1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

PHƯƠNG ÁN Bảo vệ khoáng sản chưa khai thác trên địa bàn tỉnh Vĩnh Phúc

25 10 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 25
Dung lượng 652,78 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

PHƯƠNG ÁN Bảo vệ khoáng sản chưa khai thác trên địa bàn tỉnh Vĩnh Phúc Ban hành kèm theo Quyết định số 713/QĐ-UBND ngày 05 tháng 3 năm 2019 của Uỷ ban nhân dân tỉnh Vĩnh Phúc Nhằm đảm b

Trang 1

PHƯƠNG ÁN Bảo vệ khoáng sản chưa khai thác trên địa bàn tỉnh Vĩnh Phúc

(Ban hành kèm theo Quyết định số 713/QĐ-UBND ngày 05 tháng 3 năm 2019 của Uỷ ban nhân dân tỉnh Vĩnh Phúc)

Nhằm đảm bảo công tác quản lý, bảo vệ có hiệu quả tài nguyên khoáng sản chưa khai thác trên địa bàn tỉnh; ngăn chặn, xử lý các hoạt động thăm dò, khai thác khoáng sản trái phép, bảo vệ môi trường, sinh thái, đảm bảo an ninh trật tự trong khu vực; tăng cường hiệu lực quản lý nhà nước trong lĩnh vực tài nguyên khoáng sản; cụ thể hóa công tác bảo vệ tài nguyên khoáng sản trên địa bàn tỉnh Thực hiện quy định tại Điều 16, Điều 17, Điều 18 Luật Khoáng sản, Điều 13 Nghị định số 203/2013/NĐ-CP ngày 28/11/2013 của Chính phủ, Điều

17, Điều 18 Nghị định số 158/2016/NĐ-CP ngày 19/11/2016 của Chính phủ, UBND tỉnh Vĩnh Phúc ban hành Phương án bảo vệ khoáng sản chưa khai thác trên địa bàn tỉnh, như sau:

I SỰ CẦN THIẾT, QUAN ĐIỂM, MỤC TIÊU VÀ CĂN CỨ ĐỂ XÂY DỰNG PHƯƠNG ÁN BẢO VỆ KHOÁNG SẢN CHƯA KHAI THÁC

Tuy nhiên, hoạt động khai thác khoáng sản trái phép đối với một số loại khoáng sản (đất san lấp, cát sỏi xây dựng lòng sông, suối ) ở một số khu vực vẫn tái diễn và tiềm ẩn nguy cơ tái phát; một số cấp ủy đảng chính quyền địa phương chưa thật sự vào cuộc quyết liệt trong công tác bảo vệ khoáng sản

Việc ban hành Phương án bảo vệ khoáng sản chưa khai thác trên địa bàn tỉnh nhằm khắc phục những tồn tại, hạn chế và chấn chỉnh công tác quản lý, bảo

vệ khoáng sản chưa khai thác; thực hiện chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ tại Chỉ thị số 03/CT-TTg ngày 30/3/2015 về việc tăng cường hiệu lực thực thi chính sách, pháp luật về khoáng sản; thống nhất, phối hợp đồng bộ giữa các sở, ngành, các địa phương và cả hệ thống các cơ quan quản lý nhà nước của tỉnh để triển khai thực hiện công tác bảo vệ khoáng sản chưa khai thác trên địa bàn; kịp thời ngăn chặn dứt điểm tình trạng khai thác khoáng sản trái phép trên địa bàn tỉnh;

2 Quan điểm:

- Khoáng sản là tài nguyên không tái tạo nên phải được quản lý, bảo vệ, khai thác, sử dụng hợp lý, tiết kiệm, đạt hiệu quả kinh tế cao;

Trang 2

rõ trách nhiệm của các ngành, chính quyền địa phương trong công tác quản lý, bảo vệ khoáng sản chưa khai thác; xử lý nghiêm các tổ chức, cá nhân hoạt động khoáng sản trái pháp luật;

- Chỉ cho phép tổ chức, cá nhân hoạt động thăm dò, khai thác khoáng sản khi đã được cơ quan có thẩm quyền (Bộ Tài nguyên và Môi trường, UBND tỉnh) cấp Giấy phép thăm dò, Giấy phép khai thác khoáng sản Chính quyền địa phương cấp huyện, cấp xã không được thoả thuận, cho phép các tổ chức, cá nhân thăm dò, khai thác khoáng sản trái pháp luật dưới mọi hình thức Không cho phép bất cứ tổ chức, cá nhân nào lợi dụng việc triển khai Dự án đầu tư khác hoặc lợi dụng việc được phép sử dụng đất để thăm dò, khai thác khoáng sản trái pháp luật

- Phương án được lập nhằm thực hiện nghiêm các chiến lược, chủ trương, chính sách pháp luật của nhà nước về tăng cường bảo vệ khoáng sản chưa khai thác

3 Mục tiêu

- Bảo vệ và quản lý chặt chẽ khoáng sản chưa khai thác, khu vực đóng cửa mỏ trên địa bàn tỉnh; bảo vệ cảnh quan, môi trường, an ninh trật tự và đời sống của người dân địa phương tại khu vực có khoáng sản;

- Quy định rõ trách nhiệm người đứng đầu chính quyền các cấp trong công tác quản lý, bảo vệ khoáng sản chưa khai thác; xử lý nghiêm các tổ chức cá nhân hoạt động khoáng sản trái pháp luật

- Xây dựng cơ chế phối hợp trong bảo vệ khoáng sản chưa khai thác với địa phương liên quan ở khu vực giáp ranh để thực hiện hiệu quả công tác quản lý, bảo vệ khoáng sản chưa khai thác, ngăn chặn hoạt động khoáng sản trái phép

- Phát huy trách nhiệm của các ngành, chính quyền địa phương các cấp, bảo vệ tốt tiềm năng khoáng sản cả trước mắt và lâu dài nhằm phục vụ chiến lược phát triển kinh tế, xã hội an ninh quốc phòng trên địa bàn tỉnh và quốc gia

4 Căn cứ pháp lý để xây dựng Phương án

- Căn cứ Luật Khoáng sản ngày 17/11/2010;

- Luật Đất đai năm 2013;

- Nghị định số 102/2014/NĐ-CP ngày 10/11/2014 của Chính phủ về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực đất đai;

- Nghị định số 158/2016/NĐ-CP ngày 29/11/2016 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật khoáng sản;

- Quyết định số 2427/QĐ-TTg ngày 22/12/2012 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Chiến lược khoáng sản đến năm 2020, tầm nhìn đến năm 2030;

Trang 3

- Chỉ thị số 03/2013/CT-UBND ngày 14/3/2013 của UBND tỉnh Vĩnh Phúc về việc tăng cường công tác quản lý nhà nước đối với các hoạt động khoáng sản trên địa bàn tỉnh Vĩnh Phúc;

- Quyết định số 07/2013/QĐ-UBND ngày 14/3/2013 của UBND tỉnh Vĩnh Phúc về việc ban hành Quy định về trách nhiệm, quan hệ phối hợp giữa các ngành, các cấp, các tổ chức, cá nhân trong việc quản lý, khai thác và bảo vệ tài nguyên khoáng sản trên địa bàn tỉnh Vĩnh Phúc

- Chỉ thị số 11/CT-UBND ngày 08/9/2015 của UBND tỉnh Vĩnh Phúc về việc tăng cường công tác quản lý nhà nước đối với các hoạt động khai thác cát sỏi trên địa bàn tỉnh Vĩnh Phúc;

- Các khu vực khoáng sản đã được quy hoạch thăm dò, khai thác, chế biến

II KHÁI QUÁT VỀ ĐẶC ĐIỂM TÀI NGUYÊN KHOÁNG SẢN TỈNH VĨNH PHÚC

Nguồn khoáng sản trong lòng đất Vĩnh Phúc, tuy chưa được điều tra một cách có hệ thống và có một số ít mỏ được thăm dò chi tiết, song những tìm hiểu bước đầu của các nhà địa chất cho thấy, so với các tỉnh vùng đồng bằng và trung

du, trữ lượng khoáng sản Vĩnh Phúc khá phong phú, bao gồm: nhóm khoáng sản nhiên liệu, nhóm kim loại, nhóm phi kim loại và nhóm vật liệu xây dựng

- Nhóm khoáng sản nhiên liệu có than đá, than nâu tạo thành những giải hẹp và thấu kính ở các xã Đạo Trù (huyện Tam Đảo), Bạch Lưu, Đồng Thịnh (huyện Sông Lô) Ngoài ra, trên đất Vĩnh Phúc có số lượng đáng kể than bùn, tập trung ở vùng Văn Quán (Lập Thạch) và Hoàng Đan, Hoàng Lâu (Tam Dương) Than bùn Văn Quán là than Humit chưa phân huỷ hết Địa tầng chứa than là cát kết và bột của trầm tích đệ tứ hệ tầng Hà Nội

- Nhóm khoảng sản kim loại gồm các điểm dọc theo đứt gãy sườn Tây Nam dãy Tam Đảo Đáng chú ý có barit dưới dạng tảng lăn ở vùng Đạo Trù, huyện Tam Đảo Barit ở đây thường đi liền với chì, kẽm Đồng có tại các điểm khoáng ở Suối Son, Đồng Giềng thuộc xã Đạo Trù, Đồng Bùa xã Tam Quan, Hợp Châu và Bản Long xã Minh Quang (huyện Tao Đảo) Đồng ở đây thường

đi kèm với pirit, pirotin Vàng được xác định có khả năng tập trung dọc theo đứt gãy tây nam Tam Đảo, vì ở đây có nhiều mạch thạch anh được xác định cùng

Trang 4

4

tuổi với khoáng hoá vàng Vàng sa khoáng cũng được phát hiện tại các vành phân tán ở Đạo Trù, Minh Quang, Thanh Lanh, Thanh Lộc Khoáng sản thiếc được phát hiện trong sa khoáng ở xóm Giềng xã Đạo Trù, suối Đền Cả xã Đại Đình và ở cả Thanh Lanh Hàm lượng thiếc ở đây không thật phong phú, song

nó vô cùng quan trọng để chế tạo hợp kim đồng thau Sắt là khoáng sản khá phong phú ở Vĩnh Phúc, chủ yếu tập trung thành 2 giải: Giải quặng sắt Bàn Giản (huyện Lập Thạch) Manhetit ở đây thuộc loại sắt từ để sản xuất sắt từ tính Giải sắt Khai Quang ở Vĩnh Yên dài hàng chục km nhưng không liên tục từ Đạo Tú, Thanh Vân thuộc Tam Dương qua Định Trung về Khai Quang Quặng sắt ở đây chủ yếu là hematit và manhetic, hàm lượng đạt tới 40-50% Trước đây, người xưa đã mở lò luyện sắt ở Thanh Vân - Đạo Tú, để lại hàng vạn tấn xỉ lò và đất

đá thải Ở Hương Ngọc xã Hương Sơn cũng có một khu quặng và luyện sắt như vậy Ngoài ra ở Đồng Bùa huyện Tam Dương cũng phát hiện được quặng sắt Chắc hẳn những khoáng sản kim loại này đã góp phần đưa cư dân trên đất Vĩnh Phúc xưa sớm bước vào thời đại đồng thau

- Nhóm khoáng sản phi kim loại có Cao lanh, phân bố ở Tam Dương, Vĩnh Yên và Lập Thạch Cao lanh ở Vĩnh Phúc có nguồn gốc phong hoá từ đá alumosilicat như granit, plagio granit và các mạch đá aplit, sierit Có trữ lượng lớn hơn cả và chất lượng cao là mỏ Cao lanh ở Định Trung (Vĩnh Yên), kéo dài, không liên tục, tạo thành chuỗi Cao lanh Định Trung gồm hai loại: cao lanh có nguồn gốc đá granit phong hóa và cao lanh do đá mạch kiềm Pecmatit, sierit được phong hoá triệt để từ các đá thuần fenspat Cao lanh Định Trung có thể dùng để sản xuất gốm sứ và gạch chịu lửa Ngoài cao lanh, ở Vĩnh Phúc còn có mica ở Lập Thạch, Vĩnh Yên, Keramzit ở Lập Thạch

- Nhóm vật liệu xây dựng bao gồm đất sét làm gạch ngói, đá xây dựng, cuội cát sỏi Ở Vĩnh Phúc có các mỏ đất sét lớn như Đầm Vạc, Quất Lưu, Bá Hiến Sét đồng bằng có nguồn gốc trầm tích sông, biển, đầm hồ, có độ mịn cao, dẻo dùng làm nguyên liệu sản xuất đồ gốm Ở chân các gò đồi trung du chạy dài

từ Lập Thạch qua Vĩnh Yên đến Phúc Yên có nhiều vỉa cội quarzit là nguyên liệu rất tốt để chế tạo công cụ bằng đá của người nguyên thuỷ

Trong những năm gần đây tốc độ xây dựng công nghiệp, đô thị, đường giao thông, hạ tầng phát triển khá mạnh nên nhu cầu khai thác khoáng sản VLXD thông thường là rất lớn đặc biệt là đất san lấp phục vụ thi công san nền Các hoạt động khai thác khoáng sản chủ yếu phục vụ cho nhu cầu của địa phương và các công trình trọng điểm của Nhà nước trên địa bàn tỉnh (Dự án đường Cao tốc Nội Bài - Lào Cai, Dự án cải tạo, nâng cấp tuyến đê Sông Hồng, Sông Lô kết hợp giao thông…)

Các tổ chức cá nhân tham gia hoạt động khoáng sản địa bàn tỉnh là các Công

ty cổ phần, Công ty TNHH được thành lập theo Luật doanh nghiệp và có đủ các điều kiện khai thác theo quy định của Luật khoáng sản , chủ yếu là các Doanh nghiệp vừa và nhỏ, quy mô đầu tư thăm dò, khai thác khoáng sản không lớn do đặc điểm các mỏ, điểm mỏ khoáng sản địa bàn tỉnh phân tán nhỏ lẻ không tập trung Các hoạt động khai thác khoáng sản (chủ yếu là đất san lấp phục vụ thi công san nền các công trình xây dựng) phục vụ cho nhu cầu của địa phương tỉnh, hoạt động

Trang 5

5

khoáng sản đã gắn liền với bảo vệ môi trường, an ninh, an toàn lao động, sử dụng khoáng sản tiết kiệm và có hiệu quả

Trong những năm qua thực hiện theo quy định của pháp luật khoáng sản

và pháp luật bảo vệ môi trường Việc cấp phép khai thác khoáng sản được thực hiện theo đúng quy định của pháp luật khoáng sản Song song với việc cấp phép

và trong quá trình hoạt động khai thác khoáng sản, công tác bảo vệ môi trường luôn được UBND tỉnh Vĩnh Phúc quan tâm chỉ đạo Công tác bảo vệ môi trường của các đơn vị được UBND tỉnh Vĩnh Phúc cấp phép khai thác khoáng sản thực hiện dần đi vào nề nếp

Nhìn chung, các tổ chức được cấp phép hoạt động khoáng sản đã chấp hành các quy định của Luật Khoáng sản và các pháp luật khác có liên quan Các hoạt động khoáng sản đã cơ bản đáp ứng được nguồn nguyên liệu cho các cơ sở chế biến và sử dụng khoáng sản, phục vụ cho sự phát triển kinh tế - xã hội trên địa bàn tỉnh

III THỰC TRẠNG CÔNG TÁC QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ KHOÁNG SẢN

VÀ HOẠT ĐỘNG KHOÁNG SẢN, CÔNG TÁC QUẢN LÝ, BẢO VỆ KHOÁNG SẢN

1 Đối với công tác quản lý nhà nước về khoáng sản

Công tác quản lý nhà nước về khoáng sản trong thời gian qua đã được thực hiện tốt và cơ bản đã đi vào nề nếp UBND tỉnh đã đã chỉ đạo rà soát, tham mưu hoàn thiện hệ thống các văn bản quản lý về khoáng sản để phù hợp với quy định mới của Luật Khoáng sản năm 2010 và phù hợp với tình hình thực tế của tỉnh Vĩnh Phúc Đến nay, theo thẩm quyền UBND tỉnh đã ban hành nhiều văn bản quy phạm pháp luật liên quan đến lĩnh vực quản lý nhà nước về khoáng sản

a) Về công tác tuyên truyền, phổ biến pháp luật: Ngay sau khi Luật

khoáng sản năm 2010 có hiệu lực, Tỉnh ủy, HĐND và UBND tỉnh đã chỉ đạo triển khai công tác tuyên truyền đến người dân, các tổ chức, cá nhân hoạt động thăm dò, khai thác, chế biến, sử dụng và xuất khẩu khoáng sản trên địa bàn tỉnh bằng nhiều hình thức như: tuyên truyền trên phương tiện thông tin đại chúng (báo, đài phát thanh truyền hình tỉnh, cổng thông tin điện tử); giao Sở Tài nguyên và Môi trường chủ trì tổ chức các hội nghị tập huấn hàng năm để tuyên truyền phổ biến pháp luật về tài nguyên và môi trường, đất đai trong đó có pháp luật khoáng sản, đến các chủ doanh nghiệp, cán bộ chủ chốt cấp xã, phường địa bàn tỉnh; ban hành nhiều văn bản tuyên truyền hướng dẫn thực hiện luật đến các

xã, phường trong tỉnh, thông báo về thẩm quyền và trách nhiệm của các cấp trong công tác bảo vệ và quản lý hoạt động khoáng sản ở địa phương

b) Về quy hoạch thăm dò, khai thác, sử dụng khoáng sản:

Công tác Quy hoạch thăm dò, khai thác sử dụng khoáng sản trên địa bàn tỉnh được UBND tỉnh giao Sở Xây dựng (khoáng sản làm VLXDTT) và Sở Công Thương (Than Bùn và khoáng sản còn lại) chủ trì, lập hồ sơ, thủ tục lấy ý kiến các cấp ngành liên quan trên cơ sở đó trình UBND tỉnh phê duyệt theo quy định Đến thời điểm hiện nay UBND tỉnh đã phê duyệt Quy hoạch thăm dò, khai thác và sử dụng tài nguyên khoáng sản tại các Quyết định sau:

Trang 6

6

- Quyết định 2065/QĐ-UBND ngày 15/8/2011 của UBND tỉnh Vĩnh Phúc

về việc phê duyệt quy hoạch phát triển vật liệu xây dựng tỉnh Vĩnh Phúc đến năm 2020, tầm nhìn đến năm 2030;

- Quyết định số 156/QĐ-UBND ngày 22/01/2013 Phê duyệt Quy hoạch thăm dò, khai thác và sử dụng tài nguyên cát sỏi trên địa bàn tỉnh Vĩnh Phúc đến năm 2020, tầm nhìn đến năm 2030 và các Quyết định bổ sung Quy hoạch (Quyết định số 2192/QĐ-UBND ngày 14/8/2014; Quyết định số 903/QĐ-UBND ngày 15/4/2015; Quyết định số 2240/QĐ-UBND ngày 18/8/2015; Quyết định số 2287/QĐ-UBND ngày 25/8/2015; Quyết định 2866/QĐ-UBND ngày 16/10/2015; Quyết định số 1225/QĐ-UBND ngày 04/4/2016; Quyết định số 1965/QĐ-UBND ngày 14/6/2016; Quyết định số 2489/QĐ-UBND ngày 01/8/2016

về việc Phê duyệt bổ sung và khoanh định các điểm mỏ thăm dò cát, sỏi trên địa bàn tỉnh (không đấu giá) vào quy hoạch thăm dò, khai thác và sử dụng tài nguyên cát, sỏi trên địa bàn tỉnh Vĩnh Phúc;

- Quyết định số 134/QĐ-UBND ngày 15/01/2014 Phê duyệt Quy hoạch thăm

dò, khai thác và sử dụng khoáng sản nhóm kaolin felspat, sét kaolin trên địa bàn tỉnh Vĩnh Phúc giai đoạn năm 2014-2020, tầm nhìn đến năm 2030

- Quyết định 2788/QĐ-CT ngày 12/10/2015 của UBND tỉnh Vĩnh Phúc

về việc phê duyệt Quy hoạch thăm dò, khai thác, sử dụng than bùn trên địa bàn tỉnh Vĩnh Phúc đến năm 2020, tầm nhìn đến năm 2030;

- Quyết định số 1195/QĐ-UBND ngày 31/3/2016 của UBND tỉnh Vĩnh Phúc về việc phê duyệt Quy hoạch khoáng sản vật liệu thông thường (đất san lấp) phục vụ các công trình trên địa bàn tỉnh Vĩnh Phúc;

Quy hoạch khoáng sản của tỉnh về cơ bản bảo đảm phù hợp với quy hoạch khoáng sản của cả nước và quy hoạch vùng, lĩnh vực;

c) Công tác khoanh định các khu vực cấm, tạm thời cấm hoạt động khoáng sản:

- Nhiệm vụ khoanh định khu vực cấm, tạm thời cấm hoạt động khoáng sản trên địa bàn tỉnh Vĩnh Phúc đã hoàn thành sau khi xin ý kiến đóng góp của các Sở, Ban; ngành; UBND các huyện, thành phố trên địa bàn tỉnh và xin ý kiến đóng góp của 09 Bộ, ngành Trung ương Sau khi nghiêm túc tiếp thu, bổ sung hoàn thiện Báo cáo, UBND tỉnh Vĩnh Phúc đã có văn bản đề nghị Bộ Tài nguyên

và Môi trường xem xét, trình Thủ tướng Chính phủ phê duyệt

- Ngày 09/3/2017 Thủ tướng Chính phủ đã có văn bản số 349/TTg-CN về việc đồng ý kết quả khoanh định khu vực cấm, tạm thời cấm hoạt động khoáng sản trên địa bàn tỉnh Vĩnh Phúc như đề nghị của Bộ Tài nguyên và Môi trường tại văn bản 686/BTNMT-ĐCKS ngày 22/02/2017 và ủy quyền cho Chủ tịch UBND tỉnh Vĩnh Phúc phê duyệt, công bố khu vực cấm, tạm thời cấm hoạt động khoáng sản trên địa bàn tỉnh Vĩnh Phúc và chỉ đạo công tác quản lý, bảo vệ khoáng sản theo đúng quy định

- Ngày 20/11/2017, UBND tỉnh Vĩnh Phúc đã phê duyệt khu vực cấm hoạt động khoáng sản, khu vực tạm thời cấm hoạt động khoáng sản trên địa bàn

Trang 7

7

tỉnh Vĩnh Phúc tại Quyết định số 3232/QĐ-UBND, tổng diện tích khu vực cấm hoạt động khoáng sản là 372.927.702,96 m2

(37.292,77ha), với tổng số 1.676 danh mục cấm hoạt động khoáng sản (gồm 268 danh mục dạng vùng, 1382 danh mục dạng điểm và 26 danh mục dạng tuyến)

d) Công tác thẩm định, cấp phép hoạt động khoáng sản:

- Công tác cấp phép hoạt động khoáng sản đối với các loại khoáng sản theo thẩm quyền của UBND tỉnh được thực hiện phù hợp với quy hoạch và đúng quy định của pháp luật khoáng sản và pháp luật có liên quan Công tác tiếp nhận, thẩm định hồ sơ cấp phép hoạt động khoáng sản theo hướng cải cách thủ tục hành chính đã từng bước bảo đảm tuân thủ các quy định của pháp luật về khoáng sản, tạo điều kiện thuận lợi cho các tổ chức, cá nhân tham gia hoạt động khoáng sản

- Các tổ chức cá nhân tham gia hoạt động khoáng sản trên địa bàn tỉnh chủ yếu là các Doanh nghiệp vừa và nhỏ, quy mô đầu tư thăm dò, khai thác khoáng sản không lớn do đặc điểm các mỏ, điểm mỏ khoáng sản địa bàn tỉnh phân tán nhỏ lẻ không tập trung Các hoạt động khai thác khoáng sản (chủ yếu là cát, sỏi, đất san lấp phục vụ thi công san nền các công trình xây dựng phục vụ cho nhu cầu của địa phương tỉnh), hoạt động khoáng sản đã gắn liền với bảo vệ môi trường, an ninh, an toàn lao động, sử dụng khoáng sản tiết kiệm và có hiệu quả

e) Công tác thanh tra, kiểm tra, kiểm soát khoáng sản đã được tăng cường Qua công tác thanh tra, kiểm tra đã nâng cao hơn trách nhiệm của các cấp chính quyền UBND cấp huyện, xã đã có nhiều cố gắng thực hiện các biện pháp để tăng cường công tác quản lý khoáng sản trên địa bàn Các hoạt động khoáng sản trái phép đã được phát hiện, ngăn chặn và xử lý

- UBND tỉnh thành lập nhiều đoàn thanh tra liên ngành kiểm tra việc chấp hành pháp luật của các tổ chức , cá nhân trong hoạt động khai thác , vâ ̣n chuyển, kinh doanh cát, sỏi trên tuyến Sông Hồng; thanh tra liên ngành tình hình khai thác đất san lấp trên địa bàn huyện Tam Dương, Tam Đảo, Bình Xuyên, tp Vĩnh Yên và thành phố Phúc Yên… qua các cuộc thanh tra đã giải quyêt được hàng chục vụ vi phạm về hoạt động khoáng sản và giải quyết nhiều các đơn thư kiên nghị

- Thanh tra Sở Tài nguyên và Môi trường trong những năm qua đã tập trung giải quyết những vấn đề đơn thư kỉến nghị, khiếu kiện, khai thác trái phép và thanh tra việc chấp hành các quy định trong giấy phép hoạt động khoáng sản của các đơn

vị

- UBND tỉnh giao Công an tỉnh phối hợp với các cơ quan liên quan và chủ động lập kế hoạch kiểm tra xử lý những vi phạm trong lĩnh vực khoáng sản Từ năm 2011 đến hết năm 2016, Công an tỉnh đã phát hiện bắt giữ 528 vụ, với 669

tổ chức, cá nhân khai thác khoáng sản trái phép; xử phạt vi phạm hành chính với tổng số tiền 9.528.615.000đ (Chín tỷ năm trăm hai mươi tám triệu sáu trăm mười năm nghìn đồng) Cụ thể:

+ Năm 2011, Sở Tài nguyên và Môi trường đã tiến hành 32 cuộc thanh tra

về lĩnh vực khoáng sản Qua thanh tra, đã phát hiện các trường hợp vi phạm và xử phạt vi phạm hành chính đối với 02 tổ chức khai thác khoáng sản trái phép và 35 cá nhân khai thác, vận chuyển khoáng sản trái phép Công an tỉnh phát hiện bắt giữ

Trang 8

+ Năm 2013, thực hiện Chỉ thị số 03/CT-UBND ngày 14/03/2013 của UBND tỉnh Vĩnh Phúc Về việc tăng cường công tác quản lý nhà nước đối với hoạt động khai thác khoáng sản trên địa bàn tỉnh, thành lập 05 cuộc thanh tra đối với 37 đơn vị khai thác khoáng sản trên địa bàn tỉnh và một số cuộc thanh tra đột xuất về tình trạng khai thác đất đá, cát, sỏi trái phép trên địa bàn tỉnh, kiểm tra tình trạng khai thác đất trái phép trên địa bàn các huyện Tam Dương, Tam Đảo, Bình xuyên, Vĩnh Tường, thành phố Vĩnh Yên, thành phố Phúc Yên, kiểm tra tình trạng khai thác cát, sỏi trái phép trên địa bàn các huyện Sông Lô, Lập Thạch, Vĩnh Tường, kiểm tra việc sử dụng đất làm bến bãi tập kết cát sỏi của một số tổ chức, cá nhân trên địa bàn huyện Vĩnh Tường, Lập Thạch, Tam Dương Phát hiện bắt giữ 64 vụ,

104 tổ chức, cá nhân khai thác khoáng sản trái phép; xử phạt vi phạm hành chính số tiền 908.850.000đ (Chín trăm linh tám triệu tám trăm năm mươi nghìn đồng)

+ Năm 2014 phát hiện bắt giữ vụ 76 vụ, 93 tổ chức, cá nhân khai thác khoáng sản trái phép; xử phạt vi phạm hành chính số tiền 1.072.000.000đ (Một

tỷ không trăm bảy mươi hai triệu đồng)

+ Năm 2015: Phát hiện, xử lý 115 vụ, 127 tổ chức, cá nhân khai thác khoáng sản trái phép; xử phạt vi phạm hành chính số tiền 4.419.000.000đ (Bốn

tỷ bốn trăm mười chín triệu đồng)

+ Năm 2016: thanh tra Sở TNMT tiến hành thanh tra đối với 06 đơn vị chấp hành các quy định của pháp luật về khai thác khoáng sản và bảo vệ môi trường đối với các đơn vị khai thác cát, sỏi trên tuyến Sông Lô, tỉnh Vĩnh Phúc Kiểm tra theo kế hoạch hàng năm đối các đơn vị khai thác khoáng sản: 06 đơn

vị (03 mỏ đất san lấp, 03 mỏ khai thác đá xây dựng); kiểm tra thực địa các điểm

mỏ hết hiệu lực thực hiện việc đóng cửa mỏ theo quy định trên địa bàn huyện Bình Xuyên và huyện Tam Dương 10 điểm mỏ Phát hiện, xử lý 120 vụ, 150 tổ chức, cá nhân khai thác khoáng sản trái phép; xử phạt vi phạm hành chính số tiền 1.456.015.000đ (Một tỷ bốn trăm năm mươi sáu triệu không trăm mười lăm nghìn đồng)

- Công tác thanh tra đã đã góp phần thúc đẩy hoạt động khoáng sản trên địa bàn đúng quy định, ngăn ngừa các vi phạm trong hoạt động khoáng sản, làm ổn định hoạt động khoáng sản trên địa bàn, đảm bảo quyền và nghĩa vụ cho các đơn vị được phép hoạt động khoáng sản và nhân dân địa phương nơi có hoạt động khoáng sản

Trang 9

9

- Tuy nhiên, công tác Quản lý nhà nước và công tác thanh tra, kiểm tra còn gặp nhiều khó khăn, hạn chế do còn thiếu trang thiết bị, phương tiện, nhân lực Đặc biệt công tác thanh tra khai thác cát sỏi thuộc địa bàn sông nước và nằm trên ranh giới giữa hai tỉnh rất khó khăn cho công tác thanh tra, kiểm tra và xử lý các đối tượng khai thác trái phép;

Trước năm 2012, tình hình ANTT liên quan đến việc khai thác cát trên các tuyến sông diễn ra hết sức phức tạp đặc biệt là tuyến sông Lô Các đối tượng hoạt động khai thác cát sỏi trên sông chủ yếu có thành phần phức tạp, tập trung nhiều đối tượng cộm cán, giang hồ

Từ năm 2012 đến nay do có sự vào cuộc quyết liệt của lực lượng Công an trong đó có cả Công an tỉnh và Bộ Công an, tình hình khai thác cát sỏi trên Sông

Lô có chiều hướng ổn định Tuy nhiên, tranh chấp khai thác cát sỏi trên các tuyến Sông luôn tiềm ẩn, bùng phát bất cứ lúc nào, khai thác trái phép luôn diễn ra khi có

cơ hội, đòi hỏi các cơ quan quản lý và các cấp, ngành nói chung và lực lượng Công

an nói riêng tiếp tục vào cuộc quyết liệt hơn nữa thì tình trạng khai thác cát sỏi trái phép, các vi phạm pháp luật về khai thác cát sỏi mới được ngăn chặn và ổn định

f) Về công tác thu tiền cấp quyền khai thác khoáng sản:

Thực hiện Nghị định 203/2013/NĐ-CP ngày 28/11/2013 của Chính phủ Quy định về phương pháp tính, mức thu tiền cấp quyền khai thác khoáng sản, tỉnh

đã chỉ đạo cơ quan chuyên môn thẩm định hồ sơ tính tiền cấp quyền khai thác khoáng sản Tính đến 30/9/2018 đã thẩm định trình UBND tỉnh phê duyệt tổng

cộng 126 hồ sơ tính tiền cấp quyền khai thác khoáng sản (trong đó bao gồm các dự

án khai thác khoáng sản; dự án khác (khai thác khoáng sản ở khu vực có dự án đầu tư xây dựng công trình) có thu hồi sử dụng khoáng sản; dự án nạo vét lường ĐTNĐ có thu hồi khoáng sản và hạ cốt đất thổ cư có khai thác vận chuyển đất san lấp ra ngoài đến các công trình khác dể sử dụng), với tổng số tiền phê duyệt là: 106.292.388.287 đồng (Một trăm linh sáu tỷ, hai trăm chín mươi hai triệu, ba trăm tám mươi tám ngàn, hai trăm tám mươi bảy đồng) trong đó bao gồm cả số

tiền nhà nước chưa thu của giai đoạn luật khoáng sản có hiệu lực (01/7/2011) đến ngày Nghị định 203/2013/NĐ-CP có hiệu lực (20/01/2014), cụ thể:

+ Đất san lấp (bao gồm cả hồ sơ khai thác đất dự án): 81 hồ sơ

+ Cát sỏi: 29 hồ sơ;

+ Đá xây dựng: 11 hồ sơ;

+ Nạo vét luồng đường thuỷ nội địa có thu hồi sản phẩm: 05 hồ sơ

g) Công tác kỹ quỹ cải ta ̣o, phục hồi môi trường:

Trong giai đoạn 2007-2017, tỉnh đã tổ chức thẩm định, phê duyệt 32 báo cáo đánh giá tác động môi trường; 01 đề án bảo vệ môi trường chi tiết đối với lĩnh vực khai thác khoáng sản; 25 phương án cải tạo phục hồi môi trường, Sở Tài nguyên và Môi trường đã xác nhận 10 Bản đăng ký đạt tiêu chuẩn môi trường, 15 kế hoạch bảo vệ môi trường, UBND cấp huyện xác nhận 56 Bản cam kết bảo vệ môi trường (đa số trong đó có xác nhận nhiều bản cam kết đối với các dự án hạ cốt, tận thu trong quá trình thực hiện dự án ) và 58 dự án cải tạo phục hồi môi trường;

Trang 10

10

Công tác kỹ quỹ cải ta ̣o , phục hồi môi trường được thực hiê ̣n theo Quyết định số 71/2008/QĐ-TTg ngày 29/5/2008 của Thủ tướng Chính phủ về ký quỹ cải tạo, phục hồi môi trường đối với hoạt động khai thác khoáng sản; Quyết định

số 18/2013/QĐ-TTg ngày 29/3/2013 của Thủ tướng Chính phủ về cải tạo, phục hồi môi trường và ký quỹ cải tạo, phục hồi môi trường đối với hoạt động khai thác khoáng sản; Thông tư số 34/2009/TT-BTNMT ngày 31/12/2009 của Bộ Tài nguyên và Môi trường Quy định về lập, phê duyệt, kiểm tra, xác nhận Dự án cải tạo, phục hồi môi trường và ký quỹ cải tạo, phục hồi môi trường đối với hoạt động khai thác khoáng sản; Thông tư số 38/2015/TT-BTNMT ngày 30/6/2015 của Bộ Tài nguyên và Môi trường về cải tạo, phục hồi môi trường trong hoạt động khai thác khoáng sản

Từ khi quyết đi ̣nh số 71/2008/QĐ-TTg ngày 29/5/2008 có hiệu lực các đơn vi ̣ hoa ̣t đô ̣ng khoáng sản trên đi ̣a bàn tỉnh luôn chấp hành viê ̣c ký quỹ cải tạo, phục hồi môi trường , tổng số tiền ký quỹ tính đến 31/12/2017 được nộp tại

Quỹ Bảo vệ môi trường tỉnh Vĩnh Phúc là 10.109.458.811 (Mười tỷ một trăm linh chín triệu, bốn trăm năm mươi tám ngàn, tám trăm mười một đồng)

2 Đối với hoạt động khoáng sản

Trong giai đoạn 2007 đến nay (9/2018), UBND tỉnh đã cấp (bao gồm cả giấy phép khai thác khoáng sản ở khu vực có Dự án đầu tư xây dựng công trình): 11 điểm mỏ khai thác đá xây dựng; 86 điểm mỏ khai thác đất làm vật liệu san nền; 25 điểm mỏ khai thác cát sỏi; 07 điểm khai thác tận thu đá có hàm lượng felspat và 01 điểm tận thu than bùn

Trong số điểm mỏ đã cấp phép thì có 08 điểm mỏ không tiến hành khai thác, có 80 điểm mỏ đã hết hạn (thực hiện đóng cửa mỏ hoặc được chủ dự án kết thúc khai thác bàn giao lại cho các chủ hộ sử dụng đất sử dụng) Các điểm mỏ này chủ yếu là đất san lấp hiện nay đã được giao quyền sử dụng đất cho các hộ gia đình, cá nhân quản lý (đất 49 năm)

Nhìn chung, các điểm mỏ đất san lấp và đá làm vật liệu xây dựng thông thường trên địa bàn tỉnh có quy mô nhỏ và phân tán; Các điểm mỏ này cung cấp vật liệu xây dựng thông thường và đất san lấp cho các dự án phát triển kinh tế -

xã hội của tỉnh Vĩnh Phúc như các dự án phát triển khu công nghiệp, đô thị, hạ tầng giao thông và dự án đường cao tốc Nội Bài - Lào Cai Các điểm mỏ trước khi cấp phép khai thác đã được phê duyệt quy hoạch địa điểm, phù hợp với quy

hoạch chung của tỉnh; có hồ sơ về môi trường được phê duyệt (đánh giá tác động môi trường, cam kết bảo vệ môi trường hoặc kế hoạch bảo vệ môi trường)

và đã được quản lý hoạt động theo quy định của pháp luật Về cơ bản các tổ chức, cá nhân tham gia hoạt động khoáng sản đã chấp hành các quy định của pháp luật khoáng sản và các quy định khác có liên quan

Hiện nay, có 50 điểm mỏ có giấy phép còn hiệu lực do UBND tỉnh cấp, không có Giấy phép nào của các Bộ, ngành, Trung ương cấp Trong đó chủ yếu

là Giấy phép khai thác đất san lấp phục vụ san nền thi công các công trình xây

dựng trên địa bàn tỉnh (có biểu mẫu danh sách kèm theo)

3 Đối với công tác bảo vệ khoáng sản chƣa khai thác

Trang 11

11

Công tác bảo vệ tài nguyên khoáng sản chưa khai thác được UBND tỉnh quan tâm, chỉ đạo các cấp, ngành và địa phương tăng cường công tác bảo vệ tài nguyên khoáng sản chưa khai thác, UBND tỉnh đã ban hành Chỉ thị số 03/2013/CT-UBND ngày 14/3/2013 về việc tăng cường công tác quản lý nhà nước đối với các hoạt động khoáng sản trên địa bàn tỉnh Vĩnh Phúc và Quyết định số 07/2013/QĐ-UBND ngày 14/3/2013 Ban hành Quy định về trách nhiệm, quan hệ phối hợp giữa các ngành, các cấp, các tổ chức, cá nhân trong việc quản lý, khai thác

và bảo vệ tài nguyên khoáng sản trên địa bàn tỉnh Vĩnh Phúc Thời gian qua, công tác bảo vệ khoáng sản chưa khai thác được các ngành, địa phương thực hiện thường xuyên kiểm tra, giải tỏa các khu vực khai thác khoáng sản trái phép

UBND tỉnh đã rất quyết liệt chỉ đạo các cấp, ngành tăng cường công tác kiểm tra, có biện pháp ngăn chặn và kiên quyết xử lý vi phạm để hạn chế việc khai thác khoáng sản trái phép, vì vậy tình trạng khai thác trái phép đất san lấp trong thời gian qua đã có những chuyển biến tích cực

- Tổ chức tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật trong việc bảo vệ khoáng sản chưa khai thác; Huy động và chỉ đạo phối hợp các lực lượng trên địa bàn để giải tỏa, ngăn chặn hoạt động khoáng sản trái phép tại địa phương

- Thông báo đến các Chủ đầu tư xây dựng các công trình trên địa bàn cấp huyện quản lý có nhu cầu về đất san lấp, yêu cầu các nhà thầu, thi công phải sử dụng nguyên vật liệu san lấp có nguồn gốc hợp pháp (được cơ quan có thẩm quyền cấp phép khai thác) để thi công công trình, trường hợp sử dụng nguồn vật liệu san lấp không có nguồn gốc hợp pháp thì không quyết toán được khối lượng công trình

- Chỉ đạo và yêu cầu Chủ tịch UBND cấp xã tăng cường kiểm tra, giám sát việc khai thác khoáng sản trên địa bàn quản lý, có biện pháp xử lý, ngăn chặn tình trạng khai thác khoáng sản trái phép Nghiêm cấm việc lợi dụng tính cấp thiết của công trình để thực hiện việc mua bán, khai thác, vận chuyển khoáng sản trái phép

vi phạm pháp luật

Mặc dù vậy vẫn còn một số dự án, các đơn vị thi công không xin cấp phép khai thác, không lấy đất san nền ở các mỏ đã được cấp phép mà mua của nhân dân dẫn đến trình trạng khai thác trái phép nhỏ lẻ vẫn xảy ra

4 Tồn tại, hạn chế và nguyên nhân:

a) Những tồn tại, hạn chế:

- Công tác truyền thông nâng cao nhận thức về bảo vệ khoáng sản chưa khai thác đã được tăng cường xong việc tổ chức thực hiện chủ yếu theo sự chỉ đạo, các hoạt động còn mang tính hình thức, phong trào theo thời điểm, chưa đi vào chiều sâu, chưa tạo được thói quen duy trì thường xuyên, chưa thực sự đồng đều ở các huyện

- Các cấp, các ngành chưa thực sự quan tâm, phối hợp chặt chẽ trong công tác quản lý khoáng sản Nhận thức, hiểu biết và trách nhiệm trong công tác quản lý, bảo vệ khoáng sản chưa khai thác của một số cấp ủy chính quyền địa phương cấp xã và các tổ chức, cá nhân vẫn còn hạn chế; một số cấp ủy chính

Trang 12

để xảy ra hoạt động khai thác khoáng sản trái phép Cụ thể như sau:

(1) Tình trạng khai thác đất san lấp trái phép: Chủ yếu xảy ra trên địa

bàn các xã, phường, thị trấn sau: Đồng Thịnh, xã Tứ Yên… thuộc huyện Sông Lô; Văn Quán, Đồng Ích, Xuân Lôi, Tử Du, Liễn Sơn, Bàn Giản, Liên Hòa… thuộc huyện Lập Thạch; Hợp Hòa, xã Kim Long, Hướng Đạo, Hoàng Hoa, Đồng Tĩnh, Đạo Tú thuộc huyện Tam Dương; Tam Quan, Đại Đình, Hồ Sơn,

Bồ Lý, Đạo Trù, Yên Dương… thuộc huyện Tam Đảo; Sơn Lôi, Trung Mỹ… thuộc Huyện Bình Xuyên; Định Trung, Khai Quang, Liên Bảo… thuộc thành phố Vĩnh Yên

(2) Tình trạng khai thác cát, sỏi trái phép: Chủ yếu xảy ra trên địa bàn

các xã, phường, thị trấn sau: Đức Bác, Phương Khoan, Đôn Nhân… thuộc huyện Sông Lô; Trung Hà, Hồng Châu, Đại Tự, Trung Kiên… huyện Yên Lạc; Vĩnh Ninh, Vĩnh Thịnh… thuộc huyện Vĩnh Tường

b) Nguyên nhân:

* Nguyên nhân khách quan:

- Chính sách, pháp luật về khoáng sản còn có những bất cập, chưa phù hợp với thực tế, thiếu hoặc chậm ban hành văn bản hướng dẫn cụ thể hoặc chậm được bổ sung, sửa đổi gây khó khăn trong công tác quản lý và tổ chức thực hiện, như: thiếu các chế tài, cơ chế chính sách hoặc chế tài xử lý vi phạm chưa phù hợp với hành vi, đối tượng hoặc chưa đủ mạnh, chưa đủ sức răn đe;

- Nhu cầu đất san lấp, cát, sỏi làm vật liệu xây dựng quá lớn, nhu cầu khối lượng khoáng sản trên thực tế cao hơn khối lượng được cấp phép khai thác khoáng sản là nguyên nhân của việc khai thác trái phép diễn ra tại một số nơi trên địa bàn

- Cơ quan thuế thực hiện thu thuế, phí trên cơ sở số liệu kê khai của các doanh nghiệp, không có đủ công cụ pháp lý để kiểm tra, xác định số liệu kê khai của doanh nghiệp

- Hoạt động khai thác cát, sỏi diễn ra trên sông nước, trong khi đó hầu hết các cơ quan quản lý không có phương tiện di chuyển trên sông Mặt khác, các tuyến sông này (sông Lô, sông Hồng) lại nằm giữa hai tỉnh nên việc quản lý, giám sát gặp rất nhiều khó khăn, trong khi việc phối hợp giữa các địa phương còn chưa chặt chẽ

Ngày đăng: 22/10/2021, 14:07

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w