp hơn nhiều so với trung bình toàn cầu là 71% luồng ra FDI toàn cầu do UNCTAD ước tính
Trang 13
CHƯ Ơ NG 2 CÁC CHUẨN MỰC QUỐC TẾ VỀ THỐNG KÊ THƯƠNG MẠI QUỐC TẾ
TRONG LĨNH VỰC DỊCH VỤ
2.1 Cẩm nang thống kê thương mại quốc tế về dịch vụ
Cẩm nang được ban hành năm 2002 nhằm giúp cho việc xây dựng một hệ thống hoàn thiện về thống kê thương mại quốc tế về dịch vụ, đưa ra phương pháp phân loại, thu thập số liệu về lĩnh vực thương mại dịch vụ Đây là tài liệu hướng dẫn người tổng hợp số liệu thống kê, nhằm giúp cho các hoạt động phân tích kinh tế, lập chính sách một cách có hiệu quả, đồng thời hỗ trợ cho hoạt động đàm phán về thương mại dịch vụ Cuốn Cẩm nang này được xây dựng bởi một nhóm chuyên gia thuộc nhiều tổ chức quốc tế gồm Eurostat, IMF, OECD, UNSD, UNCTAD và WTO và cũng được các tổ chức này khuyến nghị sử dụng Việc khuyến nghị thực hiện theo từng giai đoạn là một giải pháp thích hợp, cho phép các nước đưa vào sử dụng hệ thống thống kê phù hợp với điều kiện thực
tế và mức độ ưu tiên của nước mình
Cuốn Cẩm nang này được xây dựng dựa trên các chuẩn mực quốc tế như Hệ thống tài khoản quốc gia 1993 (SNA93) của LHQ về một hệ thống tổng hợp các tài khoản liên quan đến các hoạt động
và các lĩnh vực kinh tế của một nước Nó đưa ra một bức tranh toàn diện về một nền kinh tế, các hoạt động sản xuất, đầu ra và các hoạt động thương mại quốc tế SNA93 được các nước sử dụng như một chuẩn mực để lập tài khoản quốc gia Đề phản ánh được các giao dịch giữa một nước với các nước khác trên thế giới, SNA93 đưa ra một tài khoản, gọi là “Phần còn lại của thế giới” liên quan đến “tài khoản kinh tế đối ngoại”
Trong SNA93 danh mục phân loại hoạt động sản xuất, áp dụng cho các yếu tố đầu vào của quá trình sản xuất, gồm lao động và vốn, là “Phân ngành chuẩn quốc tế các hoạt động kinh tế” của LHQ, phiên bản 3 (ISIC3) và Danh mục phân loại sản phẩm của LHQ (CPC) áp dụng cho sản phẩm đầu ra Danh mục này cũng được IMF khuyến nghị sử dụng cho mục đích cán cân thanh toán để có thể so sánh được với SNA93
Tuy nhiên cuốn cẩm nang này cũng sử dụng tập hợp con của ISIC - Phân loại ISIC cho các chi nhánh, công ty con nước ngoài (ICFA) Phân loại lao động có thể dựa trên Danh mục nghệ nghiệp chuẩn quốc tế (ISCO-88) của Tổ chức Lao động Thế giới và Danh mục giáo dục chuẩn quốc tế của LHQ 1991 (ISCED), có liên quan đến phương thức cung cấp 4 trong GATS
2.1.1 Giao dịch giữa người cư trú và không cư trú
Cẩm nang cán cân thanh toán quốc tế của IMF, bản sửa đổi lần thứ 5, 1993 (BPM5) xây dựng một
hệ thống thống kê chuẩn phục vụ mục đích cán cân thanh toán, tổng hợp các giao dịch kinh tế của một nước với các nước khác trên thế giới Cán cân thanh toán bao gồm tất cả các giao dịch giữa người cư trú và người không cư trú liên quan đến hàng hoá, dịch vụ và vốn
BPM5 bao gồm các khái niệm và phân loại sau đây:
- Giá FOB tại biên giới nước xuất khẩu 3.32
- Giao dịch giữa các bên có liên quan 3.36
Trang 14- Đối tác thương mại 3.38
Đối với thương mại dịch vụ trong BPM5 bao gồm 11 ngành dịch vụ chuẩn sau đây:
• 10 Dịch vụ cá nhân, văn hoá và giải trí
• 11 Dịch vụ Chính phủ chưa được phân ở đâu (n.i.e)
11 ngành dịch vụ này về cơ bản phù hợp với phạm vi sản phẩm trong GATS, trừ một số khác biệt:
- Thứ nhất, hầu như toàn bộ phần Dịch vụ Chính phủ chưa được phân ở đâu bị loại trừ trong GATS
- Thứ hai, một số giao dịch trong GATS được coi như dịch vụ thì trong BPM5 lại được xem như là các giao dịch về hàng hoá, các giao dịch này liên quan đến giá trị sửa chữa hàng hoá khi chúng được đưa ra nước ngoài để sửa chữa cũng như hầu hết các dịch vụ chế biến
- Thứ ba, một số ngành dịch vụ trong BPM5, đặc biệt là du lịch, bao gồm các giao dịch về hàng hoá
- Thứ tư, trong BPM5 bao gồm cả các khoản thanh toán phí bản quyền và giấy phép, ngoại trừ chi phí nhượng quyền kinh doanh, khoản mục này bị loại trừ trong phạm vi của GATS (Cẩm nang, đoạn 2.53)
Cẩm nang cũng khuyến nghị các chỉ tiêu FATS được phân loại theo hoạt động dựa trên danh mục ICFA ICFA bao gồm tất cả các loại hoạt động, kể cả sản xuất hàng hoá ICFA được xây dựng để cung cấp các kết nối khả thi nhất với EBOPS giúp cho việc so sánh tương thích tối đa giữa hai tập hợp thống kê Danh mục này đưa ra một khuôn khổ cho việc trình bày các dịch vụ được sản xuất theo hoạt động thứ bậc bởi các doanh nghiệp được xếp vào là các nhà sản xuất hàng hoá
2.1.2 Bốn phương thức cung cấp dịch vụ trong GATS
Cuốn cẩm nang đưa ra khuyến nghị về phân bổ các lĩnh vực dịch vụ đối với bốn phương thức cung cấp trong GATS theo thứ tự ưu tiên Trước hết, phân bổ BOP theo ngành:
– Phương thức 1, cung cấp qua biên giới (3.42):
• Dịch vụ cảng cho các hàng vận tải nước ngoài (kể cả cung cấp cho các thực thể
FATS và các đại sứ quán) – Phương thức 3, Hiện diên thương mại (3.44):
• Dịch vụ xây dựng (kể cả thống kê FATS)
– Phương thức 4, Hiện diện thể nhân (3.47, và Phụ lục I):
• Lao động ở nước ngoài tạm thời
Trang 15• Chủ lao động ở nước ngoài tạm thời
Tiếp theo: phân bổ BOP liên quan đến tính đặc thù của phương thức 4
– Giữ nguyên các dịch vụ thương mại hoặc là được phân bổ cho phương thức 1 và 4 theo dữ liệu điều tra hoặc là cho phương thức trội hơn (hoặc phương thức 1 hoặc phương thức 4) dựa trên việc cân nhắc xem xét (3.45):
• Dịch vụ máy tính và thông tin
• Dịch vụ kinh doanh khác
• Dịch vụ cá nhân, văn hoá và giải trí
2.1.3 Thương mại dịch vụ của các chi nhánh nước ngoài (FATS)
Chương 4 của Cuốn Cẩm nang đưa ra phương pháp xử lý về thương mại dịch vụ của các công ty con, chi nhánh nước ngoài, một mục rất quan trọng khác của thống kê thương mại dịch vụ Thuật ngữ FATS đề cập các doanh nghiệp hoạt động tại một nước nhưng do các công ty nước ngoài kiểm soát Hiện chỉ có Mỹ là nước duy nhất có hệ thống thống kê FATS tương đối hoàn thiện Nhìn chung, thống kê FATS thường thiếu các dữ liệu về doanh thu, thương mại, FDI và các hoạt động của các chi nhánh nước ngoài Dữ liệu FDI luồng vào và luồng ra cần được thu thập và tổng hợp riêng Cẩm nang khuyến nghị các chỉ tiêu FATS nên được phân loại theo hoạt động dựa trên danh mục ICFA, được đề cập tại mục 2.1.1 mở trên
2.2 Giới thiệu các danh mục quốc tế
2.2.1 Danh mục các hoạt động kinh tế
Danh mục “Phân ngành chuẩn các hoạt động kinh tế của” phiên bản 3 (ISIC3) của Liên hợp quốc phân loại tất cả các hoạt động kinh tế Cuốn cẩm nang khuyến nghị nên sử dụng ISIC3 cho GATS Phương thức cung cấp 3 nhằm mục đích so sánh với SNA93 thông qua tập hợp con ICFA đã nói ở trên
2.2.2 Danh mục sản phẩm trung tâm của LHQ (CPC) đối với các sản phẩm dịch vụ
Danh mục CPC bao gồm tất cả các hàng hoá và dịch vụ, kể cả các sản phẩm phi thương mại Phiên bản đầu tiên ban hành tạm thời (PCPC 1991), được GATS sử dụng để xây dựng danh mục các sản phẩm dịch vụ đưa vào đàm phán đa phương và vì vậy nó tương thích hoàn toàn với GNS W/120 của GATS Danh mục này được hầu hết các thành viên WTO sử dụng trong khuôn khổ đàm phán, cam kết thương mại dịch vụ theo GATS Đối với mục đích thống kê, việc cập nhật danh mục sản phẩm trung tâm thông qua việc ban hành CPC 1.0 (năm 1998), CPC 1.1 (năm 2002)
và CPC 2 (năm 2007) là công việc hết sức cần thiết
2.2.3 Danh mục cán cân thanh toán mở rộng (BOPS) và quan hệ tương thích giữa các danh mục trong Cẩm nang
Danh mục EBOPS phù hợp với các chuẩn mực quốc tế trong thống kê thương mại dịch vụ, phân loại các sản phẩm dịch vụ trong cán cân thanh toán quốc tế được trao đổi qua biên giới, nó có thể
so sánh được với SNA, thống kê XNK hàng hóa và thống kê FDI
EBOPS đưa ra những hướng dẫn chi tiết về thống kê trong phạm vi 11 ngành dịch vụ Cuốn cầm nang cũng khuyến nghị nên sử dụng CPC 1.0 và bảng tương thích giữa CPC 1.0 với EBOPS Tài khoản vệ tinh du lịch (TSA) là một khuôn khổ phương pháp luận có tính chất khuyến nghị để tính toán phần đóng góp của hoạt động du lịch trong một nền kinh tế theo một phương pháp có
Trang 16tính so sánh quốc tế Một số dữ liệu về du lịch trong cán cân thanh toán là một nguồn dữ liệu về du lịch được định nghĩa trong TSA” (Cẩm nang, đoạn 2.39)
Phụ lục II của Cẩm nang còn đề cập các thông tin ở phần “Các khoản mục bổ sung” để phục vụ mục đích chi tiết số liệu cho hoạt động phân tích và so sánh quốc tế Các khoản mục này bao gồm:
- Vận tải hàng hoá thương mại, tính theo giá trị giao dịch
- Du lịch: Chi tiêu về hàng hoá, ăn ở và đi lại
- Tổng phí bảo hiểm và bồi thường bảo hiểm (trong dịch vụ bảo hiểm nhân thọ, bảo hiểm hàng hoá và bảo hiểm khác)
- Dịch vụ trung gian tài chính ngầm (FISIM)
- Dịch vụ trung gian tài chính bao gồm cả FISIM
- Tổng giá trị gộp về buôn bán hàng hoá
- Các giao dịch nghe nhìn Cuốn Cẩm nang cũng bao gồm một số các trường hợp đặc biệt như:
Cơ quan quản lý: vận tải thuỷ, hàng không dân dụng vận tải hàng không, vận tải đường sắt, vận tải đường bộ Ở Mỹ, Bộ Phân tích kinh tế thu thập thông tin về phí bảo hiểm vận tải hàng hoá từ ngành bảo hiểm phục vụ cho việc tính toán giá CIF trong thương mại hàng hoá với các tỷ lệ khác nhau theo lượng hàng hoá
Trong tương lai, EBOPS cần sửa đổi để có thể bao gồm vận tải đa phương thức, phân phối nội vùng và bảo dưỡng các thiết bị vận tải
Các bảng mã tương thích 2 chiều giữa EBOPS - CPC 1.0 và GNS/W/120 cũng như GNS/W/120 – CPC1 – EBOPS cũng được xây dựng và giới thiệu trong Cẩm nang nhằm tạp thuận lợi cho việc tra cứu, đối chiếu giữa các danh mục có liên quan
Về thống kê FATS, Cẩm nang qui định các doanh nghiệp FATS là những doanh nghiệp có trên 50% vốn thuộc sở hữu của nhà đầu tư nước ngoài Các doanh nghiệp này chính là một tập hợp con của các doanh nghiệp FDI theo quy định của IMF cả về hoạt động và quyền sở hữu (4.17-24) Các doanh nghiệp FATS được phân loại theo mã ngành ICFA dựa trên mã gốc ISIC Dữ liệu FATS ở nước tổng hợp số liệu (ví dụ: luồng vào FATS) phù hợp theo các chỉ tiêu được thu thập theo SNA93 Mối quan hệ tương thích đầy đủ giữa mã EBOPS , mã ngành ISIC và mã ICFA được đưa
ra trong cuốn cẩm nang trong bảng A IV.2 trang 155-157 Các chỉ tiêu tương tự cũng được áp dụng cho FATS luồng ra, nhưng nội dung này không được tính toán thu thập trong SNA93
2.3 Những sửa đổi cơ bản về chuẩn mực quốc tế trong thời gian tới đây
Dịch vụ đang phát triển mạnh và ngày càng đóng vai trò quan trọng đối với hầu hết các nền kinh
tế trên thế giới, dẫn đến nhu cầu cấp thiết nhằm tính toán mức tăng trưởng của nền kinh tế nói chung và sự đóng góp của khu vực dịch vụ nói riêng một cách đầy đủ và chính xác, kể cả đánh giá
Trang 17tác động của khu vực dịch vụ tới thương mại của một nước cũng như thương mại toàn cầu Hiện tại những thông tin này còn đang khá nghèo nàn, thiếu chính xác, khả năng so sánh quốc tế thấp Gần đây, các chỉ tiêu thống kê về toàn cầu hóa đang được OECD hết sức quan tâm
Ở phạm vi quốc tế, thực tế này đang đòi hỏi sự cập nhật, bổ sung, sửa đổi các chuẩn mực chung về thống kê trên cơ sở phối hợp xem xét, nghiên cứu nhằm giải quyết các vấn đề về khái niệm, phương pháp luận
Hướng dẫn tổng hợp số liệu cần lưu ý việc cập nhật các chuẩn mực quốc tế liên quan, bao gồm:
SNA 1993
Sửa đổi SNA93 liên quan đến lĩnh vực dịch vụ sẽ tập trung vào vấn đề định nghĩa dịch vụ bảo hiểm, sản phẩm dịch vụ tài chính, xử lý tài sản phi tài chính và các nguồn thu nhập phát sinh từ hoạt động cho thuê hoặc bán quyền sử dụng tài sản như phần mềm, bản quyền âm nhạc, điện ảnh, nghiên cứu và phát triển, Việc xác định cư trú đối với các tổ chức, cá nhân là du học sinh, thủy thủ, lao động nước ngoài tạm thời cũng cần được định nghĩa rõ ràng hơn Dự kiến, SNA sửa đổi sẽ được hoàn thành trong năm 2008
Cẩm nang Cán cân thanh toán của IMF
Các vấn đề đang được xem xét giải quyết bao gồm cư trú của các tổ chức và cá nhân, phân loại dịch vụ trong cán cân thanh toán, ranh giới giữa thương mại hàng hoá và dịch vụ (ví dụ: hoạt động sửa chữa, gia công hàng hóa, tái xuất, mua bán chuyển khẩu, sản phẩm thông tin và các sản phẩm nguyên bản) Theo kế hoạch, phiên bản sửa đổi (BPM6) sẽ được hoàn thành trong năm 2008
ISIC 1993
ISIC sửa đổi tập trung khá nhiều vào các lĩnh vực dịch vụ (21 phân ngành thay vì 17 phân ngành
và 87 phân nhóm thay vì 60 phân nhóm trong Rev.3.1) Trong ISIC 4 sẽ bao gồm ngành cấp I mới
là “thông tin và truyền thông” (cải tiến nhóm ICT), chi tiêt các ngành dịch vụ chuyên môn và hỗ trợ kinh doanh, dịch vụ văn hoá, giải trí và sức khoẻ con người Ngoài ra, các hoạt động về môi trường cũng là những ngành mới được sửa đổi và chi tiết Hiện tại ISIC4 đã được Liên hợp quốc thông qua và Việt Nam đã sử dụng phiên bản này cho việc sửa đổi và ban hành VSIC-2007
CPC 2.0
Các sản phẩm dịch vụ sẽ được chi tiết hơn và một nhóm mới về các sản phẩm của dịch vụ công nghệ thông tin cũng sẽ được cập nhật trong CPC 2.0 Theo kế hoạch, CPC 2.0 sẽ được Liên Hợp Quốc thông qua và ban hành trong năm 2007 Phiên bản này cũng sẽ được Tổng cục Thống kê sử dụng cho việc xây dựng và ban hành VCPC, dự kiến hoàn thành trong năm 2008
Cẩm nang Thống kê thương mại quốc tế về dịch vụ
Theo kế hoạch, việc nghiên cứu sửa đổi cuốn Cẩm nang này sẽ được hoàn thành trong năm 2009, sau khi các chuẩn mực có liên quan như SNA và BPM6 được thông qua cũng như sau khi danh mục ICFA và EBOPS được cập nhật Phương thức cung cấp 4 trong GATS cũng sẽ có nội dung chi tiết hơn sử dụng một định nghĩa hẹp tính cả lao động và chủ lao động làm việc tạm thời ở nước ngoài như những người cung cấp dịch vụ theo hợp đồng Những thay đổi khác sẽ ảnh hưởng đến vấn đề cư trú, hộ gia đình ở các quốc gia và các dữ liệu có thể có sự chuyển đổi
Định nghĩa chuẩn của OECD về đầu tư trực tiếp nước ngoài (BD3)
Trang 18OECD có kế hoạch sửa đổi tài liệu này có xem xét tới hình thức quyền sở hữu trung gian và gián tiếp phức tạp hơn
Điều tra ICT
Việc tiến hành các cuộc điều tra của OECD về sử dụng công nghệ thông tin của các doanh nghiệp, hộ gia đình và cá nhân tập trung vào khía cạnh các sản phẩm kỹ thuật số, truy cập không dây, an ninh mạng, thương mại điện tử và chính phủ điện tử Một module mới về sử lý thương mại điện tử sẽ được công bố
Tài khoản vệ tinh du lịch
Tổ chức Du lịch thế giới của Liên hợp quốc cũng đang thiết lập một nhóm chuyên gia nhằm xem xét việc sửa đổi Cẩm nang về Tài khoản vệ tinh du lịch để hài hòa với các thay đổi của SNA, BPM6 và ISIC 4 cũng như khả nang so sánh được về định nghĩa khách du lịch và đi lại với Cẩm nang Thống kê thương mại quốc tế về dịch vụ Nhóm này cũng phhói hợp nghiên cứu để đư ra các module chuẩn về thu thập, tổng hợp các số liệu liên quan đến du lịch
Trang 19CHƯƠNG 3 KHUÔN KHỔ THỐNG KÊ
3.1 Những khó khăn trong việc thiết lập hệ thống thống kê TMQT về dịch vụ
Các khuyến nghị trong nghiên cứu thực trạng thống kê thuộc khuôn khổ dự án MPI-UNDP-GSO được sử dụng như điểm bắt đầu cho nghiên cứu SERV-5 thuộc dự án MUTRAP II - đang được thể hiện trong báo cáo này - để từ đó xác định những tiến bộ đạt được sau dự án, những vấn đề cần tiếp tục giải quyết và hướng xây dựng hệ thống thống kê thương mại quốc tế về dịch vụ của Việt Nam Tuy đạt được những kết qủa nhất định song có thể thấy rõ mức trợ giúp kỹ thuật hạn chế của
dự án cho hoạt động của SERV-5 sẽ không thể đủ để thực hiện những nhiệm vụ lớn, khó khăn, phức tạp và cần nhiều thời gian như vậy Thu thập, tổng hợp số liệu thương mại dịch vụ vốn dĩ khó khăn và phức tạp hơn rất nhiều so với thương mại hàng hóa do tính chất vô hình của nó Một
số loại dịch vụ chỉ có thể định nghĩa bằng khái niệm trừu tượng mà không thể đưa ra được tính chất vật lý, chức năng của chúng Khác với thương mại hàng hóa, thương mại dịch vụ không qua biên giới hải quan, không thể đưa ra mã số của chúng như hàng hóa đi kèm với mô tả nội dung, các thông tin về lượng, xuất xứ hàng hóa hoặc nước hàng đến, hóa đơn để có thể thực hiện các biện pháp kiểm soát như thu thuế hải quan Các thông tin cần thiết về thương mại dịch vụ phụ thuộc vào mức độ hiểu biết thông thường về khái niệm của người cung cấp số liệu, các thông tin khai báo qua hệ thống hành chính, thông tin thu thập qua hệ thống các tài khoản, hệ thống ghi chép giao dịch, thông tin từ cá nhân và rất nhiều nguồn số liệu khác, từ điều tra cũng như kỹ thuật ước tính số liệu
Xây dựng một hệ thống thống kê thương mại quốc tế về dịch vụ là một quá trình khó khăn, lâu dài
và đòi hỏi phải thực hiện từng bước Cần thực hiện các cuộc điều tra qua một vài năm như Tổng cục Thống kê hiện đang bắt đầu làm để có thể tổng hợp và phân tích số liệu về một số lĩnh vực dịch vụ chủ yếu Thậm chí ở một số nước phát triển họ cũng cần nhiều năm để xây dựng được hệ thống thống kê này vì đây là nhiệm vụ khá phức tạp Đối với các nước đang phát triển, quá trình này có thể đòi hỏi tới 10 năm hoặc hơn
3.2 Thực trạng thống kê thương mại dịch vụ của Việt Nam
Ở Việt Nam, có hai cơ quan liên quan đến công tác thống kê thương mại quốc tế về dịch vụ là Tổng cục Thống kê (GSO) và Ngân hàng Nhà nước (SBV) Nhìn chung hai cơ quan đều đã tiếp cận và thực hiện nhiệm vụ của mình dựa trên các chuẩn mực quốc tế có liên quan như SNA93, GNS W/120, ISIC, BPM5, một phần Cẩm nang thống kê thương mại quốc tế về dịch vụ và thống
kê FATS Tuy nhiên, còn có những khoảng cách khá lớn giữa thực trạng và các chuẩn mực quốc
tế, số liệu về nhiều lĩnh vực dịch vụ cũng như mức độ chi tiết còn chưa thu thập được
• Nghị định của Chính phủ số 101/2003/ND-CP ngày 3/9/2003 qui định Chức năng, nhiệm
vụ, quyền hạn và tổ chức bộ máy của Tổng cục Thống kê
• Chỉ thị số 49/2004/CT-TTg của Thủ tướng Chính phủ tháng 12/2004 về tăng cường các hoạt động dịch vụ trong kế hoạch phát triển kinh tế xã hội 2006-2010
• Quyết định của Thủ tướng Chính phủ số 305/2005/QD-TTG ngày 24/9/2005 về việc ban hành Hệ thống Chỉ tiêu thống kê quốc gia
Trang 20Theo qui định của Luật Thống kê, hoạt động thống kê phải dựa trên nguyên tắc: bảo đảm tính trung thực, khách quan, chính xác, thống nhất về chỉ tiêu, phương pháp tính, phân loại, bảo đảm tính so sánh quốc tế, tránh trùng lặp, trùng chéo trong các hoạt động thống kê, công bố công khai
về phương pháp, số liệu thống kê, bảo đảm quyền bình đẳng trong việc tiếp cận và sử dụng thông tin, bảo đảm cho các thông tin thống kê chỉ được sử dụng cho mục đích thống kê Luật cũng qui định về thẩm quyền về xử phạt hành chính với các vi phạm về Luật Thống kê
Nghị định của Chính phủ qui định chức năng nhiệm vụ của Tổng cục Thống kê trong đó có quyền
dự thảo và trình Chính phủ ban hành các bảng danh mục thống kê, tổng hợp và công bố số liệu quốc gia, hợp tác quốc tế Chỉ thị 49 của Thủ tướng Chính phủ tháng 12/2004 về tăng cường phát triển các hoạt động dịch vụ trong kế hoạch phát triển kinh tế đát nước cũng nhấn mạnh tầm quan trọng của việc xây dựng và phát triển hệ thống thống kê thương mại dịch vụ
3.2.2 Các danh mục có liên quan đến thương mại quốc tế về dịch vụ
Hệ thống ngành kinh tế quốc dân (VSIC)
Từ năm 1994, Hệ thống ngành kinh tế quốc dân được ban hành theo Nghị định số 75/CP ngày 27/10/1993, trong đó bao gồm 14 ngành dịch vụ (ngành 7 - 20) Bảng phân ngành này được sử dụng cho các mục tiêu thống kê, các cuộc điều tra trong đó có Điều tra doanh nghiệp hàng năm và Điều tra cơ sở sản xuất kinh doanh cá thể (1 tháng 10) Mặc dù được xây dựng dựa trên ISIC3, nhưng bảng phân ngành VSIC 93 có một số khác biệt với ISIC3 do đặc thù của Việt Nam
Đầu năm 2007, Hệ thống ngành kinh tế quốc dân mới (VSIC 2007) được Tổng cục Thống kê sửa đổi trên cơ sở ISIC 4 của Liên hợp quốc, đã được Chính phủ ký ban hành Bảng phân ngành mới này sẽ thay thế cho VSIC 93
Danh mục sản phẩm chủ yếu của Việt Nam (VCPC)
Hiện tại, Việt Nam đang sử dụng danh mục VCPC do Tổng cục Thống kê ban hành năm 1998 làm danh mục sản phẩm Danh mục này được xây dựng dựa trên phiên bản Danh mục sản phẩm trung tâm ban hành tạm thời (PCPC) do Liên hợp quốc xây dựng và ban hành năm 1989 Sau khi hoàn thành sửa đổi VSIC 06, Tổng cục Thống kê đã có kế haọch sửa đổi VCPC dựa trên CPC 2.0 sẽ được Liên hợp quốc thông qua và ban hành năm 2007 Dự kiến, việc sửa đổi VCPC sẽ được Tổng cục Thống kê hoàn thành trong năm 2008 để trình Chính phủ ban hành sử dụng cho phù hợp với sự phát triển thực tế của Việt Nam cũng như hài hoà với các danh mục có liên quan khác
Chỉ thị 49 của Thủ tướng Chính phủ yêu cầu Bộ Nội vụ phối hợp với Tổng cục Thống kê, Bộ Kế hoạch Đầu tu và các Bộ/ngành có liên quan chỉ rõ những lĩnh vực dịch vụ nào chưa có sự rõ ràng trong phân công quản lý để đề xuất với Chính phủ có sự phân công trách nhiệm Liên quan đến khía cạnh thống kê, để thực hiện hiệm vụ này sẽ cần phải sử dụng phân loại các hoạt động dịch vụ (VSIC 2007) và phân loại sản phẩm dịch vụ (VCPC)
3.2.3 Khó khăn, tồn tại
Bên cạnh những điều kiện thuận lợi về cơ sở pháp lý, thống kê thương mại quốc tế về dịch vụ của Việt Nam đang phải đối mặt với những khó khăn, tồn tại sau đây:
- Về lý thuyết, đây là lĩnh vực thống kê mới, có phạm vi thu thập và tổng hợp số liệu rất rộng,
rất khó khăn cho việc xây dựng hệ thống thống kê
- Chế độ báo cáo và các qui định thống kê về lĩnh vực này hiện vẫn chưa được Tổng cục Thống kê ban hành một cách chính thức trong khi những thay đổi trong chế độ báo cáo
Trang 21thống kê của Ngân hàng Nhà nước theo quyết định 477 dường như không đem lại nhiều kết quả cho việc hoàn thiện thu thập số liệu cho BOP
- Ở các Cục Thống kê và doanh nghiệp hiện các cán bộ thống kê chưa hiểu biết và quan tâm một cách đầy đủ về lĩnh vực thống kê này Mặt khác đối với doanh nghiệp, số liệu thống kê thương mại quốc tế về dịch vụ cũng là số liệu nhạy cảm nên việc thực hiện báo cáo, phiếu điều tra của doanh nghiệp khá hạn chế Tuy Luật Thống kê đã được ban hành chính thức từ năm 2003 nhưng việc chấp hành luật của các đối tượng liên quan còn rất hạn chế, điều này ảnh hưởng rất lớn đến tính chính xác, đầy đủ và kịp thời của thông tin thống kê nói chung số liệu thống kê thương mại quốc tế về dịch vụ nói riêng
- Nhận thức và yêu cầu sử dụng số liệu của các cơ quan quản lý nhà nước doanh nghiệp về vai trò của số liệu thống kê còn yếu Sự phối hợp giữa các Bộ/ngành trong việc trao đổi thông tin liên quan đến doanh nghiệp thuộc lĩnh vực quản lý của mình cũng chưa được chặt chẽ, ví
dụ như các thông tin giúp cho việc hoàn thiện, cập nhật cơ sở dữ liệu doanh nghiệp giữa Tổng cục Thống kê, Bộ Kế hoạch Đầu tư, Tổng cục Thuế (Bộ Tài chính)
3.3 Chỉ tiêu thống kê có tính so sánh quốc tế và khu vực
3.3.1 Khuôn khổ quốc tế
Như đã đề cập, Cẩm nang đưa ra khuôn khổ chung về thống kê thương mại quốc tế về dịch vụ Cẩm nang khuyến nghị danh mục áp dụng cho việc tổng hợp số liệu BOP và danh mục áp dụng cho thống kê FATS Danh mục EBOPS được khuyến nghị sử dụng cho việc phân tổ chi tiết 11 ngành dịch vụ của BPM5 cho mục đích Cán cân thanh toán Danh mục ICFA, dựa trên ISIC3 được khuyến nghị sử dụng trong thống kê FATS Mã số ICFA và ISIC là rất khác nhau, vì vậy Cẩm nang cũng cung cấp bảng mã tương thích giữa ICFA, ISIC3 và cả với EBOPS
Danh mục EBOPS chỉ ra phân loại các nhóm sản phẩm/sản phẩm dịch vụ thuộc phạm vi xuất nhập khẩu cũng như chỉ ra phân tổ về nước đối tác (giao dịch giữa các bên liên quan và không lên quan) Các khuyến nghị này cần được sử dụng cho việc đưa ra hệ thống chỉ tiêu thống kê của Tổng cục Thống kê
3.3.2 Khuôn khổ hài hòa thống kê ASEAN
3.3.2.1 Sản phẩm dịch vụ
Hội thảo thống kê TMQT về dịch vụ của các nước ASEAN tổ chức tại Malaixia tháng 9/2006 đã đưa ra một số khuyến nghị một khuôn khổ chung cho việc xây dựng và hài hòa, cơ chế hợp tác và tăng cường năng lực cho lĩnh vực thống kê này
Về danh mục, các nước ASEAN nhất trí áp dụng khuyến nghị của Cẩm nang về việc sử dụng EBOPS và đề nghị một danh mục tối thiếu các lĩnh vực dịch vụ trong EBOPS cho mục tiêu hài hoà Về phân tổ theo nước đối tác, danh mục các nước đối tác chủ yếu cũng được các nước ASEAN thồng nhất ưu tiên cho mục tiêu hài hòa bao gồm: các nước thuộc ASEAN, EU và 7 nước khác
Về lộ trình xây dựng và hài hòa, ASEAN cũng đã nhất trí thành lập nhóm đặc trách về Thống kê thương mại dịch vụ quốc tế bao gồm sự tham gia của các nước thành viên trong đó Việt Nam được bầu làm chủ tịch Nhóm này có nhiệm vụ nghiên cứu, phát triển một khuôn khổ chung về điều tra chọn mẫu, đề xuất lộ trình thực hiện khuyến nghị của Cẩm nang, thiết kế dàn chọn mẫu cho thống
kê FATS và phương pháp thu thập, tổng hợp số liệu theo EBOPS, kể cả phát triển điều tra doanh nghiệp cho mục tiêu thương mại dịch vụ
3.3.2.2 Hoạt động dịch vụ
Trang 22Nhằm mục tiêu hài hòa danh mục phân ngành các hoạt động kinh tế, năm 2006 ASEAN cũng đã nhất trí đưa ra một danh mục hài hòa ASEAN về cơ bản dựa trên ISIC4 đến ngành cấp 3, trừ một
số sự khác biệt, bổ sung cho phù hợp với điều kiện và mục tiêu của ASEAN Danh mục này dự kiến sẽ được thông qua vào năm 2007 để sử dụng từ năm 2009 VSIC 2007 của Việt Nam vừa được Thủ tướng Chính phủ ban hành tháng 1/2007cũng đã có sự hài hòa, thống nhất với danh mục ASEAN ở các ngành cấp 3 và đây cũng là thuận lợi cho Tổng cục Thống kê khi thực hiện chương trình hài hòa ASEAN về thống kê thương mại dịch vụ
Số liệu có được công
bố theo 11 ngành của BPM5 không ?
Có công bố các số liệu chi tiết hơn theo khuyến nghị của Cẩm nang? Nếu không thì kế hoạch trong tương lai là gì ?
Brunây Có Không công bố Không, không có kế hoạch
gì
Campuchia
Inđônêsia Có Có, trong báo cáo gửi
IMF và Niên giám thống kê về BOP
Không Bộ Lao động, Cơ quan Thống kê quốc gia và Ngân hàng Trung ương đang phối hợp làm việc để tổng hợp số liệu về lao động làm việc ở nước ngoài Ngân hàng Trung ương có kế hoạch tổng hợp số liệu theo nước đối tác
Lào
Malaixia Có Không, chỉ công bố số
liệu qúy đối với dịch vụ vận tải, du lịch, dịch vụ kinh doanh khác và dịch
vụ Chính phủ
Không
Myanma
Philipin Có, trừ nguyên tắc cư trú áp
dụng đối với người lao động làm việc ở nước ngoài, khó khăn về thời điểm thống kê, xác định trị giá
Có, với một số chi tiết thêm về dịch vụ kinh doanh khác, dịch vụ cá nhân, văn hóa và giải trí
Không, trừ số liệu về lao động làm việc ở nước ngoài, một số ngành có hoạt động của các công ty con, chi nhánh nước ngoài thông qua
số liệu điều tra FDI
Singapo Có Có, công bố số liệu
hàng qúy nhưng chỉ đối
Không, trừ số liệu năm về nước đối tác chủ yếu, thông
Trang 23
với 10 ngành dịch vụ vì
lý do bí mật số liệu
qua điều tra của cơ quan thống kê
Thái lan Có, trừ một số khác biệt về
danh mục, chi tiêt hơn về dịch vụ vận tải, dịch vụ khác chưa chi tiết do thiếu nguồn
từ hệ thống thanh toán ITRS
Việt Nam Có, nhưng không đầy đủ và
chi tiết
Không đầy đủ 11 ngành Đến hết 2006 mới chi tiết được 6 ngành: vận tải, bưu chính viễn thông, du lịch, tài chính, bảo hiểm, DV Chính phủ
Không Đã có kế hoạch khai thác và tổng hợp số liệu FATS từ số liệu FDI và số lượng lao động xuất khẩu sang một số nước
Bảng trên cho thấy một bức tranh không mấy sáng sủa về thực trạng tổng hợp và công bố số liệu của nhiều nước ASEAN Nhìn chung các chuẩn mực quốc tế về phương pháp và danh mục được nhiều nước áp dụng, tuy nhiên rất ít nước áp dụng đầy đủ Philipin và Thái lan có một số khác biệt
do đặc thù riêng Số liệu thống kê qúy được một số nước công bố nhưng thiếu chi tiết vì lý do chất lượng, bí mật số liệu hoặc hạn chế khác Chưa có nước nào tổng hợp số liệu theo phân loại dịch vụ của GATS và 4 phương thức cung cấp dịch vụ, trừ một số nội dung hạn chế về số liệu của các công ty con, chi nhánh đầu tư nước ngoài thông qua thống kê FDI (Philipin và Việt Nam) Một số nước công bố số liệu EBOPS chi tiết đến một số phân ngành dịch vụ lớn Một số nước đã công bố được số liệu về nước bạn hàng chủ yếu (Singapo và Inđônêxia) và số liệu về xuất khẩu lao động (Inđônêxia, Philipin, Việt Nam)
Mặc dù thống kê thương mại quốc tế về dịch vụ của các nước ASEAN còn có khoảng cách khá xa
so với các chuẩn mực quốc tế nhưng với Việt Nam, lĩnh vực thống kê này mới chỉ ở mức trung bình: việc công bố số liệu thống kê xuất nhập khẩu dịch vụ mới chỉ được thực hiện hàng qúy với 6/11 lĩnh vực dịch vụ, chưa có số liệu chi tiết về phân nhóm dịch vụ, nước đối tác Thực trạng này
là một trong những nguyên nhân dẫn đến những yếu kém về công tác quản lý, điều hành chính sách vĩ mô, ảnh hưởng đến năng lực cạnh tranh của các doanh nghiệp
3.4 Nhu cầu xây dựng hệ thống thống kê thương mại quốc tế về dịch vụ
Có thể nói việc xây dựng hệ thống thống kê thương mại dịch vụ là nhu cầu cấp bách đối vớiViệt Nam, nhằm đáp ứng các yêu cầu hoạch định chính sách trong nước cũng như quốc tế
• Số liệu thống kê đầy đủ, chính xác và kịp thời về thương mại dịch vụ đóng vai trò quan trọng trong phân tích kinh tế và lập chính sách, cụ thể đối với Việt Nam, các số liệu này rất cần thiết cho việc xây dựng và điều hành chiến lược phát triển kinh tế thời kỳ 2006 - 2010, cũng như các thời kỳ tiếp theo Có được thông tin về những thay đổi của khu vực dịch vụ đối vơí nền kinh tế trong nước và thế giới sẽ giúp cho Việt Nam xác định đúng đắn nhất về lợi ích của mình khi hội nhập với nền kinh tế thế giới Có thể nói, thông tin thống kê là mấu chốt của việc tăng cường tính minh bạch, và tính minh bạch chính là mấu chốt để quản lý nền kinh tế một cách lành mạnh
và hiệu qủa
• Trong hơn hai thập kỷ qua, tiến bộ kỹ thuật với tốc độ nhanh ở một số lĩnh vực như vận tải, máy tính, viễn thông, kể cả sự phát triển của internet và thương mại điện tử đã tạo điều kiện cho các doanh nghiệp sử dụng một cách có hiệu qủa các nguồn lực cho sản xuất và đáp ứng một cách
Trang 24rộng rãi hơn nhu cầu của thị trường Xu hướng toàn cầu hóa được thúc đẩy bởi các chính sách tự
do hóa, dỡ bỏ hạn chế đối với các hoạt động kinh tế tất yếu sẽ thúc đẩy hoạt động đầu tư quốc
tế, xuất nhập khẩu hàng hóa và dịch vụ tăng trưởng nhanh chóng Các công ty đa quốc gia và cũng sẽ tạo điều kiện tất yếu cho việc di chuyển của thể nhân, cả với tư cách người cung cấp dịch vụ độc lập và người lao động làm thuê
• Dịch vụ đóng vai trò ngày càng trở nên phát triển trong hoạt động đầu tư quốc tế Năm 2005 dịch vụ được ước tính là khu vực có luồng đầu tư quốc tế lớn nhất, chiếm khoảng 71%6 Tuy nhiên ở Việt Nam, theo Bộ Kế hoạch và Đầu tư, tính đến tháng 12/2005 số dự án đầu tư nước ngoài được cấp phép hoạt động trong lĩnh vực dịch vụ chiếm khoảng 23% tổng số dự án FDI và 29% tổng vốn đăng ký Các tỷ lệ này đang chứng tỏ các chính sách thu hút đầu tư nước ngoài cho khu vực dịch vụ đang tỏ ra thua kém so với khu vực sản xuất hàng hóa, chưa tương xứng với định hướng cũng như các mục tiêu phát triển khu vực dịch vụ trong tổng thể nền kinh tế quốc dân
• Chỉ thị của Thủ tướng Chính phủ về tăng cường phát triển khu vực dịch vụ tháng 12/2004 giao trách nhiệm cho Tổng cục Thống kê phối hợp với các Bộ/ngành có liên quan xây dựng và trình Chính phủ ban hành Danh mục dịch vụ trong thương mại quốc tế Danh mục này phải nhằm đáp ứng yêu cầu của chế độ báo cáo thống kê về thương mại dịch vụ Điều này sẽ cho phép nhìn nhận một cách rõ ràng hơn về cơ cấu và tình hình thương mại dịch vụ của Việt Nam, tầm quan trọng của nó đối với tổng thể nền kinh tế, xu hướng phát triển, những yếu kém của khu vực dịch
vụ và tiềm năng của tự do hóa dịch vụ cũng như yêu cầu quản lý Nó cũng có ý nghĩa đặc biệt trong chiến lược phát triển khu vực dịch vụ
• Số liệu thống kê chính xác, kịp thời và đầy đủ về thương mại dịch vụ còn có ý nghĩa hết sức quan trọng trong việc nâng cao vị thế đàm phán của Việt Nam trong các hiệp định thương mại song phương và đa phương, như các Hiệp định về dịch vụ trong khuôn khổ ASEAN hoặc đề xuất về khu vực tự do ASEAN-Trung quốc
• Từ 11/1/2007, Việt Nam đã chính thức trở thành thành viên thứ 150 của WTO Theo đó, thông tin thống kê về thương mại dịch vụ sẽ được sử dụng để đánh giá mức độ thâm nhập thị trường
và kiểm soát việc thực hiện cam kết mở cửa thị trường thông qua các số liệu về xuất khẩu và nhập khẩu dịch vụ của Việt Nam Nếu không có đủ những thông tin thống kê đáng tin cậy thì rất khó đánh giá được tác động tiêu cực cũng như tích cực, khả năng thâm nhập thị trường nước ngoài và các biện pháp bảo vệ thị trường trong nước, lợi ích của người sản xuất và tiêu dùng dịch vụ của Việt Nam
• GATS quan tâm đến tất cả các lĩnh vực dịch vụ có liên quan đến thương mại và đầu tư nước ngoài Việt Nam sẽ phải xem xét các khía cạnh pháp lý và qui định quốc gia để phù hợp với những gì đã cam kết thực hiện khi gia nhập WTO từ năm 2007 Việc đánh giá những khía cạnh chính trị và kinh tế của việc hội nhập WTO sẽ phụ thuộc rất nhiều vào các số liệu thống kê liên quan đến sản xuất, xuất nhập khẩu các ngành dịch vụ và các phương thức cung cấp dịch vụ Việt Nam cũng rất cần thu thập và tính toán những số liệu này để có thể cung cấp cho WTO và các nước thành viên để họ đánh giá việc thực hiện các cam kết của Việt Nam
6
B¸o c¸o ®Çu t− thÕ giíi: Xu h−íng dÞch chuyÓn vÒ khu vùc dÞch vô, UNCTAD, New York vµ Geneva, 2004
Trang 25PHẦN II KHUYẾN NGHỊ VỀ HỆ THỐNG THỐNG KÊ
CHƯƠNG 4 KHUYẾN NGHỊ VỀ HỆ THỐNG BÁO CÁO THỐNG KÊ
CHO CÁC NGÀNH DỊCH VỤ
Phần này đề cập các khuyến nghị xây dựng và hoàn thiện hệ thống báo cáo thống kê thương mại quốc tế cho từng ngành dịch vụ và Danh mục sử dụng cho mục đích thống kê Cụ thể:
• Chương 4 đề cập các khuyến nghị về hệ thống báo cáo thống kê liên quan đến 8 vấn đề:
- Thu thập số liệu xuất nhập khẩu dịch vụ trong điều tra doanh nghiệp hàng năm
- Sửa đổi, bổ sung chế độ báo cáo/điều tra doanh nghiệp tháng/qúy
- Khai thác số liệu hiện có và hoàn thiện thống kê FDI để tách riêng bộ dữ liệu về thống FATS
- Tăng cường sự phối hợp bộ/ngành để khai thác nguồn số liệu từ hồ sơ hành chính
- Nghiên cứu và sớm thực hiện cuộc điều tra toàn diện chuẩn về thương mại dịch vụ quốc
tế
- Thực hiện phân bổ số liệu thống kê EBOPS theo các phương thức cung cấp dịch vụ của GATS
- Thiết lập cơ sở dữ liệu siêu văn bản và thực hiện từng bước việc công bố số liệu
- Nghiên cứu và áp dụng các phương pháp ước tính số liệu
• Chương 5 đề cập các khuyến nghị về xây dựng danh mục dịch vụ sử dụng cho mục đích thống kê
Yêu cầu của hệ thống thống kê các ngành dịch vụ trong EBOPS
Hệ thống thống kê dịch vụ nói chung và thương mại quốc tế về dịch vụ nói riêng cần được xây dựng dựa trên các nguyên tắc cơ bản sau:
• Phù hợp với các qui định của pháp luật và chiến lược phát triển đất nước như: Luật Thống kê, Quyết định số 305/2005/QĐ-TTg ngày 24 tháng 11 năm 2005 của Thủ tướng Chính phủ về việc ban hành hệ thống chỉ tiêu thống kê quốc gia (tên chỉ tiêu, phân tổ chủ yếu, kỳ báo cáo, trách nhiệm của các Bộ/ngành, doanh nghiệp trong việc thu thập, tổng hợp và công bố số liệu thống kê;
• Đảm bảo khả năng so sánh quốc tế và khu vực;
• Phù hợp với thực tế họat động dịch vụ và công tác thống kê;
• Đáp ứng yêu cầu sử dụng số liệu trong nước và quốc tế về tính chính xác, kịp thời và đầy đủ Việc tổng hợp và biên soạn số liệu thống kê thương mại quốc tế về dịch vụ có thể dựa trên các nguồn số liệu cơ bản như: báo cáo thống kê định kỳ của doanh nghiệp nhà nước, điều tra chọn mẫu doanh nghiệp ngoài nhà nước hàng tháng/quý, báo cáo của các bộ/ngành từ các hồ sơ hành chính và đặc biệt là từ hai năm trở lại đây cũng như những năm tiếp theo, số liệu từ điều tra doanh nghiệp hàng năm và các cuộc điều tra chuyên đề khác đã, đang và sẽ trở thành nguồn số liệu rất quan trọng
4.1 Thu thập số liệu xuất nhập khẩu dịch vụ trong điều tra doanh nghiệp hàng năm (gọi tắt
là AES)
Trang 26AES thu thập số liệu năm về tất cả các lĩnh vực hoạt động của các doanh nghiệp thuộc mọi thành phần kinh tế Đây là nguồn số liệu quan trọng cho việc biên soạn các chỉ tiêu tổng hợp thuộc SNA, thống kê ngành như công nghiệp, thương mại đáp ứng yêu cầu số liệu cho Chính phủ, các bộ/ngành và đối tượng sử dụng số liệu khác, đảm bảo tính so sánh quốc tế
• Về đơn vị điều tra, cuộc điều tra này bao gồm các doanh nghiệp hạch toán kinh té độc lập đã đăng ký hoạt động theo luật, thuộc mọi thành phần kinh tế và các ngành kinh tế (theo phân ngành VSIC 1993) Cuộc điều tra này được tiến hành lần đầu tiên vào năm 2001 với các phiếu điều tra thu thập những thông tin cơ bản nhất về kết quả và tình trạng hoạt động của doanh nghiệp trong năm điều tra như hoạt động chính của doanh nghiệp, doanh thu thuần, lao động và thu nhập của người lao động, nguồn vốn, tài sản, lợi nhuận, nộp ngân sách và các câu hỏi chi tiêt liên quan đến các hoạt động của doanh nghiệp Với những doanh nghiệp có hoạt động xuất nhập khẩu dịch vụ, kết qủa của hoạt động này được tính chung trong các chỉ tiêu vừa nêu, tuy nhiên cho đến cuộc điều tra năm 2003, chưa có câu hỏi tách riêng cho hoạt động này
• Xuất nhập khẩu dịch vụ
Năm 2005, lần đầu tiên trong phiếu điều tra số 1A Điều tra doanh nghiệp đã bổ sung câu hỏi
về kết quả hoạt động xuất nhập khẩu dịch vụ của doanh nghiệp (câu 26) Tuy nhiên tỷ lệ trả lời câu hỏi này còn thấp, chất lượng số liệu thu được không đạt yếu cầu do các doanh nghiệp
và Cục Thống kê chưa hiểu rõ khái niệm, nội dung hoạt động này, mặt khác trong số liệu của bản thân các doanh nghiệp, hoạt động này cũng chưa được theo dõi và ghi chép riêng Năm
2006, câu hởi này được sửa đổi một số điểm và chi tiết hơn về giải thích cách ghi phiếu Vì vậy chất lượng số liệu đã được cải thiện hơn Phiếu điều tra năm 2007 vẫn giữ nguyên nội dung câu hỏi 26
Mặc dù chất lượng số liệu điều tra hai năm qua chưa đạt yêu cầu nhưng thực tế cho thấy các doanh nghiệp đã dần làm quen với nội dung câu hỏi và kết quả điều tra cũng đưa ra được bức tranh ban đầu về hoạt động xuất nhập khẩu dịch vụ Trong tương lai cần tập trung vào các doanh nghiệp lớn, hướng dẫn họ kỹ hơn để có thể từng bước nâng cao chất lượng số liệu, phân tổ chi tiết hơn số liệu theo EBOPS, theo nước đối tác và các ưu tiên của ASEAN Trên
cơ sở đó có thể công bố được các số liệu này trong những năm tiếp theo
Khuyến nghị: Cần tiếp tục thực hiện điều tra hàng năm, tiến tới tách riêng cuộc điều tra
thương mại quốc tế về dịch vụ theo phân loại EBOPS Hệ thống ngành kinh tế quốc dân VSIC
2007 và Danh mục dịch vụ trong thương mại quốc tế VCITS một khi được ban hành sẽ là có
sở quan trọng trợ giúp cho việc báo cáo và chi tiết các sản phẩm dịch vụ theo ngành dịch vụ
• Thống kê FATS luồng vào
Một số chỉ tiêu FATS luồng vào được thu thập qua điều tra doanh nghiệp hàng năm từ tập hợp con các số liệu về doanh nghiệp FDI Tuy nhiên các chỉ tiêu này hiện chưa được công bố
vì chưa đủ dữ liệu để bóc tách các doanh nghiệp thuộc phạm vi FATS từ cơ sở dữ liệu, hiện bao gồm thông tin về toàn bộ các doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài, doanh nghiệp có trên 50% nhưng dưới 100% vốn nước ngoài và các doanh nghiệp có 20 - 50% vốn nước ngoài
Khuyến nghị: cần bổ sung câu hỏi và khai thác các số liệu trong cơ sở dữ liệu hiện có (liên
quan đến thông tin về % vốn góp của bên nước ngoài trong tổng vốn của doangh nghiệp) để
có thể tách riêng bộ cơ sở dữ liệu con về thống kê FATS để có thể công bố chỉ tiêu thống kê FATS luồng vào, đồng thời bổ sung câu hỏi để thu thập thông tin về FATS luồng ra, mặc dù hiện tại ở Việt Nam mới chỉ có một số ít doanh nghiệp có hoạt động này Đối với từng ngành dịch vụ, Tổng cục Thống kê cần có những nghiên cứu chi tiết hơn để tìm ra những vướng mắc, khó khăn của hệ thống kế toán hiện hành ảnh hưởng đến việc bóc tách, ghi chép chi tiết
Trang 27về kết quả hoạt động xuất nhập khẩu của doanh nghiệp để đề xuất với các bộ/ngành có liên quan hướng giải quyết
Đối với hoạt động nhập khẩu dịch vụ, kinh nghiệm ở nhiều nước và thực tiễn Việt Nam cho thấy việc thu thập số liệu khó khăn hơn đối với hoạt động xuất khẩu vì nhiều lý do: doanh nghiệp không hiểu việc chi trả phí dịch vụ của mình cho bên nước ngoài chính là hoạt động nhập khẩu, hoặc doanh nghiệp không muốn cung cấp thông tin về chi phí của mình Vì vậy cần hết sức lưu ý đến việc thiết kế câu hỏi, hướng dẫn trả lời các nội dung này
4.2 Sửa đổi, bổ sung chế độ báo cáo/điều tra doanh nghiệp hàng tháng, qúy
Các báo cáo định kỳ và số liệu điều tra doanh nghiệp hàng tháng/qúy là những nguồn số liệu quan trọng cho thống kê ngành, trong đó chế độ báo cáo thống kê định kỳ được áp dụng cho các doanh nghiệp nhà nước, điều tra chọn mẫu được áp dụng cho các doanh nghiệp ngoài nhà nước Trong những năm gần đây, thực hiện chủ trương của Đảng và Nhà nước, quá trình cổ phần hóa các doanh nghiệp nhà nước đã và đang diễn ra mạnh mẽ, ở các ngành kinh tế và các doanh nghiệp lớn, nhỏ Vì vây, số lượng các doanh nghiệp nhà nước đang giảm đi nhanh chóng trong khi số lượng các doanh nghiệp ngoài nhà nước tăng nhanh chóng Xu hướng này cho thấy, việc phát triển các cuộc điều tra thống kê là rất cần thiết
Các chế độ báo cáo/điều tra hiện hành không yêu cầu doanh nghiệp tách riêng các số liệu về hoạt động xuất nhập khẩu dịch vụ Trong năm 2004 và 2005, Tổng cục Thống kê đã ban hành tạm thời một số biểu báo cáo áp dụng cho Cục Hàng không, Tổng công ty hàng không, vận tải biển và Bưu chính Viễn thông dựa trên hướng dẫn nội dung của Cẩm nang và Phiếu điều tra của một số nước Tuy nhiên từ năm 2006, thực hiện chủ trương của Chính phủ, một số Tổng công ty lớn sẽ chuyển sang mô hình tập đoàn, bao gồm các công ty mẹ, công ty con, hoạt động đa ngành Vì vậy chế độ báo cáo như hiện tại sẽ không còn phù hợp và việc nghiên cứu sửa đổi nội dung, hình thức thu thập số liệu là hết sức cần thiết
Khuyến nghị: cần phát triển đièu tra doanh nghiệp hàng tháng/qúy, trong đó chỉ tiêu xuất
nhập khẩu dịch vụ cần được tách riêng
Giữa các ngành dịch vụ EBOPS có những đặc thù rất khác nhau, vì vậy cần thiết kế các phiếu điều tra riêng biệt để thu thập số liệu thích hợp cho từng ngành Phương pháp điều tra đối với từng ngành cũng sẽ có sự khác nhau Đối với các ngành dịch vụ có số lượng doanh nghiệp ít nên tiến hành điều tra toàn bộ (ví dụ vận tải hàng không, bưu chính viến thông, bảo hiểm) Với các ngành dịch vụ có số lượng danh nghiệp lớn, có thể tiến hành điều tra mẫu với cỡ mẫu, cách chọn mẫu luân phiên, phù hợp với từng ngành Tuy nhiên do tính chất nhạy cảm của số liệu thương mại dịch vụ, cần nghiên cứu kỹ nội dung số liệu công bố đế đảm bảo bí mật thông tin cho doanh nghiệp Tổng cục Thống kê cũng cần tập trung hơn vào 6 lĩnh vực dịch vụ ưu tiên của Chính phủ để thực hiện điều tra, trước mắt là điều tra hàng năm, tiến tới các cuộc điều tra 6 tháng hoặc qúy
Hiện tại, có thể nhiều doanh nghiệp có họat động nhập khẩu dịch vụ nhưng với trị giá nhỏ, vì vậy cần xem xét kỹ việc chọn mẫu sao cho hợp lý, đặc biệt là khi chất lượng số liệu còn nhiều hạn chế Trong giai đọan đầu, chất lượng số liệu nhập khẩu dịch vụ phụ thuộc rất nhiều vào số liệu do Ngân hàng Nhà nước thu thập hàng tháng, vào cỡ mẫu và mức tăng trưởng của các ngành dịch vụ Vì vậy cần sử dụng nguồn số liệu hiện do Ngân hàng Nhà nước thu thập hàng tháng từ các báo cáo thống kê của Ngân hàng hương mại Khi nguồn lực của Tổng cục Thống
kê đủ đáp ứng yêu cầu điều tra thì nguồn số liệu này sẽ dần thay thế số liệu từ ngân hàng về nhập khẩu dịch vụ Có thể cân nhắc phương án: chỉ yêu cầu các doanh nnghiệp lớn báo cáo chi tiết số liệu nhập khẩu dịch vụ theo ngành/phân ngành và nước đối tác, số liệu của các doanh nghiệp nhỏ, do sự hạn chế về công tác hạch tóan, có thể được ước tính theo tỷ trọng của các doanh nghiệp lớn
Trang 28Để tăng tỷ lệ thu thập báo cáo/phiếu điều tra từ doanh nghiệp, việc thiết kế phiếu điều tra theo hướng đơn giản, dễ hiểu, dễ điền thông tin đóng vai trò là rất quan trọng Ngoài ra việc ước tính số liệu dựa trên những phương pháp có thể tin cậy được trong trường hợp doanh nghiệp không trả lời cũng rất cần được đầu tư nghiên cứu để tăng tỷ lệ này Việc sử dụng các biện pháp xử phạt hành chính các trường hợp vi phạm Luật Thống kê cũng cần được xem xét một cách hợp lý để góp phần nâng cao chất lượng số liệu Việc tập huấn, đào tạo cho cán bộ thống
kê của doanh nghiệp, Cục Thống kê cũng cần được tăng cường một cách hiệu quả, đặc biệt là đối với các doanh nghiệp lớn
Danh mục VSIC-2007 và VCITS cần được sử dụng cho điều tra doanh nghiệp để có thể hiểu
rõ, chi tiết về các sản phẩm dịch vụ theo ngành dịch vụ khi thực hiện báo cáo/phiếu điều tra Cùng với việc phát triển điều tra doanh nghiệp của Tổng cục Thống kê, Ngân hàng Nhà nước cần tiếp tục duy trì và hoàn thiện hệ thống báo cáo thông kê hiện hành áp dụng cho các ngân hàng thương mại theo mực tiêu của Cán cân thanh tóan Tuy Chế độ báo cáo 477 của Ngân hàng Nhà nước đã được sửa đổi để cải thiện chất lượng số liệu nhưng có thể nói vẫn còn một khỏang cách khá xa so với yêu cầu phân tổ chi tiết ngành/phân ngành dịch vụ cũng như nước đối tác, song về khía cạnh tổng thu/chi của doanh nghiệp cho người không cư trú về dịch vụ, nguồn số liệu này rất cần được sử dụng kết hợp vớiâsoos liệu điều tra từ Tổng cục Thống kê
để có được bức tranh đầy đủ, chi tiết nhất có thể về họat động xuất nhập khẩu dịch vụ của Việt Nam
Qui định chỉ tiêu báo cáo thống kê xuất nhập khẩu cho từng ngành dịch vụ
A Vận tải
A.1 Vận tải đường bộ và đường sắt
Trao đổi thương mại giữa Việt Nam với Trung Quốc những năm gần đây được thực hiện một phần thông qua tuyến đường sắt và đường bộ Giữa Việt Nam với Lào và Cam pu chia, hiện tại mới chỉ thông qua đường bộ là chủ yếu Tuy nhiên hiện tại số liệu thống kê thể hiện khối lượng và trị giá giao dịch này chưa được Tổng cục Thống kê tổng hợp
A.1.1 Lưu ý về phạm vi thống kê
• Dịch vụ vận tải hành khách: cần lưu ý rằng dịch vụ vận tải do các công ty trong nước
cung cấp cho khách du lịch nước ngoài bên trong lãnh thổ Việt Nam không được đưa vào dịch vụ vận tải mà thuộc dịch vụ du lịch; hoạt động cho thuê phương tiện có thời hạn nhưng không có người điều khiển cũng được lợi trừ khỏi dịch vụ vận tải và được đưa vào dịch vụ kinh doanh (cho thuê họat động)
• Dịch vụ vận tải hàng hóa: về khía cạnh nhập khẩu, chỉ những dịch vụ do các nhà cung cấp
không thường trú thực hiện với hàng hóa nhập khẩu của Việt Nam mới được tính là nhập khẩu nhìn chung các số liệu này đòi hỏi phải thu thập qua điều tra doanh nghiệp nếu như
cơ quan hải quan không yêu cầu chủ hàng khai báo thông tin khi họ mở tờ khai nhập khẩu
Ở nhiều nước, trong đó có Việt Nam, hiện đang sử dụng tỷ lệ 10% của giá trị hàng nhập khẩu c.i.f để ước tính trị giá nhập khẩu này Một khi thực hiện có kết qủa điều tra mẫu đối với chi phí bảo hiểm và vận tải hàng nhập khẩu, cần sử dụng tỷ lệ này vì nó thể hiện xác thực nhất yếu tố thị trường của họat động nhập khẩu
• Dịch vụ phụ trợ và hỗ trợ vận tải khác: phân nhóm này có ý nghĩa kinh tế cao khi mà
nhiều nước thành viên của WTO đã thực hiện cam kết giải phóng thị trường thậm chí ngay
cả với dịch vụ phụ trợ vận tải hàng không Trong phân loại của EBOPS, phân nhóm này
Trang 29rất được quan tâm vì nó bao gồm dịch vụ giao nhận hàng và công ten nơ, không được tính vào dịch vụ vận tải biển hoặc hàng không Ngoài ra, trong trường hợp vận tải đa phương thức - đang rất phát triển hiện nay - nếu không xác định được rõ là nó thuộc phương thức vận tải nào thì sẽ được xếp vào phân nhóm dịch vụ này Việc xác định riêng các hoạt động này trong cuốn Cẩm nang phản ánh quy mô và tầm quan trọng ngày càng tăng của nó vì tính thương mại toàn cầu Ở những nước mà dịch vụ giao nhận công ten nơ do cơ quan cảng vụ của nhà nước thực hiện, đây có thể là đối tượng cho các cuộc đàm phán nhằm tư nhân hóa và tự do việc cung cấp cho các nhà đầu tư nước ngoài Với mục đích thống kê, Cẩm nang khuyến nghị dịch vụ giao nhận công ten nơ vẫn được xếp chung trong dịch vụ
hỗ trợ và phụ trợ vận tải khác Tuy nhiên, tùy theo mối quan tâm về mặt chính sách và quản lý của từng nước sẽ quyết định có chi tiết hơn trong phân loại dịch vụ và thu thập tách riêng số liệu thống kê hay không
Khuyến nghị: ngoài biểu 01g/CS trong Chế độ báo cáo áp dụng cho doanh nghiệp nhà
nước hiện nay, cần bổ sung biểu mẫu thống kê XNK dịch vụ vận tải Với các doanh nghiệp ngoài nhà nước, cần xây dựng và ban hành chế độ điều tra thường xuyên với bảng hỏi thích hợp Điều tra toàn bộ các doanh nghiệp vận tải biển cần thực hiện vào năm 2008 hoặc 2009 với yêu cầu chi tiết theo EBOPS và các nước đối tác
• Vận tải hàng không: Việt Nam hiện có hai đơn vị hoạt động trong lĩnh vực này gồm
Vietnam Airlines và Pacific Airlines, vận chuyển hành khách và hàng hoá trên các tuyến bay nội địa và quốc tế Ngoài ra còn có khoảng 20 hãng hàng không nước ngoài được phép bay đi/đến Việt Nam, có hoạt động chuyên chở hành khách và hàng hóa người Việt Nam và sử dụng các dịch vụ hỗ trợ hàng không do Việt Nam cung cấp Năm 2005 Tổng cục Thống kê đã sửa đổi, bổ sung và ban hành tạm thời biểu mẫu báo cáo xuất nhập khẩu dịch vụ hàng qúy cho Tổng công ty hàng không Việt Nam và Cục Hang không dân dụng Các số liệu này hiện vẫn được tổng hợp để công bố hàng qúy Tuy nhiên đối với Công ty
cổ phần Pacific Airlines, chưa có chế độ báo cáo hoăc điều tra thống kê cho đơn vị này về hoạt động XNK dịch vụ
Khuyến nghị: cần xây dựng và ban hành chính thức chế độ báo cáo/điều tra thống kê áp
dụng cho TCT hàng không và Pacific Airline, đồng thời cần thực hiện điều tra thống kê ít nhất một lần/năm đối với 20 hãng hàng không nước ngoài được phép bay đi/đến Việt Nam
để thu thập số liệu nhập khẩu dịch vụ của Việt Nam qua các đơn vị này
• Vận tải đường sắt: Tổng công ty Đường sắt Việt Nam là đơn vị duy nhất thực hiện hoạt
động vận tải đường sắt quốc tế giữa Việt Nam và Trung quốc Về hoạt động trong nước, hàng tháng Tổng công ty thực hiện chế độ báo cáo thống kê định kỳ với Tổng cục Thống
kê nhưng cũng giống như các lĩnh vực dịch vụ khác, hiện chưa có qui định thống kê cho hoạt động xuất nhập khẩu dịch vụ Theo số liệu ước tính của Tổng công ty, năm 2006 trị
Trang 30giá xuất khẩu dịch vụ vận tải đường sắt đạt khoảng 3 triệu USD trong đó chủ yếu là thu về vận tải hàng hóa Trong tương lai, khi tuyến đường sắt nối liền nhiều nước ASEAN được xây dựng, hoạt động xuất nhập khẩu dịch vụ này của Việt Nam sẽ ngày càng phát triển, đòi hỏi phải thu thập số liệu
Khuyến nghị: cần bổ sung biểu số liệu và giải thích chi tiết về xuất nhập khẩu dịch vụ vận
tải đường sắt trong chế độ báo cáo qui định cho Tổng công ty đường sắt hiện nay
• Vận tải ô tô: đây là lĩnh vực khá phức tạp cho việc thu thập số liệu vì tính chất đặc thù về
họat động và quản lý họat động của nó Với họat động trong nước, số liệu thống kê hiện tại được thu thập chủ yếu từ địa phương dựa trên nhiều nguồn Hiện chưa có qui định gì về thống kê xuất nhập khẩu dịch vụ này ngoài yêu cầu thực hiện phiếu điều tra doanh nghiệp
từ năm 2005 Tuy nhiên từ thực tế họat động và số liệu thu thập từ điều tra doanh nghiệp,
có thê thấy phần thu từ họat động này còn khá nhỏ bé, phần chi đã được thu thập thông qua số liệu về chi dịch vụ vận tải hàng nhập khẩu của Việt Nam
Khuyến nghị: hiện tại chưa cần tập trung nhiều cho việc thu thập số liệu XNK từ dịch vụ
vận tải đường bộ Trong tương lai khi giao thông đường bộ giữa Việt Nam với các nước láng giềng phát triển hơn, có thể xem xét việc ước tính thông qua các số liệun về phương tiện xuất nhập cảnh do cơ quan hải quan thu thập
B Du lịch
Du lịch là khu vực dịch vụ lớn nhất trong thương mại dịch vụ quốc tế, tính vào khoảng 29.4% của xuất khẩu dịch vụ thế giới Du lịch cũng là lĩnh vực được ưu tiên trong kế hoạch phát triển kinh tế của Việt Nam Du lịch chiếm tỷ lệ quan trọng trong doanh thu dịch vụ của Việt Nam từ thương mại quốc tế Trong năm 2005 có trên 3 triệu khách du lịch quốc tế đến Việt Nam và tạo
ra doanh thu trên 2.5 tỷ USD Khí hậu rất khác biệt giữa ba vùng Bắc, Trung và Nam vì vậy du khách đến miền Bắc lạnh giá vào mùa Hè và đến miền Nam vào tất cả các tháng trong năm
Khách du lịch Trung Quốc chiếm tỷ trọng lớn, du khách Mỹ đứng hàng thứ ba, tiếp đến là du khách Nhật Bản và Đài Loan Tiếp đến là du khách Úc chỉ chiếm khoảng một phần mười so với
du khách Trung Quốc Khoảng 57% khách du lịch nước ngoài đến bằng đường hàng không, 32% bằng đường bộ (chủ yếu từ Trung Quốc, Lào và Campuchia) và 11% đến bằng đường biển Mục tiêu của du khách là: nghỉ ngơi - 53%, kinh doanh - 18%, thăm viếng người thân và bạn bè
- 17% Du khách nước ngoài chi khoảng 20% cho khách sạn và nhà nghỉ
Thực trạng thống kê du lịch và khuyến nghị
Điều tra mẫu về chi tiêu của khách du lịch được thực hiện vào năm 2003 và 2005 để thu thập số liệu chi tiêu của cả khách du lịch trong nước và khách du lịch quốc tế Điều tra doanh nghiệp hàng năm thu thập số liệu về sử dụng khách sạn và nhà nghỉ, từ đó có được thông tin chính xác
về chi tiêu cho phòng ở của khách du lịch, với tỷ lệ trả lời đạt 90% Các hãng đại lý du lịch cũng phải báo cáo số khách du lịch mà hãng đã cung cấp dịch vụ, phí của hãng thu được từ khách du lịch quốc tế tại Việt Nam và người Việt Nam du lịch ra nước ngoài Trong năm 2005 khoảng 30.000 du khách đăng ký chỗ ở được chọn mẫu (6.500 khách nước ngoài) với khoảng thời gian
20 ngày (từ 15 tháng 11 đến 5 tháng 12 năm 2003 và từ 10-30 tháng 7 năm 2005) sử dụng phiếu điều tra số 01/ĐTDL cho du khách nước ngoài và phiếu 02/ĐTDL cho khách trong nước Điều tra thực hiện trong 23 tỉnh và thành phố trọng điểm (chỉ có 12 tỉnh thành phố cho du khách nước ngoài) và sử dụng mẫu ngẫu nhiên từ 6.000 khách sạn trong mỗi vùng và phân loại khách sạn theo số sao và số lượng du khách đã ở trong năm 2004 Điều tra viên tới từng khách sạn được chọn để thu thập thông tin Trong một số trường hợp, nhân viên lễ tân của khách sạn đóng vai trò điều tra viên, phỏng vấn du khách và gửi lại phiếu điều tra bằng đường bưu điện Tổng cục Thống kê thiết kế phiếu điều tra, lựa chọn tỉnh/thành phố và Cục Thống kê tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương trực tiếp tiến hành điều tra dực trên danh sách được chọn Danh sách các khách sạn được cập nhật từ kết quả tổng điều tra các cơ sở kinh tế và hành chính sự nghiệp của
Trang 31năm 2002, từ điều tra doanh nghiệp hàng năm vào 1 tháng 4 năm 2005 và điều tra các đơn vị kinh doanh cá thể vào 1 tháng 10 năm 2004
Số liệu hàng tháng về khách quốc tế đến Việt Nam và người Việt Nam ra nước ngoài được Cục quản lý Xuất nhập cảnh và Bộ Tư lệnh Bộ đội biên phòng cung cấp cho Tổng cục Thống kê Chi tiêu bình quân của khách nước ngoài tại Việt Nam đã được thu thập qua điều tra nhưng thông tin về chi tiêu của du khách Việt Nam ở nước ngoài hiện chưa được điều tra Có thể cân nhắc thêm việc sử dụng nguồn số liệu từ các đơn vị kinh doanh lữ hành quốc tế để tính được mức chi tiêu bình quân của khách đi theo tua và từ đó ước tính cho khách không đi theo tua Cuộc điều tra chi tiêu của khách du lịch nước ngoài tại Việt Nam cũng được Tổng cục Du lịch thực hiện với sự quan tâm rộng hơn về quản lý chuyên ngành Cuộc điều tra này được thực hiện tại của khẩu quốc tế với các du khách chuẩn bị rời Việt Nam So sánh với số liệu từ điều tra của Tổng cục Thống kê, về cơ bản các kết quả là gần nhau và điều đó cho thấy độ tin cậy của các số liệu điều tra do Tổng cục Thống kê thực hiện Trong tương lai, thông tin về sinh viên nước ngoài tại Việt Nam có thể thu thập từ tổ chức giáo dục của nhà nước, nhưng thông tin về chi tiêu của sinh viên Việt Nam ở nước ngoài cũng cần được điều tra Tương tự như thế để có thông tin
về chi tiêu cho dịch vụ y tế – thông tin rất được quan tâm bởi một số nước thành viên của ASEAN Có kế hoạch cài đặt thêm câu hỏi phụ vào cuộc điều tra hộ gia đình sau này về thu nhập từ lao động ở nước ngoài, nhưng hạn chế về mẫu điều tra có thể không bao gồm hết được phạm vi và do vậy cần có cuộc điều tra riêng Điều tra du lịch cũng không thu được số liệu về chuyển nhượng trong nội bộ và nhân viên quân sự hay nhân viên sứ quán, nhưng có thể sử dụng kết hợp với số lượng khách quốc tế đến vì mục đích kinh doanh và ngoại giao
Tất nhiên chi tiêu của du khách đi du lịch trong ngày không thể thu được từ khách sạn nhưng có thể tách chi tiết từ điều tra khách du lịch Tuy vậy những du khách ở với họ hàng hoặc bạn bè không được điều tra Khái niệm của tài khoản vệ tinh du lịch về “Môi trường bình thường” đối với du khách trong nước không được áp dụng và thông thường quy định về bán kính 20 km từ nơi cư trú được dùng (như đã trình bày trong tài liệu “thiết kế mẫu trong điều tra chi tiêu của khách du lịch trong năm 2005”, mục II/3, (Quyết định của TCTK số 1083/QĐ - TCTK ngày 20 tháng 6 năm 2005), nhưng du khách trong nước phải đi xa trên 50 km mới được coi là đối tượng điều tra và cũng có thể sử dụng khoảng cách gần hơn tùy thuộc địa giới hành chính
So sánh kết quả của hai năm 2003 và 2005 cho thấy số liệu là hợp lý và chứng tỏ kỹ thuật chọ mẫu ngẫu nhiên có độ tin cậy Trong năm 2005 có 8.195 du khách nước ngoài được phỏng vấn (trong đó có 5620 người có tiếng Anh là tiếng mẹ đẻ, hay 68,6%), khoảng 80% đến Việt Nam bằng đường hàng không, 64% là nam giới và 74% nằm trong độ tuổi từ 25 đến 547
Hiện tại không có thông tin nào được Bộ Y tế thu thập về số lượng và chi tiêu của bệnh nhân nước ngoài tại Việt Nam Tương tự, Bộ Giáo dục và Đào tạo cũng không thu thập thông tin về
số lượng và chi tiêu của sinh viên nước ngoài tại Việt Nam Kết quả điều tra mẫu khách du lịch được áp dụng để đánh giá chi tiêu cho khoảng 40.000 sinh viên Việt Nam đang học tập ở nước ngoài nhưng số liệu không đáng tin cậy
Khuyến nghị
Trên cơ sở thông tin về du lịch theo EBOPS, trước hết cần ước tính tỷ lệ đóng góp của ngành du lịch trong GDP của quốc gia và dùng bảng tương thích trong cuốn cẩm nang để phân bổ xuất/ nhập khẩu sản phẩm vào các mục của ISIC (xem bảng A.IV.2, trang 155-157) Sau đó cộng thêm giá trị du lịch của du khách trong nước
Trang 32
BPM5 và EBOPS khuyến nghị tách chi tiết hơn để có thông tin về chi tiêu của du khách cho mục đích kinh doanh và cho mục đích cá nhân Trong mục cá nhân, các khoản chi về giáo dục
và y tế cần được chi tiết để phù hợp với bên cầu và bổ sung cho mục dịch vụ y tế và giáo dục
Với mục đích áp dụng cho BOP trong tương lai, một nhóm lựa chọn về du lịch cần bao gồm các mục sau: chi của khách du lịch cho hàng hóa (hiện tại khoản chi này là mục ghi nhớ [956] trong cuốn cẩm nang và cần được chuyển để so sánh với GATS); chi cho dịch vụ vận tải (chi tiêu của khách du lịch trong nước); chi lưu trú và ăn uống hiện tại các khoản mục này được gộp chung trong “Chi tiêu khác của du khách”
Thông tin về chi tiêu của khách du lịch nước ngoài tại Việt Nam đóng vai trò quan trọng để tính tóan trị giá xuất khẩu dịch vụ du lịch cũng như những khía cạnh khác Vì vậy cần có sự đầu tư thêm cho việc kiểm soát độ chính xác của số liệu, tính tóan thêm các số liệu bổ sung như thông tin về khách du lịch trong ngày ở vùng biên, thông tin về các điểm du lịch và tính toán đầy đủ hơn chi tiêu của du khách Nội dung này cần được phối hợp thảo luận thêm với Cục Quản lý xuất nhập cảnh và Bộ Tư lệnh bộ đội biên phòng
Về tài khỏan vệ tinh du lịch, Tổng cục Thống kê cần quan tâm tới việc chuẩn bị để bắt đầu lập tài khoản vệ tinh du lịch và đánh giá khả năng thực hiện của các Cục Thống kê xem đã khả thi hay chưa
Để đáp ứng tốt hơn yêu cầu của GATS và thông tin lập tài khoản vệ tinh du lịch, mục “Chi tiêu khác của du khách” (EBOPS [871]) cần tách chi tiết hơn thành các mục sau:
• Thông tin từ người cung cấp dịch vụ: các đại lý du lịch/điều hành tua, dịch vụ cung cấp thông tin cho du khách và dịch vụ đăng ký chỗ ở Những mục này hiện đang xuất hiện trong mục “Dịch vụ kinh doanh khác” của EBOPS [284]
• Chi cho dịch vụ vui chơi giải trí;
• Chi cho dịch vụ thể thao;
• Chi cho dịch vụ chăm sóc (phục hồi và tăng cường sức khỏe, spa )
Hai mục tách chi tiết sau cùng là các mục ở bên cầu, giống như mục vận tải nội địa nên không
có mã tương ứng trong EBOPS hay CPC Thông tin về chi tiêu cho dịch vụ vui chơi giải trí, thể thao bổ sung thêm cho mục giao dịch quốc tế về dịch vụ thể hiện trong EBOPS
B.3 Tài khoản vệ tinh du lịch
B.3.1 Một số lưu ý về tính toán
Du lịch không phải là “khu vực dịch vụ” theo định nghĩa thống kê thông thường; du lịch là tổng hoà sản phẩm của một nhóm các ngành kinh tế của ISIC Lập tài khoản vệ tinh du lịch (TSA) cung cấp cho các nhà phân tích công cụ để tách biệt và giám sát cả bên cung và bên cầu du lịch trong lược đồ chung của Hệ thống tài khoản quốc gia Việc sử dụng lược đồ như lược đồ tài khoản quốc gia tạo ra khả năng so sánh quốc tế cũng như so sánh với các ngành kinh tế khác ở trong nước Nhiều loại thông tin khác nhau sẽ có được từ tài khoản vệ tinh du lịch, liên quan tới:8
• Đóng góp của du lịch đối với nền kinh tế và với từng ngành khác, đồng thời cũng so sánh với các quốc gia khác;
• Các ngành hưởng lợi từ du lịch và trong một chừng mực nào đó theo truyền thống các ngành này không có liên hệ gì tới du lịch Một số doanh nghiệp có khả năng xác định du lịch ảnh hưởng thế nào đến hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp và doanh nghiệp sử
2002
Trang 33dụng những thông tin này để đẩy mạnh chiến lược kinh doanh và do vậy làm tăng khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp;
• Thuế được tạo ra từ hoạt động du lịch, đây là một yếu tố quan trọng để thuyết phục các cấp lãnh đạo địa phương và Trung ương đưa ra các động lực thúc đẩy đầu tư cho du lịch;
• Hoàn thiện kiến thức liên quan tới các công việc do du lịch tạo ra và các đặc trưng của chúng, giúp cho việc đào tạo nhân lực cho ngành du lịch (như khách sạn, đại lý du lịch/điều hành tua, cho thuê xe, cung cấp thông tin du lịch, v,v.) sẽ được thực hiện theo một quy trình logic
Chỉ tiêu thống kê du lịch, gồm cả TSA liên quan tới cá nhân và chuyến đi của họ được phân loại theo:
• Mục đích chuyến đi (kinh doanh, cá nhân);
• Thời gian của chuyến đi;
• Sử dụng phương tiện vận tải
• Loại cơ sở lưu trúchỗ ở đã sử dụng
Tài khoản vệ tinh du lịch vượt trên cả số liệu truyền thống về du lịch, bao gồm các khái niệm sau:
• Tiêu dùng trong nước của du khách – số lượng tiêu dùng của du khách bên trong lãnh thổ kinh tế;
• Giá trị tăng thêm của ngành du lịch – các chỉ tiêu bên cung đánh giá tổng cung từ ngành
du lịch và không phụ thuộc vào bên cầu du lịch;
• Giá trị tăng thêm và GDP đánh giá giá trị thuần của hàng hóa và dịch vụ được tạo ra, tính bằng chênh lệch giữa giá trị sản xuất và chi phí trung gian;
• Các số liệu khác: Việc làm của du lịch, tích lũy tài sản của khu vực du lịch, tiêu dùng chung về du lịch, tổng cầu của du lịch
Khuyến nghị quốc tế kêu gọi áp dụng hơn nữa cách tiếp cận của mô hình cân đối liên ngành trong
hệ thống tài khoản quốc gia, sử dụng số liệu theo ngành và theo sản phẩm cùng với số liệu đặc trưng của du lịch Nhìn chung TSA phụ thuộc vào thông tin sẵn có theo loại hàng hóa Chẳng hạn dưới đây là 5 biểu trong TSA năm 2002 của Hoa Kỳ9:
• Biểu 1 Sản xuất hàng hoá theo ngành, 2002
• Biểu 2 Cung cấp và tiêu dùng hàng hóa, 2002
• Biểu 3 Nhu cầu về hàng hóa chia theo loại du khách, 2002
• Biểu 4 Sản lượng và giá trị tăng thêm theo ngành, 2002
• Biểu 5 Lao động và thu nhập của người lao động theo ngành, 2002
Để xây dựng và phát triển Tài khoản vệ tinh du lịch của Việt Nam, cần lưu ý một số vấn đề quan trọng dưới đây:
• Khu vực tư nhân cần phải hiểu rõ tác dụng của TSA, trên cơ sở đó hợp tác cung cấp số liệu tốt hơn;
• Ước tính doanh thu du lịch trong nước thường thấp hơn thực tế vì không bao gồm các khỏan chi tiêu “trước và sau” chuyến du lịch;
• Lập TSA ở Việt Nam đòi hỏi phải đánh giá rất thận trọng về khả năng của các Cục Thống
kê địa phương về thu thập đầy đủ, đúng phạm vi các thông tin có liên quan
Khuyến nghị: tuy những lợi ích của việc xây dựng TSA là rất rõ trong điều kiện của Việt Nam
nhưng do những khó khăn về nguồn lực và mức độ ưu tiên cho thống kê thương mại quốc tế về dịch vụ cần được xác định trước, công việc này nên để cho giai đoạn sau
Trang 34
C Dịch vụ bưu chính viễn thông
Hiện có 7 doanh nghiệp kinh doanh dịch vụ bưu chính viễn thông trong đó Tổng công ty Bưu chính Viễn thông là đơn vị chiếm thị phần lớn nhất về bưu chính, viễn thông quốc tế
Về dịch vụ Internet: Có 6 công ty cung cấp dịch vụ kết nối internet, 16 nhà cung cấp dịch vụ internet (ISPs) và 7 nhà cung cấp dịch vụ sử dụng (ASPs)
C.1 Thực trạng thống kê
Cũng như các ngành dịch vụ khác, chế độ báo cáo thống kê định kỳ được qui định áp dụng cho doanh nghiệp nhà nước hiện chưa bao gồm chỉ tiêu xuất nhập khẩu dịch vụ ngoài qui định tạm thời về chỉ tiêu này được áp dụng cho Tổng công ty bưu chính viễn thông cuối năm 2004 Định
kỳ hàng qúy VNPT thực hiện các báo cáo ước tính gửi Tổng cục Thống kê và đây hiện là nguồn
số liệu quan trọng cho việc ước tính toàn bộ giá trị XNK dịch vụ này dựa trên thị phần (khoảng 60%) của VNPT Năm 2006, lần đầu tiên VNPT đã thực hiện được báo cáo XNK dịch vụ bưu chính viễn thông theo biểu mẫu yêu cầu của Tổng cục Thống kê, theo đó số liệu với 10 nước bạn hàng chủ yếu đã được thể hiện
Khuyến nghị: thực tế 2 năm qua cho thấy các mẫu biểu báo cáo áp dụng cho VNPT đã thể hiện
được những nội dung thích hợp và khả thi Vì vậy những mẫu biểu này cần được rà soát lại, hoàn chỉnh và ban hành chính thức cho toàn bộ các doanh nghiệp được phép kinh doanh họat động này thông qua chế độ báo cáo thống kê định kỳ (doanh nghiệp nhà nước) hoặc điều tra (doanh nghiệp ngoài nhà nước) trong đó điều tra doanh nghiệp cần được chú trọng phát triển để phù hợp với xu hướng cổ phần hóa các doanh nghiệp nhà nước đang được xúc tiến mạnh
D Xây dựng
Dịch vụ xây dựng không thuộc lĩnh vực ưu tiên trong kế hoạch thúc đẩy phát triển khu vực dịch
vụ của Việt Nam Hiện tại, có trên 12.000 công ty xây dựng với gần một triệu lao động và dịch
vụ xây dựng chiếm khoảng 6% của GDP Dự kiến giá trị của hoạt động xây dựng sẽ tăng trong thời gian tới, xuất khẩu đang bắt đầu mở rộng với số lượng lao động và vốn đầu tư cho các dự
Mục 3.39 ở trang 40 của cuốn Cẩm nang chỉ rõ “vì lý do thực tiễn, các nước có thể tiếp tục áp dụng cách xử lý như đã khuyến nghị trong BPM5; trong trường hợp đó, cần nêu rõ trong phần giải thích số liệu về dịch vụ xây dựng trong khi công bố số liệu” Trong trường hợp Việt Nam coi xây dựng là một ngành riêng, không thuộc khu vực dịch vụ, thực tế áp dụng này vẫn nên áp dụng
Cuối cùng, cần tiến hành một cuộc điều tra thí điểm để kiểm tra xem điều tra doanh nghiệp hàng năm có thể dùng cho khu vực này hay không sau khi đã cập nhật để ghi lại tất cả các mục theo
Trang 35phân loại của EBOPS cho cả xuất và nhập khẩu và theo nước đối tác Hiện tại, một số doanh nghiệp Việt Nam đang thực hiện các hợp đồng xây dựng cho Lào và Campuchia, vì vậy nên xem xét việc điều tra thu thập các chỉ tiêu FATS luồng ra - hoạt động được phân bổ vào phương thức 3
E Bảo hiểm
Tuy hiện tại, đóng góp của dịch vụ bảo hiểm trong GDP khá nhỏ bé nhưng trong những năm tới đây, bảo hiểm là một trong 6 lĩnh vực ưu tiên trong kế hoạch phát triển dịch vụ của Chính phủ Gần đây, khu vực bảo hiểm ở Việt Nam được giải phóng và hiện nay có tất cả 29 công ty bảo hiểm, trong số đó chỉ có 6 công ty bảo hiểm phi nhân thọ Bộ Tài chính là cơ quan quản lý các công ty và các nhà môi giới bảo hiểm Từ năm 2000 khi có Luật Bảo hiểm mới, nhà bảo hiểm gốc có thể thực hiện tái bảo hiểm ở bên ngoài Việt Nam Các nhà tái bảo hiểm của Việt Nam nhượng lại 90% cho Câu lạc bộ P&I Tây England ở Vương quốc Anh Hiện nay các công ty của Việt Nam đang thu bảo hiểm về vận tải, hàng không và hàng hải từ bên ngoài
E1 Một số điểm lưu ý về cách tính
Bảo hiểm là lĩnh vực phức tạp và rất khó để tính giá trị dịch vụ Cuốn Cẩm nang khuyến nghị tính giá trị dịch vụ bảo hiểm bằng chênh lệch thuần giữa tiền thu phí bảo hiểm và tiền trả bồi thường bảo hiểm10 Đồng thời giá trị tính toán trên cơ sở gộp (do vậy có khả năng so sánh với các dịch vụ khác) có thể được biên soạn biểu thị các khoản Nợ và Có như sau:
Có bao gồm phí bảo hiểm thu được của các nhà bảo hiểm thường trú từ khách hàng ở nước
ngoài cộng với tiền đòi bồi thường của cá nhân hay tổ chức là thường trú từ các nhà bảo hiểm không thường trú Phương pháp này áp dụng cho hoạt động bảo hiểm và tái bảo hiểm
Nợ bao gồm tiền bồi thường bảo hiểm của cá nhân và tổ chức không thường trú tham gia bảo
hiểm của các nhà bảo hiểm thường trú cộng với phí bảo hiểm thu được của các nhà bảo hiểm không thường trú từ khách hàng thường trú Phương pháp này áp dụng cho hoạt động bảo hiểm
và tái bảo hiểm
Điều này phản ánh một quy trình xác định trong BPM5 [257]: “Đối với một số mục đích – chẳng hạn mục đích đàm phán thương mại – tổng phí bảo hiểm và tiền bồi thường bảo hiểm là
phù hợp và biểu thị trong mục ghi nhớ trong dịch vụ bảo hiểm”
Trong khi phí bảo hiểm gộp và tiền bồi thường bảo hiểm gộp được liệt kê dưới mục ghi nhớ trong cuốn Cẩm nang và chúng có thể khác với việc tính toán các khoản có và nợ như ở trên11 Bằng cách chỉ thêm vào phí bảo hiểm gộp, một phần sẽ đến từ những khoản Có và phần khác
đến từ những khoản Nợ Bồi thường gộp cũng có một phần từ những khoản Nợ và một phần từ
những khoản Có Điều này sẽ đưa đến kết quả khác biệt từ việc cộng tất cả những khoản Có và cộng tất cả những khoản Nợ Tiền lãi gốc sẽ bằng tổng của những khoản Có và những khoản
Nợ
quốc tế, ở đó giao dịch được hạch toán trên cơ sở gộp (BPM5 đoạn 192-193) Trong thực tế việc xử lý trên cơ sở thuần có nghĩa là những khoản thu đối với bảo hiểm vận tải biểu thị chênh lệch giữa tiền thu phí bảo hiểm gốc với tiền bồi thường phải trả khi hàng hóa bị mất hoặc bị hư hỏng trong quá trình vận chuyển
nhà bảo hiểm thường trú dưới dạng thu phí bảo hiểm và những khoản khách hàng thường trú nhận tiền bồi thường từ các nhà bảo hiểm ở nước ngoài Tương tự Nợ có thể bao gồm tiền phí bảo hiểm do các khách hàng thường trú đóng cho các nhà bảo hiểm ở nước ngoài và những khoản các nhà bảo hiểm thường trú trả cho các khách hàng ở nước ngoài
Trang 36Khu vực bảo hiểm và phương pháp tính giá trị của loại dịch vụ này đang có những thay đổi Việc sửa đổi phiên bản lần thứ 5 của cuốn cẩm nang cán cân thanh toán quốc tế của IMF (BPM5) sẽ tạo ra những thay đổi về phương pháp luận của BOP và ảnh hưởng tới bảo hiểm Thay đổi sẽ liên quan tới việc chuyển phương pháp tính dựa trên phí bảo hiểm trừ đi bồi thường bảo hiểm như đã trình bày ở trên sang phí bảo hiểm trừ đi bồi thường bảo hiểm đã điều chỉnh, nghĩa là những điều chỉnh để làm suôn sẻ các khoản bồi thường của những thảm họa lớn Trong BPM6 những xử lý được đưa ra đối với dịch vụ bảo hiểm phi nhân thọ sẽ chỉ ra phương pháp tính giá trị của dịch vụ bảo hiểm bao gồm cả tái bảo hiểm theo công thức sau:
Phí bảo hiểm thu được
cộng bổ sung phí bảo hiểm đã điều chỉnh
trừ bồi thường bảo hiểm đã điều chỉnh
E.2 Thực trạng thống kê và khuyến nghị
Hệ thống ghi chép giao dịch của Ngân hàng hiện là nguồn số liệu duy nhất song có thể thấy nguồn thông tin này không thể cung cấp các đòi hởi chi tiết cho 5 loại hoạt động bảo hiểm nêu trong khuyến nghị của Cẩm nang Những thông tin này chỉ có thể được thu thập qua điều tra doanh nghiệp thông qua phiếu điều tra được thiết kế riêng, phù hợp với hoạt động và các chỉ tiêu của ngành bảo hiểm Trong phiếu điều tra doanh nghiệp năm 2006, hoạt động bảo hiểm được yêu cầu ghi chép trong phiếu riêng với các chỉ tiêu phù hợp với qui định của chế độ báo cáo do Bộ Tài chính ban hành cho các doanh nghiệp kinh doanh bảo hiểm Nội dung này cũng được thống nhất áp dụng cho câu hỏi số 26 về xuất khẩu dịch vụ bảo hiểm nếu doanh nghiệp có
các giao dịch với người không cư trú
Khuyến nghị: Khu vực bảo hiểm ở Việt Nam chưa phát triển nhưng hiện đang là khu vực được
ưu tiên theo cả mức độ sản lượng và lợi nhuận cho thương mại quốc tế Nên quan tâm tới những hướng dẫn dưới đây để hoàn thiện số liệu trong tương lai:
Có và Nợ đối với khu vực bảo hiểm trước hết phải được hạch toán và giám sát trên cơ sở gộp Nếu số liệu chỉ ra rằng mức độ thu và chi của dịch vụ bảo hiểm tăng đáng kể hoặc cần để hoà nhập cho mục đích thương mại hay các mục đích khác, khi đó nên tách theo 5 thành phần và thu thập số liệu trên cơ sở luồng chu chuyển quốc tế (xem dưới đây)
Cần ưu tiên hạch toán theo các khoản thu gốc và đích đến của khoản chi theo các đối tác thương
mại chủ yếu, thậm chí nếu chỉ ở mức gộp của dịch vụ bảo hiểm [253] Nên điều tra riêng các công ty bảo hiểm nếu cần số liệu tách chi tiết theo các loại khác nhau và số liệu về phí bảo hiểm
và tiền bồi thường bảo hiểm tính trên cơ sở gộp đối với các mục ghi nhớ:
Mã của EBOPS
5 Dịch vụ bảo hiểm 253
5.1 Bảo hiểm nhân thọ và quỹ hưu trí 254
5.2 Bảo hiểm vận tải 255
5.3 Bảo hiểm trực tiếp khác 256
5.4 Tái bảo hiểm 257
5.5 Dịch vụ phụ trợ 258
Các mục ghi nhớ
3 Phí bảo hiểm gộp 960
3.1 Phí gộp – bảo hiểm nhân thọ 972
3.2 Phí gộp – bảo hiểm vận tải 974
3.3 Phí gộp – Bảo hiểm trực tiếp khác 976
4 Bồi thường bảo hiểm gộp 961
Trang 374.1 Bồi thường gộp – bảo hiểm nhân thọ 973
4.2 Bồi thường gộp – bảo hiểm vận tải 975
4.3 Bồi thường gộp – Bảo hiểm trực tiếp khác 977
Về dịch vụ bảo hiểm hàng nhập khẩu của Việt Nam, khoản mục này cần được thu thập qua điều tra doanh nghiệp để có được một tỷ lệ phù hợp với những thay đổi về thị trường nhập khẩu của Việt Nam những năm gần đây Ở nhiều nước, số liệu này được yêu cầu khai báo trong tờ khai hải quan nhập khẩu hàng hóa và đây sẽ là giải pháp tốt nhất để có được số liệu chính xác, chi tiết và
đỡ tốn kém nhất cho việc thu thập Việc sử dụng tỷ lệ ước tính 10% cho cả dịch vụ bảo hiểm và vận tải như Ngân hàng Nhà nước hiện đang sử dụng là một phương pháp không thích hợp và cần sớm được điều chỉnh dựa trên kết quả điều tra về chi phí bảo hiểm và vận tải hàng nhập khẩu một khi cuộc điều tra này được thực hiện
G Dịch vụ tài chính
Dịch vụ ngân hàng là lĩnh vực được ưu tiên trong kế hoạch quốc gia của Chính phủ và đóng vai trò quan trọng đối với hoạt động kinh tế đối nội và đối ngoại Dịch bụ ngân hàng có vai trò trung tâm trong vòng đàm phán Uruguay của GATS và đã thành công khi ký được hiệp định về dịch vụ tài chính vào cuối năm 1997
Ngân hàng Nhà nước Việt Nam là cơ quan quản lý và giám sát đối với ngân hàng và Bộ Tài chính quản lý Thị trường chứng khoán Ở Việt Nam có 48 ngân hàng, trong đó có 4 ngân hàng thuộc sở hữu nhà nước Có 27 chi nhánh ngân hàng nước ngoài và 44 văn phòng đại diện nước ngoài Ngoài
ra có 900 quỹ tín dụng nhân dân, 5 công ty cổ phần tài chính và 9 công ty cho thuê Khoảng 80% tổng tài sản có của toàn bộ hệ thống tài chính thuộc vào ngân hàng, tính khoảng 818 tỷ đồng của năm 2005 Trong những năm tới đây, chủ trương của Nhà nước là cho phép cổ phần hoá đối với tất
cả các ngân hàng thương mại nhà nước
Nhà nước quản lý chặt hoạt động thu đổi ngoại tệ, xuất nhập khẩu tiền và kiểm tra chéo trong toàn
hệ thống Trong năm 2002 khối lượng thanh toán quốc tế có tổng trên 35 tỷ USD Cá nhân và các doanh nghiệp không được phép mở tài khoản ở nước ngoài nếu không được cấp phép
G.1 Thực trạng thống kê
Ngân hàng Nhà nước thu thập thông tin để lập BOP từ các ngân hàng thương mại hàng tháng theo chế độ báo cáo 477 do NHNN ban hành, bên cạnh đó còn có hệ thống báo cáo ITRS hàng ngày Các Cục Thống kê không điều tra ngân hàng vì Ngân hàng Nhà nước sẽ thực hiện tập trung, thậm chí đối với cả điều tra doanh nghiệp hàng năm
Nhìn chung sự phối hợp giữa Ngân hàng Nhà nước và Tổng cục Thống kê là khá chặt chẽ trên cơ
sở Luật Thống kê và mối quan hệ truyền thống giữa hai ngành Tuy nhiên do một số khó khăn về nguồn và tổng hợp số liệu, Tổng cục Thống kê cũng chưa nhận được thông tin từ Ngân hàng Nhà nước về hoạt động của các ngân hàng để tính giá trị tăng thêm, nhưng trong quy định sắp tới sẽ yêu cầu những thông tin này Tổng cục Thống kê cũng cần các số liệu về thương mại với khu vực bên ngoài và số liệu theo quý về thống kê tiền tệ, ghi chép luồng chu chuyển tiền trong hệ thống và cũng cần số liệu để tính giá trị tăng thêm của khu vực ngân hàng Số liệu từ 7 ngân hàng lớn nhất,
từ điều tra doanh nghiệp hàng năm và các bảng cân đối hàng năm của ngân hàng cũng được sử dụng Số liệu của BOP chưa phân biệt giữa số liệu của ngân hàng và số liệu không phải của ngân hàng
Bên cạnh dịch vụ ngân hàng, hoạt động chứng khoán hiện đang bắt đầu phát triển mạnh ở Việt Nam với sự tham gia của các Qũy đầu tư nước ngoài, các nhà đầu tư nước ngoài với luồng vốn chu chuyển khá lớn Tuy nhiên cho đến nay, hoạt động này gần như chưa được nhìn nhận và qui định
về mặt thống kê
Trang 38G.2 Khuyến nghị
Mặc dù xuất khẩu dịch vụ tài chính hiện nay chưa phải là nguồn thu ngoại tệ chủ yếu nhưng cũng khuyến nghị nên giám sát tình hình chặt chẽ hơn
• Công bố số liệu chi tiết trong báo cáo cán cân thanh toán quốc tế của Ngân hàng Nhà nước
về thu và chi của dịch vụ tài chính (không bao gồm dịch vụ bảo hiểm)
• Đưa thêm đánh giá trực tiếp dịch vụ trung gian tài chính (FISIM) vào “Dịch vụ tài chính không bao gồm dịch vụ bảo hiểm” khi mà FISIM đã được đề cập tới về mặt định nghĩa nhưng chưa tính toán về mặt định lượng Thực hiện FISIM sẽ làm tăng tính phù hợp giữa mức độ dịch vụ như đang tính toán trong BOP với tài khoản quốc gia vì tài khoản quốc gia của nhiều nước đã tính FISIM
• Tách chi tiết hơn “Dịch vụ tài chính không bao gồm dịch vụ bảo hiểm” sẽ tạo thuận lợi cho biên soạn và báo cáo trong tương lai Dịch vụ chuyển tiền là một trong nhiều dịch vụ hỗ trợ thuộc vào định nghĩa hiện đang áp dụng của mục này vì nó ứng với ngân hàng Cần làm rõ mối quan hệ giữa người sử dụng và người biên soạn trong lĩnh vực ngân hàng và sự khác biệt giữa (a) phí dịch vụ thẳng của ngân hàng đã tính với (b) việc tính toán FISIM
• Nghiên cứu xây dựng chế độ báo cáo áp dụng cho các công ty chứng khoán để thu thập số liệu về thu/chi phí dịch vụ của hoạt động này đối với các giao dịch với người không cư trú
và hoạt động của các Qũy đầu tư thuộc hình thức Hiện diện thương mại (Phương thức 3) Ngân hàng Nhà nước và Tổng cục Thống kê cần phối hợp làm việc về cách tính sản lượng gộp và tiêu dùng của ngân hàng để có thể giải thích những biến động lớn của các quý khi phân tích số liệu Cần có điều tra chuyên đề đối với ngân hàng và các tổ chức tín dụng khác để tính FISIM vì thông tin này rất cần cho BPM6 tới đây cũng như cho Tổng cục Thống kê để tính toán các chỉ tiêu Hiện tại thông tin theo quý về lãi từ ngân hàng sử dụng cho tài khoản quốc gia có những khác biệt lớn,
hy vọng quyết định mới yêu cầu tính FISIM sẽ giải tỏa bất cập này
H Dịch vụ thông tin và máy tính
Đây là một trong những lĩnh vực dịch vụ được Chính phủ quan tâm thúc đẩy trong chiến lược phát triển kinh tế đất nước Tuy nhiên đối với Tổng cục Thống kê, lĩnh vực dịch vụ này còn khá mới mẻ
và đang được nghiên cứu phát triển Trong năm 2004, Tổng cục Thống kê đã phối hợp với Bộ bưu chính Viễn thông tiến hành một cuộc điều tra mẫu khoảng 5.000 công ty hoạt động trong lĩnh vực ICT ở 8 tỉnh/thành phố lớn Các chỉ tiêu điều tra bao gồm thông tin về phần cứng, phần mềm ứng dụng của các doanh nghiệp nhà nước, các công ty thương mại tư nhân và hộ gia đình Kết quả của cuộc điều tra này đã và đang được nghiên cứu, khai thác sử dụng Số liệu về Cung cấp dịch vụ internet và cung cấp dịch vụ ứng dụng vẫn chưa được thu thập và sẽ được thu qua điều tra ICT Tổng cục Thống kê cũng có kế hoạch cung cấp Website cho doanh nghiệp để tải về số liệu báo cáo của họ Trong Điều tra doanh nghiệp, câu hỏi 18 của phiếu được thiết kế cho việc thu thập một số thông tin về sử dụng ICT của doanh nghiệp, nhưng không nhiều
Những năm gần đây, số lượng các doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực sản xuất, gia công phần mềm, kể cả gia công cho nước ngoài có xu hướng tăng lên Tuy nhiên chưa có những số liệu thống
kê chính thức được thu thập và tổng hợp nhằm phản ánh kết quả hoạt động này
Khuyến nghị: cần thiết kế các phiếu điều tra mẫu và tổ chức điều tra chuyên ngành để thu thập số
liệu xuất nhập khẩu dịch vụ này, bao gồm cả các nhà cung cấp dịch vụ internet (ISPs) và các nhà ứng dụng internet (ASPs) Cần tiếp tục duy trì và chi tiêt thêm thông tin về dịch vụ này trong phiếu điều tra doanh nghiệp hàng năm
I Phí cấp giấy phép và bản quyền
Trang 39Dịch vụ này không thuộc phạm vi của GATS nhưng lại là một mục trong EBOPS Số liệu về phí cấp giấy phép và bản quyền chưa được thu thập riêng mà được gộp vào với nhiều hoạt động khác trong hệ thống ITRS Đối với Tổng cục Thống kê, đây cũng là lĩnh vực mới và khó thu thập, đặc biệt đối với khía cạnh nhập khẩu Để có được những thông tin này, Tổng cục Thống kê cần phối hợp với Cục Sở hữu trí tuệ thuộc Bộ Khoa học Công nghệ để tìm hiểu khả năng hiện có của thông tin, đồng thời nên duy trì câu hỏi trong phiếu điều tra doanh nghiệp hàng năm để có được các ước tính tốt nhất về số liệu
Khuyến nghị: Mặc dù dịch vụ thương nghiệp bán buôn và bán lẻ không thuộc vào BPM5 và
EBOPS, GNS W/120 có bao gồm mục “Dịch vụ của các đại lý hưởng hoa hồng” [thuộc 271] và
“Nhượng quyền kinh doanh” [thuộc 891] như trình bày dưới đây, khuyến nghị nên tách chi tiết dịch
vụ này để thu thập số liệu
9.1.2 Dịch vụ liên quan tới thương mại khác 271
K Dịch vụ kỹ thuật, chuyên môn và kinh doanh khác
Nhiều dịch vụ kinh doanh và chuyên môn đóng vai trò quan trọng trong nền kinh tế vì nó mang tính trung gian, tác động tới nhiều khu vực khác của nền kinh tế Những dịch vụ này cũng quan trọng ở chỗ nó thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài Mặc dù không nằm trong 6 lĩnh vực dịch vụ ưu tiên của Chính phủ nhưng một số phân ngành trong khu vực này cần được chi tiết riêng: Dịch vụ pháp lý,
Kế toán, Tư vấn quản lý và kinh doanh, Nghiên cứu thị trường và quảng cáo, Nghiên cứu và phát triển, Kiến trúc, công trình và dịch vụ kỹ thuật khác , Dịch vụ nông nghiệp, khai khoáng và dịch vụ
sơ chế tại chỗ, Dịch vụ kinh doanh khác, Dịch vụ giữa các đơn vị có liên quan
Theo Bộ Thương mại, cần tập trung vào các loại dịch vụ dưới đây:
• Dịch vụ cho thuê không có người điều khiển đang phát triển và phải được quan tâm
• Dịch vụ kinh doanh khác: các dịch vụ dưới đây cần quan tâm vì tầm quan trọng của chúng đang tăng lên và phải quan tâm để thu thập số liệu trong điều tra doanh nghiệp hàng năm
Dịch vụ quảng cáo
Dịch vụ nghiên cứu thị trường
Dịch vụ tư vấn quản lý
Dịch vụ liên quan tới tư vấn quản lý
Dịch vụ thay thế và cung cấp nhân sự
Trong BPM5, mục này là một trong ba mục bao gồm cả mục dịch vụ kinh doanh khác còn lại Trong EBOPS mục này được mở rộng thành 7 tiểu mục để cung cấp thông tin chi tiết hơn Đây là
sự mở rộng các loại dịch vụ từ BPM5 đến EBOPS Nhìn chung, đây là lĩnh vực mới và khó khăn cho công tác thống kê tài khoản quốc gia và cán cân thanh toán quốc tế do tính chất nhạy cảm của thông tin và khó khăn trong hạch toán của doanh nghiệp
Giống như trường hợp dịch vụ ICT, yêu cầu chính là làm thế nào để xác định và nắm được các nhà cung cấp dịch vụ toàn cầu và những người sử dụng các dịch vụ này Điều này đòi hỏi có bản đăng
ký kinh doanh được cập nhật, đặc biệt với những đơn vị cung cấp dịch vụ nhỏ có từ 1 đến 5 lao động Kinh nghiệm của một số nước cho thấy điều tra dịch vụ chuyên ngành thường cho chất lượng kém vì tỷ lệ trả lời thấp Đặc biệt các loại dịch vụ như dịch vụ pháp lý, kế toán và dịch vụ công
Trang 40trình thường do các doanh nghiệp nhỏ cung cấp với những ghi chép, báo cáo có chất lượng thấp và
có rất ít doanh nghiệp lớn Vì vậy điều tra sản xuất nói chung cho kết quả không cao Điều này cũng áp dụng được ở Việt Nam khi quản lý dịch vụ tư vấn –dịch vụ này cũng được thu thập số liệu
Việc thu thập thông tin của dịch vụ kinh doanh, dịch vụ kỹ thuật và chuyên ngành nên tiếp cận qua điều tra thử nghiệm theo chuyên đề để có được số liệu về thu, chi của một năm cơ sở và dựa vào đó
để tính toán Tuy nhiên trong những năm tới cần tiếp tục duy trì việc thu thập số liệu qua Điều tra doanh nghiệp hàng năm (chỉ tiêu số 26) để có được những thông tin cơ bản Những năm tiếp theo, cần hướng tới điều tra những công ty lớn cung cấp dịch vụ về giao dịch pháp lý và kế toán vì các đơn vị này thường có tỷ lệ trả lời khá cao Vì chỉ một số ít các công ty lớn đã chiếm một thị phần quốc tế khá cao, tập trung vào các công ty này là một phương pháp hiệu quả trong việc thu thập thông tin
L Dịch vụ cá nhân, văn hóa và giải trí
L.1 Thực trạng thống kê
Trong lĩnh vực này, có thể nhận thấy rõ xu hướng tăng nhập khẩu của Việt Nam những năm gần đây đối với dịch vụ y tế và giáo dục thể hiện qua số lượng người Việt Nam ra nước ngoài khám chữa bệnh và số lượng du học sinh ngày càng tăng Tuy nhiên cho đến nay, chưa có được các số liệu thống kê chính thức phản ánh thực trạng này Ngoài hai dịch vụ này, các hoạt động giao lưu biểu diễn giữa các nghệ sỹ Việt Nam với nước ngoài cũng đang có xu hướng tăng lên
Giáo dục là một trong những lĩnh vực dịch vụ quan trọng trong đàm phán GATS Theo ước tính,
có khoảng trên 40.000 du học sinh Việt Nam đang học tập ở nước ngoài trong khi chưa có ước tính về số lượng các du học sinh nước ngoài tại Việt Nam, song con số này có thể chưa vượt qua
1000
Theo BPM5, dịch vụ giáo dục bao gồm việc cung cấp và tiêu dùng dịch vụ giữa người cư trú và không cư trú liên quan đến giáo dục phổ thông, đại học, kỹ thuật và dạy nghề thông qua các phương thức:
• Các lớp học giảng dạy trực tiếp
• Dạy/học qua internet
L.2 Khuyến nghị
Thu thập và tổng hợp các số liệu trên - với cả hai khía cạnh: sản xuất và cán cân thanh toán – có thể được thực hiện theo 3 bước: (a) thống kê và cập nhật các doanh nghiệp kinh doanh các dịch vụ này; (b) nghiên cứu chuẩn các đặc điểm của những hoạt động này, các yếu tố liên quan đến thu khả năng thu thập và ước tính số liệu; và (c) tổng hợp số liệu bằng cách sử dụng các phương pháp ước tính, suy rộng hàng năm trên cơ sở các số liệu tham khảo có liên quan Cụ thể:
• Sử dụng các định nghĩa, phạm vi thống kê do Cẩm nang khuyến nghị
• Cập nhật đăng ký doanh nghiệp và các nguồn số liệu liên quan, ví dụ thuế thu nhập cá nhân
• Xây dựng phương pháp ước tính:
o Điều tra các doanh nghiệp lớn, sử dụng phương pháp phỏng vấn trực tiếp và tham vấn thông tin
o Nghiên cứu thử nghiệm, xây dựng chuẩn mực ước tính mẫu và suy rộng tổng thể
Cần lưu ý rằng, theo BPM5, toàn bộ chi phí của du học sinh (kể cả tiền học phí) được tính vào dịch vụ du lịch Tuy nhiên với hướng sửa đổi của BPM6 dự kiến hoàn thành vào năm 2008, tiền học phí sẽ được tách riêng để tính vào dịch vụ giáo dục Vì vậy một khi thực hiện điều tra chi tiêu đối với du hoạc sinh, cần bóc tách riêng khoản mục này