1. Trang chủ
  2. » Công Nghệ Thông Tin

Tài liệu TỪ TRÍ TUỆ NHÂN TẠO VÀ TẠO DỤNG TRI THỨC ĐẾN KHOA HỌC TRI THỨC docx

9 517 1
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Từ trí tuệ nhân tạo và tạo dụng tri thức đến khoa học tri thức
Tác giả Hồ Tú Bảo
Thể loại Kỷ yếu hội thảo
Năm xuất bản 2003
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 9
Dung lượng 1,09 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Tóm tắt Bài viết này tóm lược của những nội dung chính sẽ được trình bày tại ICT.rda nhằm giới thiệu một số khái niệm cơ bản, tình hình phát triển, mối quan hệ của hai lĩnh vực trí tuệ

Trang 1

TỪ TRÍ TUỆ NHÂN TẠO VÀ TẠO DỤNG TRI THỨC

ĐẾN KHOA HỌC TRI THỨC From Artificial Intelligence and Knowledge

Management to Knowledge Science

Hồ Tú Bảo

Abstract

This paper summaries the talk at the ICT.rda conference for introducing the basic

con-cepts, the current development, and the relation between two fields of artificial intelligence

and knowledge management The new field of knowledge science is also briefly introduced

Tóm tắt

Bài viết này tóm lược của những nội dung chính sẽ được trình bày tại ICT.rda nhằm giới

thiệu một số khái niệm cơ bản, tình hình phát triển, mối quan hệ của hai lĩnh vực trí tuệ nhân

tạo và tạo dụng tri thức, và một trong những con đường đến một lĩnh vực mới khoa học tri

thức.

1 DẪN NHẬP

Có thể nói nôm na rằng tri thức là những

hiểu biết đã được kiểm nghiệm Gần đây ta

nghe nói nhiều hơn rằng tri thức là sức mạnh và

tài nguyên, tri thức đang trở nên tiềm lực cạnh

tranh, ta cần nâng cao dân trí, Trong xu thế

toàn cầu hóa,

trong sự hình

thành xã hội

thông tin và bước

đầu của nền kinh

tế tri thức ở các

nước phát triển,

tri thức ngày càng

có vai trò cốt tử

trong sự phát triển

của mọi quốc gia

[20], [21], [25]

Ngành trí tuệ

nhân tạo (TTNT,

artificial intelligence) trong gần nửa thế kỷ qua

đã đạt được những thành tựu rực rỡ, đang tiếp tục phát triển, đóng góp vào nền tảng của công nghệ thông tin (CNTT) cũng như tạo ra các sản phẩm liên quan đến khai thác và sử dụng tri thức trên máy tính

Trang 2

Trong vài năm cuối của thế kỷ trước, tạo

dụng tri thức (TDTT, knowledge mana-gement),

sau chừng 25 năm phát triển, đã nổi lên như

một sự kiện, một làn sóng mới trong quản trị

và kinh doanh về việc tạo ra và sử dụng tri thức

như đòn bẩy, như tài sản, như tiềm lực trong

các tổ chức hiện đại Do những thay đổi sâu

sắc về môi trường thông tin và kinh tế, TDTT

đang thu hút sự quan tâm rộng rãi, đang thách

thức và cũng mở ra nhiều cơ hội trong kinh

doanh, xã hội, quản lý, khoa học và công nghệ

[2], [4], [7], [17], [22], [23], [28]

Phần đầu của bài này điểm lại các khái

niệm dữ liệu, thông tin, tri thức, phân tích mục

tiêu khai thác và sử dụng tri thức trong TTNT

Phần này cũng giới thiệu vấn đề đưa vào và

dùng được tri thức trong việc ra quyết định và

các hệ hỗ trợ quyết định Phần chính của bài

này tập trung trình bày những khái niệm cơ bản

của TDTT, lý thuyết và ứng dụng của TDTT

tại Nhật bản Phần cuối của báo cáo giới thiệu

những bước đi ban đầu về một khoa học

mớikhoa học tri thức (knowledge science)

2 TRÍ TUỆ NHÂ N TẠO VÀ TRI

THỨC TRONG HỆ HỖ TRỢ QUYẾT

ĐỊNH

Trí tuệ nhân tạo là một nhánh

của khoa học và công nghệ liên

quan đến việc làm cho máy tính

có những năng lực của trí tuệ

con người, tiêu biểu như các khả

năng “suy nghĩ”, “hiểu ngôn

ngữ”, và biết “học tập” của máy

Máy tính sinh ra chủ yếu thực

hiện việc tính toán, trí tuệ nhân

tạo nhằm làm cho máy biết lập

luận, có “trí thông minh”

Một thí dụ về sự đóng góp

của TTNT trong các sản phẩm

CNTT là cuộc đọ trí giữa Deep Junior và

Gary Karparov đầu năm 2003 sau chiến

thắng của Deep Blue trước nhà vô địch cờ

vua giữa năm 1997

Bản chất của TTNT là làm sao đưa được

tri thức con người vào máy dưới những dạng

máy hiểu được, và cung cấp cho máy khả năng suy diễn để khai thác các tri thức này Cốt lõi của TTNT có thể diễn giải bởi công thức

TTNT = Tri thức + Suy diễn

Như sẽ bàn ở phần sau, TTNT thường mới chỉ liên quan đến phần tri thức hiện (explicit knowedge) của con người Thêm nữa, như mọi ngành khác, TTNT đã và đang phát triển với tác động của những thay đổi của môi trường thông tinmà chủ yếu là sự ra đời và phổ biến của kỹ thuật vi điện tử và Internetvà phát triển định hướng theo những thay đổi này [13], [26]

Một số lĩnh vực mới và liên quan nhiều đến TTNT là sự sống nhân tạo (artificial life), khoa học về não (brain science), tác tử thông minh (intelligent agents), Web thông minh (Web intelligence), sinh tinh học (bioinformatics), hệ hỗ trợ quyết định dựa trên tri thức (knowledge-based decision support systems), phát hiện tri thức và khai phá dữ liệu (knowledge discvovery and data mining [12]), khoa học tri thức (knowledge science),

Ra quyết định là một quá trình chọn lựa trong nhiều khả năng có thể có để hành động đạt mục đích Herbert Simon (1911-2001) cho rằng “toàn bộ quá trình quản lý đồng nghĩa với việc ra quyết định” Việc ra quyết định nói chung rất khó vì thường liên quan đến nhiều người, đến nhiều mục tiêu khác

Trang 3

nhau, có nhiều chọn lựa, khó dự đoán tương

lai, có nhiều rủi ro, con người có thái độ khác

nhau về rủi ro, …

Lý thuyết các hệ hỗ trợ quyết định

(HTQĐ) “cổ điển” cho rằng, về cơ bản việc

ra quyết định phải dựa trên mô hình quyết

định trong từng lĩnh vực cụ thể, phải đánh

giá mô hình bằng dữ liệu trong tình huống

cần quyết định, và kết hợp với ý kiến người

sử dụng Mô hình truyền thống của các hệ hỗ

trợ quyết định do vậy bao gồm ba thành phần

chính: quản trị dữ liệu, quản trị mô hình, và

giao diện với người sử dụng [29]

TTNT góp một cách nhìn mới về các hệ

HTQĐ trong đó tri thức được xem là thành

phần thứ tư, và thiết yếu trong việc ra quyết

định [13], [29] Tạo ra các hệ cơ sở tri thức và

gắn chúng vào các quá trình ra quyết định là

mục tiêu đã được theo đuổi lâu nay và còn tiếp

tục được theo đuổi lâu dài trong ngành TTNT

Cho đến nay, công việc này cũng chủ yếu

nhằm mới vào việc đưa các tri thức đã được

diễn giải tường minh vào các hệ HTQĐ Tạo

ra tri thức, phối hợp tri thức với dữ liệu và mô

hình quyết định là những nội dung phát triển

các hệ HTQĐ dựa trên tri thức

Các hệ HTQĐ liên quan chặt chẽ đến

những biến đổi của môi trường thông tin,

những nội dung đang được nghiên cứu trong

CNTT (truyền thông và Internet, thông tin trên

mạng, dữ liệu văn bản, thông tin không đầy đủ

và chắc chắn, …)

3 TẠO DỤNG TRI THỨC 3.1 Tìm hiểu một số định nghĩa về tạo dụng tri thức

Là một lĩnh vực mới với gốc gác từ nhiều nơi khác nhau, TDTT có những cách nhìn và hiểu ít nhiều khác nhau [1], [9], [14] Ta sẽ phân tích một số định nghĩa về TDTT với nhìn nhận TDTT định hướng về con người hay định hướng về công nghệ [19], chẳng hạn như:

„ “Các quá trình xác định, sáng tạo, nắm bắt,

xử lý, chuyển giao, lưu trữ, và sử dụng tri thức cho những giá trị chiến lược.” (“The processes for identifying, crea-ting, capturing, processing, tran -smitting, storing and using knowledge for strategic value”,

KM SIG)

„ “TDTT là quá trình qua đó các tổ chức tạo

ra giá trị từ sở hữu trí tuệ và sở hữu dựa trên tri thức của mình Thông thường, tạo

ra giá trị từ các sở hữu như vậy liên quan đến việc chia sẻ giữa nhân viên, giữa các

bộ phận, thậm chí giữa các công ty nhằm đạt hiệu quả cao nhất Định nghĩa này không nói gì về công nghệ, và xem bản thân công nghệ không phải là TDTT, mặc

dù TDTT thực hiện được dễ dàng nhờ công nghệ.” (“KM is the process through which organizations generate value from their intellectual and knowledge-based

assets Most

often, generating value from such assets involves sharing them among employees, departments and even with other companies in an effort to devise best practices It's important to note that the definition says nothing about technology; while KM is often facilitated by IT, technology by itself

Trang 4

is not KM.”, http://www.cio.com/

„ “Tạo dụng tri thức là tên gọi của một khái

niệm trong đó một doanh nghiệp thu thập,

tổ chức, chia sẻ, và phân tích tri thức như

tài nguyên, tài liệu, kỹ năng con người

một cách có ý thức và toàn diện.”

(“Knowledge management is the name of

a concept in which an enterprise

consciously and comprehensively gathers,

organizes, shares, and analyzes its

knowledge in terms of resources,

documents, and people skills.”,

„ “Tạo dụng tri thức là một tập các quá trình

điều hành sự sáng tạo, phổ biến, và sử

dụng tri thức.” “Knowledge Management

is the collection of processes that govern

the creation, dissemination, and utilization

of knowledge.”, B Newman, 1991)

„ “Tạo dụng tri thức là cách các tổ chức

sáng tạo, nắm giữ, và tái sử dụng tri thức

để đạt các mục tiêu của mình”

(“Knowledge management is the way that

organizations create, capture and reuse

knowledge to achieve organizational

objectives.”, Intranet Journal,

„ “Tạo dụng tri thức nhằm đến các quá trình

sáng tạo, nắm bắt, chuyển giao và sử dụng

tri thức để nâng cao hiệu quả hoạt động của

các tổ chức” (“Knowledge management

refers to the processes of creating, capturing,

transferring and using knowledge to

enhance organizational perfor-mance”,

Public Service Commission of Canada,

1998)

„ “Chiến lược có ý thức để có được tri thức

cần thiết cho đúng người cần ở đúng lúc cần,

giúp mọi người chia sẻ và đưa thông tin vào

hành động theo nhiều cách để nâng hiệu quả

hoạt động của tổ chức” (“A conscious

strategy of getting the right knowledge to

the right people at the right time and

helping people share and put information

into action in ways that strive to improve organizational performance”, O’Dell & Grayson, 1998)

„ “Tạo dụng tri thức tôi dùng đây không phải là sản phẩm phần mềm hoặc một phạm trù phần mềm nào cả Tạo dụng tri thức thậm chí không bắt đầu với công nghệ Nó bắt đầu với mục tiêu kinh doanh

và các quá trình và nhận thức về sự cần thiết của việc chia sẻ thông tin Tạo dụng tri thức không là gì khác ngoài việc quản trị dòng thông tin, nắm lấy thông tin chính xác cho những người cần đến thông tin sao cho họ có thể hành động nhanh chóng với thông tin” (“Knowledge management as I use here is not a software product or a software category Knowledge management doesn’t even start with technology It starts with business objective and processes and recognition of the need to share information Knowledge management is nothing more than managing information flow, getting the right information to the people who need it

so that they can act on it quickly”, Bill Gates)

Có thể nói nôm na rằng TDTT liên quan đến tri thức bên trong tổ chức và cách dùng các tri thức này để nâng cao hiệu quả hoạt động của tổ chức TDTT liên quan đến con người trong hoạt động của mọi tổ chức, gồm hai vấn đề chính:

(1) Làm sao có được tri thức cần thiết (sáng

tạo tri thức)

(2) Làm sao dùng được tri thức để nâng cao

hiệu quả (sử dụng tri thức)

Khái niệm “quản trị” không thích hợp ở đây, đơn giản vì tri thức là một thứ không quản trị được [3], [6] Xin tạm đề nghị dùng

“tạo dụng tri thức” cho “knowledge management”

TDTT được thực hiện một phần quan trọng nhờ vào công nghệ nói chung [6], [10], trong đó có vai trò thiết yếu của CNTT [4], [5], [24], và đặc biệt là TTNT [8], [11], [18], [27] Các hệ thống và công cụ của TDTT

Trang 5

cũng là một chủ đề quan trọng của TDTT [3],

[19] Một số công nghệ thường được xem có

liên quan đến TDTT là: Intranets, Document

Management, Information Retrieval,

Relational and Object Databases, Electronic

Publishing, Groupware and Workflow

Systems, Push Technolo-gies and Agents,

Help-Desk Applica-tions, Brainstorming

Applications, Data Warehousing and Data

Mining [4], [5]

3.2 Lý thuyết và thực tế về tạo dụng tri

thức ở Nhật bản

Chúng ta đã và đang tồn tại và phát triển

trong một môi trường với duy nhất một điều

chắc chắn là sự không chắc chắn của chính

môi trường Đối đầu với các chuyện sống còn

này, các công ty Nhật bản đã tìm ra con

đường thành công riêng của mình Sự thành

công này đã luôn là điều bí ẩn và người nước

ngoài luôn thấy khó hiểu Con đường thành

công của Nhật bản trong kinh doanh có thể

được nhìn nhận tóm tắt là

sáng tạo tri thức liên tục cách tân

ưu thế cạnh tranh

Nonaka là distinguished professor của

Xerox, và hiệu trưởng sáng lập của trường

Khoa học Tri thức tại Viện Khoa học và Công

nghệ Tiên tiến Nhật bản (JAIST), là tác giả

của lý thuyết sáng tạo tri thức (knowledge

creation) Lý thuyết này chỉ ra nguyên nhân

thành công của các công ty Nhật bản chính là nhờ vào việc sáng tạo và sử dụng tri thức trong các hoạt động Nonaka làm rõ khái niệm tri thức hiện (explicit) và tri thức ngầm (tacit) trong quản trị kinh doanh, và xây dựng lý thyết

về tương tác giữa hai loại tri thức này trong sự phát triển của các tổ chức, và bằng lý thuyết của mình giải thích các công ty Nhật bản tạo ra

sự năng động của cách tân (innovation) như thế nào Hiệp hội xuất bản Mỹ (The Association of American Publishers) xếp cuốn sách “The knowledge-creating company: how Japanese companies create the dynamics

of innovation” của Nonaka và Takeuchi [22]

là “the Best Book of the Year in Business and Management in 1996” (“Công ty sáng tạo tri thức: các công ty Nhật bản tạo ra sự năng động của cách tân như thế nào”)

Tri thức hiện (explicit knowledge) là tri

thức diễn đạt được bằng ngôn ngữ hình thức

và có thể dễ dàng trao đổi giữa các

cá nhân Tri thức hiện có thể biểu diễn bằng các công thức khoa học, các thủ tục tường minh, hoặc bằng nhiều cách khác nhau bao gồm cả thông tin,

dữ liệu, sách báo, văn bản, tài liệu

đã được hệ thống bằng nhiều

phương tiện Tri

thức hiện được đặc trưng bởi các tiếp cận lý thuyết, các cách giải quyết vấn đề, tài liệu, cơ sở dữ liệu, cơ sở tri thức

Tri thức ngầm (tacit knowledge) có được

và ẩn chứa trong kinh nghiệm của từng cá nhân, mang tính chủ quan, bao gồm cả những hiểu biết riêng thấu đáo, trực giác, linh cảm, kỹ năng, … khó trao đổi hoặc chia sẻ với người khác Tri thức ngầm chỉ có thể học được từ người khác nhờ quan hệ gần gũi trong một

Trang 6

khoảng thời gian nào đó Tri thức ngầm liên

quan đến nhận thức như niềm tin, quan niệm,

trực giác, mô hình ẩn dụ, v.v., và kỹ thuật như

các ngón nghề (craft), các bí quyết

(know-how)

Sau đây là một thí dụ của tạo dụng tri thức

[22] Năm 1978, Honda muốn tạo một khái

niệm xe hơi mới do các xe Civic và Accord đã

quá quen thuộc, và giao trách nhiệm cho một

nhóm kỹ sư trẻ (trung bình 27 tuổi) Lãnh đạo

chỉ ra hai lệnh mở đường cho sáng tạo: (1) một

sản phẩm với khái niệm cơ bản khác trước (2)

xe phải không đắt không rẻ Khẩu hiệu mới

thách thức “Automobile revolution” Câu hỏi

cho cả nhóm thảo luận: “Nếu xe hơi là một

thực thể sống, nó sẽ phải tiến hóa thế nào?” Ý

tưởng của nhóm: Xu hướng “cách mạng” là xe

hơi phải vượt qua những quan hệ người-xe

truyền thống, do vậy xe phải ngắn hơn và cao

hơn, hình cầu sẽ cho nhiều chỗ hơn bên trong

hơn và tiết kiệm năng lượng Kết quả là họ tạo

ra loại xe hơi mới “Tall boy”

Người Nhật bản khích lệ và khuyến khích

tinh thần tiếp thu và đồng hóa những tư tưởng

và kỹ thuật từ nước ngoài Họ rất giỏi trong

việc lập kế hoạch, tổ chức và thực hiện các dự

án lớn Họ có khả năng về nghệ thuật cũng

như kỹ thuật phát triển ở một trình độ rất cao

Trong giáo dục, họ coi trọng tinh thần yêu

nước cũng như sự quy củ, khuôn phép với thức

cao về bản sắc văn hóa dân tộc Đặc biệt,

mang tính cách Á đông, nhưng họ chấp nhận nhiều ảnh hưởng của phương Tây theo phong cách riêng của mình Nhật bản tiếp xúc với phương Tây từ thế kỷ 16, chủ yếu trong học hỏi chế tạo súng Từ thế kỷ 17 đến giữa thế kỷ

19 họ học hỏi nhiều từ Hà Lan Một khẩu hiệu

từ giai đoạn Minh Trị: “Cần phải tìm kiếm tri thức ở mọi nơi trên thế giới” Thế kỷ 19-20 Nhật bản tăng cường tiếp thu tinh hoa của thế giới nhằm đẩy mạnh vị thế quốc gia, thông qua

cả chiến tranh và hòa bình

Tác phẩm cuả Nonaka và Takeuchi [22] chỉ

rõ sự khác biệt giữa Nhật bản và phương Tây

về khái niệm tri thức cũng như cách tư duy Chỉ ra rằng sáng tạo tri thức là chìa khóa của

sự cách tân, thông qua cách tân những tri thức ngầm được chuyển hóa thành tri thức hiện và ngược lại, dựa trên sự xã hội hóa và sự kết hợp Trong những năm gần đây, Nonaka và cộng sự phát triển tiếp lý thuyết về TDTT với các khái

niệm ba, mô hình SECI, sở hữu tri thức, và

quan hệ giữa chúng [17], [30]

Quản lý tri thức dựa trên những thông tin

có thể dễ dàng kiểm chứng, phân tích, đánh giá Nhiệm vụ quan trọng nhất là có thể cung cấp cho mọi người những tri thức cần thiết Mục tiêu cao nhất của tạo dụng tri thức là tạo điều kiện thuận lợi cho tri thức được sáng tạo và sử dụng Tri thức luôn bắt nguồn từ những cá nhân, do đó nhiệm vụ thiết yếu là khuyến khích nuôi dưỡng tính độc lập sáng tạo của từng cá nhân và sau đó nhân rộng những kiến thức thu được Coi trọng tri thức ngầm, đề cao linh cảm, trực giác, làm việc theo nhóm, đề cao sự đồng thuận, tôn trọng đồng nghiệp (ý thức rằng phê phán dễ hơn rất nhiều so với góp ý tìm ra giải pháp)

là những đặc điểm về TDTT ở Nhật bản[22]

Trang 7

4 TỪ TRÍ TUỆ NHÂN TẠO VÀ TẠO

DỤNG TRI THỨC ĐẾN KHOA HỌC

TRI THỨC

Khoa học tri thức được chọn là một trong

ba khoa học (cùng với Khoa học Thông tin

và Khoa học Vật liệu) được thiết lập và phát

triển tại Viện Khoa học và Công nghệ Tiên

tiến Nhật bản (JAIST, Japan Advanced

Institute of Science and Technology) Mục

tiêu chính nhằm tạo sự phát triển mới của tạo

dụng tri thức, và tiến hành các nghiên cứu

liên quan đến nền tảng cho một xã hội tri

thức dựa trên sự kết hợp của khoa học quản

lý, khoa học hệ thống, và khoa học thông tin

5 KẾT LUẬN

Tri thức là thứ nói chung không thể mua

không thể cho không biếu không mà chỉ có thể

có được qua học tập và sáng tạo của từng cá

nhân và tổ chức Tạo ra và sử dụng tri thức là

cốt tử trong các hoạt động kinh tế, quản lý, khoa

học, xã hội, … và liên quan chặt chẽ với các tiến

bộ khoa học và công nghệ, đặc biệt là tiến bộ

của công nghệ thông tin TDTT là một lĩnh vực

cần được tìm hiểu nhiều hơn ở nước ta trong

thời gian tới đây

Lời cám ơn

Tác giả chân thành cám ơn ban tổ chức hội

nghị ICT.rda Bài này viết nhằm giới thiệu một

lĩnh vực hết sức quan trọng trong những hạn chế

về cả hiểu biết cả thời gian của tác giả Hy vọng những nội dung này sẽ được bổ sung và tiếp tục phát triển Xin cám ơn mọi góp ý và trao đổi

Tài liệu tham khảo

1 Ackerman, M., Pipek, V., and Wulf, V (2003)

Sharing expertise: Beyond knowledge management, The MIT Press

2 Bahra, N (2001) Competitive knowledge management, Palgrave

3 Barnes, S (2002) Knowledge management systems: Theory and practice (Ed.), Thomson

Learning

4 Barquin, R.C., Bennet, A and Remez, S.G

(2001) Building knowledge management environments for electronic government,

Management Concepts

5 Barry de Ville (2001) Microsoft data mining: Integrated business intelligence for e-commerce and knowledge management,

Digital Press

6 Bellaver, R.F and Lusa, J.M (2002)

Knowledge management strategy and technology (Eds.), Artech House

7 Davenport, T.H and Prusak, L (1998)

Working knowledge: How organizations

manage what they know, Harvard Business

School Press

8 Dieng, R and Corby, O (2000) Knowledge engineering and knowledge management:

Trang 8

methods, models, and tools (Eds.), 12th

International Conference, EKAW 2000,

Juan-les-Pins, France, October 2-6, Springer

9 Fuller, S (2002) Knowledge management

foundations, KMCI Press

10 Frid, R J (2002) Infrastructure for

knowledge management, Writers Club Press

11 Gomez-Perez, A and Benjamins, V.R (2002)

Knowledge engineering and knowledge

management: Ontologies and the semantic

web (Eds.), 13th International Conference,

EKAW 2002, Siguenza, Spain, October 1-4

Springer

12 Hand, D., Mannila, H., and Smyth, P (2001)

Principles of data mining, The MIT Press

13 Ho Tu Bao (2001) An introduction to studies

on intelligence, textbook, Jaist

14 Holsapple, C.W (2003) Handbook on

knowledge management (Ed.), Springer

15 Honeycutt, J (2000) Knowledge management

strategies, Microsoft Press

16 Knight, T and Howes, T (2003) Knowledge

management: A blueprint for delivery,

Butterworth-Heinemann

17 Krogh, G., Nonaka, I, and Nishiguchi, T

(2000) Knowledge creation: A source of value

(Eds.), St Maritin's Press

18 Liebowitz, J (2001) Knowledge management:

Learning from knowledge engineering, CRC

Press

19 Maier, R (2002) Knowledge management

systems: Information and communication

technologies for knowledge management,

Springer Verlag

20 Neef, D (1998) The Knowledge Economy

(Ed.), Butterworth-Heinemann

21 Neef, D (1999) A little knowledge is a

dangerous thing: Understanding our global

knowledge economy, Butterworth-Heinemann

22 Nonaka, I and Takeuchi, H (1995) The

knowledge-creating company: how Japanese

companies create the dynamics of innovation,

Oxford University Press

23 Novak, J.D (1998) Learning, creating, and using knowledge, Lawrence Erlbaum

Associates Publishers

24 Paques, H., Liu, L., and Grossman, D (2001)

Proceedings of the 2001 ACM CIKM: Tenth International Conference on Information and Knowledge Management (Eds.), November

5-10, 2001, Atlanta, ACM Order Department

25 Phan Dinh Dieu, “Knowledge economy and some reflexions on our way of integration”,

Proceedings of IT-Forum 99, HoChiMinh city,

31-43

26 Russell, S and Norvig, P (1995) Artificial intelligence: A modern approach,

Prentice-Hall

27 Schreiber, G et al (2000) Knowledge engineering and management: The common KADS methodology, The MIT Press

28 Stewart, T (1997) Intellectual capital: The new wealth of organizations New

York: Doubleday

29 Turban, T and Aronson, J.E (1998) Decision support systems and intelligent systems, Fifth

Edition, Prentice Hall

30 Umemoto, K (2002) “Managing existing knowledge is not enough: Knowledge

management theory and practice in Japan”, in Strategic Management of Intellectual Capital

& Organizational Knowledge, Choo, C.W

and Nick Bontis (Eds.), Oxford University Press, pp.463-476

About the Author:

Professor Ho Tu Bao

re-ceived a B.Eng degree from Hanoi University of Technology in 1978, M.S and Ph.D degrees from University Paris 6, in 1984 and 1987, a Habilitation dipl ô me in 1998 from Uni-versity Paris Dauphine He

is currently a professor at School of Knowledge, Japan Advanced Institute of Science and Technology (JAIST) His research interests include artificial intelligence, machine learning, knowledge-based systems, knowledge discovery and data mining

Email: bao@jaist.ac.jp

Ngày đăng: 16/01/2014, 22:20

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình quyết định là những nội dung phát triển - Tài liệu TỪ TRÍ TUỆ NHÂN TẠO VÀ TẠO DỤNG TRI THỨC ĐẾN KHOA HỌC TRI THỨC docx
Hình quy ết định là những nội dung phát triển (Trang 3)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w