1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

MÔ HÌNH THÍ ĐIỂM ĐÀO TẠO NGHỀ CHO PHỤ NỮ THUỘC NHÓM DỄ BỊ TỔN THƯƠNG TIẾP CẬN CHƯƠNG TRÌNH VIỆC LÀM BỀN VỮNG TẠI THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG

43 9 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 43
Dung lượng 1,14 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Đà Nẵng Căn cứ quy định của Luật Dạy nghề, quy hoạch phát triển kinh tế - xã hội, quy hoạch phát triển nguồn nhân lực của thành phố Đà Nẵng và khu vực miền trung, UBND thành phố Đà Nẵng

Trang 1

MÔ HÌNH THÍ ĐIỂM ĐÀO TẠO NGHỀ CHO PHỤ NỮ THUỘC NHÓM DỄ BỊ TỔN THƯƠNG

TIẾP CẬN CHƯƠNG TRÌNH VIỆC LÀM BỀN VỮNG

TẠI THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG

Chuyên gia tư vấn: Nguyễn Ngọc Thanh

Năm 2015

Trang 2

MỤC LỤC

I BỐI CẢNH CÔNG TÁC ĐÀO TẠO NGHỀ Ở TP ĐÀ NẴNG 4

1 Các quy định liên quan đến công tác đào tạo nghề ở TP Đà Nẵng 4

2 Tổng quan công tác đào tạo nghề ở thành phố Đà Nẵng 4

2.1 Giai đoạn 2006 - 2010 4

2.2 Giai đoạn 2011 đến nay 5

3 Lao động, việc làm ở thành phố Đà Nẵng 6

3.1 Dân số, lao động 6

3.2 Việc làm 9

3.3 Thực trạng về công tác đào tạo nghề du lịch và việc sử dụng lao động du lịch trên địa bàn thành phố Đà Nẵng 9

4 Định hướng phát triển kinh tế - xã hội và đào tạo nghề của Đà Nẵng đến năm 2020 11

4.1 Định hướng phát triển kinh tế - xã hội của TP Đà Nẵng đến năm 2020 11 4.2 Định hướng phát triển đào tạo nghề ở thành phố Đà Nẵng đến năm 2020 13

5 Những điểm mạnh, khó khăn, thách thức trong công tác đào tạo nghề tại thành phố Đà Nẵng 15

II MÔ HÌNH ĐÀO TẠO NGHỀ CHO LAO ĐỘNG NỮ THUỘC NHÓM DỄ BỊ TỔN THƯƠNG 17

1 Sự cần thiết đào tạo nghề cho lao động nữ thuộc nhóm dễ bị tổn thương tại thành phố Đà Nẵng 17

2 Mục tiêu của mô hình 19

2.1 Mục tiêu chung 19

2.2 Mục tiêu cụ thể 19

3 Nội dung của mô hình 20

4 Vai trò và sự phối hợp của các bên trong việc thực hiện mô hình 21

Trang 3

4.1 Vụ Pháp chế - Thanh tra, Tổng cục Dạy nghề (Đơn vị chịu trách nhiệm

điều phối và tổ chức các hoạt động) 21

4.2 Sở Lao động - Thương binh và Xã hội thành phố Đà Nẵng 22

4.3 Cơ sở dạy nghề 23

4.4 Doanh nghiệp 24

4.5 Người lao động (lao động nữ thuộc nhóm đối tượng dễ bị tổn thương ở Đà Nẵng) 24

4.6 Hội Phụ nữ Thành phố Đà Nẵng 25

III THÍ ĐIỂM ĐÀO TẠO TẠI ĐÀ NẴNG 25

1 Địa điểm thực hiện mô hình (Lý do chọn Trường Cao đẳng nghề Việt - Úc) 25 2 Học viên 28

3 Các bước thực hiện mô hình 28

3.1 Bước 1: Trước khi tổ chức đào tạo 28

3.2 Bước 2: Tổ chức đào tạo 31

3.3 Bước 3 Sau đào tạo 34

4 Dự kiến khung thời gian triển khai thí điểm 35

5 Chi phí thí điểm đào tạo 36

6 Giám sát và đánh giá mô hình 36

6.1 Yêu cầu đối với hoạt động giám sát, đánh giá 36

6.2 Chỉ tiêu giám sát, đánh giá mô hình 37

6.3 Hình thức giám sát, đánh giá 39

6.4 Nội dung đánh giá 39

6.5 Báo cáo kết quả 40

Trang 4

MÔ HÌNH THÍ ĐIỂM

ĐÀO TẠO NGHỀ CHO PHỤ NỮ, NGƯỜI THUỘC NHÓM DỄ BỊ TỔN THƯƠNG

TIẾP CẬN CHƯƠNG TRÌNH VIỆC LÀM BỀN VỮNG

TẠI THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG

I BỐI CẢNH CÔNG TÁC ĐÀO TẠO NGHỀ Ở TP ĐÀ NẴNG

1 Các quy định liên quan đến công tác đào tạo nghề ở TP Đà Nẵng

Căn cứ quy định của Luật Dạy nghề, quy hoạch phát triển kinh tế - xã hội, quy hoạch phát triển nguồn nhân lực của thành phố Đà Nẵng và khu vực miền trung, UBND thành phố Đà Nẵng đã ban hành hệ thống văn bản nhằm cụ thể hóa các quy định và đưa ra các chính sách để công tác đào tạo nghề trên địa bàn thành phố đáp ứng nhu cầu nhân lực kỹ thuật trực tiếp trong sản xuất và dịch vụ, phục vụ sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập của thành phố Danh mục các văn bản liên quan đến công tác đào tạo nghề được chi tiết trong Phụ lục

2 Tổng quan công tác đào tạo nghề ở thành phố Đà Nẵng

2.1 Giai đoạn 2006 - 2010

Trong giai đoạn này, Đà Nẵng đã hỗ trợ dạy nghề trình độ sơ cấp cho 13.603 người thuộc các đối tượng đặc thù, trong đó lao động có hộ khẩu tại thành phố, thuộc diện khó khăn là 6.634 người (chiếm 48,76%); hộ di dời, giải tỏa là 3.412 người (chiếm 25,08%); hộ nghèo là 2.853 người (chiếm 21%); bộ đội xuất ngũ là 328 người; thuộc hộ gia đình chính sách người có công là 284 người; dân tộc ít người là 92 người

Bên cạnh đó, có 13.970 người được hỗ trợ dạy nghề trình độ sơ cấp, bao gồm 6.345 lao động nông thôn và 7.625 lao động thành thị Lao động nông thôn được đào tạo ở 16 ngành nghề, trong đó nghề may công nghiệp có số lượng cao nhất, tuy nhiên có xu hướng giảm; tiếp đến là dịch vụ nhà hàng, lễ tân, nấu ăn có

xu hướng tăng lên Đây là các nghề phù hợp với thị trường lao động, dễ tìm việc

và tự tạo việc làm

Đào tạo sơ cấp nghề được thực hiện bằng hình thức giao chỉ tiêu cho cơ sở dạy nghề, nếu là ngân sách thành phố và bằng hợp đồng giữa Sở Lao động – Thương binh và Xã hội và các cơ sở dạy nghề, nếu là ngân sách trung ương Đây

là cách làm mới và bước đầu cho hiệu quả tích cực, bởi nếu như năm 2006, mới

Trang 5

có 11 đơn vị tham gia thì đến năm 2009 đã là 17 cơ sở dạy nghề tham gia đào tạo nghề cho lao động nông thôn và các đối tượng đặc thù khác

Ngoài nhiệm vụ chính là tổ chức tuyển sinh và đào tạo nghề cho lao động nông thôn, các cơ sở dạy nghề cũng đã chú trọng đến liên kết, giới thiệu nguồn lao động sau khi đào tạo cho doanh nghiệp Theo báo cáo của các đơn vị, khoảng 82% số được đào tạo tốt nghiệp ra có việc làm hoặc tự tạo việc làm, các nghề May công nghiệp, Nấu ăn, Dịch vụ nhà hàng có việc làm 90 - 100%

Tính đến cuối năm 2010, trên địa bàn Đà Nẵng có 52 cơ sở có tham gia dạy nghề, đăng ký dạy 101 nghề, trong đó 39 cơ sở do trung ương quản lý và 13 cơ

sở trực thuộc địa phương bao gồm 4 trường cao đẳng nghề, 1 phân hiệu của trường cao đẳng nghề, 8 trường trung cấp nghề, 13 trung tâm dạy nghề và 27 cơ

sở khác tham gia dạy nghề

Năm học 2009 - 2010, các cơ sở dạy nghề đã tuyển mới dạy nghề cho 39.091 học sinh, sinh viên ở 99 nghề Cơ cấu ngành nghề tuyển sinh chuyển hướng mạnh theo nhu cầu doanh nghiệp và nhu cầu xã hội, như nhóm ngành nghề du lịch, khách sạn, nhà hàng (chiếm 18,3%); nhóm ngành kỹ thuật (12,2%), ngành công nghệ thông tin (9,3%)

2.2 Giai đoạn 2011 đến nay

Trong giai đoạn 2011 - 2014 số lượng các CSDN và cơ sở khác có tham gia dạy nghề của thành phố Đà Nẵng có sự biến động không đáng kể, chủ yếu là thành lập mới các trung tâm dạy nghề và nâng cấp các trung tâm dạy nghề lên thành trường trung cấp nghề hoặc nâng cấp trường trung cấp nghề thành trường cao đẳng nghề

Bảng 1 Số lượng cơ sở dạy nghề qua các năm

Trang 6

Trong giai đoạn 2011 - 2014, trung bình mỗi năm các cơ sở dạy nghề tuyển sinh được 43.408 người Số lượng tuyển sinh cao nhất là năm 2014

Hình 1 Kết quả tuyển sinh giai đoạn 2011 - 2014

(Nguồn: Sở LĐTBXH thành phố Đà Nẵng)

Trong giai đoạn này, thành phố Đà Nẵng đã có nhiều hoạt động đẩy mạnh công tác đào tạo nghề cho lao động nông thôn, lao động thuộc diện di dời giải tỏa Trong 5 năm 2010 - 2014, thành phố đã tuyển sinh đào tạo nghề cho gần 5.000 lao động nông thôn, trong đó có những đối tượng như: người có công với cách mạng, dân tộc thiểu số, hộ nghèo, hộ bị thu hồi đất, khuyết tật Điều đó đã góp phần chuyển đổi cơ cấu kinh tế, giải quyết việc làm, ổn định đời sống cho lao động nông thôn, lao động thuộc diện di dời giải tỏa góp phần phát triển kinh

tế và an sinh xã hội trên địa bàn

Tỷ lệ lao động nông thôn có việc làm sau học nghề là 91,29%, trong đó được doanh nghiệp hoặc đơn vị tuyển dụng 24,04%, 5,49% được doanh nghiệp hoặc đơn vị bao tiêu sản phẩm và làm việc trong các tổ hợp tác, hợp tác xã và có đến 70,47% tự tạo việc làm

3 Lao động, việc làm ở thành phố Đà Nẵng

3.1 Dân số, lao động

Dân số thành phố Đà Nẵng tăng tương đối nhanh, tốc độ tăng bình quân trong giai đoạn 2008 - 2013 là 2,58%/năm; trong đó tốc độ tăng dân số tự nhiên là 1,19%/năm Do vậy, sau 6 năm dân số tăng hơn 113.690 người; tỷ lệ dân số thành thị khá cao, hơn 88% (tỷ lệ cao nhất cả nước) Đặc biệt, dân số

Trang 7

trong độ tuổi lao động tăng nhanh hơn tốc độ tăng dân số; nguồn lao động phát triển khá nhanh

Lực lượng lao động cũng tăng nhanh, chiếm 49,14% dân số Tỷ lệ này cao hơn 0,62% so với năm 2008, là nguồn cung lao động cho nền kinh tế Đây là một thuận lợi đảm bảo cho nền kinh tế phát triển, nhất là chất lượng lao động ngày một tăng; tỷ lệ lao động qua đào tạo từ 37% năm 2005 tăng lên 50% năm

2010, tỷ lệ lao động qua đào tạo nghề tăng từ 25,5% năm 2005 lên 37% năm 2010; nhưng đồng thời, cũng trở thành áp lực cho công tác giải quyết việc làm, tạo việc làm tăng thu nhập, ổn định cuộc sống cho người lao động, đảm bảo an sinh xã hội

TT Chỉ tiêu ĐVT

Giai đoạn 2008 - 2013

2008 2009 2010 2011 2012 2013

1 Dân số Người 879.110 909.900 942.130 951.100 972.900 992.800 Trong đó nữ Người 450.104 461.137 482.088 484.000 493.100 503.100

- Thủ sản nông % 10,47 9,93 9,88 0,9 0,7

Trang 8

(Nguồn: Số liệu thống kê các cuộc điều tra)

Theo số liệu thống kê năm 2012, Đà Nẵng có hơn ba phần tư (chiếm 76,8%) dân số từ 15 tuổi trở lên tham gia lực lượng lao động Tỷ lệ tham gia lực lượng lao động chênh lệch đáng kể giữa nam (81,2%) và nữ (72,5%) và không đồng đều giữa các quận, huyện Tỷ lệ tham gia lực lượng lao động dân số khu vực nông thôn cao hơn khu vực thành thị tới 10,1% Cả nam giới và nữ giới đều

có sự chênh lệch này, song mức độ chênh lệch của nữ giới (11,7%) lớn hơn của nam giới (8,3%) Điều này có nghĩa là thật khó khăn cho các phụ nữ sống ở khu vực nông thôn tham gia lực lượng lao động

Bảng 2 Cơ cấu lao động theo trình độ học vấn năm 2012

Trang 9

nhiên, càng ở các trình độ cao thì nam lại chiếm số đông hơn nữ Điều này cho thấy, vẫn còn sự bất bình đẳng về giới trong lực lượng lao động

3.2 Việc làm

Giai đoạn 2010 - 2014, nền kinh tế thành phố đạt mức tăng trưởng khá; tốc độ tăng trưởng bình quân 11%/năm, GDP bình quân đầu người tăng gấp 2,2 lần so với năm 2010 và 1,6 lần so với bình quân chung của cả nước; cơ cấu kinh tế chuyển dịch theo hướng “dịch vụ - công nghiệp - nông nghiệp” là điều kiện phát triển của cầu lao động, tạo ra nhiều chỗ làm mới, giải quyết được nhiều lao động

Năm năm qua, sự phát triển và chuyển dịch cơ cấu kinh tế đã giúp tăng thêm 73.500 chỗ làm mới; trên cơ sở đó đã giải quyết việc làm cho 161.486 lao động, bình quân hằng năm giải quyết việc làm cho 32.300 lao động; tỷ lệ thất nghiệp giảm dần với mức tương đối ổn định; giảm từ 4,9% năm 2008 xuống 3,6% năm 2013 Nhìn chung, thời gian qua, công tác giải quyết việc làm cho người lao động trên địa bàn thành phố đạt kết quả cao; tỷ lệ thất nghiệp có xu hướng giảm dần

Tuy nhiên, do đặc thù của thành phố Đà Nẵng trong những năm gần đây là công tác quy hoạch phát triển thành phố, chỉnh trang đô thị diễn ra với tốc độ khá nhanh; công tác giải phóng mặt bằng, chuyển đổi mục đích sử dụng đất, thu hồi đất sản xuất diễn ra trên diện rộng, nên lao động nông nghiệp, nông thôn chuyển đổi ngành nghề, chuyển hướng sản xuất kinh doanh là vấn đề đặc biệt đáng quan tâm Mặt khác, lao động chưa có việc làm vẫn còn bức xúc; theo số liệu thống kê, có 4,86% lực lượng lao động chưa có việc làm, tương ứng hơn 22.500 người, phần lớn là lao động chưa qua đào tạo - chiếm 77,01% Nhiều lao động tuy có trình độ trung cấp chuyên nghiệp, cao đẳng, đại học nhưng do học những ngành nghề mà thị trường chưa có nhu cầu dẫn đến thất nghiệp, chiếm tỷ

lệ khá cao - 18,21%, đào tạo nghề nhưng chưa tìm được việc làm chiếm 4,78%

3.3 Thực trạng về công tác đào tạo nghề du lịch và việc sử dụng lao động du lịch trên địa bàn thành phố Đà Nẵng

3.3.1 Thực trạng công tác đào tạo nghề du lịch

Đà Nẵng là thành phố có bờ biển dài và đẹp, được mệnh danh là một trong những nơi có bãi biển đẹp nhất hành tinh Trong những năm qua, chính quyền thành phố ra sức xây dựng Đà Nẵng trở thành thành phố du lịch và là điểm đến khá lý tưởng cho du khách trong và ngoài nước

Trang 10

Trước nhu cầu của thị trường lao động, nhiều gia đình trong và ngoài thành phố mong muốn cho con em theo học “nghề du lịch” với kỳ vọng có được công

ăn việc làm ổn định Nắm bắt được tình hình trên, trong những năm qua, trên địa bàn thành phố đã phát triển thêm một số cơ sở đào tạo nghề du lịch kể cả công lập lẫn tư thục với các loại hình đào tạo rất đa dạng Sự phát triển về số lượng cơ

sở đào tạo như thế đã tạo ra một tín hiệu lạc quan cho người học trong việc lựa chọn trường lớp và nghiệp vụ chuyên môn phù hợp với nguyện vọng của mình, mặt khác làm sáng sủa bộ mặt của thành phố du lịch miền trung Tuy nhiên, bên cạnh những tác động tích cực, không ít cơ sở dạy nghề vẫn còn một số tồn tại nhất định

Thứ nhất, việc đầu tư, quy hoạch của các cơ sở đào tạo nghề du lịch không dựa trên các tiêu chuẩn, thông lệ quốc tế

Đội ngũ giảng viên nghề du lịch vừa yếu lại vừa thiếu cả về trình độ chuyên môn nghiệp vụ lẫn kinh nghiệm thực tế trong công tác điều hành tổ chức phục vụ du lịch Thêm vào đó, điều kiện và cơ hội học tập để nâng cao trình độ chuyên môn, tiếp thu những kiến thức và kỹ năng hiện đại còn hạn chế do nhiều nguyên nhân khách quan lẫn chủ quan

Một số giảng viên còn cứng nhắc và thiếu linh động trong phương pháp đào tạo, cụ thể là chỉ dừng lại ở việc “hướng dẫn học viên thực hành nghiệp vụ một cách máy móc”, chưa quan tâm đến việc “định hướng cho họ phương pháp học thực hành có hiệu quả”, từ đó không kích thích tính sáng tạo cho người học, hay nói cách khác người học luôn ở trạng thái “thầy đặt đâu, trò ngồi đấy” Chính phương pháp đào tạo như thế nên dẫn đến hệ quả là nhiều học viên trở nên nhàm chán trong học tập, khi tiếp xúc với công việc thực tế lại bị bế tắc trong xử lý tình huống

Thứ hai, việc đào tạo nghề du lịch chưa định hướng theo nhu cầu của thị trường, nên mức độ vận dụng kiến thức và kỹ năng nghề nghiệp mà học viên được học ở nhà trường vào công việc thực tế còn ít, trái lại những kiến thức và

kỹ năng “sơ đẳng” mà thị trường cần vừa thiếu lại vừa yếu

Thứ ba, việc đào tạo kỹ năng sống ít được các cơ sở dạy nghề quan tâm và chú trọng, tuy nó không liên quan trực tiếp đến thao tác chuyên môn nghiệp vụ, nhưng nó góp phần chuẩn hoá nhân cách, giúp học viên có thái độ đúng đắn với công việc mình đang làm, là cơ sở hình thành đạo đức nghề nghiệp và tác phong trong công việc Đây chính là yếu tố tạo ra giá trị tăng thêm trong phục vụ cho khách hàng

Trang 11

Thứ tư, điều kiện giảng dạy và thực hành của giảng viên và học viên còn bất cập

3.3.2 Thực trạng về việc sử dụng lao động của các doanh nghiệp du lịch

Các doanh nghiệp du lịch trên địa bàn thành phố muốn tuyển dụng lao động đã qua đào tạo nghiệp vụ, song phần lớn họ đều cho rằng đa số trình độ tay nghề của ngưòi lao động chưa đáp ứng được yêu cầu thực tế của công việc tại đơn vị, do vậy muốn sử dụng được thì phải đào tạo lại Ngoài ra, trình độ ngoại ngữ của họ vẫn còn yếu, kỹ năng giao tiếp còn hạn chế

Năm 2011, có 14.000 lao động làm việc trong lĩnh vực du lịch, tuy nhiên khoảng 40% trong số này được đào tạo đúng chuyên môn, nghiệp vụ

Đến năm 2015, nhu cầu lao động ngành du lịch ở Đà Nẵng là 31.000 người, trong đó 60 - 65% lao động qua đào tạo và 100% cán bộ quản lý được đào tạo nghiệp vụ Tuy nhiên, hàng năm số học sinh, sinh viên tốt nghiệp chỉ đáp ứng được 1/5 nhu cầu và đúng chuyên môn là 40,6%

Số lao động đã qua đào tạo khi được tuyển dụng có thể sử dụng ngay đối với lữ hành là 41,5%, khách sạn 62,6%, thấp nhất là nhà hàng 28,8%

Giải pháp cơ bản hiện nay đó là các cơ sở đào tạo và doanh nghiệp du lịch cần liên kết chặt chẽ trong việc xây dựng mô hình đào tạo ngắn hạn, trung hạn

Trang 12

Cơ cấu kinh tế chuyển đổi theo hướng dịch vụ - công nghiệp, xây dựng - nông nghiệp Dự kiến cơ cấu kinh tế của thành phố đến năm 2020 là: dịch vụ: 66,6%, công nghiệp và xây dựng: 29,4% Nông nghiệp: 4%

Đến năm 2020, tỷ trọng GDP của thành phố chiếm khoảng 2,8% GDP cả nước

4.1.2 Nhu cầu phát triển nguồn nhân lực của Đà Nẵng

Theo mục tiêu phát triển như trên, dự kiến Đà Nẵng sẽ cần 905.246 lao động, trong đó cơ cấu lao động trong một số ngành nông nghiệp - công nghiệp - dịch vụ lần lượt là 4,0% - 29,4% - 66,6% Dự báo lao động trong một số ngành nghề cụ thể như sau:

Bảng 3 Dự báo lao động trong một số ngành nghề cụ thể

Để nhân lực thành phố đạt tỷ lệ qua đào tạo như mục tiêu phát triển kinh tế

- xã hội của thành phố đề ra, nhu cầu cụ thể chia theo trình độ như sau:

Bảng 4 Dự báo cầu lao động qua đào tạo phân theo trình độ

của 3 nhóm ngành giai đoạn 2015 - 2020

Tổng cộng

2015

Trang 13

Nông, lâm, thủy sản 8.366 2.713 2.130 13.209 Công nghiệp và xây dựng 51.941 14.078 28.822 94.850

(Nguồn: Quy hoạch phát triển nhân lực TP Đà Nẵng 2011 - 2020)

4.2 Định hướng phát triển đào tạo nghề ở thành phố Đà Nẵng đến năm 2020

Đào tạo nghề là một bộ phận quan trọng của đào tạo nguồn nhân lực; phát triển nhanh đội ngũ lao động có tay nghề cao là giải pháp đột phá để phục vụ sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa thành phố Do vậy, đào tạo nghề phải xuất phát từ yêu cầu của thị trường lao động

Mục tiêu đến năm 2015, tỷ lệ lao động qua đào tạo đạt 70%, tỷ lệ lao động qua đào tạo nghề đạt 55% Khoảng 95% số người học nghề có việc làm

Mục tiêu giai đoạn 2016 - 2020: đào tạo nghề cho 207,9 ngàn người, trong đó: 15% cao đẳng nghề, 32% trung cấp nghề Đến năm 2020, tỷ lệ lao động qua đào tạo đạt 80%, tỷ lệ lao động qua đào tạo nghề đạt 65% Khoảng 95% số người học nghề có việc làm

Phương hướng phát triển dạy nghề đến năm 2020:

- Về quy hoạch mạng lưới:

+ Đến năm 2015, có khoảng 60 cơ sở đào tạo nghề Trong đó, có ít nhất 05 trường hợp cao đẳng nghề; 12 trường trung cấp nghề, 20 trung tâm dạy nghề và

23 cơ sở khác có đào tạo nghề

+ Đến năm 2020, có khoảng 75 cơ sở đào tạo nghề Trong đó, có 07 trường cao đẳng nghề; có ít nhất 01 trường cao đẳng nghề đạt chuẩn quốc tế, 01 trường Cao đẳng nghề đạt chuẩn ASEAN; các trường cao đẳng nghề ngoài công lập ít nhất 1 - 2 nghề trọng điểm Có 15 trường trung cấp nghề, 23 trung tâm dạy nghề

và 30 cơ sở khác có đào tạo nghề

Bảng 5 Quy hoạch mạng lưới cơ sở dạy nghề đến năm 2020

Trang 14

1 Cao đẳng nghề 7 8

4 Cơ sở khác có đào tạo nghề 31 31

(Nguồn: Quy hoạch phát triển đào tạo nghề TP Đà Nẵng 2011 - 2020)

- Quy mô và cấp trình độ đào tạo: Đến năm 2015, có 296.300 lao động qua đào tạo nghề (chiếm 55% trong lực lượng lao động) và đến năm 2020 có 438.000 lao động qua đào tạo nghề (chiếm 65% trong lực lượng lao động)

+ Giai đoạn 2011 - 2015: 234.600 học sinh, sinh viên; trong đó: Trình độ

sơ cấp nghề 62%, trung cấp nghề 28% và cao đẳng nghề 10%

+ Giai đoạn 2016 - 2020: 249.480 học sinh, sinh viên; trong đó: Trình độ

sơ cấp nghề 53%, trung cấp nghề 32% và cao đẳng nghề 15%

Bảng 6 Quy mô tuyển sinh các trình độ giai đoạn 2011 - 2020

TT Trình độ nghề

Giai đoạn

2011 – 2015

Giai đoạn 2015-2020

+ Ngành dịch vụ: Phát triển dịch vụ, nhất là dịch vụ du lịch và thương mại,

là một trong năm hướng đột phá của chiến lược phát triển KT-XH thành phố

Ưu tiên phát triển 12 ngành, nghề đào tạo thuộc ngành dịch vụ Trong đó ngành

du lịch giải trí xếp thứ 4

+ Ngành công nghiệp: ưu tiên phát triển 16 ngành, nghề đào tạo

Trang 15

+ Ngành nông nghiệp: ưu tiên phát triển 9 ngành, nghề đào tạo

5 Những điểm mạnh, khó khăn, thách thức trong công tác đào tạo nghề tại thành phố Đà Nẵng

5.1 Điểm mạnh

Công tác đào tạo nghề luôn được sự quan tâm và chỉ đạo sâu sát của Thành

ủy, Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân thành phố nhờ đó đã tác động mạnh đến các cơ sở dạy nghề, người học và các cấp, các ngành có liên quan

Các đơn vị dạy nghề tích cực phối hợp với địa phương chiêu sinh và giải quyết việc làm cho các đối tượng chính sách, hộ nghèo, dân tộc thiểu số, lao động nông thôn…Các đối tượng này sau khi được nhà nước hỗ trợ học nghề đã từng bước ổn định việc làm, nâng cao thu nhập và dần cải thiện đời sống góp phần phát triển kinh tế địa phương

Đội ngũ giáo viên dạy nghề được đào tạo, bồi dưỡng nghiệp vụ, chuyên môn, ngoại ngữ, cập nhật phương pháp sư phạm, nâng cao năng lực và từng bước tiếp cận với khoa học công nghệ mới trong và ngoài nước

Nhu cầu về lao động có kỹ thuật, có tay nghề đang được các doanh nghiệp chú trọng, các cơ sở dạy nghề thường xuyên gắn kết với doanh nghiệp trong công tác đào tạo cũng như tạo điều kiện cho học viên đến các cơ sở dạy nghề được thực tập thực tế tại các doanh nghiệp, nên việc đăng ký tiếp nhận và bố trí việc làm cho các học viên tốt nghiệp hàng năm đều tăng lên

Học sinh, sinh viên trong các trường nghề đã tích cực tham gia nỗ lực trong học tập để nâng cao kỹ năng nghề, rèn luyện nhân cách, tác phong công nghiệp được nâng lên đáp ứng yêu cầu của các nhà tuyển dụng

5.2 Khó khăn, thách thức

Trong những năm gần đây, việc triển khai công tác xã hội hóa giáo dục trên địa bàn TP Đà Nẵng đã đạt được những kết quả khả quan Thành phố đã có những chính sách khuyến khích xã hội hóa như giao đất, cho thuê đất không qua đấu thầu, giảm giá đất theo quy mô của cơ sở giáo dục cũng như phương thức cho thuê đất lâu dài, bảo lãnh cho vay vốn đối với những dự án có hiệu quả… Tuy nhiên, quá trình triển khai công tác này chỉ thực hiện đối với các cơ sở công lập; còn các trường ngoài công lập vẫn gặp nhiều khó khăn trong tiếp cận cũng như đón nhận các chính sách ưu đãi

Việc kết hợp tuyên truyền và liên lạc dạy nghề trong thành phố chưa đạt hiệu quả như mong muốn

Trang 16

Việc hướng dẫn và hướng nghiệp cho các học sinh sắp tốt nghiệp THPT có nhiều vấn đề và hạn chế Nhận thức từ gia đình và xã hội đã không thay đổi nhiều, xu hướng vào học ở các trường đại học vẫn thích hơn là vào học ở các trường đào tạo nghề (vẫn còn quan niệm trọng bằng cấp)

Hầu hết các lao động nông thôn, đặc biệt là phụ nữ, không biết học và làm nghề gì, thiếu các thông tin đầy đủ về đào tạo nghề và thiếu sự hỗ trợ

Việc phối hợp hoạt động dạy nghề giữa cơ sở dạy nghề với cơ quan quản lý nhà nước ở địa phương và đặc biệt là với doanh nghiệp chưa đạt hiệu quả như mong muốn

Công tác đổi mới chương trình, nội dung, phương pháp ở các trường thực hiện chưa đồng bộ, còn chắp vá và thiếu định hướng rõ ràng nên chưa theo kịp với đòi hỏi của xã hội

Cơ sở vật chất của đại bộ phận các trường Trung cấp nghề và các cơ sở đào tạo nghề vẫn còn yếu kém, trang thiết bị kỹ thuật phục vụ cho đào tạo kỹ năng nghề nghiệp nói chung vừa thừa, vừa thiếu, vừa lạc hậu Ngoài ra, đội ngũ giáo viên thiếu về số lượng, không đồng đều về cơ cấu, năng lực giảng dạy chưa cao, nhất là trong thực hiện đổi mới về nội dung và phương pháp dạy

Mạng lưới cơ sở dạy nghề có tăng nhưng còn nhỏ lẻ Hệ thống dạy nghề ngoài công lập ở cấp trình độ cao đẳng nghề và trung cấp nghề chưa được mạnh dạn đầu tư Việc đăng ký hoạt động dạy nghề ở các trường Đại học, Cao đẳng trên địa bàn thành phố chưa có sự thống nhất giữa Trung ương và địa phương Một số cơ sở dạy nghề công lập còn trông chờ, ỷ lại vào nguồn ngân sách hỗ trợ của nhà nước, chưa năng động trong công tác xã hội hóa hoạt động dạy nghề

Mặc dù đã đạt được những thành công song công tác đào tạo nghề vẫn còn một số khó khăn vướng mắc, đó là chưa xác định, thống kê, dự báo số lao động nông thôn có nhu cầu học nghề, việc dạy nghề sơ cấp, học tập trung nên không phù hợp với lao động nông thôn lớn tuổi, mức hỗ trợ còn thấp, dẫn đến chất lượng chưa cao Chưa có chính sách miễn, giảm thuế cho các cơ sở dạy nghề được giao nhiệm vụ này Loại trừ các cơ sở dạy nghề trọng điểm, các cơ sở khác tham gia dạy nghề cho lao động nông thôn còn thiếu thiết bị thực hành, giáo viên dạy nghề; chưa liên kết với nhau để khai thác hết tiềm năng thế mạnh của nhau Đặc biệt, các cơ sở ngoài công lập chưa tham gia nhiều trong khi các cơ sở công lập còn ỷ lại, trông chờ vào nguồn kinh phí phân bổ Thêm vào đó là đa số lao động nông thôn học nghề là người khó khăn, trình độ học vấn thấp, nên khó

Trang 17

tiếp thu các kiến thức kỹ năng nghề; một số ý thức tổ chức kỷ luật chưa cao, chưa tự giác nên chất lượng học tập không cao hoặc phải bỏ học nửa chừng

II MÔ HÌNH ĐÀO TẠO NGHỀ CHO LAO ĐỘNG NỮ THUỘC NHÓM

DỄ BỊ TỔN THƯƠNG

1 Sự cần thiết đào tạo nghề cho lao động nữ thuộc nhóm dễ bị tổn thương tại thành phố Đà Nẵng

Trong quá trình phát triển, bất kỳ quốc gia nào cũng đối mặt với nhiều vấn

đề xã hội như nghèo đói, phân hóa xã hội, … đồng thời trong cộng đồng dân cư luôn tồn tại nhóm người, do nhiều nguyên nhân chủ quan và khách quan khác nhau, được gọi là “dễ bị tổn thương” Chính phủ các nước luôn phải đối mặt với những vấn đề này và đề ra nhiều giải pháp nhằm nâng cao năng lực tự thích ứng của người dễ bị tổn thương trước hoàn cảnh để vươn lên làm chủ số phận, hòa nhập với cộng đồng và huy động các nguồn lực để hỗ trợ giúp đỡ các nhóm đối tượng này

Một trong những giải pháp có tính tích cực là tạo điều kiện cho những người còn khả năng lao động có nhu cầu học nghề đều có cơ hội được học nghề phù hợp với thể trạng và điều kiện của bản thân Thông qua đào tạo nghề, người thuộc nhóm dễ bị tổn thương tự trang bị cho mình không chỉ các kỹ năng “cứng”

mà còn cả những kỹ năng “mềm”

1.1 Khó khăn của phụ nữ thuộc các nhóm dễ bị tổn thương khi tham gia học nghề

1.1.1 Khó khăn trong việc tiếp cận thông tin

Các cơ sở dạy nghề thường ở xa địa bàn cư trú của nhóm người nghèo nói chung, phụ nữ nghèo nói riêng

Phụ nữ thường gặp khó khăn trong việc tiếp cận các thông tin, các dịch vụ đào tạo

Phụ nữ, đặc biệt ở khu vực vùng nông thôn không được tiếp cận thông tin

và rất hạn chế về các khóa học nghề diễn ra tại địa phương

1.1.2 Khó khăn về nhận thức học nghề, làm việc

Phụ nữ thường mất nhiều thời gian làm các công việc nội trợ trong gia đình

do vậy họ có ít thời gian đi học, nên có trình độ học vấn thấp hơn so với các đối tượng khác Đây là một nguyên nhân quan trọng dẫn đến họ thường phải làm các công việc độc hại để kiếm sống hoặc công việc được trả công thấp Họ cũng

Trang 18

là những người có khả năng kinh tế rất hạn chế nên không có tiền để trang trải cho việc học tập

1.1.3 Khó khăn do thực hiện thiên chức của người phụ nữ hoặc rào cản tâm lý

Đa số phụ nữ phải tập trung lo cho gia đình, ngại đi học nghề vì vừa tốn tiền, tốn thời gian, vừa bỏ bê việc nhà

Bên cạnh đó, dù không có việc làm phụ nữ nông thôn vẫn luôn phải làm tất

cả các công việc gia đình và chăm sóc con cái nên cũng không còn thời gian đi học, không có cơ hội cải thiện cuộc sống

Có phụ nữ chia sẻ “Sau khi lập gia đình, sinh con, tôi phải lo nội trợ Thấy chồng làm nghề sửa xe thu nhập không bao nhiêu, tôi cũng muốn đi làm để phụ giúp Nhưng tôi không biết làm nghề gì, cũng chưa từng được học nghề Nếu đi học nghề thì nhà cửa, con cái không ai chăm sóc Còn không học thì xin vào đâu làm cũng khó Thỉnh thoảng, tôi có đăng ký học vài khóa dạy nghề ngắn hạn như vẽ móng tay, kết cườm, nhưng không tiếp thu được nhiều kiến thức vì vừa học vừa nghỉ khi nhà không ai coi chừng”

Phụ nữ khuyết tật thường có mặc cảm về bản thân, sợ bị kỳ thị nên không

đủ tự tin để đăng ký tham gia học nghề Đồng thời, họ cũng sợ không tìm được việc làm sau khi tốt nghiệp

1.2 Lợi ích của phụ nữ nói chung, phụ nữ thuộc nhóm dễ bị tổn thương nói riêng khi tham gia học nghề

Học nghề là học để biết, học để làm việc, học để chung sống, học để làm người nên xây dựng tinh thần tự học, tự rèn luyện, tự nâng cao tay nghề và ý thức học tập suốt đời

Được trang bị các kiến thức về nghề nghiệp, hỗ trợ nâng cao tay nghề, qua

đó giúp người lao động sớm tái hòa nhập lại thị trường lao động, với xã hội

1.2.1 Sau khi hoàn thành khóa học

Trang 19

Sau khi hoàn thành khóa học, giúp họ có được kiến thức, kỹ năng của một nghề, có thể tìm được việc làm để tự nuôi sống bản thân mình

Ngoài việc học nghề, người học còn được học thêm các kỹ năng mềm giúp

họ nâng cao sự tự tin và khả năng thích ứng với môi trường sống, môi trường làm việc

Lao động nữ sau khi học nghề được vay vốn từ Quỹ quốc gia về việc làm thuộc Chương trình mục tiêu quốc gia về việc làm để tự tạo việc làm

Lao động nữ sau khi học nghề tham gia sản xuất kinh doanh, tự tạo việc làm được ưu tiên hỗ trợ hoạt động xúc tiến thương mại, giới thiệu sản phẩm từ các hoạt động hỗ trợ việc làm

Do vậy, với hạn chế về tuổi tác, trình độ học vấn, lại thêm bị gắn chặt với công việc nội trợ gia đình và con cái, mọi cơ hội việc làm dường như đóng lại trước mắt các nữ lao động nói chung, nhất là phụ nữ đã có gia đình, phụ nữ thuộc nhóm dễ bị tổn thương Họ cần có được đào tạo để có nghề nghiệp ổn định, hòa nhập cộng đồng, tự nuôi sống bản thân, tăng thu nhập và giải quyết những khó khăn trong cuộc sống Do vậy, để tạo điều kiện cho nhóm đối tượng này, cần có sự kết hợp giữa cơ sở dạy nghề - nhà nước - doanh nghiệp để tổ chức các khóa đào tạo nghề gắn với giải quyết việc làm tại chỗ là cần thiết

2 Mục tiêu của mô hình

2.1 Mục tiêu chung

Tạo điều kiện thuận lợi cho phụ nữ thuộc nhóm dễ bị tổn thương có cơ hội được tham gia các khóa đào tạo nghề ngắn hạn nhằm giúp họ có được kỹ năng, kiến thức về một nghề để có thể tìm được việc làm và có thu nhập ổn định

Bảo đảm phụ nữ thuộc nhóm dễ bị tổn thương có quyền được tham gia các khóa đào tạo nghề nhằm góp phần xóa đói giảm nghèo cho bản thân và gia đình

họ cũng như của xã hội và góp phần giảm các tệ nạn xã hội

Trang bị kỹ năng nghề cho phụ nữ, nâng cao phẩm chất đạo đức của người lao động trong thời đại mới nhằm đáp ứng yêu cầu công việc và nâng cao vị thế của người phụ nữ trong bình đẳng giới

Đưa ra đề xuất cho các nhà hoạch định chính sách để hoàn thiện các quy định về dạy nghề cho nhóm dễ bị tổn thương

2.2 Mục tiêu cụ thể

Trang 20

Thông qua khóa đào tạo nghề, kỹ năng, năng lực và khả năng của lao động

nữ được nâng cao, như vậy công việc của họ sẽ được cải thiện và họ tìm được công việc ổn định

Xây dựng và thí điểm đào tạo theo mô hình đào tạo nghề theo định hướng thị trường cho phụ nữ thuộc nhóm dễ bị tổn thương

Dựa trên những điểm mạnh trong thí điểm mô hình, đưa ra đề xuất tới các nhà hoạch định chính sách nhằm điều chỉnh, bổ sung các quy định trong đào tạo nghề cho các đối tượng thuộc nhóm dễ bị tổn thương

Gắn kết chặt chẽ mối quan hệ giữa cơ sở giáo dục nghề nghiệp - các cơ quan có liên quan của tỉnh - doanh nghiệp trong hoạt động giáo dục nghề nghiệp

Tăng cường khả năng/năng lực của các cơ sở dạy nghề trong việc tổ chức các khóa đào tạo nghề cho các đối tượng thuộc nhóm dễ bị tổn thương

3 Nội dung của mô hình

Mô hình thí điểm đào tạo nghề cho phụ nữ thuộc nhóm đối tượng dễ bị tổn thương ở Đà Nẵng là mô hình kết hợp sự tham gia của 4 bên vào hoạt động đào tạo nghề: nhà trường - người lao động (phụ nữ thuộc nhóm đối tượng dễ bị tổn thương ở Đà Nẵng) - doanh nghiệp - cơ quan quản lý dạy nghề (Vụ Pháp chế - Thanh tra, Tổng cục Dạy nghề và Sở Lao động - Thương binh và Xã hội thành phố Đà Nẵng)

Trong mô hình này, trách nhiệm đối với mỗi bên đặt ra khá rõ ràng nhằm chia sẻ, thúc đẩy lẫn nhau trong hoạt động đào tạo nghề, góp phần nâng cao chất lượng đào tạo nghề cũng như chất lượng lao động

Với mô hình này, quá trình đào tạo của học viên sẽ gắn liền với doanh nghiệp Học viên sẽ tốn ít thời gian nhất để theo học và quá trình nâng cao, tiếp tục quá trình đào tạo được xuyên suốt trong khi đi làm việc Ngoài ra, học viên cũng được đào tạo tác phong công nghiệp thông qua việc thực hành, thực tập tại doanh nghiệp

Bên cạnh đó, thông qua mô hình đào tạo này, học viên sau khi hoàn thành khóa đào tạo nghề sẽ được bố trí công việc ngay tại địa phương

Theo mô hình này, tất cả các bên tham gia đều cùng được hưởng lợi và cùng chia sẻ trách nhiệm với xã hội, cùng chịu trách nhiệm và cùng thúc đẩy đào tạo nghề một cách hiệu quả Khi cả 4 bên cùng đồng hành và tích cực tham gia vào hoạt động đào tạo nghề thì: “người lao động” tăng thu nhập ngay trên chính

Trang 21

mảnh đất họ đang sinh sống, thoát nghèo và phát triển; “doanh nghiệp” tăng doanh thu, ổn định và phát triển bền vững; “chính quyền địa phương” ổn định và phát triển kinh tế - xã hội địa phương, đảm bảo môi trường sinh thái; “Nhà nước” ổn định phát triển kinh tế vĩ mô, đảm bảo an sinh xã hội; “nhà trường” nâng cao chất lượng đào tạo nghề, nâng cao sự phối hợp và hợp tác với doanh nghiệp, thương hiệu của nhà trường được nâng cao

4 Vai trò và sự phối hợp của các bên trong việc thực hiện mô hình

Mô hình dạy nghề cho phụ nữ thuộc nhóm dễ bị tổn thương tại Đà Nẵng được thực hiện trên cơ sở phối hợp giữa các bên như cơ quan quản lý dạy nghề,

Sở Lao động - Thương binh và Xã hội, cơ sở dạy nghề, doanh nghiệp và nhà tài trợ Sự phối hợp được thực hiện ngay từ các chuẩn bị cho việc tổ chức các khóa đào tạo nghề như: tìm hiểu thông tin nhu cầu lao động, xây dựng chương trình,

Xây dựng điều khoản tham chiếu

Xây dựng dự toán kinh phí thí điểm dạy nghề cho phụ nữ thuộc nhóm dễ bị tổn thương tại Đà Nẵng gửi Ban quản lý Dự án, Nhà tài trợ phê duyệt

Hướng dẫn cơ sở dạy nghề xây dựng kế hoạch, dự toán nhu cầu kinh phí dạy nghề cho các lớp thí điểm

Khảo sát, tiền trạm để xác định cơ sở dạy nghề đủ điều kiện tham gia tổ chức đào tạo (trong đó có các điều kiện về giáo viên, người dạy nghề, chương trình, giáo trình dạy nghề; cơ sở vật chất, thiết bị dạy nghề; giấy chứng nhận đăng ký hoạt động dạy nghề đối với nghề dự kiến đào tạo; hợp đồng nguyên tắc giữa cơ sở dạy nghề và doanh nghiệp trong việc phối hợp xây dựng chương trình; tổ chức thực hành cho học sinh; phối hợp kiểm tra, đánh giá kết quả học tập của học sinh; trong việc tuyển sinh học viên sau khi tốt nghiệp vào làm việc tại doanh nghiệp), xây dựng kế hoạch tổ chức đào tạo thí điểm (mục đích, dự kiến cơ sở đào tạo, địa bàn đào tạo, dự kiến nghề đào tạo, cấp trình độ đào tạo số lượng người học, số lớp tổ chức đào tạo)

Tạo điều kiện thuận lợi, theo quy định của pháp luật cho cơ sở dạy nghề đăng ký hoạt động dạy nghề đối với nghề dự kiến đào tạo (nếu có)

Ngày đăng: 22/10/2021, 14:33

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 1. Số lượng cơ sở dạy nghề qua các năm - MÔ HÌNH THÍ ĐIỂM ĐÀO TẠO NGHỀ CHO PHỤ NỮ THUỘC NHÓM DỄ BỊ TỔN THƯƠNG TIẾP CẬN CHƯƠNG TRÌNH VIỆC LÀM BỀN VỮNG TẠI THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG
Bảng 1. Số lượng cơ sở dạy nghề qua các năm (Trang 5)
Hình 1. Kết quả tuyển sinh giai đoạn 2011 - 2014 - MÔ HÌNH THÍ ĐIỂM ĐÀO TẠO NGHỀ CHO PHỤ NỮ THUỘC NHÓM DỄ BỊ TỔN THƯƠNG TIẾP CẬN CHƯƠNG TRÌNH VIỆC LÀM BỀN VỮNG TẠI THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG
Hình 1. Kết quả tuyển sinh giai đoạn 2011 - 2014 (Trang 6)
Bảng 2. Cơ cấu lao động theo trình độ học vấn năm 2012 - MÔ HÌNH THÍ ĐIỂM ĐÀO TẠO NGHỀ CHO PHỤ NỮ THUỘC NHÓM DỄ BỊ TỔN THƯƠNG TIẾP CẬN CHƯƠNG TRÌNH VIỆC LÀM BỀN VỮNG TẠI THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG
Bảng 2. Cơ cấu lao động theo trình độ học vấn năm 2012 (Trang 8)
Bảng 3. Dự báo lao động trong một số ngành nghề cụ thể - MÔ HÌNH THÍ ĐIỂM ĐÀO TẠO NGHỀ CHO PHỤ NỮ THUỘC NHÓM DỄ BỊ TỔN THƯƠNG TIẾP CẬN CHƯƠNG TRÌNH VIỆC LÀM BỀN VỮNG TẠI THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG
Bảng 3. Dự báo lao động trong một số ngành nghề cụ thể (Trang 12)
Bảng 5. Quy hoạch mạng lưới cơ sở dạy nghề đến năm 2020 - MÔ HÌNH THÍ ĐIỂM ĐÀO TẠO NGHỀ CHO PHỤ NỮ THUỘC NHÓM DỄ BỊ TỔN THƯƠNG TIẾP CẬN CHƯƠNG TRÌNH VIỆC LÀM BỀN VỮNG TẠI THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG
Bảng 5. Quy hoạch mạng lưới cơ sở dạy nghề đến năm 2020 (Trang 13)
Bảng 6. Quy mô tuyển sinh các trình độ giai đoạn 2011 - 2020 - MÔ HÌNH THÍ ĐIỂM ĐÀO TẠO NGHỀ CHO PHỤ NỮ THUỘC NHÓM DỄ BỊ TỔN THƯƠNG TIẾP CẬN CHƯƠNG TRÌNH VIỆC LÀM BỀN VỮNG TẠI THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG
Bảng 6. Quy mô tuyển sinh các trình độ giai đoạn 2011 - 2020 (Trang 14)
6.3. Hình thức giám sát, đánh giá - MÔ HÌNH THÍ ĐIỂM ĐÀO TẠO NGHỀ CHO PHỤ NỮ THUỘC NHÓM DỄ BỊ TỔN THƯƠNG TIẾP CẬN CHƯƠNG TRÌNH VIỆC LÀM BỀN VỮNG TẠI THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG
6.3. Hình thức giám sát, đánh giá (Trang 39)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w