1. Trang chủ
  2. » Y Tế - Sức Khỏe

Tài liệu MỘT SỐ NGUYÊN NHÂN VÀ YẾU TỐ LIÊN QUAN TỚI SỨUY DINH DƯỠNG Ở TRẺ DƯỚI 5 TUỔI TẠI MỘT SỐ ĐỊA ĐIỂM THUỘC TỈNH BẮC CẠN pptx

6 1,1K 4
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Một số nguyên nhân và yếu tố liên quan tới suy dinh dưỡng ở trẻ dưới 5 tuổi tại một số địa điểm thuộc Bắc Kạn
Tác giả Trần Chí Liêm
Chuyên ngành Y học
Thể loại Bài báo khoa học
Năm xuất bản 2008
Thành phố Hồ Chí Minh
Định dạng
Số trang 6
Dung lượng 765,96 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

243 MỘT SỐ NGUYÊN NHÂN VÀ YẾU TỐ LIÊN QUAN TỚI SUY DINH DƯỠNG Ở TRẺ DƯỚI 5 TUỔI TẠI MỘT SỐ ĐỊA ĐIỂM THUỘC BẮC CẠN Trần Chí Liêm* TÓM TẮT Đặt vấn đề: Vấn đề nguyên nhân và các yếu tố

Trang 1

243

MỘT SỐ NGUYÊN NHÂN VÀ YẾU TỐ LIÊN QUAN TỚI SUY DINH DƯỠNG Ở

TRẺ DƯỚI 5 TUỔI TẠI MỘT SỐ ĐỊA ĐIỂM THUỘC BẮC CẠN

Trần Chí Liêm*

TÓM TẮT

Đặt vấn đề: Vấn đề nguyên nhân và các yếu tố nguy cơ liên quan tới suy dinh duỡngở trẻ em dưới 5 tuổi là vấn đề

cấp bách và chưa được nghiên cứu nhiều ở vùng núi cao phía Bắc nước ta

Phương pháp: Tác giả áp dụng phương pháp dịch tễ học mô tả cắt ngang so sánh để phân tích sự khác biệt giữa một

phường ở thị xã Bắc Kạn so với một xã nông thôn ở cùng tỉnh Tính cỡ mẫu theo phương pháp so sánh 2 tỷ lệ suy dinh dưỡng ở 2 địa phương và áp dụng kỹ thuật nhân trắc, kỹ thuật phỏng vấn đề KAP ở các bà mẹ có con dưới 5 tuổi có và không có con bị suy dinh dưỡng Sau khi xử lý bằng phương pháp thống kê y học, tác giả đã rút ra được những kết quả như sau:

Kết quả: Tỷ lệ các bà mẹ có kiến thức và thực hành về nuôi dưỡng trẻ không cao nhưng ở thị xã tốt hơn ở nông thôn -

Các bà mẹ khi mang thai chưa được chăm sóc tốt và ở xã nông thôn thấp hơn ở thị xã - Tỷ lệ các bà mẹ được tuyên truyền, giáo dục về chăm sóc sức khỏe ở xã nông thôn thấp hơn ở phường thị xã

Từ khoá: suy dinh dưỡng, KAP (kiến thức - thái độ - thực hành)

ABSTRACT

CAUSES AND RISK FACTORS RELATED TO THE MALNUTRITION OF CHILDREN UNDER 5 IN SOME

PLACES IN BACKAN

Tran Chi Liem* Y Hoc TP Ho Chi Minh * Vol 12 - No 4 – 2008: 243 - 248

Introduction: The causes and risk factors related to the malnutrition of children under 5 at highland and mountanous

areas of Northern Vietnam was unknown

Method: A cross – sectional study was performed to approach this tissues We compard the malnutrition rate at

Phung Chi Kien Provinct of Bac Kan township with the one at My Phuong, a rural commune Although observations and interviewing mothers who have children at age with and without malnutrition were evaluated

Result: The overal rate of mother having knowledge of caring practive for their children was not high (20%) However,

it was higher in the township than in the rural area The rate of mothers received health education in rural commune was lower in rural commune than in the township area The malnutrition rate related closely to mothers’s educational level, the initial time of giving additional foof besides milk and childrenls body weigh The study syggested several potential measures

to reduce malnutrition and opened other future s

Trang 2

ĐẶT VẤN ĐỀ

Tình trạng thiếu dinh dưỡng của trẻ em dưới 5

tuổi rất phức tạp Theo WHO thì nguyên nhân gây

nên thiếu dinh dưỡng là thiếu ăn và bệnh tật Hội

nghị Thượng đỉnh họp tại Roma tháng 12/1992 cho

là do nghèo khổ và thiếu kiến thức chăm sóc trẻ em

(7) Theo Từ Giấy và Hà Huy Khôi quy cho 3 nhóm

nguyên nhân chính: 1/3 do thiếu ăn, 1/3 do thiếu

chăm sóc, 1/3 do bệnh tật Ở nước ta người ta hay

nói nhiều tới các bệnh nhiễm trùng như tiêu chảy,

viêm phổi Ngoài ra còn các nguyên nhân khác như

tình trạng kinh tế, trình độ văn hoá của bố mẹ, cũng

như kiến thức và thực hành của bố mẹ cũng như

phong tục tập quán, quy mô gia đình, tình trạng

sức khoẻ của các bà mẹ

Do đó, các yếu tố liên quan đến suy dinh dưỡng

ở nước ta cũng có một vấn đề cấp thiết và quan

trọng nhất mà những vùng cao dân tộc ít người, đời

sống vật chất và tinh thần còn gặp rất nhiều khó

khăn cũng còn ít được nghiên cứu

Chính vì thế, chúng tôi tiến hành nghiên cứu

các yếu tố liên quan đến suy dinh dưỡng ở trẻ dưới

5 tuổi tại một phường thuộc thị xã Bắc Kạn và một

xã nông thôn cũng thuộc Bắc Kạn, nhằm mục tiêu

sau: “Mô tả và bước đầu phân tích một số yếu tố

liên quan đến tình trạng suy dinh dưỡng ở trẻ em

dưới 5 tuổi tại một phường thuộc thị xã Bắc Kạn và

một xã nông thôn vào năm 2003

Trên cơ sở này, đề xuất một số kiến nghị và các

giải pháp phòng, chống suy dinh dưỡng cho địa

phương cũng như cho miền núi cao phía Bắc nước

ta

ĐỐI TƯỢNG - PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

Đối tượng

- Trẻ em dưới 5 tuổi

- Các bà mẹ có con dưới 5 tuổi

- Hộ gia đình có trẻ dưới 5 tuổi

Địa chỉ nghiên cứu

- Phường Phùng Chí Kiên, thị xã Bắc Kạn

- Xã Mỹ Phương thuộc huyện Ba Bể, Bắc Kạn

- Nghiên cứu từ tháng 7 đến tháng 9/2003

Thiết kế nghiên cứu

Theo phương pháp mô tả cắt ngang so sánh có

phân tích

Cỡ mẫu và phương pháp chọn mẫu

Cỡ mẫu: So sánh 2 tần suất:

n1=n2: cỡ mẫu trẻ < 5 tuổi ở phường và ở thị xã

P1, P2: Thăm dò tính được P1=0,27; P2=0,44

=5%

=10%

Z2=10,5 Tính được n1=n2=153 trẻ Các chỉ số nghiên cứu

Mô tả các yếu tố ảnh hưởng đến tình trạng dinh dưỡng của trẻ

Kiến thức và thực hành nuôi dưỡng trẻ, 2 tuổi của mẹ

- Kiến thức của mẹ về thời gian cho con bú

- Thực hành cho con bú sau đẻ của mẹ Phỏng vấn

- Kiến thức của mẹ về thời gian cai sữa cho

- Thực hành cai sữa cho trẻ của mẹ Phỏng vấn

- Thực hành cho trẻ ăn sam của mẹ Phỏng vấn Chăm sóc bà mẹ mang thai và hoạt động y tế địa phương

- Tình hình khám thai của các bà mẹ Phỏng vấn

- Tình hình theo dõi cân nặng của các bà mẹ

khi mang thai

Phỏng vấn

- Thời gian nghỉ lao động trước sinh của bà

mẹ

Phỏng vấn

- Nơi sinh con của các bà mẹ Phỏng vấn

- Người đỡ đẻ cho các bà mẹ Phỏng vấn

- Tình hình tuyên truyền giáo dục sức khoẻ

trong 3 tháng qua

Phỏng vấn Đặc điểm bệnh tật của trẻ và cách xử trí của bà mẹ

- Tỷ lệ trẻ < 2 tuổi bị tiêu chảy trong 2 tuần

qua

Phỏng vấn

- Tỷ lệ trẻ < 2 tuổi bị ho sốt trong 2 tuần qua Phỏng vấn

- Cách chăm sóc trẻ ốm của các bà mẹ Phỏng vấn

- Cách chăm sóc trẻ bị tiêu chảy của các bà

mẹ

Phỏng vấn

- Các loại thức ăn bà mẹ kiêng khi trẻ bị tiêu

chảy

Phỏng vấn

Kỹ thuật thu thập số liệu

- Quan sát kiểu nhà, vật dụng giá trị các công trình vệ sinh (hố xí, giếng nước)

- Phỏng vấn trực tiếp bà mẹ theo bộ câu hỏi thiết kế sẵn có

- Các đặc điểm về trình độ văn hoá, nghề nghiệp, thu nhập gia đình

- Kiến thức, thực hành nuôi dưỡng trẻ của các

bà mẹ

- Tình hình chăm sóc các bà mẹ khi mang thai

- Hoạt động y tế địa phương

Xử lý số liệu

Bằng các trắc nghiệm thống kê bằng

2 2 1

2 2 1 1 ) ( 2

) (

) 1 ( ) 1 (

P P

P P P P Z

n

Trang 3

245

KẾT QUẢ

Nhận xét về kiến thức của bà mẹ về thời gian

cho con bú sau đẻ

Tại 2 địa điểm nghiên cứu, tỷ lệ bà mẹ cs kiến

thức về thời gian cho con bú ngay sau đẻ còn thấp,

ở phường Phùng Chí kiên là 26%, xã Mỹ Phương là

9,8% Phần lớn các bà mẹ đều cho rằng nên cho trẻ

bú từ 30 phút đến 2 giờ, chiếm tỷ lệ cao nhất (58,6%

và 60,2%) Vẫn còn 15,4% bà mẹ ở Phùng Chí Kiên

và 19,7% bà mẹ ở Mỹ Phương cho rằng nên cho trẻ

bú sau 2 giờ

Nhận xét về thực hành nuôi dưỡng chăm sóc

trẻ dưới 2 tuổi

Về thực hành, tỷ lệ bà mẹ cho con bú ngay sau

khi sinh ở phường Phùng Chí Kiên là 25%, xã Mỹ

Phương là 10,8% Tỷ lệ bà mẹ cho trẻ bú sau 30

phút đến 2 giờ chiếm tỷ lệ cao nhất (59% và 59,2%)

Tỷ lệ bà mẹ cho con bú sau 2 giờ ở xã Mỹ Phương

chiếm cao hơn ở phường Phùng Chí Kiên (19,7% so

với 14%), tuy nhiên sự khác biệt chưa có ý nghĩa

thống kê (P>0,05)

Nhận xét về kiến thức của bà mẹ về thời gian

cai sữa

Tại 2 địa điểm điều tra, tỷ lệ bà mẹ cho rằng nên

cai sữa cho trẻ trước 12 tháng tuổi ở phường Phùng

Chí Kiên cao hơn ở xã Mỹ Phương (21% và 8,2%)

Phần lớn các bà mẹ cho rằng nên cai sữa cho trẻ từ

12 – 17 tháng tuổi (78,1% bà mẹ phường Phùng Chí

Kiên và 66,5% ở xã Mỹ Phương) Tại phường

Phùng Chí kiên, không có bà mẹ nào cai sữa cho

con sau 24 tháng, chỉ có 6% bà mẹ ở xã Mỹ Phương

còn cho con bú sau 24 tháng

Nhận xét về thực hành của các bà mẹ về thời

gian cai sữa

Về thực hành, tỷ lệ bà mẹ ở Phùng Chí Kiên cho

trẻ thôi bú trước 12 tháng là 49%, cao hơn ở Mỹ

Phương (24,2%), sự khác biệt có ý nghĩa thống kê

với P<0,05 Tại 2 địa điểm điều tra, phần lớn các bà

mẹ đều cai sữa khi trẻ từ 12-17 tháng tuổi Sau 24

tháng, số trẻ còn bú mẹ ở xã Mỹ Phương còn rất

thấp (0,7%) và ở phường Phùng Chí Kiên là 0% và

23% ở xã Mỹ Phương Tỷ lệ trẻ dưới 5 tuổi bị nhiễm

khuẩn hô hấp cấp là 6,6% ở phường Phùng Chí

Kiên và 9,2% ở xã Mỹ Phương

Nhận xét về cách chăm sóc trẻ ốm (ỉa chảy

hoặc ho sốt)

Ở các 2 địa điểm nghiên cứu, khi trẻ bị ốm phần

lớn các bà mẹ không chữa gì (34,8% ở phường

Phùng Chí Kiên và 38,7% ở xã Mỹ Phương) Ngoài

ra, tỷ lệ bà mẹ không theo hướng dẫn của nhân viên

y tế còn cao, ở phường Phùng Chí Kiên là 17,4% và 28,5% ở Mỹ Phương Tỷ lệ bà mẹ ở phường Phùng Chí Kiên chăm sóc con theo hướng dẫn của nhân viên y tế là 47,8%, cao hơn bà mẹ ở xã Mỹ Phương (32,8%)

Nhận xét về cách chăm sóc trẻ khi bị tiêu chảy

Khi trẻ bị tiêu chảy, tỷ lệ các bà mẹ cho trẻ ăn kiêng ở phường Phùng Chí Kiên và xã Mỹ Phương đều cao (92,4% và 81,9%) Tỷ lệ không kiêng ở phường Phùng Chí Kiên là 7,6%, thấp hơn xã Mỹ Phương (18,1%), sự khác biệt có ý nghĩa thống kê với P<0,05

Nhận xét về các loại thức ăn mà các bà mẹ kiêng không cho trẻ ăn khi bị ỉa chảy

Khi trẻ bị ỉa chảy, loại thức ăn mà bà mẹ kiêng cho trẻ ăn nhiều nhất là chất tanh (67,0% ở phường Phùng Chí Kiên và 50,8% ở xã Mỹ Phương) Tiếp theo là các chất chua cũng đuợc bà mẹ kiêng cho trẻ

ăn Chỉ có một tỷ lệ nhỏ mà bà mẹ kiêng cho trẻ ăn sữa (2,6% ở phường Phùng Chí Kiên và 13% ở xã

Mỹ Phương), sự khác biệt có ý nghĩa thống kê với P<0,05

Nhận xét về mối liên quan giữa học vấn của

mẹ với tỷ lệ suy dinh dưỡng của trẻ dưới 5 tuổi

Tỷ lệ suy dinh dưỡng dưới 5 tuổi ở phường Phùng Chí Kiên và xã Mỹ Phương theo trình độ học vấn của mẹ có sự khác biệt rõ rệt Tỷ lệ suy dinh dưỡng trẻ em của những bà mẹ có học vấn từ cấp 1 trở xuống ở xã Mỹ Phương là 68,5% cao hơn phường Phùng Chí Kiên (48,6) Với bà mẹ có học vấn từ cấp 1 trở lên thì tỷ lệ suy dinh dưỡng ở trẻ

em phường Phùng Chí Kiên là 31,2% cao hơn xã

Mỹ Phương (24,2%) Sự khác biệt có ý nghĩa thống

kê với P<0,05

Nhận xét về mối liên quan giữa thời điểm ăn sam với tỷ lệ suy dinh dưỡng của trẻ dưới 5 tuổi

Ở phường Phùng Chí Kiên, tỷ lệ trẻ em suy dinh dưỡng ở nhóm ăn sam đúng thời điểm là 36,7%, thấp hơn nhóm ăn sam sớm (62,9%), sự khác biệt có ý nghĩa thống kê với P<0,05 Tương tự, tại xã

Mỹ Phương tỷ lệ trẻ em suy dinh dưỡng ở nhóm ăn sam sớm là 85,9%, cao hơn nhóm trẻ ăn sam đúng thời điểm một cách rõ rệt (P<0,001)

Trang 4

Nhận xét về kiến thức của bà mẹ về thời điểm

ăn sam

Tỷ lệ bà mẹ cho rằng nên cho trẻ ăn sam trước 4

tháng tuổi ở phường Phùng Chí Kiên là 20,2% và ở

xã Mỹ Phương là 34,1% Tỷ lệ bà mẹ hiểu biết đúng

về thời điểm cho trẻ ăn sam ở 2 địa điểm điều tra là

79,8% ở phường Phùng Chí Kiên và 65,4% ở xã Mỹ

Phương, sự khác biệt này có ý nghĩa thống kê với

P<0,05

Nhận xét về thực hành cho trẻ ăn sam của bà

mẹ

Về thực hành, tỷ lệ bà mẹ cho trẻ ăn sam

trước 4 tháng ở xã Mỹ Phương cao hơn phường

Phùng Chí Kiên (39,3%), sự khác biệt có ý nghĩa

thống kê với p<0,05 Tỷ lệ bà mẹ khám thai đủ 3

lần ở cả 2 nơi đều rất thấp, chỉ có 18,1% bà mẹ ở

Phùng Chí Kiên và 9,2% ở xã Mỹ Phương

Nhận xét về tình hình theo dõi cân nặng của

bà mẹ

ở cả hai nơi, tỷ lệ bà mẹ không theo dõi cân

nặng khi mang thai là rất cao (81,8% ở phường

Phùng Chí Kiên và 89,9% ở xã Mỹ Phương) Chỉ

có 18,2% bà mẹ ở phường Phùng Chí Kiên và

10,1% bà mẹ ở xã Mỹ Phương có đi khám thai Sự

khác biệt về tỷ lệ bà mẹ theo dõi cân nặng ở hai

nơi là không có ý nghĩa thống kê (p>0,05)

Nhận xét về thời gian nghỉ lao động trước

sinh

Biểu đồ 14 cho thấy tỷ lệ bà mẹ không nghỉ

ngơi trước khi sinh con ở xã Mỹ Phương còn cao

(40,7%), ở phường Phùng Chí Kiên là 28,9%, sự

khác biệt có ý nghĩa thống kê với P<0,05 Thời

gian nghỉ của bà mẹ chủ yếu là từ 3-4 tuần Tỷ lệ

nghỉ sau 1 tháng rất thấp, chỉ có 9,9% ở phường

Phùng Chí Kiên và 0,9% ở xã Mỹ Phương

Bàn luận các yếu tố ảnh hưởng đến tình trạng

dinh dưỡng của trẻ em dưới 5 tuổi

So sánh tỷ lệ cho trẻ bú sớm ngay sau sinh của

các bà mẹ vùng nghiên cứu với các số liệu tham

khảo

Vùng HN (17) HN (19) Phường Phùng

Chí Kiên, tỉnh Bắc Kạn

Xã Mỹ Phương, tỉnh Bắc Kạn

Bú mẹ

trong 1/2

giờ đầu (%)

8,0 8,4 25,0 10,8

Những cải thiện của tình hình bú mẹ chắc

chắn có vai trò ảnh hưởng của các cuộc vận động

nuôi con bằng sữa mẹ đã và đang được nhiều ngành tham gia Nhưng cũng phải nói đến vai trò quyết định của nhân viên y tế, nữ hộ sinh trong việc chủ động khuyến khích và giúp đỡ cho bà

mẹ ngay sau lúc sinh vì tại thời điểm đó bà mẹ hoàn toàn chủ động, dễ tiếp nhận các lời khuyên

từ nhân viên y tế

So sánh tình hình bú mẹ hoàn toàn trong 4 tháng đầu với các số liệu khảo tham khảo qua các năm

Trong nghiên cứu của Hà Huy Khôi – Từ Giấy

1994() đã cho thấy rằng: ở đâu điều kiện vệ sinh môi trường thấp kém thì tỷ lệ bệnh tật và suy dinh dưỡng cao hơn so với nơi có điều kiện vệ sinh môi trường tốt hơn(24) Trong nghiên cứu của chúng tôi cũng thấy rằng vấn đề vệ sinh môi trường và bệnh tật có mối liên quan với nhau

Qua nghiên cứu chúng tôi nhận thấy ở phường Phùng Chí Kiên có 18% trẻ bị tiêu chảy, 6,6% trẻ bị nhiễm khuẩn hô hấp cấp tính Còn ở xã Mỹ Phương

có 23,0% trẻ bị tiêu chảy, 9,2% trẻ bị nhiễm khuẩn

hô hấp cấp tính

Phỏng vấn bà mẹ về cách chăm sóc trẻ khi bị

ốm thì ở phường Phùng Chí Kiên có 34,8% bà mẹ trả lời là không đưa trẻ đi khám bệnh và 47,8% bà

mẹ không theo hướng dẫn của cán bộ y tế địa phương Còn ở xã Mỹ Phương có 38,7% bà mẹ không đưa trẻ đi khám bệnh, 28,5% bà mẹ không theo hướng dẫn của cán bộ y tế địa phương

Các yếu tố liên quan với suy dinh dưỡng trẻ em dưới 5 tuổi

Qua kết quả nghiên cứu chúng tôi nhận thấy tỷ

lệ suy dinh dưỡng trẻ em dưới 5 tuổi ở phường Phùng Chí Kiên và xã Mỹ Phương theo trình độ học vấn của mẹ có sự khác biệt rõ rệt Tỷ lệ suy dinh dưỡng của những bà mẹ có học vấn từ cấp 1 trở xuống ở xã Mỹ Phương là 68,5% cao hơn phường Phùng Chí Kiên (48,6%) Với bà mẹ có học vấn từ cấp 1 trở lên thì tỷ lệ suy dinh dưỡng trẻ em

ở phường Phùng Chí Kiên là 31,2%, cao hơn xã Mỹ Phương (24,2%) Sự khác biệt có ý nghĩa thống kê với P<0,05

Ở phường Phùng Chí Kiên, tỷ lệ trẻ em suy dinh dưỡng ở nhóm ăn sam đúng thời điểm là 36,7%, thấp hơn nhóm ăn sam sớm (62,9%), sự khác biệt có ý nghĩa thống kê với P<0,05 Tương tự, tại xã

Mỹ Phương tỷ lệ trẻ em suy dinh dưỡng ở nhóm ăn sam sớm là 85,9%, cao hơn nhóm trẻ ăn sam đúng thời điểm một cách rõ rệt (P<0,001) (biểu đồ 20)

Trang 5

247

Về cân nặng sơ sinh, tại phường Phùng Chí

Kiên, nhóm trẻ có cân nặng sơ sinh thấp (<2.500gr)

có tỷ lệ suy dinh dưỡng là 40,0%, cao hơn nhóm trẻ

có cân nặng sơ sinh 2.500gr (12,3%), sự khác biệt

này có ý nghĩa thống kê (P<0,05) Tại xã Mỹ

Phường, nhóm trẻ có cân nặng sơ sinh thấp

(<2.500gr) có tỷ lệ suy dinh dưỡng 53,2% cao hơn

nhóm trẻ có cân nặng sơ sinh 2.500gr (19,8%), sự

khác biệt này có ý nghĩa thống kê (P<0,05)

Điều này cho thấy vấn đề chăm sóc thai có ý

nghĩa với sự phát triển không những trong thời kỳ

bào thai mà cả sự phát triển sau này của trẻ

Chăm sóc sức khỏe khi bà mẹ mang thai và hoạt

động của y tế địa phương

Qua số liệu chúng tôi thu thập được thì vấn đề

chăm sóc bà mẹ khi mang thai ở phường Phùng

Chí Kiên và xã Mỹ Phương là tương đối tốt Điều

này thể hiện qua số lần trung bình khám thai của bà

mẹ là 3 lần

Đa số các bà mẹ ở phường Phùng Chí Kiên

sinh con tại cơ sở y tế chiếm 90,2% Hoàn toàn

được các nhân viên y tế đỡ đẻ Còn ở xã Mỹ

Phương chỉ có 42,7% bà mẹ được sinh con ở cơ sở

y tế và có 65,8% bà mẹ được nhân viên y tế đỡ đẻ

Có tới 71,1% bà mẹ ở phường Phùng Chí Kiên

được nghỉ ngơi trước khi sinh con ở xã là 59,3%

Nhưng kết quả nghiên cứu của chúng tôi thấy

tỷ lệ bà mẹ được uống vitamin A còn thấp mới chỉ

đạt ở mức 36,2% bà mẹ (phường Phùng Chí Kiên)

và 28,4% bà mẹ (xã Mỹ Phương) Liên quan đến

nguyên nhân này có lẽ ngoài tác động trực tiếp từ

gia đình thì vai trò tuyên truyền giáo dục của cán

bộ y tế cũng đóng vai trò đáng kể không chỉ các bà

mẹ sau khi sinh con mà cả những người thân của

họ hiểu được tác dụng của việc uống vitamin A đủ

và hợp lý sau khi sinh con đến sức khoẻ của vợ con

mình

Chúng tôi nhận thấy rằng vai trò truyền thông

giáo dục sức khoẻ tại 2 địa điểm nghiên cứu còn

thiếu Có 63,4% bà mẹ ở phường Phùng Chí Kiên

và 75,7% bà mẹ ở xã Mỹ Phương trong vòng 3

tháng trước thời điểm nghiên cứu nói rằng không

tham gia bất kỳ một buổi tuyên truyền giáo dục

dinh dưỡng và sức khoẻ Do đó việc truyền thông

giáo dục dinh dưỡng cần được đẩy mạnh và phổ

biến hơn nữa tại các vùng miền núi

So sánh thời gian cho trẻ ăn bổ sung sớm với số

liệu tham khảo

Năm 1996 Phường Phùng

Chí Kiên 2003

Xã Mỹ Phương 2003

Tỷ lệ % trẻ ăn

bổ sung trước 4 tháng tuổi

70,9 24,0 39,5

Đó là kết quả của nhiều nghiên cứu khác nhau

đã từng được đề cập bởi tác giả Đỗ Thị Hòa () cho rằng có 3 nguyên nhân cơ bản cần phải kể đến, trong đó là:

+ Các bà mẹ hoài nghi về nguồn sữa của mình,

tự cho rằng sữa của mình không đủ để cho trẻ lớn + Niềm tin của các bà mẹ về sự ưu việt của chất bột, chất gạo, chúng giúp trẻ nhanh lớn và cứng cáp hơn

KẾT LUẬN

1/ Kiến thức về thực hành nuôi dưỡng và chăm sóc trẻ dưới 5 tuổi của bà mẹ ở cả hai nơi chưa đúng Tỷ lệ các bà mẹ ở phường Phùng Chí Kiên có kiến thức và thực hành tốt hơn các bà mẹ ở xã Mỹ Phương

2/ Tỷ lệ bà mẹ mang thai được chăm sóc tốt còn thấp ở các 2 địa điểm nghiên cứu Các bà mẹ mang thai ở xã Mỹ Phưong ít đi khám thai và ít nghỉ ngơi trước sinh hơn so với các bà mẹ mang thai ở phường Phùng Chí Kiên

3/ So với phường Phùng Chí Kiên, tỷ lệ sinh con tại trạm y tế của các bà mẹ ở xã Mỹ Phương thấp, phần lớn bà mẹ sinh con tại nhà ở cả 2 nơi, tỷ lệ bà

mẹ được truyền giáo dục sức khoẻ trong 3 tháng qua đều thấp

4/ Trong 2 tuần qua, ở phường Phùng Chí Kiên

có 18% trẻ dưới 5 tuổi bị tiêu chảy và 6,6% bị nhiễm khuẩn hô hấp cấp; trong khi các tỷ lệ này ở xã Mỹ Phương là 23% và 9,2% Cách chăm sóc trẻ bị tiêu chảyt và bị ho sốt của các bà mẹ ở cả 2 nơi còn nhiều sai sót Xã Mỹ Phương có tỷ lệ bà mẹ mắc sai sót trong cách chăm sóc trẻ ốm cao hơn phường Phùng Chí Kiên

5/ Ở cả hai nơi, có mối liên quan giữa tỷ lệ suy dinh dưỡng ở trẻ dưới 5 tuổi với học vấn của mẹ, thời điểm ăn sam và cân nặng sơ sinh của trẻ

Kiến nghị

1/ Cần đẩy mạnh thực hiện các chương trình phòng chống suy dinh dưỡng ở trẻ em dưới 5 tuổi

ở Bắc Kạn, nhất là vùng nông thôn, để làm giảm tỷ

lệ suy dinh dưỡng xuống cấp hơn

2/ Cần tiếp tục nghiên cứu, phân tích sâu hơn

về các nguyên nhân và các yếu tố liên quan tới suy dinh dưỡng ở trẻ em dưới 5 năm tuổi ở Bắc Kạn cũng như ở các vùng cao miền núi phía Bắc nước ta

Trang 6

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1 Đỗ Văn Dung (1999): Tình trạng dinh dưỡng trẻ em tuổi nhà trẻ

và các yếu tố ảnh hưởng Luận án tiến sỹ Y học

2 Lê Thị Khánh Hoà (1996): Đánh giá tình trạng dinh dưỡng và các

yếu tố liên quan từ 3-6 tuổi ở một quận nội thành Hà Nội Luận án

thạc sĩ dinh dưỡng công cộng

3 Từ Ngữ, Lê Danh Tuyên, Trần Quốc An, Phạm Văn Phú và CS

(1993) Mức tiêu thụ LTTP và tình trạng dinh dưỡng của người

H’mông ở xã vùng núi phía Bắc Tạp chí Vệ sinh phòng dịch tập

III, số 3

4 Tổng cục Thống kê (2000) Tình trạng dinh dưỡng bà mẹ trẻ em

Việt Nam – NXB Y học

5 UNICEF (1994): Situation analysis of women and children

Vietnam

6 UNICEF (1994) State of world children

7 WHO (1995) Measuring change in nutrition status

8 WHO (1995): Nutrition highlights of recent activities of world and

plan of action for nutrition

Ngày đăng: 16/01/2014, 22:20

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w