Một phần trong kế hoạch thích ứng với biến đổi khí hậu là đầu tư vào các hạ tầng cơ bản “đối phó với khí hậu.” Nhưng nó cũng giúp người dân có thể ứng phó với những rủi ro liên quan đến
Trang 1Thích ứng với xu thế tất yếu: hành động cấp quốc gia và hợp tác quốc tế
4
Trang 2Tổng giám mục Desmond Tutu
“Đối xử bất công đối với bất kỳ ai cũng đều là mối đe doạ tới tất cả mọi người.”
Montesquieu
Trang 3Người dân ở các nước đang phát triển cũng đang
cố gắng thích ứng Tại thôn Hoà Thành ở Đồng bằng sông Cửu Long, Việt Nam, người dân hiểu tình cảnh sống chung với nguy cơ lũ lụt là như thế nào Hiểm hoạ lớn nhất diễn ra trong suốt mùa mưa bão, khi các cơn bão hình thành ở biển Đông tạo ra các đợt triều dâng đúng vào lúc hệ thống sông Mê Kông đang trong mùa lũ Hệ thống đê điều rộng khắp được đắp bằng đất và thường xuyên được những người nông dân tu sửa là một giải pháp để ngăn nước lũ Vậy là, ở nơi đây người dân cũng đang phải đối phó với các nguy cơ do biến đổi khí hậu Họ tu bổ các con đê, trồng cây đước để bảo vệ làng mạc khỏi hiện tượng nước triều dâng cao do ảnh hưởng của bão, và dựng các ngôi nhà trên cọc tre Trong khi đó, các cơ quan tài trợ đang cùng ủng hộ thực hiện một chương trình sáng kiến “sống chung với lũ” thông qua việc tổ chức dạy bơi và phát áo phao cứu sinh cho người dân ở các cộng đồng có khả năng bị ảnh hưởng
Thực tiễn trái ngược nhau ở Maasbommel và Hoà Thành cho thấy quá trình thích ứng với biến đổi khí hậu đang càng khoét sâu sự bất bình đẳng giữa các quốc gia trên thế giới Ở Hà Lan, nhà nước đầu tư xây dựng các cơ sở hạ tầng phòng chống lũ hiện đại, tạo ra khả năng kháng rủi ro
cao hơn Trên quy mô hộ gia đình, tiềm lực công nghệ và tài chính cho phép người dân có quyền lựa chọn giải pháp phòng chống lũ, bằng cách mua những căn nhà giúp họ có thể nổi trên mặt nước Còn ở Việt Nam, một quốc gia phải đối mặt với những thách thức nghiêm trọng bậc nhất thế giới từ biến đổi khí hậu, thì hệ thống hạ tầng phòng chống bão lụt đơn sơ cũng chỉ giúp bảo
vệ phần nào Và đối với các ngôi làng trên khắp vùng Đồng bằng sông Cửu Long thì việc thích ứng với biến đổi khí hậu chỉ đơn giản là học cách nổi trong dòng nước
Tất cả các quốc gia sẽ phải tìm cách thích ứng với biến đổi khí hậu Ở những nước giàu, các chính phủ đang triển khai các chiến lược rộng khắp và bố trí các khoản đầu tư dành cho việc bảo vệ người dân của họ Ở những nước đang phát triển, công tác thích ứng với sự thay đổi này mang một hình thức khác Một số dân tộc dễ bị ảnh hưởng nhất trên thế giới trước những nguy
cơ hạn hán, lũ lụt và bão biển nhiệt đới đang bị
bỏ mặc để tự xoay xở trong điều kiện nguồn lực
vô cùng hạn chế của mình Sự bất bình đẳng về khả năng thích ứng với biến đổi khí hậu đang nổi lên như một nguyên nhân làm giãn rộng sự bất bình đẳng trong kinh tế, an ninh và cơ hội phát triển con người giữa các quốc gia Desmond
Thích ứng với xu thế tất yếu: hành động cấp quốc gia và hợp tác quốc tế
Trang 4Việc hợp tác quốc tế về vấn đề biến đổi khí hậu đòi hỏi một hướng tiếp cận kép Ưu tiên đặt
ra là làm giảm các tác động mà chúng ta có thể kiểm soát, đồng thời hỗ trợ cho việc thích ứng với những tác động không thể kiểm soát Một phần trong kế hoạch thích ứng với biến đổi khí hậu là đầu tư vào các hạ tầng cơ bản “đối phó với khí hậu.” Nhưng nó cũng giúp người dân có thể ứng phó với những rủi ro liên quan đến khí hậu mà
không phải gánh chịu sự thụt lùi về phát triển con người
Nếu không được thay đổi, sự thờ ơ đối với quá trình thích ứng này sẽ làm suy yếu các triển vọng phát triển con người trong đại bộ phận các dân tộc dễ bị ảnh hưởng nhất trên thế giới Cần phải tiến hành ngay công tác giảm nhẹ ảnh hưởng bởi cho dù kế hoạch thực hiện quá trình thích ứng có được thiết kế và đầu tư tốt đến đâu đi chăng nữa thì cũng không đủ sức để bảo vệ những người dân nghèo trên thế giới khỏi sự biến đổi khí hậu đã thành thường lệ Tương tự, quá trình giảm nhẹ ảnh hưởng cũng không bao giờ đủ để có thể bảo vệ người dân khỏi những vấn đề về biến đổi khí hậu
Trong một thế giới đã bị chia rẽ quá sâu sắc bởi sự bất bình đẳng về của cải
và cơ hội phát triển, chúng ta thường dễ quên rằng mình là một phần của cộng
đồng nhân loại Khi chúng ta nhận ra các tác động sớm của biến đổi khí hậu
xảy ra trên toàn cầu, mỗi người chúng ta phải suy ngẫm xem là một thành viên
trong gia đình đó có nghĩa là gì
Có lẽ xuất phát điểm là suy ngẫm về sự thiếu đầy đủ của ngôn ngữ diễn
đạt Cụm từ ‘thích ứng’ đã trở thành một phần trong vốn từ vựng chuẩn về
biến đổi khí hậu Nhưng thích ứng nghĩa là như thế nào? Câu trả lời cho vấn
đề này là những ý nghĩa khác nhau ở những địa điểm khác nhau
Đối với phần lớn người dân ở các quốc gia giàu có, thích ứng cho đến
nay vẫn luôn là một quy trình rất nhẹ nhàng Bằng việc sử dụng các hệ thống
sưởi ấm hoặc làm mát, họ có thể thích ứng với những điều kiện thời tiết khắc
nghiệt chỉ cần nhờ một chiếc công tắc cảm nhiệt tự động Đối mặt với các nguy
cơ ngập lụt, chính phủ những nước này có thể bảo vệ các cư dân của London,
Los Angeles và Tokyo bằng những hệ thống ứng phó với khí hậu hiện đại Ở
một số quốc gia, biến đổi khí hậu thậm chí đã mang lại những tác động có lợi,
ví dụ như kéo dài vụ mùa gieo trồng cho những người nông dân
Còn bây giờ chúng ta hãy thử tìm hiểu xem thích ứng có nghĩa là gì đối
với những người nghèo và dễ bị tổn thương nhất thế giới – 2,6 tỷ người đang
sống dưới mức 2 Đô-la Mỹ một ngày Làm sao để một người phụ nữ nông
dân nghèo khổ ở Ma-la-uy thích ứng được khi ngày càng xảy ra nhiều hạn
hán và ít mưa đi khiến cho sản xuất sụt giảm? Có lẽ bằng cách cắt bớt nguồn
dinh dưỡng cho gia đình vốn đã rất thiếu thốn, hoặc là thôi không cho con đến
trường nữa Làm sao để một người sống tại khu ổ chuột lợp nhựa và mái tôn
ở Manila hay Port-au-Prince có thể thích ứng được với những đe doạ gây ra
bởi các trận bão khủng khiếp? Và làm sao để những người dân sống ở các
khu vực châu thổ rộng lớn của sông Hằng và sông Mê Kông có thể thích ứng
được với những trận lụt tràn ngập nhà cửa đất đai của họ?
Thích ứng đang trở thành một mỹ từ thay cho khái niệm bất công xã hội
trên quy mô toàn cầu Trong khi công dân của thế giới các nước phát triển
đang được bảo vệ khỏi các mối nguy hiểm và tránh thiệt hại, thì những người
dân nghèo, dễ bị tổn thương và đói ngày ngày đều phải hứng chịu sự thật
khắc nghiệt của biến đổi khí hậu Nói thẳng ra, những người dân nghèo trên
thế giới đang bị gây hại bởi một vấn đề không phải do họ gây ra Dấu chân các-bon của người nông dân Ma-la-uy hay người dân khu ổ chuột của Ha-i-ti kia hầu như chẳng để lại tì vết nào trong khí quyển trái đất
Không cộng đồng nào với tinh thần công bằng, bác ái hay tôn trọng những quyền cơ bản nhất của con người lại có thể chấp nhận tình hình thích ứng hiện nay Bỏ mặc những người nghèo phải vật lộn với nước lũ chỉ bằng nguồn lực hạn hẹp của mình ngay trước những mối đe doạ do sự biến đổi khí hậu gây ra là điều sai trái về đạo đức Đáng tiếc thay, như Báo cáo phát triển con người 2007/2008 đã minh chứng một cách hùng hồn, đó chính xác
là điều đang diễn ra Chúng ta đang trôi dạt đến một thế giới ‘phân biệt đối
và xã hội, thì không quốc gia nào – bất kể giàu có và hùng mạnh đến đâu – lại
có thể an toàn tuyệt đối trước những hậu quả của nó Về lâu về dài, các vấn
đề của người nghèo sẽ lan đến ngay ngưỡng cửa của những người giàu, khi
mà những chấn động khí hậu nhường bước cho sự tuyệt vọng, tức giận và các nguy cơ mất an ninh chung
Không điều nào trên đây được phép xảy ra Cuối cùng thì giải pháp duy nhất trước biến đổi khí hậu là giảm nhẹ một cách khẩn cấp Nhưng chúng
ta có thể – và buộc phải – cùng cộng tác để đảm bảo rằng biến đổi khí hậu đang xảy ra hiện nay không đẩy sự phát triển con người vào số lùi Đó là lý
do tại sao tôi kêu gọi các nhà lãnh đạo của các quốc gia giàu có hãy đưa vấn
đề thích ứng vào tâm điểm của chương trình nghị sự quốc tế về xoá đói giảm nghèo – và hãy làm điều đó trước khi quá muộn
Desmond TutuCựu Tổng giám mục Cape TownĐóng góp đặc biệt Chúng ta không cần sự phân biệt đối xử trong công tác thích ứng với biến đổi khí hậu
Trang 5đã trở nên quá hiển nhiên Theo kịch bản lý tưởng
nhất thì quá trình giảm nhẹ ảnh hưởng sẽ phát
huy tác dụng từ khoảng năm 2030 trở đi, tuy nhiệt
độ thì sẽ còn tăng lên cho đến khoảng năm 2050
Từ nay cho đến lúc đó, thích ứng là một lựa chọn
‘bắt buộc.’ Điều đáng buồn là chúng ta còn cách
kịch bản lý tưởng này rất xa, bởi công tác giảm nhẹ
ảnh hưởng hiện còn chưa được triển khai
Công tác giảm nhẹ ảnh hưởng là một phần của
kế hoạch kép để đảm bảo an toàn trước sự biến đổi
khí hậu Đầu tư cho công tác này sẽ giúp thu lại
những kết quả cao đối với sự nghiệp phát triển con
người trong nửa sau của thế kỷ 21, giúp cho những
bộ phận dân cư dễ bị ảnh hưởng bớt phải đối mặt
với các rủi ro về khí hậu Nó cũng tạo ra sự đảm
bảo chống lại các thảm hoạ cho mọi thế hệ tương
lai sau này của nhân loại, bất chấp điều kiện kinh
tế và vị trí địa lý của họ Hợp tác quốc tế về công
tác thích ứng là phần thứ hai trong chiến lược đối
phó với biến đổi khí hậu Đây là một sự đầu tư vào
công tác giảm nhẹ rủi ro cho hàng triệu người dân
dễ bị ảnh hưởng nhất trên thế giới
Khi những người dân nghèo trên thế giới
không thể thích ứng cuộc sống của mình tránh
khỏi sự biến đổi khí hậu nguy hiểm, thì các tác
động của nóng lên toàn cầu có thể được giảm nhẹ
thông qua những chính sách phù hợp Các hoạt
động thích ứng được tiến hành từ sớm sẽ giảm
thiểu rủi ro và hạn chế các thiệt hại cho sự nghiệp
phát triển con người do biến đổi khí hậu gây ra
Chính phủ các nước phương Bắc đóng một
vai trò trọng yếu trong vấn đề này Khi ký kết
Công ước khung của LHQ về biến đổi khí hậu
(UNFCCC) vào năm 1992, họ đã đồng ý giúp “các
quốc gia đang phát triển đang phải đối mặt với các
tác động bất lợi của biến đổi khí hậu bằng cách hỗ
trợ kinh phí cho các chương trình giúp thích ứng
với các tác động bất lợi này.” Sau 15 năm, cam kết
này vẫn chưa được chuyển thành hành động Cho
đến nay, hợp tác quốc tế trong các chương trình
giúp thích ứng với biến đổi khí hậu vẫn còn gặp
phải những vấn đề cố hữu như thiếu vốn, công
tác phối hợp còn lỏng lẻo và quanh đi quẩn lại chỉ
tập trung vào các giải pháp ứng phó ở cấp dự án
Nói tóm lại, khung giải pháp hiện nay mới chỉ như
muối bỏ biển mà thôi
Để có thể thích ứng được có hiệu quả thì cần
phải vượt qua rất nhiều thách thức Cần phải đề
ra các chính sách giải quyết trong khi chúng ta lại
chưa thể chắc chắn về thời gian, địa điểm và mức
độ nghiêm trọng của những ảnh hưởng của biến đổi khí hậu Trong tương lai, quy mô của những ảnh hưởng này sẽ phụ thuộc vào các nỗ lực giảm nhẹ tác động được tiến hành ngày hôm nay: công tác này càng bị trì hoãn và bó hẹp bao nhiêu thì càng làm cho chi phí của quá trình thích ứng cao bấy nhiêu Tất nhiên những yếu tố còn chưa chắc chắn nói trên cần phải được cân nhắc đến khi xây dựng các chiến lược thích ứng và các kế hoạch tài chính, nhưng không thể dùng chúng làm lý
do bào chữa cho việc không làm gì cả Chúng ta biết rằng hiện nay sự biến đổi khí hậu đang tác động đến đời sống của những người dân dễ bị tổn thương – và chúng ta cũng biết rằng tình hình sẽ xấu đi trước khi nó trở nên sáng sủa hơn
Một mặt, các nước phát triển đã vạch sẵn ra cách làm Ở những nước này, cũng không kém
gì so với các nước đang phát triển, chính phủ và nhân dân đều phải đối phó với điều không chắc chắn của biến đổi khí hậu Nhưng điều không chắc chắn này đã không tạo nên rào cản đối với việc đầu tư ồ ạt vào cơ sở hạ tầng, hoặc đầu tư vào việc nâng cao khả năng thích ứng với biến đổi Là những kiến trúc sư chính gây ra các vấn đề biến đổi khí hậu nguy hại, chính phủ và nhân dân các nước giàu không thể một mặt áp dụng chính sách này đối với đất nước họ, còn mặt khác lại áp dụng chính sách kia lên các cộng đồng dễ bị ảnh hưởng
và là những nạn nhân tương lai của những hành động họ đã gây ra Hành động nấp sau những
hệ thống bảo vệ kiên cố chống lại sự biến đổi khí hậu để chứng kiến những hậu quả nguy hiểm của hiện tượng này dần hiện hữu ở các quốc gia đang phát triển thì không chỉ là vô đạo đức Nó còn là dấu hiệu cho thấy một chiếc hố ngăn cách đang ngày càng rộng ra giữa những người giàu-người nghèo trên thế giới, và một sự bất bình rộng khắp – những hệ quả sẽ để lại những tác động nhất định đối với nền an ninh của tất cả các quốc gia
Chương này được chia thành hai phần Ở phần một chúng tôi tập trung vào thách thức đối với quá trình thích ứng trên cấp độ quốc gia, xem xét tình hình ứng phó với thách thức này của các chính phủ và người dân, và các chiến lược có thể mang lại kết quả Biến đổi khí hậu gây ra đe doạ lớn đến như vậy là bởi nó đang đẩy những người dân dễ bị ảnh hưởng đến với những rủi ro ngày càng nghiêm trọng Để có thể giúp người dân có
Hợp tác quốc tế trong các chương trình giúp thích ứng với biến đổi khí hậu vẫn còn gặp phải những vấn
đề cố hữu như thiếu vốn, công tác phối hợp còn lỏng lẻo và quanh đi quẩn lại chỉ tập trung vào các giải pháp ứng phó theo các dự án
Trang 6tổ chức và tiềm lực tài chính, tất cả đều có vai trò quyết định đến khả năng thích ứng đó.
Trên một số khía cạnh, rủi ro ngày càng gia tăng gây ra bởi biến đổi khí hậu là rủi ro có mức độ lớn Các thể chế và chính sách cho phép các quốc gia và người dân của họ thích ứng với những rủi
ro về khí hậu hiện nay – những chính sách kinh tế
xã hội nhằm xây dựng năng lực và khả năng chống chịu để đối phó với ‘chấn động khí hậu,’ những khoản đầu tư vào hệ thống cơ sở hạ tầng phòng chống lụt bão, và các cơ chế điều tiết, quản lý các lưu vực – cũng chính là những gì cần thiết để có thể đối phó với các mối đe doạ trong tương lai Tuy nhiên, quy mô của những mối đe doạ này cũng mang lại những thách thức cả về chất và lượng
Một số quốc gia- và một số nhóm người - sở hữu những phương tiện đối phó với chúng tốt hơn nhiều so với những quốc gia, nhóm người khác
Công tác thích ứng ở thế giới các nước phát triển
Hoạch định cho công tác thích ứng với biến đổi khí hậu là một lĩnh vực đang phát triển nhanh
chóng ở các nước phát triển Các chính quyền trung ương, địa phương, chính quyền thành phố, các cơ quan hoạch định cấp khu vực và các công
ty bảo hiểm đều đang vạch ra những chiến lược cho quá trình thích ứng với một mục tiêu chung: bảo vệ nhân dân, cở sở vật chất và hạ tầng kinh
tế trước các rủi ro biến đổi khí hậu đang nổi lên hiện nay
Sự quan tâm ngày càng gia tăng của công luận đối với vấn đề này đã trở thành một nhân tố tác động lên chương trình nghị sự của công tác thích ứng Ở nhiều nước phát triển, có một nhận thức phổ biến rằng sự biến đổi khí hậu đang làm trầm trọng thêm các rủi ro có liên quan đến thời tiết Đợt nắng nóng ở châu Âu năm 2003, mùa bão khủng khiếp năm 2004 ở Nhật Bản, cơn bão Katrina tàn phá thành phố New Orleans, cùng với các hiện tượng hạn hán, lũ lụt, và nhiệt độ cực đoan xảy
ra ở khắp các nước phát triển là một trong những
sự kiện hàng đầu thu hút sự quan tâm của công chúng Dù không chắc chắn về diễn biến khí hậu trong tương lai nhưng điều đó cũng không thể ngăn cản công chúng các nước tiếp tục kêu gọi chính phủ của họ phải có các phản ứng tích cực hơn nữa
Lĩnh vực bảo hiểm là một yếu tố thúc đẩy thay đổi mạnh mẽ Bảo hiểm mang lại một cơ chế quan trọng qua đó các thị trường báo hiệu những biến đổi của rủi ro Bằng cách định giá rủi ro, thị trường tạo ra động cơ cho các cá nhân, công ty và chính phủ thực hiện các biện pháp giảm thiểu rủi
ro, bao gồm cả các biện pháp thích ứng Ở cả châu
Âu và Hoa Kỳ, lĩnh vực bảo hiểm đã tỏ ra ngày
thể xoay sở được trước những rủi ro này, các chính sách công cần phải tạo nên một môi trường bền vững thông qua đầu tư vào cơ sở hạ tầng, bảo hiểm
xã hội và tăng cường công tác ứng phó với thiên tai Ngoài ra, cũng cần phải có một quyết tâm cao hơn nữa nhằm theo đuổi các chính sách sâu rộng hơn có thể củng cố quá trình phát triển con người
và giảm nhẹ sự bất bình đẳng thái quá
Ở phần hai chúng tôi sẽ chuyển sang vấn đề vai trò của hợp tác quốc tế Các nước giàu có đầy đủ lý
do để đóng một vai trò to lớn trong việc hỗ trợ công tác thích ứng Tính trách nhiệm về mặt lịch sử đối với vấn đề biến đổi khí hậu, những ràng buộc về mặt đạo đức, sự tôn trọng nhân quyền và những lợi ích riêng chính đáng của mỗi nước đã kết hợp lại với nhau để hình thành nên lý do đó Tăng cường đầu tư cho việc lồng ghép quá trình thích ứng vào quy hoạch quốc gia xoá đói giảm nghèo là một yêu cầu Một yêu cầu khác là phải sớm xây dựng nên một cơ chế hỗ trợ đa phương chặt chẽ
Hoạch định cho công tác
thích ứng với biến đổi khí
Trang 7càng quan tâm hơn đến các thiệt hại liên quan đến
biến đổi khí hậu (xem chương 2) Những dự kiến
cho thấy tần suất xảy ra các cơn bão và lũ ngày
càng gia tăng là một lý do cho mối quan tâm đó
Ở một số nước, ngành bảo hiểm đã trở thành một
lực lượng ủng hộ tích cực cho việc tăng cường các
khoản đầu tư của nhà nước vào cơ sở hạ tầng ‘đối
phó với khí hậu’ để hạn chế các thiệt hại của người
dân Ví dụ, Hiệp hội các Nhà bảo hiểm Anh đang
kêu gọi tăng 50% ngân sách phòng chống lũ lụt
Công tác thích ứng ở các nước phát triển đã
diễn ra dưới rất nhiều hình thức Những ‘căn nhà
nổi’ ở làng Maasbommel cho thấy một ví dụ về
sự chuyển biến trong hành vi ngay ở cấp độ hộ
gia đình Trong các trường hợp khác, các doanh
nghiệp đang bị buộc phải thích ứng với biến đổi
khí hậu Một ví dụ là ngành dịch vụ trượt tuyết giải
trí của châu Âu Diện tích che phủ tuyết ở vùng
Anpơ của châu Âu hiện đang bị thu hẹp lại, và
IPCC đã cảnh báo rằng ở các vùng có độ cao trung
bình thời gian che phủ tuyết sẽ bị giảm đi vài tuần
giải trí của Thuỵ Sĩ đã tìm cách ‘thích ứng’ bằng
cách đầu tư ồ ạt vào các thiết bị làm tuyết nhân tạo
Để phủ kín tuyết lên một hécta sườn dốc cần tới
hơn 3.330 lít nước, và phải được chuyên chở đến
bằng trực thăng, sau đó lượng nước này mới được
biến thành tuyết qua quá trình làm lạnh nhân tạo
Nhiều nước phát triển đã tiến hành các nghiên
cứu kỹ lưỡng về các tác động của biến đổi khí hậu
Một vài nước đang tiến đến giai đoạn thực hiện
các chiến lược thích ứng Ở châu Âu, những quốc
gia như Pháp, Đức và Anh đã thiết lập ra các thể
chế cấp độ quốc gia cho công tác hoạch định quá
trình thích ứng Uỷ ban Châu Âu đã thúc đẩy các
nước thành viên lồng ghép công tác thích ứng vào
các chương trình xây dựng cơ sở hạ tầng vì một
năm, các công trình hạ tầng cơ sở như cầu, cảng
và đường giao thông bộ phải tính đến cả những
thay đổi về điều kiện khí hậu trong tương lai Các
lĩnh vực như nông nghiệp và lâm nghiệp sẽ phải
đối phó với những tác động trước tiên, và toàn bộ
xã hội nói chung cũng vậy
Quy mô của các nỗ lực thích ứng có tính chất
phòng vệ trước biến đổi khí hậu ở các nước giàu
nhìn chung không được coi trọng rộng rãi Mặc
dù thành tựu đạt được rất khác nhau, nhưng bức tranh tổng thể cho thấy có sự phát triển trong công tác đầu tư cho các giải pháp phòng chống Dưới đây là một số ví dụ:
và nằm ở vùng trũng, với hơn một phần tư diện tích đất liền nằm thấp hơn mực nước biển, Hà Lan đang phải đối mặt với những rủi ro gay gắt về biến đổi khí hậu Những rủi
ro này được kiểm soát nhờ một mạng lưới kênh rạch, bơm thuỷ lợi và đê điều rộng lớn
Hệ thống đê điều được thiết kế để có thể trụ vững được trước các diễn biến thời tiết mà có khi chỉ có khả năng xảy ra đúng một lần trong suốt 10.000 năm Không phải chỉ có biển cả mới mang lại những mối đe doạ Sông Rhine, con sông tạo ra một vùng châu thổ rộng lớn cùng với con sông Maas, là một mối đe doạ
lũ lụt thường trực Cùng với sự dâng lên của mực nước biển, sự xuất hiện của các cơn bão
dữ dội, và việc lượng mưa có thể tăng lên 25%
theo dự đoán của các mô hình dự báo khí hậu, việc hoạch định cho công tác thích ứng ở Hà Lan được coi là một vấn đề an ninh quốc gia
Chính sách thuỷ lợi của Hà Lan nhận thấy rằng cơ sở hạ tầng hiện nay là chưa đủ để đối phó với sự dâng lên của mực nước ở các con sông và biển cả Bộ tài liệu chính sách quốc
gia năm 2000 với tựa đề Khoảng trống cho Dòng
sông đã đặt ra một khung kế hoạch thích ứng
chi tiết Khung kế hoạch này bao gồm các biện pháp quản lý sát sao hơn đối với các khu vực dân cư, các Chiến lược Hoạch định Lưu vực giữ nước do chính quyền cấp vùng thực hiện,
để lập ra các khu vực chứa lũ, và một ngân sách 3 tỷ Đô-la Mỹ đầu tư cho công tác phòng ngừa lũ lụt Mục tiêu của chính sách này là bảo
vệ Hà Lan trước lưu lượng nước sông Rhine lên đến 18.000m³/s từ năm 2015 trở đi – tức là cao hơn khoảng 50% so với mức cao nhất ghi
hậu Vương quốc Anh (UKCIP) đã thực hiện các nghiên cứu chi tiết trên các khu vực và các ngành khác nhau nhằm khảo sát các thách thức cho quá trình thích ứng Các chiến lược ứng phó với lũ lụt đang được xây dựng dựa trên kết quả đánh giá các rủi ro do mực nước biển dâng cao và lượng mưa tăng Dự báo về
Trang 82004 lên đến 3,5 triệu về lâu dài, nếu hệ thống
cơ sở hạ tầng phòng chống lũ không được cải thiện Chỉ khoảng một nửa số công trình hạ tầng phòng chống lũ quốc gia còn trong tình trạng tốt Cơ quan Môi trường, một bộ phận của chính phủ Anh, đã kêu gọi đầu tư ít nhất là
8 tỷ Đô-la Mỹ để củng cố Đập chắn lũ Thames Barrier – một công trình phòng lũ bằng cơ học
để bảo vệ London Ngân sách hiện nay dành cho công tác ứng phó với lũ lụt và chống xói mòn bờ biển hàng năm là vào khoảng 1,2 tỷ
nhấn mạnh lại yêu cầu tăng cường ngân sách cho công tác này
• Nhật Bản Mối quan tâm đối với công tác thích
ứng tại Nhật Bản lên đến đỉnh điểm vào năm
2004 khi nước này bị tới 10 cơn bão nhiệt đới
đổ bộ Con số này lớn hơn bất cứ năm nào trong thế kỷ trước Tổng thiệt hại lên đến 14
tỷ Đô-la Mỹ, trong đó khoảng một nửa là được bảo hiểm chi trả Nhiệt độ và mực nước biển gia tăng cũng đang tạo thêm nhiều rủi ro: tốc
độ dâng của mực nước biển trung bình mỗi năm vào khoảng 4-8 mm Trong khi Nhật Bản có những hệ thống cơ sở hạ tầng phòng
lũ thuộc hàng hiện đại nhất trên thế giới, các khu vực cảng và bến tàu của nước này được coi là những địa điểm rất dễ bị ảnh hưởng
Những cơn bão nhiệt đới mạnh hơn có thể gây ra những thiệt hại trầm trọng về kinh tế
Chính phủ Nhật Bản đã lên các kế hoạch để xây dựng các hệ thống phòng ngừa lũ lụt hiệu quả hơn nhằm đối phó với nguy cơ mực nước biển
có thể dâng lên 1 mét trong thế kỷ 21 và có tổng
• Đức Nhiều vùng rộng lớn của Đức đang đối
mặt với nguy cơ lũ lụt ngày càng gia tăng do biến đổi khí hậu Các nghiên cứu ở lưu vực đầu nguồn Neckar tại bang Baden-Wür emberg
và Bavaria dự đoán rằng số lượng các đợt lũ nhỏ và vừa sẽ tăng lên 40-50% từ nay cho đến những năm 2050, trong khi số lượng những trận ‘lụt thế kỷ’ sẽ tăng lên 15% Bộ Môi trường của bang Baden-Wür emberg ước tính rằng chi phí đầu tư cho hạ tầng cơ sở phòng chống
lũ dài hạn sẽ cần bổ sung thêm khoảng 685 triệu Đô-la Mỹ Sau những đợt lụt lội quy mô lớn diễn ra vào năm 2002 và 2003, Đức đã phê chuẩn Đạo luật Kiểm soát Lũ lụt trong đó yêu cầu lồng ghép các đánh giá về biến đổi khí hậu trong các công tác hoạch định cấp quốc gia, đặt
ra các yêu cầu khắt khe đối với việc hoạch định
• California Biến đổi khí hậu sẽ có những ảnh hưởng nghiêm trọng đến tình hình cung cấp nước sinh hoạt cho một số vùng của California Nhiệt độ vào mùa đông tăng lên khiến người
ta dự đoán nó sẽ dẫn đến suy giảm lượng tuyết tích tụ trên dãy Sierra Nevada, vốn đóng vai trò là một hệ thống dự trữ nước lớn của bang này Sự suy giảm mật độ che phủ tuyết ở các vùng tiêu nước Sacramento, San Joaquim và Trinity (so với mức trung bình của giai đoạn 1961-1990) dự kiến sẽ vào khoảng 37% cho giai đoạn 2035-2064, và lên đến 79% cho giai đoạn 2070-2090 Vốn là một bang đang phải đau đầu về vấn đề nguồn nước, California đã phát triển một hệ thống hồ chứa và kênh dẫn
đầu tư hiệu quả của Liên minh Châu Âu
Nguồn: CEC 2007b.
Chi phí (tỷ Đô la Mỹ mỗi năm)
16 14 12 10 8 6 4 2 0
Tổng chi phí thích ứng Tổng chi phí thiệt hại
Có biện pháp thích ứng pháp thích ứngKhông có biệnCó biện phápthích ứng
Không có biện pháp thích ứng
Ít nhất là trước mắt, biến
đổi khí hậu rất có thể sẽ tạo
ra kẻ được lợi cũng như
người thua thiệt – và phần
lớn những người hưởng lợi
sẽ là ở những nước giàu
Trang 9nước rộng khắp để duy trì cung cấp nước đến
những nơi khô hạn Trong bản Cập nhật Quy
hoạch về Nước năm 2005, Bộ Thuỷ lợi (DWR)
đã đặt ra một chiến lược quy mô rộng lớn để
giải quyết vấn đề lưu lượng nước suy giảm,
bao gồm các biện pháp nhằm nâng cao hiệu
quả sử dụng nước ở thành thị và trong các
hoạt động nông nghiệp Cũng nằm trong kế
hoạch là tăng cường đầu tư cho việc tái sử
dụng nguồn nước, với mục tiêu là 930 triệu
mét khối – nghĩa là gấp đôi hiện nay – cho đến
năm 2020 California cũng đang đối mặt với
nguy cơ lũ lụt từ hai nguồn: mực nước biển
dâng cao và tuyết tan ngày càng nhanh DWR
ước tính rằng chi phí để nâng cấp chỉ riêng hệ
thống kiểm soát lũ ở vùng Thung lũng Trung
tâm và hệ thống đê điều ở Khu vực Châu thổ
đã lên tới 3 tỷ Đô-la Mỹ Biến đổi khí hậu có
thể sẽ vẽ lại đường bờ biển của California,
theo đó những diện tích đất sát bờ biển sẽ bị
ngập trong nước, hệ thống đê biển tan vỡ và
Những ví dụ này cho thấy những nhà hoạch
định chính sách ở các nước giàu không lấy sự
thiếu chắc chắn về biến đổi khí hậu làm lý do để
trì hoãn quá trình thích ứng Các khoản đầu tư
của nhà nước ngày nay được coi như là các khoản
bảo hiểm cho các thiệt hại về sau Ở Anh, các cơ
quan chính phủ ước tính rằng cứ mỗi 1 Đô-la Mỹ
được dành ra cho việc phòng lũ sẽ cứu vớt được 5
lợi ích thu lại được từ những khoản đầu tư sớm
cho công tác thích ứng với biến đổi rất có khả năng
sẽ tăng theo thời gian, khi mà các tác động của
biến đổi khí hậu càng ngày càng mạnh lên Uỷ ban
Châu Âu ước tính rằng thiệt hại do mực nước biển
dâng cao gây ra vào năm 2020 sẽ cao gấp 4 lần so
với khi đã thực hiện các biện pháp phòng ngừa
Cho đến những năm 2080, nó còn có thể lên đến
pháp phòng ngừa này cũng chỉ bằng một phần rất
nhỏ của những thiệt hại mà chúng giúp ta tránh
khỏi (Hình 4.1)
Không phải mọi công tác thích ứng đều mang
tính chất phòng ngừa Ít nhất là trước mắt, biến
đổi khí hậu rất có thể sẽ tạo ra kẻ được lợi cũng
như người thua thiệt – và phần lớn những người
hưởng lợi sẽ là ở những nước giàu Lĩnh vực nông
nghiệp mang đến cho ta một ví dụ Trong khi
những người nông dân sản xuất quy mô nhỏ ở các quốc gia đang phát triển có khả năng sẽ phải chịu thua thiệt trước sự biến đổi khí hậu thì những tác động trung hạn sẽ lại tạo ra những cơ hội cho đại bộ phận các nước phát triển Ở Mỹ, các dự kiến
về tình hình biến đổi khí hậu ở cấp độ quốc gia cho thấy sản lượng lương thực trong giai đoạn trước mắt có thể sẽ tăng, mặc dù các bang phía nam sẽ
bị tụt lại phía sau, và vùng Đồng bằng Lớn sẽ phải đối mặt với nhiều đợt khô hạn hơn khi mà các trung tâm sản xuất nông nghiệp được chuyển dần
lợi nhờ những mùa sinh trưởng ấm áp và kéo dài hơn, qua đó nâng cao lợi thế cạnh tranh trong một
nước này chấm dứt nhập khẩu từ các quốc gia đang phát triển sẽ trở thành một mối đe doạ đối với tình hình phát triển con người ở một số vùng sản xuất các loại mặt hàng này
Sống chung với biến đổi khí hậu – quá trình thích ứng ở các quốc gia đang phát triển
Trong khi các nước giàu đang chuẩn bị để thích ứng với biến đổi khí hậu thì các quốc gia đang phát triển lại là những nước sẽ phải đối mặt với những gánh nặng to lớn và xuất hiện sớm nhất, có tác động tiêu cực đến các khía cạnh như mức sống, sinh kế, tăng trưởng kinh tế nói chung và khả năng
dễ bị tổn thương của con người Cũng giống như
ở các nước phát triển, người dân ở những quốc gia nghèo khó nhất sẽ phải đối phó với những hậu quả của biến đổi khí hậu Tuy nhiên, có hai sự khác biệt quan trọng Thứ nhất, các quốc gia đang phát triển
ở vùng nhiệt đới và cận nhiệt đới sẽ phải đối mặt với những ảnh hưởng của biến đổi khí hậu vào loại khắc nghiệt nhất Thứ hai là, những nguy cơ ngày càng gia tăng đi kèm với biến đổi khí hậu sẽ
để lại dấu ấn nặng nề hơn lên các xã hội đặc biệt nghèo đói và dễ bị ảnh hưởng Trong khi chính phủ các nước phương Bắc có tiềm lực về tài chính, công nghệ và nhân lực để đối phó với những rủi
ro về biến đổi khí hậu mà người dân của họ đang phải đối mặt, thì ở những nước đang phát triển tình hình căng thẳng hơn nhiều
Việc thích ứng với biến đổi khí hậu vẫn chưa phải là một kịch bản trong tương lai của các nước đang phát triển Tuy vậy nó vẫn đang xảy ra từng
Các quốc gia đang phát triển lại là những nước sẽ phải đối mặt với những gánh nặng to lớn và xuất hiện sớm nhất,
có tác động tiêu cực đến các khía cạnh như mức sống, sinh kế, tăng trưởng kinh tế nói chung và khả năng dễ bị tổn thương của con người
Trang 10ngày từng giờ – cũng giống như ở các nước giàu
Nhưng công tác thích ứng ở nước nghèo và nước giàu thì lại tương phản nhau một trời một vực Ở London và New York, người dân đang được bảo vệ trước những rủi ro liên quan đến vấn đề mực nước biển dâng cao nhờ vào các khoản đầu tư của nhà nước vào cơ sở hạ tầng Ở những quốc gia nghèo bậc nhất thế giới, công tác thích ứng chủ yếu là vấn
đề tự lực của mỗi cá nhân Hàng triệu người chỉ
có vừa đủ cơm ăn, áo mặc và nơi cư ngụ cho gia đình mình, vậy mà hiện vẫn buộc phải bỏ tiền bạc
và công sức lao động của mình vào công tác thích ứng với biến đổi khí hậu Dưới đây là một số ví dụ của cuộc đấu tranh này:
xảy ra khiến cho những người phụ nữ phải đi
bộ xa hơn để lấy nước sinh hoạt, thường là từ 15km một ngày Điều này mang lại rủi ro về an ninh cho bản thân những người phụ nữ, khiến cho các em gái không được đến trường và bản thân đó là một công việc hết sức nặng nhọc – bởi một can nhựa đổ đầy 20 lít nước có thể nặng
nữ sống trong các ngôi làng ở Châu thổ sông Hằng đang phải dựng nên những tháp cao bằng tre gọi là machan để làm chỗ lánh nạn khi lũ lụt kéo đến Ở quốc gia Băng-la-đét láng giềng, các cơ quan tài trợ và các Tổ chức phi chính phủ đang làm việc với những người sống tại các vùng được gọi là chars, tức những cồn đất có nguy cơ trở nên biệt lập vào mùa mưa lũ,
để nâng những căn nhà của họ lên cao hơn mực nước lũ bằng cách dời chúng lên trên các cột đỡ
cố lại hệ thống đê điều đã có từ lâu đời để tự bảo
vệ mình chống lại các đợt triều c ường hung dữ hơn trước nhiều Ở vùng Đồng bằng sông Cửu Long, các hợp tác xã nông nghiệp đang thu một loại phí bảo vệ bờ biển, và đang hỗ trợ cho các chương trình trồng rừng đước để ngăn triều
quy mô nhỏ đang tăng lên Những người nông dân ở Ê-cu-a-đo đang đào các ao giữ nước
hình chữ U, được gọi là albarradas, để giữ nước
trong những năm nhiều mưa bổ sung cho mực
Maharashtra, Ấn Độ, những người nông dân đang cố gắng thích ứng với nạn hạn hán ngày càng diễn ra thường xuyên bằng cách đầu tư vào phát triển hệ thống dẫn nước và các cơ sở tích trữ nước quy mô nhỏ để thu gom và tích trữ
hay bị ảnh hưởng lũ đang xây dựng các hệ thống cảnh báo sớm – ví dụ như các tháp canh – và đóng góp nhân công và nguyên vật liệu để gia cố các bờ kè giữ không cho các hồ băng bị vỡ
phát triển đang phải đối phó với các nguy cơ liên quan đến khí hậu hiện nay chỉ với những công nghệ canh tác truyền thống hết sức thô
sơ Ở Băng-la-đét, những người phụ nữ nông dân đang xây dựng các ‘khu vườn nổi’ – những chiếc bè kết bằng cây dạ lan hương, trên đó có thể trồng các loại rau ngay ở các vùng lũ Ở Sri Lanka, những người nông dân đang thử nghiệm với các giống lúa mới có thể chịu được
Trên đây không có trường hợp nào cho thấy việc thích ứng là có nguyên nhân trực tiếp từ biến đổi khí hậu Không thể nào thiết lập được mối quan hệ nhân quả giữa các hiện tượng khí hậu
cụ thể với chiều hướng nóng lên toàn cầu Trên thực tế chỉ có một mối liên hệ rất có khả năng tồn tại, giữa biến đổi khí hậu và các loại hiện tượng khí hậu buộc con người phải thích ứng – hạn hán, khan hiếm nước, bão tố và sự biến đổi của thời tiết Mọi cố gắng định lượng xem có bao nhiêu phần trong mối nguy cơ xảy ra các hiện tượng trên là do biến đổi khí hậu gây ra sẽ chỉ là một công việc vô vọng Còn việc lờ đi các chứng cứ cho thấy sự gia tăng một cách có hệ thống của các rủi ro thì lại là một cách đánh giá thiển cận
Bản thân sự nghiệp phát triển con người là nền móng vững chắc nhất trong quá trình thích ứng với biến đổi khí hậu Các chính sách khuyến khích sự phát triển bình đẳng và sự đa dạng hoá các sinh kế, mở rộng cơ hội về chăm sóc sức khoẻ
và giáo dục, bảo hiểm xã hội cho các đối tượng dân cư dễ bị ảnh hưởng nhất, cải thiện công tác ứng phó với thiên tai và công tác hỗ trợ phục hồi sau thiên tai, tất cả sẽ giúp nâng cao sức đề kháng cho những người nghèo khi phải đối mặt với các rủi ro về khí hậu Đó là lý do vì sao kế hoạch thích
Trang 11ứng với biến đổi khí hậu không nên được coi là
một loại chính sách công mới, mà nó là một bộ
phận không thể tách rời của các chiến lược xoá
đói giảm nghèo và phát triển con người có quy
mô bao quát hơn
Một công tác hoạch định thích ứng với biến
đổi khí hậu hợp lý sẽ không làm cho những vấn
đề gắn liền với bất bình đẳng và tụt hậu trầm
trọng thêm Bài học ở Kê-ni-a đã chỉ cho ta thấy
điều này Đối với 2 triệu dân chăn thả gia súc của
Kê-ni-a, việc ngày càng thường xuyên phải đối
mặt với tình hình khô hạn thực sự là một mối
đe doạ to lớn Tuy nhiên, mối đe doạ này càng
trở nên trầm trọng hơn bởi các yếu tố bên ngoài
khác, đang làm cho sinh kế của những người
chăn thả gia súc ngày một khó khăn hơn Trong
đó bao gồm các chính sách thiên vị hình thức
nông nghiệp định canh, tư nhân hoá quyền sử
dụng nước và coi nhẹ các quyền theo phong tục
tập quán của những người dân du mục Lấy một
ví dụ, ở vùng Wajir phía bắc Kê-ni-a, việc mở rộng
diện tích đất trồng trọt vào các bãi chăn thả gia
súc đã làm diện tích đồng cỏ chăn nuôi bị thu hẹp,
cản trở các con đường di chuyển của người dân
chăn thả gia súc, và làm đảo lộn cách thức chia
sẻ nước truyền thống, dẫn đến thiếu cỏ cho chăn
Xây dựng khung chính sách
thích ứng quốc gia
Không có một công thức chung nào cho sự thành
công của quá trình thích ứng Các quốc gia đối
mặt với các loại hình và mức độ rủi ro khác nhau,
xuất phát điểm khác nhau về trình độ phát triển
con người và tiềm năng công nghệ và tài chính
Trong khi các chính sách phát triển con
người là nền móng vững chắc nhất cho quá
trình thích ứng, thì ngay cả chương trình phát
triển con người hiệu quả nhất đi nữa cũng phải
tính đến các rủi ro về biến đổi khí hậu đang nổi
lên Những rủi ro này sẽ làm tăng vọt những tổn
thất gây ra bởi những thất bại trong những chính
sách trước đây và sẽ đòi hỏi phải có sự đánh giá
lại chương trình phát triển con người hiện nay,
đặt ra đòi hỏi số một là phải lồng ghép các kịch
bản về biến đổi khí hậu vào các chương trình
quốc gia có quy mô bao quát hơn
Cho đến nay các kế hoạch thích ứng mới chỉ
là một hoạt động ngoài rìa ở hầu hết các các quốc gia đang phát triển Đối với các nước bắt đầu vạch ra được các chiến lược thích ứng thì trọng tâm cũng đều tập trung vào phát triển cơ sở hạ tầng đối phó với khí hậu Lẽ dĩ nhiên, đây là một lĩnh vực trọng yếu Nhưng công tác thích ứng không đơn giản chỉ là phát triển cơ sở hạ tầng
Nên bắt đầu bằng việc lồng ghép hoạt động đánh giá các rủi ro liên quan đến biến đổi khí hậu vào trong mọi khía cạnh của hoạch định chính sách
Đến lượt nó, công tác quản lý rủi ro đòi hỏi các chiến lược xây dựng môi trường bền vững phải được lồng ghép vào trong các chính sách công
Đối với những quốc gia mà năng lực của chính phủ còn hạn chế thì đây quả là một nhiệm vụ rất nặng nề
Người ta chưa lường trước hết được mức
độ quan trọng của nhiệm vụ này Ở Ai Cập, nếu nước biển dâng lên 0,5 mét thì thiệt hại về kinh
tế sẽ lên đến hơn 35 tỷ Đô-la Mỹ và sẽ phải di dời
pháp về thể chế thông qua một cuộc đối thoại liên
Thiếu hụt thông tin về khí hậu ở Châu Phi Hình 4.2
Nguồn: Tính toán từ WMO 2007 và UN 2007b.
Số trạm quan trắc khí tượng trên diện tích 10.000km 2
Ni-giê Xu-
đă Tan-da-nia Mô-d ăm-bích Trung bình
củ a Châu Phi
Cu Ba Vươ
ng qu
ốc Anh Hà Lan
0 3 6 9 12 15
Trang 12để trên mọi khía cạnh của nền kinh tế.
đây cũng vậy, sự biến đổi khí hậu đe doạ nhiều lĩnh vực khác nhau Ví dụ như ngành đánh bắt thuỷ sản Chế biến cá thương phẩm là một trong những ngành kinh tế chủ lực của Nam-mi-bi-a:
nó chiếm tới một phần ba tổng kim ngạch xuất khẩu của nước này Một trong những nguồn cung cấp cá dồi dào cho Nam-mi-bi-a là dòng biển Benguela – một dòng hải lưu lạnh chảy dọc theo bờ biển nước này Cùng với việc nước biển
ở đây ấm lên, người ta ngày càng lo ngại rằng các chủng loại cá được đánh bắt chủ yếu sẽ di trú xuống phía nam Điều này đặt ra một thách thức thích ứng to lớn cho ngành đánh bắt thuỷ sản Khi tính đến những bất trắc này, liệu Nam-mi-bi-a có nên tăng cường đầu tư cho ngành chế biến cá hay không? Hay là họ nên đa dạng hoá nền kinh tế?
Được điều chỉnh tuỳ theo hoàn cảnh từng quốc gia, đó là những loại câu hỏi đang được đặt
ra cho các chính phủ và nhà đầu tư tại các nước đang phát triển Để có thể trả lời cho những câu hỏi này cần phải tăng cường mạnh mẽ năng lực đánh giá rủi ro và lập kế hoạch tăng cường khả năng chống đỡ Mặc dù đang có một động thái hợp tác quốc tế nổi lên thông qua các cơ chế như Quỹ Môi trường Toàn cầu (GEF), thì phản ứng này vẫn còn chưa được đầu tư đúng mức, phối hợp lỏng lẻo và quản lý yếu kém
Để công tác hoạch định thích ứng được thành công đòi hỏi một sự cải biến về chất trong các hoạt động của chính phủ Chỉ có các biện pháp đối phó tức thời thì chắc chắn là chưa đủ, vì các biện pháp đối phó không thể giải quyết được các tác động biến đổi khí hậu xuyên biên giới thông qua
cơ chế hợp tác toàn khu vực Nhưng cần nhất là phải có một cải biến trong công tác hoạch định
về phát triển con người và xoá đói giảm nghèo
Tăng cường khả năng chống đỡ và đối phó cho những người nghèo khó nhất và các bộ phận dân chúng dễ bị ảnh hưởng khác trong xã hội sẽ đòi hỏi nhiều hành động thiết thực hơn là những cam kết hào phóng nhằm thực hiện các Mục tiêu Phát triển Thiên niên kỷ và tăng trưởng vì người nghèo Nó đòi hỏi một sự đánh giá lại cơ bản các
chiến lược xoá đói giảm nghèo được hỗ trợ cam kết nâng cao tính công bằng trong quá trình giải quyết những bất bình đẳng xã hội
Cũng giống như trong các lĩnh vực khác, các chính sách thích ứng dễ trở nên thành công
và đáp ứng được nhu cầu của những người dân nghèo khi tiếng nói của họ có tác động định hình
và đặt ra ưu tiên cho các chính sách Tổ chức
bộ máy chính phủ có tinh thần trách nhiệm cao, cùng với người dân được trao thêm quyền lực
để cải thiện cuộc sống của chính mình là những điều kiện cần thiết cho công tác thích ứng, cũng như cho công tác phát triển con người, đi đến thành công Nền tảng để hoạch định chính sách thích ứng thành công có thể được tóm lược trong
• Institution: các thể chế quản lý rủi ro thiên tai
Thông tin về các rủi ro khí hậu
Trong công tác hoạch định cho thích ứng với biến đổi khí hậu, thông tin là sức mạnh Những nước thiếu khả năng và nguồn lực theo dõi các tình hình khí tượng, dự báo tác động và đánh giá rủi ro sẽ không thể cung cấp cho người dân của mình những thông tin đáng tin cậy – và sẽ càng không thể định hướng cho các khoản đầu tư và chính sách của chính phủ nhằm giảm thiểu nguy
cơ tổn thương
Trên cấp độ toàn cầu, có một mối quan hệ theo tỷ lệ nghịch giữa thông tin và mức độ tiếp xúc với các rủi ro liên quan đến biến đổi khí hậu IPCC công nhận rằng các mô hình khí hậu hiện nay ở châu Phi không cung cấp được đầy đủ các thông tin để thu thập số liệu về lượng mưa, về phân bố địa lý của các xoáy thuận nhiệt đới và sự xuất hiện của các đợt hạn Một trong những lý do
là vùng này có mật độ các trạm khí tượng thấp nhất trên thế giới, trung bình 25.460 km² mới có một trạm – chỉ bằng một phần tám mức tối thiểu
do Tổ chức Khí tượng Thế giới (WMO) khuyến
trạm khí tượng – cao gấp bốn lần mức tối thiểu của WMO (Hình 4.2)
Các chính sách thích ứng
dễ trở nên thành công và
đáp ứng được nguyện vọng
của những người dân nghèo
khi tiếng nói của họ có tác
động định hình và đặt ra ưu
tiên cho các chính sách
Trang 13Sự bất bình đẳng trong cơ sở hạ tầng quan trắc
khí hậu có liên quan mật thiết tới nhiều vấn đề bất
bình đẳng khác Các cơ hội giáo dục và đào tạo là
hết sức thiết yếu để phát triển cơ sở hạ tầng khí
tượng và tiến hành các nghiên cứu phù hợp Ở
những nước mà giáo dục trung học và đại học còn
chưa phổ biến, nguồn nhân lực cho những hoạt
động này thường xuyên thiếu thốn Có thể nhận
thấy bằng chứng về điều này qua sự phân bố của
các công trình nghiên cứu quốc tế đã được đăng
tải Trong khi châu Âu và Bắc Mỹ chiếm đến hai
phần ba tổng số công trình nghiên cứu được đăng
trên hai tờ báo lớn về khí hậu, thì châu Phi chỉ
Những hạn chế về tài chính lại càng nới rộng
sự bất bình đẳng trong việc tiếp cận với thông tin
Các nước phát triển có khả năng đầu tư mạnh tay
hơn nhiều so với các quốc gia nghèo, vào việc thu
thập và phân tích các thông tin về khí tượng, qua
đó cung cấp cho các ngành nhạy cảm với khí hậu
một lượng thông tin ổn định Lấy một ví dụ, nông
dân Pháp được hưởng lợi từ một mạng lưới khí
tượng hàng năm đầu tư 388 triệu Đô-la Mỹ vào
việc quan trắc và phân tích khí hậu, sử dụng một
trong những hệ thống dự báo tiên tiến nhất trên
90% dân số sinh sống bằng nghề nông, ngân sách
quốc gia dành cho khí tượng năm 2005 chỉ vỏn
vẹn hai triệu Đô-la Đối với tiêu chuẩn của vùng
Châu Phi Cận Sahara, thì được như Ê-ti-ô-pi-a vẫn
còn là khá may mắn: ở Ma-la-uy, ngân sách dành
cho khí tượng năm 2005 chỉ được gần một triệu
Pháp vượt quá kinh phí dành cho công tác quan
trắc và phân tích khí hậu của toàn vùng Châu Phi
Năng lực quan trắc và dự báo khí hậu có thể
đóng một vai trò quan trọng đối với sự đảm bảo
sinh kế của người dân Đối với những người sản
xuất nông nghiệp, sự cảnh báo sớm về những thay
đổi đột ngột trong tình hình mưa hoặc nhiệt độ có
ảnh hưởng quyết định đến việc một vụ mùa sẽ
thất bát hay bội thu Sử dụng các hệ thống dự báo
theo mùa và phổ biến những thông tin này một
cách có hiệu quả có thể cho phép những người
nông dân theo dõi được những hiểm hoạ có khả
năng xảy ra và tìm cách đối phó bằng cách điều
chỉnh các quy trình canh tác hoặc thay đổi cơ cấu
đã cho thấy có sự tăng trưởng trong sản lượng thu hoạch và thu nhập ở những địa phương mà thông tin khí tượng phục vụ nông nghiệp được đưa vào
Bài học của Ma-li cho thấy thu nhập thấp không nhất thiết sẽ là rào cản của những biện pháp đúng đắn Trong trường hợp này, chính phủ, những người nông dân cùng với các nhà khí hậu học đã cùng hợp tác để thu thập và phổ biến thông tin theo hướng hỗ trợ cho những người sản xuất nông nghiệp dễ bị ảnh hưởng, làm giảm rủi ro
và những bất trắc liên quan đến việc lượng mưa biến đổi thất thường Ở các nước khác, thông tin
về khí hậu thì ít sẵn có hơn, và những thông tin sẵn có thì thường không được phổ biến một cách công bằng hoặc không được trình bày dưới dạng phù hợp và tiện lợi cho những người nông dân
và những người sử dụng khác Nói chung thì các nhà sản xuất nông nghiệp thương phẩm quy mô lớn thường được tiếp cận với những thông tin khí tượng có chất lượng, còn những người sản xuất nhỏ ở các vùng đang phải đối mặt với những rủi
ro khí hậu nghiêm trọng nhất thì lại đang ở trong tình trạng ‘đói thông tin.’
Nâng cao năng lực quan trắc khí tượng sẽ cần đến sự hợp tác quốc tế Nhiều quốc gia đang phát triển thiếu cả tiềm lực tài chính lẫn công nghệ
để có thể đẩy mạnh các hoạt động quan trắc khí tượng Tuy nhiên nếu việc tiếp cận với thông tin không được cải thiện, chính phủ và nhân dân ở khắp các nước đang phát triển sẽ bị khước từ cơ hội xây dựng các chiến lược thích ứng với biến đổi khí hậu có hiệu quả
Tuy nhiên, cũng đã có những bước phát triển đáng khích lệ Tại phiên họp thượng đỉnh của G8
Nếu việc tiếp cận với thông tin không được cải thiện, chính phủ và nhân dân ở khắp các nước đang phát triển sẽ bị khước từ cơ hội xây dựng các chiến lược thích ứng với biến đổi khí hậu có hiệu quả
Trang 14tại Gleneagles vào năm 2005, các nhà lãnh đạo G8
đã công nhận tầm quan trọng của công tác bồi dưỡng năng lực quan trắc khí hậu Họ đã cam kết củng cố các cơ sở hạ tầng quan trắc khí hậu hiện
có ở châu Phi và giúp vùng này được hưởng lợi ích
từ việc hợp tác quốc tế thông qua Hệ thống Quan trắc Khí hậu Toàn cầu (GCOS), với “mục tiêu là phát triển các trung tâm quan trắc khí hậu khu
Phần Lan đã tích cực hỗ trợ việc phát triển cơ sở
hạ tầng khí tượng tại khu vực Đông Phi Ở Anh, Trung tâm Hadley của Văn phòng Khí tượng đã phát triển một mô hình giám sát khí hậu chi phí thấp, độ phân giải cao và cung cấp miễn phí, kèm theo công tác đào tạo và hỗ trợ, cho 11 trung tâm
Cho dù những sáng kiến trên rất đáng khích lệ, những biện pháp ứng phó của quốc tế nhìn chung vẫn còn thấp hơn nhiều so với mức cần thiết Dựa trên những cam kết của G8, Uỷ ban Kinh tế Châu Phi và WMO đã cùng xây dựng nên các kế hoạch đòi hỏi một khoản đầu tư khiêm tốn là 200 triệu Đô-la Mỹ trong vòng 10 năm để nâng cao năng lực quan trắc và mở rộng cơ sở hạ tầng khí tượng của
sự hỗ trợ từ phía những nhà tài trợ còn rất hạn chế
Các nguồn lực mới chỉ được huy động cho những chương trình bước đầu – và G8 đã không theo dõi tiến độ triển khai trong các cuộc họp thượng đỉnh tiếp theo Trong một đánh giá tiến độ cho đến thời điểm này, Diễn đàn Hợp tác Châu Phi (APF) đã kết luận: “Bất chấp cam kết của G8 và sự ủng hộ mạnh
mẽ từ phía các tổ chức chủ chốt của châu Phi việc đầu tư kinh phí cho chương trình này vẫn chưa
Cơ sở hạ tầng đối phó với khí hậu
Trong suốt lịch sử, các cộng đồng dân cư đã cố gắng tự bảo vệ mình chống lại sự thay đổi thất thường của khí hậu bằng cách xây dựng cơ sở hạ tầng, ví dụ như các hệ thống phòng chống lũ lụt và tiêu thoát nước, xây dựng hồ chứa nước, đào giếng
và các kênh mương thuỷ lợi Không có cơ sở hạ tầng nào có thể đối phó một cách tuyệt đối trước các tác động của khí hậu Điều mà những khoản đầu tư vào cơ sở hạ tầng có thể làm được là nâng cao phần nào khả năng đề kháng, cho phép các nước và người dân của họ quản lý rủi ro và giảm thiểu nguy cơ thiệt hại
Biến đổi khí hậu có những tác động quan trọng đối với hoạch định đầu tư cho cơ sở hạ tầng Tất cả các yếu tố như mực nước biển dâng cao, nhiệt độ tăng, cùng với tần suất lũ lụt và bão đều ảnh hưởng đến tuổi thọ của các công trình đầu
tư này Các hướng tiếp cận hiện nay trong công tác hoạch định thích ứng ở rất nhiều nước đang phát triển đều tập trung vào khả năng ‘chống chịu khí hậu’ của các công trình đầu tư hiện có trước các rủi ro ngày càng gia tăng Những ví
dụ sau đây, trích ra từ các Chương trình Hành động Thích ứng Quốc gia (NAPA), minh hoạ cho những hướng tiếp cận này:
tư 10 triệu Đô-la Mỹ để xây dựng các cửa chắn
và cống dẫn nước cho các mạng lưới đường
sá mới được sửa sang lại, đó là chưa tính đến nguy cơ lũ lụt ngày càng gia tăng
Mỹ đã được chính phủ xác định nhằm tạo một vùng đệm ven biển ở các khu vực dễ bị ảnh hưởng bởi nước dâng trong bão, với một khoản đầu tư bổ sung trị giá 6,5 triệu Đô-la
Mỹ để đối phó với các ảnh hưởng của việc đất ven biển ngày càng bị nhiễm mặn Trên lĩnh vực giao thông vận tải, chính phủ Băng-la-đét ước tính rằng để tôn hệ thống đường bộ có tổng chiều dài 800km lên cao thêm từ 0,5-1 mét để đối phó với tình hình mực nước biển dâng cao sẽ tốn tới 128 triệu Đô-la Mỹ trong vòng 25 năm
rằng cần một khoản ngân quỹ 11 triệu Đô-la
Mỹ để đầu tư cho các dự án đối phó với nạn thiếu nước và nguy cơ lũ lụt thông qua các biện pháp xử lý vấn đề xói mòn đất
Hướng tiếp cận theo kiểu dự án trong quá trình hoạch định thích ứng được các Chương trình Hành động Thích ứng Quốc gia đặt ra, chỉ tập trung vào giải quyết những nhu cầu bức thiết trước mắt, và do vậy không cho thấy hết được quy
mô đầu tư cần thiết để có thể ‘chống chịu khí hậu’ một cách có hiệu quả Ở Việt Nam, các cơ quan của LHQ và Bộ NN&PTNT đã cùng vạch ra một chiến lược toàn diện nhằm giảm nguy cơ thiên tai ở khu vực Đồng bằng sông Cửu Long Chiến lược này được xây dựng dựa trên việc đánh giá tình hình các khu vực dân cư và khu vực sinh thái dễ bị tổn thương do biến đổi khí hậu, trong đó
Các hướng tiếp cận hiện nay
trong công tác hoạch định
thích ứng ở rất nhiều nước
đang phát triển đều tập trung
vào khả năng ‘chống chịu
khí hậu’ của các công trình
đầu tư hiện có trước các
rủi ro ngày càng gia tăng
Trang 15việc hoạch định thích ứng được lồng ghép vào một
chương trình lớn hơn, đó là quản lý khu vực ven
biển Nó bao gồm các khoản đầu tư nhằm gia cố
các hệ thống thoát nước, đê đập và mương máng
xung quanh các khu vực dân cư và vùng nông
nghiệp, và hỗ trợ cho việc hồi phục các khu rừng
đước Tổng chi phí đầu tư cơ bản vào khoảng 1,6
tỷ Đô-la Mỹ cho giai đoạn 2006-2010 và khoảng 1,3
Chiến lược giảm thiểu rủi ro thiên tai của Việt
Nam ở Đồng bằng sông Cửu Long minh hoạ ba
điểm quan trọng và có thể ứng dụng chung cho các phương pháp tiếp cận trong công tác thích ứng
Thứ nhất là việc hoạch định thích ứng có hiệu quả
ở những khu vực có rủi ro khí hậu cao cần những khoản đầu tư thường là vượt quá khả năng tài chính của hầu hết các chính phủ nếu tiến hành một cách đơn độc Thứ hai là hoạch định thích ứng cần được thực hiện trong một thời gian dài – 15 năm trong trường hợp vùng sông Cửu Long Thứ
ba là, hoạch định thích ứng khó có thể thành công nếu nó chỉ được tiến hành riêng lẻ Ở Việt Nam,
Các vùng châu thổ ở Băng-la-đét đang đứng đầu trận tuyến biến đổi khí hậu
Nằm ở châu thổ sông Hằng-Brahmanputra, các cù lao và các vùng đất châu
thổ trũng – được gọi là char – là nơi cư ngụ của hơn 2,5 triệu người dân dễ bị
ảnh hưởng và phải chung sống với rủi ro lụt lội rất cao Yêu cầu phát triển con
người bằng cách giúp đỡ các cộng đồng này thích ứng với các nguy cơ ngày
càng tăng cao do biến đổi khí hậu gây ra đã được công nhận từ lâu Nhưng các
thử nghiệm hiệu quả kinh tế và rất sáng tạo đang cho thấy rằng thích ứng còn
có ý nghĩa về kinh tế nữa
Cuộc sống của người dân sống trong các vùng char gắn liền chặt chẽ với
dòng chảy của các con sông – và với các đợt lũ Ngay chính các vùng char này
cũng đang chịu sự xói lở và tái kiến tạo thường xuyên, khi mà các con sông cuốn
trôi đất và bồi tích phù sa Hàng loạt các cù lao đang trở nên mong manh hơn
trước xói lở và lũ lụt, mặc dù những người dân sống hai bên bờ các con sông
không được bảo vệ thì cũng đang phải đối mặt với các rủi ro đặc biệt
Khả năng đối phó bị hạn chế bởi sự đói nghèo Đặc điểm nổi bật ở các
khu vực ven sông ở Băng-la-đét là mức độ nghèo khổ cao Hơn 80% số người
sống trong cảnh đói nghèo cùng cực (xem bảng) Các chỉ số về dinh dưỡng,
tỷ lệ chết ở trẻ em và y tế công cộng nằm trong số thấp nhất trên cả nước Lũ
lụt là một đe doạ thường trực Người dân đối phó bằng cách xây dựng đê điều
và kênh rạch xung quanh các vùng đất canh tác – và bằng cách dựng lại nhà
cửa sau khi chúng bị phá huỷ đi Thậm chí các trận lụt nhỏ cũng gây ra mức độ
thiệt hại to lớn Các thiên tai lớn – như các trận lụt vào năm 1998 và 2004 – đã
huỷ hoại sản xuất nông nghiệp và nhà cửa của người dân trên diện rộng, đồng
thời biệt lập các cộng đồng dân cư bị ảnh hưởng khỏi dịch vụ y tế và các dịch
vụ công thiết yếu khác
Chính phủ, các nhà tài trợ và các cộng đồng dân cư địa phương đã phát
triển một loạt các hướng tiếp cận để giảm thiểu nguy cơ thiệt hại Bảo vệ nhà
cửa đã được xác định là một ưu tiên Trong khuôn khổ Chương trình Sinh kế
các vùng Char, một dự án thử nghiệm xây nhà ‘chịu được lũ’ để đối phó với
những cơn lũ có chu kỳ 20 năm (hầu hết nhà cửa hiện nay đều dễ bị thiệt hại
trước những trận lụt có chu kỳ hai năm) Mục tiêu là đắp các nền đất cao trên
đó có thể xây nhà được cho bốn hộ dân, xung quanh trồng cây cỏ để chống xói
mòn đất Bơm tay và hố vệ sinh được trang bị để phục vụ nhu cầu nước sạch
và vệ sinh Cho đến nay, khoảng 56.000 người dân các khu vực char đã tham
gia vào chương trình tái thiết nhà cửa này
Lợi ích đối với những người tham gia chương trình là giảm thiệt hại trước
lũ lụt Nhưng liệu nó có ý nghĩa về kinh tế không khi nhân rộng sáng kiến này
lên cho tất cả 2,5 triệu người dân vùng char? Sử dụng thông tin từ người dân địa phương để ước tính độ cao phù hợp cho các nền đất, để xác định loại vật liệu phù hợp với việc hạn chế xói lở đất và dự kiến các thiệt hại trong tương lai theo các kịch bản biến đổi khí hậu khác nhau, các nhà nghiên cứu đã sử dụng biện pháp phân tích chi phí - lợi ích để đánh giá hiệu quả tiềm năng
Kết quả cho thấy đầu tư sẽ đem lại hiệu quả kinh tế cao Để tạo ra 125.000 nền đất cao cần thiết để bảo vệ tất cả số người dân sống ở các vùng char trước các trận lụt chu kỳ 20 năm sẽ cần 117 triệu Đô-la Mỹ Tuy nhiên, mỗi 1 Đô-la
Mỹ đầu tư vào đó sẽ có thể bảo vệ được khoảng 2-3 Đô-la giá trị tài sản và sản xuất có thể bị thiệt hại do các trận lụt trong tương lai gây ra Những con số này còn chưa tính đến những lợi ích to lớn hơn về phát triển con người Những người dân vùng char nằm trong số những người nghèo nhất Băng-la-đét Do
đó những thiệt hại trong các trận lụt sẽ có tác động vô cùng tiêu cực đến vấn
đề dinh dưỡng, chăm sóc y tế và giáo dục của họ Như đã chỉ ra trong chương
2, các thiệt hại trên các lĩnh vực này có thể đẩy người dân sa vào những vòng quay luẩn quẩn của cảnh cơ cực, làm mất đi những cơ hội phát triển của cả đời
và truyền sự đói nghèo từ thế hệ này sang thế hệ khác Bởi vậy, một nhu cầu khẩn cấp đặt ra là cần hỗ trợ các đánh giá trong nước về chi phí và lợi ích của các phương án thích ứng đã được xác định, và lồng ghép những đánh giá đó vào công tác hoạch định ngân sách quốc gia, hướng đến nhu cầu của những người dân dễ bị ảnh hưởng nhất bởi biến đổi khí hậu
Hộp 4.1 Công tác thích ứng trên các cù lao char ở Băng-la-đét
Năm 2005
Tỷ lệ của
cù lao Char Mức bình quân của Băngla-đét
Tỷ lệ biết chữ (nam từ 10 tuổi trở lên, %) 29 57
Tỷ lệ biết chữ (nữ từ 10 tuổi trở lên, %) 21 46
Tỷ lệ số hộ thiếu an ninh lương thực (%)
Trang 16Phát triển cơ sở hạ tầng có thể là một hướng đi
có hiệu quả về chi phí để nâng cao khả năng quản
lý rủi ro thiên tai Ở các nước giàu, nhận thức rằng trong vấn đề thiên tai thì việc phòng chống có hiệu quả về chi phí cao hơn so với khắc phục hậu quả
đã luôn là một yếu tố quan trọng định hình chiến lược đầu tư cho cơ sở hạ tầng của chính phủ Các nguyên tắc tương tự về phân tích chi phí - lợi ích cũng đúng đối với các nước đang phát triển Một nghiên cứu trên quy mô toàn cầu gần đây đã ước tính rằng cứ 1 Đô-la Mỹ đầu tư cho công tác quản
lý rủi ro trước thiên tai ở các nước đang phát triển
sẽ bảo vệ được 7 Đô-la Mỹ khỏi thiệt hại do thiên
định câu chuyện về chi phí - lợi ích này Ở Trung Quốc, việc chi 3 tỷ Đô-la Mỹ vào việc phòng chống
lũ lụt trong vòng bốn thập kỷ (tính đến năm 2000)
đã giúp nước này tránh được thiệt hại trị giá 12 tỷ
đước được thiết kế để bảo vệ các cộng đồng dân
cư sống ven bờ biển khỏi các cơn bão biển ở Việt Nam đã cho thấy lợi ích kinh tế của nó cao gấp 52
2020 và năm 2050 theo một loạt các kịch bản biến đổi khí hậu có thể xảy ra Nếu giả định công tác thích ứng bị bỏ ngỏ, tổn thất gây ra do các ‘thảm hoạ có chu kỳ 50 năm’ sẽ lên đến 7% GDP vào năm
2050 Còn nếu công tác thích ứng được thực hiện hợp lý, con số này giảm xuống chỉ còn khoảng
nghiêm trọng về sản xuất nông nghiệp, công ăn việc làm và công tác đầu tư, để lại những hậu quả tiêu cực lên phát triển con người
Cân nhắc đến các yếu tố phân bổ là điều rất thiết yếu cho công tác hoạch định thích ứng Các
chính phủ phải quyết định dứt khoát xem nên phân bổ các nguồn lực đầu tư công vốn rất hạn chế đến những nơi nào Một mối nguy hiển hiện
là nhu cầu thích ứng với biến đổi khí hậu của các cộng đồng tụt hậu sẽ thường bị lờ đi, thay vào đó
là nhu cầu của những nhóm người có thế lực và tiếng nói chính trị lớn hơn
Các chiến lược thích ứng vì người nghèo không thể được xây dựng một cách tách biệt khỏi các chính sách lớn hơn về giảm nghèo và xoá bỏ bất bình đẳng Ở Băng-la-đét, chính phủ và các nhà tài trợ đã bắt đầu xác định các chiến lược thích ứng tiếp cận đến những cộng đồng dân cư
bị tụt hậu nhất của đất nước này, ví dụ như những
người sống ở trên các cù lao char nhiều nguy cơ lũ
lụt Cũng như trong các lĩnh vực khác, ở đây hoàn toàn có thể dựa trên cơ sở phân tích chi phí – lợi ích để thực hiện chính sách thích ứng vì người nghèo: ước tính hiệu quả đầu tư vào các cù lao char là khoảng 3:1 (Hộp 4.1) Lập luận về lợi ích – chi phí lại càng được củng cố bởi các lập luận
về nguyên tắc công bằng cơ bản: 1 Đô-la Mỹ trong thu nhập hộ gia đình của những người thuộc diện nghèo nhất Băng-la-đét có ý nghĩa lớn hơn nhiều
so với 1 Đô-la Mỹ mà các nhóm người thu nhập cao tiết kiệm được
Cơ sở hạ tầng cho công tác quản lý nước có thể đóng một vai trò quan trọng trong việc cải thiện – hoặc thu hẹp – các cơ hội phát triển con người Một
bộ phận những người nông dân thuộc dạng nghèo khó nhất thế giới sẽ phải đối mặt với các thách thức nghiêm trọng trong việc thích ứng với biến đổi khí hậu Khi sinh kế của họ phụ thuộc vào mùa mưa và lượng mưa, nhiệt độ và chế độ dòng chảy, những người dân nghèo sống ở nông thôn sẽ phải đối mặt với những rủi ro ngay trước mắt, trong khi chỉ có trong tay nguồn lực rất hạn chế Điều này đặc biệt đúng đối với những người nông dân phải phụ thuộc vào các cơn mưa tự nhiên nhiều hơn là hệ thống thuỷ lợi để phục vụ sản xuất nông nghiệp Hơn 90% nền nông nghiệp của vùng châu Phi cận Sahara nằm ở dạng này Hơn nữa, vùng này cũng có tỷ lệ chuyển hoá nước mưa thành dòng chảy thấp nhất, một phần là vì quá trình bốc hơi diễn ra nhanh chóng và nơi đây không
hệ thống thuỷ lợi rộng khắp hơn, nhưng hai phần
ba số nông dân của khu vực này sản xuất nông nghiệp phụ thuộc vào nước
Một mối nguy hiển hiện là
nhu cầu thích ứng với biến
đổi khí hậu của các cộng
đồng tụt hậu sẽ thường
bị lờ đi, thay vào đó là
nhu cầu của những nhóm
người có thế lực và tiếng
nói chính trị lớn hơn
Trang 17Những người sản xuất nông nghiệp canh tác
ở các vùng thiếu nước tưới tiêu và phải dựa vào
nước mưa đã phải tự đầu tư công sức vào xây dựng
các hệ thống tích trữ nước để chứa nước mưa Khi
quá trình biến đổi khí hậu càng làm cho các rủi
ro trầm trọng thêm, một trong những thách thức
cho công tác hoạch định thích ứng chính là hỗ trợ
cho các nỗ lực này Ở rất nhiều nước, sự phát triển
của hệ thống thuỷ lợi cũng có vai trò nhất định
Vào năm 2005, Uỷ ban Kinh tế Châu Phi đã kêu
gọi tăng gấp đôi diện tích đất trồng trọt được tưới
tiêu cho đến năm 2015 Tăng cường tận dụng hệ
thống thuỷ lợi sẽ có thể đồng thời tăng sản lượng
và làm giảm rủi ro khí hậu Tuy nhiên, các đề án
trong lĩnh vực này cũng lại phải tính đến tác động
của biến đổi khí hậu trong tương lai đối với trữ
lượng nước sẵn có
Bên cạnh công tác thuỷ lợi còn có nhiều cơ hội
khác để đẩy mạnh quá trình tích trữ nước, đặc biệt
là ở những quốc gia có lượng mưa dồi dào nhưng
lại tập trung như Ê-ti-ô-pi-a, Kê-ni-a và
nguồn nước khá dồi dào, nhưng lại có khả năng
lưu giữ nước vào hàng thấp nhất trên thế giới:
50m3/người so với 4.700m3/người ở Úc Ở những
nước còn yếu về khả năng tích trữ nước, thậm chí
việc lượng mưa gia tăng cũng không giúp tăng
cường được trữ lượng nước sẵn có, mà ngược lại
nó còn dễ khiến cho mức độ dòng chảy và nguy cơ
lũ lụt gia tăng cao hơn
Bài học từ Ấn Độ rất đáng để tham khảo Cũng
như ở các nơi khác, nơi đây sự biến đổi khí hậu
sẽ tạo thêm nhiều gánh nặng cho tình hình khan
hiếm nước vốn đã rất căng thẳng Trong khi nhìn
chung lượng mưa trung bình được dự kiến là sẽ
tăng lên, thì phần lớn đất nước này lại sẽ nhận
được ít mưa hơn Các cộng đồng địa phương đang
trong quá trình triển khai các giải pháp sáng tạo
để giải toả áp lực về nước Ở Gujarat, nơi những
đợt hạn hán và các vấn đề về công tác quản lý thuỷ
lợi diễn ra dai dẳng đã làm cạn kiệt các mạch nước
ngầm, sáng kiến từ các cộng đồng đã giúp khôi
phục 10.000 con đập chống lũ để tích trữ nước mưa
và nạp lại lượng nước ngầm Các chương trình cấp
quốc gia và cấp bang đang hỗ trợ cho sáng kiến
đến từ các cộng đồng Ở Andhra Pradesh, Chương
trình Hỗ trợ Các vùng có Nguy cơ Hạn hán được
triển khai trên hơn 3.000 lưu vực trữ nước đầu
nguồn, trong đó áp dụng nhiều biện pháp ‘chống
khô hạn,’ bao gồm giữ đất, tích trữ nước và trồng
Hoạch định từ trên xuống dưới, xây dựng các hệ thống thuỷ lợi và tích trữ nước quy mô lớn không phải là liều thuốc tiên cho các rủi ro liên quan đến biến đổi khí hậu đang xuất hiện mà những người sản xuất nông nghiệp đang phải đối mặt Thách thức ở đây là phải hỗ trợ các sáng kiến
từ cộng đồng thông qua các chiến lược ở tầm quốc gia và địa phương nhằm huy động nguồn lực và tạo ra sự khích lệ Một quá trình thích ứng thành công không chỉ nằm ở cơ sở hạ tầng kỹ thuật Nó còn là vấn đề cơ sở hạ tầng đó được xây dựng ở đâu, do ai quản lý và ai được tiếp cận với nguồn nước lưu trữ
Bảo hiểm an sinh xã hội
Biến đổi khí hậu sẽ tạo ra những rủi ro ngày càng trầm trọng đối với cuộc sống và sinh kế của những người dân nghèo Do có hàng triệu người nghèo không thể tự ứng phó được với những rủi ro khí hậu chỉ với nguồn lực của riêng mình, cho nên bất kỳ một chiến lược thích ứng nào cũng đều cần phải nâng cao năng lực quản lý rủi ro Tăng thêm cho người dân khả năng đối phó với các chấn động khí hậu – đặc biệt là các chấn động liên quan đến thiên tai – mà không phải gánh chịu những thiệt hại lâu dài được phân tích ở chương 2 là một điều kiện để đạt được tiến bộ bền vững trong quá trình phát triển con người
Triển vọng thành công của công tác thích ứng với biến đổi khí hậu sẽ bắt nguồn từ những điều kiện phát triển con người Các chính sách công trong các lĩnh vực như y tế, giáo dục, việc làm và hoạch định kinh tế sẽ có thể nâng cao hoặc làm suy giảm khả năng quản lý rủi ro Rốt cuộc thì chính sách công đi tiên phong chống lại các rủi ro biến đổi khí hậu vẫn phải là một chiến lược hiệu quả xoá bỏ đói nghèo và bất bình đẳng sâu sắc An sinh
xã hội là một bộ phận không thể tách rời của bất kỳ một chiến lược nào như vậy
Các chương trình an sinh xã hội có thể bao gồm nhiều hình thức can thiệp khác nhau Chúng bao gồm các chương trình đóng góp qua đó mọi người có thể chia sẻ rủi ro (ví dụ như các quỹ lương hưu, bảo hiểm thất nghiệp) và các khoản trợ cấp từ thuế mang đến một loạt lợi ích cho những người dân nằm trong diện đối tượng Một trong những mục đích bao trùm là ngăn chặn các chấn động
Trang 18“Trước khi có chương trình này chúng tôi chỉ có thể ăn hai bữa một ngày Những
lúc đói kém trước vụ thu hoạch có lẽ chúng tôi chỉ ăn một bữa Bọn trẻ con cũng
phải chịu cảnh cơ cực Đôi khi tôi không thể tiếp tục cho chúng đến trường hay
không đủ tiền mua thuốc khi chúng ốm Tất nhiên cuộc sống còn nhiều vất vả
– nhưng ít nhất thì bây giờ tôi cũng đã có một chút điều kiện để đưa gia đình
vượt qua những giai đoạn khó khăn Hiện tại chúng tôi được ăn uống tốt hơn, tôi
có thể tiếp tục cho đứa con 9 tuổi đến trường, và tôi đang để dành tiền để mua
một con bê.”
Đây là những lời của Debre Wondimi, một người phụ nữ 28 tuổi có bốn đứa
con sống tại woreda (quận) Lay Gant ở vùng Nam Gondar, Ê-ti-ô-pi-a Giống như
hàng triệu người sống trên khắp đất nước này, cuộc sống của cô ấy phải đấu
tranh với hai vấn đề đan xen nguy hiểm là hạn hán và đói nghèo Ngày nay, cô ấy
là thành viên của Chương trình Lưới An ninh Sản xuất (PSNP), một nỗ lực táo
bạo nhằm giải quyết vấn đề an ninh lương thực gây ra bởi khí hậu bất thường
Chương trình này có thể mang lại những bài học quan trọng cho các quốc gia
đang giải quyết những thách thức đối với công tác quản lý rủi ro gây ra bởi biến
đổi khí hậu
Khi lượng mưa sụt giảm ở Ê-ti-ô-pi-a, cuộc sống và thậm chí là mạng sống
của những người như Debre Wondimi và các con của cô cũng bị đứng trước rủi
ro Các đợt hạn hán và đói kém vẫn thường xuyên xảy ra trong suốt lịch sử nước
này Chỉ tính riêng từ năm 2000 đến nay, đã có tới ba đợt hạn hán lớn, bao gồm
một giai đoạn khủng khiếp từ 2002-2003 Những thảm hoạ này càng đè nặng lên
tình hình đói kém nghiêm trọng triền miên Ê-ti-ô-pi-a đứng thứ 169 trên 177 quốc
gia về Chỉ số Phát triển Con người 23% dân số nước này sống dưới 1 Đô-la Mỹ
một ngày, và gần hai phần năm (38%) số trẻ em nước này thiếu cân so với độ
tuổi của chúng.
Vì vậy mất an ninh lương thực là một phần đi liền với nghèo đói ở Ê-ti-ô-pi-a
Từ trước tới nay, cách đối phó với mất an ninh lương thực là xin viện trợ lương
thực Mỗi năm, các nhà tài trợ và chính phủ phải ước tính số lương thực cần thiết
để bù đắp cho lượng thiếu hụt kinh niên, và bổ sung cho số đó thông qua kêu
gọi viện trợ khẩn cấp.
PSNP là một nỗ lực phá bỏ mô hình viện trợ nhân đạo kiểu này Nó là một
chương trình trợ cấp xã hội gắn với việc làm Nó hướng đến những người dân
đang phải đối mặt với mất an ninh lương thực có thể tiên liệu được, tức là do
nghèo đói chứ không phải vì các chấn động khí hậu tạm thời, và nó đảm bảo
việc làm ít nhất là năm ngày/một tháng để đổi lại khoản trợ cấp
lương thực hoặc tiền mặt – trị giá 4 Đô-la Mỹ mỗi tháng cho mỗi
một thành viên trong gia đình Mục tiêu là nâng quy mô chương
trình từ 5 triệu người từ năm 2005 đến 8 triệu người cho đến
2009 Không giống mô hình viện trợ lương thực, PSNP là một
chương trình kéo dài nhiều năm Được đầu tư bởi chính phủ
và các nhà tài trợ, chương trình này sẽ được triển khai trong 5
năm, và sẽ chuyển đổi hình thức hỗ trợ từ viện trợ khẩn cấp rải
rác sang trợ cấp nguồn lực ổn định hơn.
Tính tiên liệu là một trong những nền tảng của PSNP
Chương trình này được khởi xướng một phần là bởi những
lo ngại của Chính phủ Ê-ti-ô-pi-a và cộng đồng các nhà tài trợ
rằng viện trợ khẩn cấp thường không đúng đối tượng, hoặc
thường đến muộn và thất thường Đối với những hộ dân nghèo,
chậm trễ hỗ trợ trong khi hạn hán kéo dài sẽ mang lại những
hậu quả nghiêm trọng cả trước mắt lẫn lâu dài Trong giai đoạn
1983-1984 nó đã dẫn đến cái chết của hàng nghìn người dân dễ bị tổn thương nhất.
Một khác biệt nữa giữa PSNP và chương trình viện trợ lương thực nhân đạo là ở mức độ tham vọng của nó Các mục tiêu của chương trình không chỉ bao gồm ổn định mức tiêu thụ của các hộ bằng cách bổ sung những thiếu hụt trong sản xuất, mà còn bảo vệ tài sản của các hộ dân Trợ cấp tiền mặt được coi
là phương tiện để mua tài sản, tăng cường đầu tư và kích thích thị trường nông thôn, cũng như ngăn chặn việc ‘bán tháo tài sản’ mà sẽ càng đẩy người dân vào cảnh khốn khó hơn.
Chương trình này đã thành công đến đâu? Các đánh giá độc lập cho thấy
có cơ sở để lạc quan vì một số lý do Có bằng chứng thuyết phục cho thấy các khoản trợ cấp này đang đến được với rất nhiều người nghèo và tạo ra sự thay đổi trong cuộc sống của họ (xem bảng) Dưới đây là một số phát hiện của cuộc khảo sát các hộ gia đình về tác động của các khoản trợ cấp của PSNP trong năm đầu tiên thực hiện chương trình:
• Ba phần tư số hộ cho biết rằng họ tiêu thụ nhiều lương thực hơn và chất lượng hơn năm trước, 60% cho biết rằng họ đã có thể giữ lại nhiều lương thực hơn để ăn thay vì phải bán chúng đi để đáp ứng các nhu cầu khác;
• Ba phần năm số đối tượng chương trình tránh khỏi việc bán tài sản để mua lương thực – một giải pháp ‘túng quẫn’ phổ biến – với hơn 90% số đó cho đây là kết quả của PSNP;
• Gần một nửa số đối tượng chương trình cho biết họ sử dụng các dịch vụ
y tế nhiều hơn năm trước; hơn một phần ba số hộ cho nhiều con hơn đến trường và gần một nửa cho con đến trường lâu hơn;
• Khoảng một phần tư số đối tượng chương trình mua được tài sản mới, với 55% trong số đó cho đây là kết quả của PSNP
PSNP cũng đối mặt với một số thách thức Khoảng 35 triệu người Ê-ti-ô-pi-a sống dưới mức nghèo khổ, điều này cho thấy rất nhiều đối tượng tiềm tàng của chương trình hiện chưa được quan tâm tới Các mục tiêu về ‘thoát nghèo’ – tức
là tỷ lệ phần trăm số đối tượng ‘ra khỏi’ chương trình sau 3 năm tham gia – có vẻ
là quá tham vọng Một vấn đề chưa rõ ràng nữa là liệu PSNP sẽ cứ trang bị cho người dân những tài sản và nguồn lực cần thiết để thoát khỏi đói nghèo và lạc hậu mãi mãi hay không Tuy nhiên, giai đoạn đầu triển khai chương trình đã cho thấy triển vọng đây là các can thiệp đúng đối tượng nhằm hỗ trợ các chiến lược đối phó cho các hộ gia đình.
Hộp 4.2 Chương trình Lưới An sinh Sản xuất ở Ê-ti-ô-pi-a
Nguồn: Devereux cùng cộng sự 2006; Chính phủ Ê-ti-ô-pi-a 2006; Menon 2007b; Sharp, Brown và Teshome 2006; Slater cùng cộng sự 2006.
Tác động của lưới an sinh tới con người
Kết quả của chương trình lưới an sinh sản xuất (PSNP)
Tỷ lệ hộ thụ hưởng (%)
Tỷ lệ hộ cho rằng kết quả là nhờ PSNP (tỷ lệ % hộ thụ hưởng)
An ninh lương thực
Tiêu dùng thực phẩm nhiều & chất lượng hơn so với năm ngoái
Duy trì sản xuất để tiêu dùng
74,8 62,4
93,5 89,7
Bảo vệ tài sản
Tránh bán tài sản mua lương thực Tránh dùng tiền tiết kiệm mua lương thực 62,0
35,6
91,3 89,7
Tiếp cận dịch vụ
Sử dụng các cơ sở y tế nhiều hơn năm ngoái Cho con đi học trong thời gian dài hơn năm ngoái
46,1 49,7
75,9 86,5
Tạo ra tài sản
Có thêm tài sản mới
Có thêm kỹ năng & kiến thức mới 23,4
28,6
55,3 85,5
Nguồn: Devereux và cộng sự 2006.
Trang 19tạm thời trở thành tác nhân gây nghèo đói kéo dài
Trong bối cảnh biến đổi khí hậu, các chương trình
an sinh xã hội được triển khai như là một bộ phận
của chiến lược thích ứng rộng lớn hơn có thể đóng
vai trò quan trọng trong việc giúp đỡ người nghèo
ứng phó được với các rủi ro và tránh những bước
lùi về phát triển con người về lâu dài
Như chúng ta đã thấy trong chương 2, chấn
động khí hậu có thể làm suy giảm nhanh chóng
các quyền lợi của những người dân dễ bị ảnh
hưởng thông qua các tác động của nó lên vấn
đề thu nhập, dinh dưỡng, việc làm, y tế và giáo
dục Các biện pháp bảo đảm an sinh xã hội được
thiết kế tốt có thể bảo vệ được các quyền lợi trên
những lĩnh vực này, đồng thời lại tiếp tục phát
triển các cơ hội này lên Những rủi ro biến đổi khí
hậu ngày càng gia tăng và quá trình thích ứng với
những rủi ro này không phải là những động lực
duy nhất để chú trọng hơn vào bảo đảm an sinh
xã hội Trong lĩnh vực này, các chính sách được thiết kế tốt là tối cần thiết cho bất cứ chiến lược quốc gia nào nhằm giảm nhanh đói nghèo, giảm thiểu rủi ro thiệt hại và khắc phục tình trạng tụt hậu của một số vùng Tuy nhiên, biến đổi khí hậu
là nguyên nhân quan trọng để củng cố mạng lưới
an sinh xã hội cho người nghèo, đặc biệt là trong bốn lĩnh vực sau đây:
Các chương trình việc làm Các chương trình
việc làm của nhà nước có thể là một giải pháp để bảo vệ tình trạng dinh dưỡngvà sức khoẻ, tạo công
ăn việc làm và thu nhập cho người dân trong khi các chấn động khí hậu dẫn đến mất việc làm trong ngành nông nghiệp hoặc làm cho lương thực khan hiếm Các chương trình việc làm nhằm hỗ trợ các
Các khoản trợ cấp tiền mặt có điều kiện (CCT) có thể đóng một vai trò quan
trọng trong việc phá vỡ sự liên kết giữa rủi ro và tính dễ bị tổn thương Bằng
cách đặt ra mức đảm bảo thu nhập tối thiểu và mở rộng tiếp cận với các dịch vụ
y tế, giáo dục và dinh dưỡng, CCT có thể nâng cao vị thế cho người nghèo bằng
cách tạo ra cơ sở pháp lý để họ được hưởng các quyền của mình Chương trình
Bolsa Familia của Bra-xin, một trong những chương trình CCT lớn nhất thế giới,
cho thấy ta có thể làm được những gì
Ban đầu được phát triển để ngăn chặn sử dụng lao động trẻ em khi xảy ra
khủng hoảng, hình thức CCT của Bra-xin đã tăng về quy mô đáng kể từ năm
2001 tới 2003 Chương trình đầu tiên có tên Bolsa Escola (trợ cấp tài chính với
điều kiện các phụ huynh tiếp tục đưa con em đến trường) được hỗ trợ bởi ba
chương trình bổ sung Bolsa Alimentação được thiết kế thành một chương trình
trợ cấp tiền hoặc lương thực để giảm suy dinh dưỡng ở các hộ nghèo Auxilio
Gas là một chương trình đền bù cho các hộ nghèo sau khi cắt giảm dần về trợ
cấp khí đốt để nấu ăn, và chương trình Fome Zero được triển khai năm 2003 để
chống lại những trường hợp đói ăn nghiêm trọng nhất ở Bra-xin Bắt đầu từ năm
2003, người ta bắt đầu nỗ lực thống nhất những chương trình CCT khác nhau
này dưới một chương trình lớn duy nhất – chương trình Bolsa Família (BFP)
Các đối tượng của BFP được chọn lọc thông qua một số phương pháp
xác định đối tượng, bao gồm cả đánh giá về địa lý và hộ gia đình dựa trên thu
nhập tính theo đầu người Năm 2006, điều kiện được hưởng là thu nhập trung
bình hộ gia đình ở mức 60 đồng cruzeiro (28 Đô-la Mỹ) đối với hộ nghèo và 120
đồng cruzeiro (55 Đô-la Mỹ) với hộ tương đối nghèo mỗi tháng
Tính đến tháng 6 năm 2006, BFP đã vươn tới 11,1 triệu hộ gia đình hay 46
triệu người dân – tương đương một phần tư dân số Bra-xin và đại đa số người
dân nghèo của nước này Tổng kinh phí ước tính vào khoảng 4 tỷ Đô-la Mỹ,
hay 0,5% GDP của Bra-xin Đây là một chương trình với mức trợ cấp khiêm tốn
nhưng lại tạo ra hiệu quả ấn tượng Một số kết quả thu được:
• Chương trình này hỗ trợ được 100% số gia đình sống dưới mức nghèo khổ chính thức là 55 Đô-la Mỹ một tháng; 73% tất cả các khoản trợ cấp tới được các gia đình nghèo nhất và 94% tới được số gia đình thuộc hai phần năm nghèo nhất
• BFP chiếm gần một phần tư mức giảm mạnh về bất bình đẳng gần đây
ở Bra-xin và chiếm 16% mức giảm tình trạng cực kỳ nghèo cùng cực
• BFP cũng làm tăng tỷ lệ nhập học Các nghiên cứu phát hiện ra rằng 60% số trẻ em nghèo từ 10-15 tuổi hiện không đi học sẽ được nhập học nhờ BFP và các chương trình trước đó Tỷ lệ bỏ học đã được giảm khoảng 8%
• Một trong những tác động mạnh mẽ nhất của BFP là về dinh dưỡng Tỷ
lệ suy dinh dưỡng trong số trẻ em độ tuổi 6-11 tháng được phát hiện là
đã giảm đi 60% ở các hộ nghèo tham gia chương trình dinh dưỡng
• Cách thức quản lý BFP đã hỗ trợ đề cao quyền bình đẳng giới, trong đó phụ nữ được trở thành những đối tượng của chương trình và có quyền lợi pháp lý
Mỗi quốc gia sẽ đối mặt với những hạn chế về tài chính, thể chế và chính trị khác nhau khi giải quyết vấn đề nguy cơ bị tổn thương Một trong những lý do tại sao BFP đã thành công ở Bra-xin là bởi nó đã được triển khai thông qua một hệ thống chính trị phi tập trung nhưng được liên bang
hỗ trợ mạnh mẽ trong việc thiết lập luật lệ, nâng cao năng lực và buộc các
tổ chức thực hiện phải có trách nhiệm Trường hợp của Bra-xin, cũng giống như các trường hợp khác trích dẫn trong chương này, đã thể hiện tiềm năng cho các chương trình CCT không chỉ giảm thiểu khả năng bị tổn thương, mà còn đi xa hơn nữa, đó là cho phép người nghèo đòi quyền lợi của mình, mở
ra những đột phá về phát triển con người
Hộp 4.3 Trợ cấp tiền mặt có điều kiện – Chương trình Bolsa Família của Bra-xin
Nguồn: de Janvry cùng cộng sự 2006c; Lindert cùng cộng sự 2007; Vakis 2006.
Biến đổi khí hậu là nguyên nhân quan trọng để củng
cố mạng lưới an sinh xã hội cho người nghèo
Trang 20về lương thực đã dẫn đến một chiến dịch quốc gia đảm bảo ‘quyền được lao động’ – và rồi được chuyển thành luật áp dụng trên toàn Ấn Độ Đạo luật Quốc gia Đảm bảo Việc làm ở các Vùng nông thôn năm 2005 đảm bảo cho mỗi hộ dân nông thôn
Ấn Độ được lao động ít nhất là 100 ngày với mức
Chỉ cần các khoản trợ cấp bằng tiền mặt tương đối nhỏ cũng có thể tạo ra sự khác biệt lớn Ở Ê-ti-ô-pi-a, Chương trình Mạng lưới An sinh Sản xuất (PSNP) hỗ trợ mỗi người dân tiền mặt hoặc lương thực trị giá tối đa 4 Đô-la Mỹ mỗi tháng Được thiết
kế để có thể khắc phục những thất thường trong việc đáp ứng các kêu gọi viện trợ lương thực hàng năm, chương trình này đã mang lại cho khoảng 5 triệu người với một nguồn thu nhập và công việc
ổn định (Hộp 4.2) Bên cạnh việc làm giảm nguy
cơ thiếu dinh dưỡng trong các đợt hạn hán, các
khoản trợ cấp này còn cho phép các hộ dân nghèo mua sắm các công cụ sản xuất và đầu tư vào y tế
và giáo dục
Trợ cấp bằng tiền mặt Lụt lội, hạn hán và các
loại chấn động khí hậu khác có thể buộc các hộ gia đình nghèo phải cho con thôi học để về lao động giúp đỡ gia đình, hoặc để cắt giảm chi tiêu vào giáo dục và dinh dưỡng Những chiến lược đối phó kiểu đó hạn chế các cơ hội tương lai, kìm chân các gia đình này ở những nấc thang thấp của quá trình phát triển con người Trợ cấp bằng tiền mặt gắn liền với các mục tiêu phát triển con người rõ ràng có tác dụng ngăn chặn bớt cơ chế chuyển hoá
từ mức độ rủi ro thành khả năng bị tổn thương Chúng cũng có thể khuyến khích sự phát triển năng lực con người Dưới đây là một số ví dụ:
những người dân thành thị nghèo khổ nhất với điều kiện các bậc cha mẹ phải tiếp tục cho con
em tới trường và tham gia khám sức khoẻ định
kỳ Năm 2003 chương trình Progresa đã hỗ trợ cho 4 triệu gia đình với kinh phí hàng năm vào khoảng 2,2 tỷ Đô-la Mỹ Được biết chương trình
đã có tác dụng làm giảm 23% khả năng trẻ em
từ 12-14 tuổi phải thôi học và tham gia lao động
Một trong các cách để các cú chấn động khí hậu tạo ra các vòng xoáy bất lợi
là thông qua ảnh hưởng của chúng lên sản xuất nông nghiệp Khi một đợt
hạn hán hay một cơn lũ tàn phá mùa màng, hệ quả là mất thu nhập và tài
sản và khiến cho các hộ gia đình không thể đủ tiền mua giống, phân bón và
các vật tư đầu vào cần thiết khác để khôi phục sản xuất cho năm sau Các
can thiệp bằng chính sách công được thiết kế tốt có thể phá vỡ các vòng
xoáy này, như bài học gần đây ở Ma-la-uy đã cho thấy
Vụ ngô năm 2005 ở Ma-la-uy là một trong những vụ mùa tồi tệ nhất
từng được ghi lại Sau nhiều đợt hạn hán và lũ lụt liên tiếp, sản lượng giảm
từ 1,6 triệu tấn từ năm trước xuống còn 1,2 triệu tấn – một mức sụt giảm
29% Hơn 5 triệu người phải đối mặt với tình hình thiếu lương thực Cùng
với việc thu nhập ở vùng nông thôn sụt giảm mạnh, các hộ gia đình lại thiếu
nguồn lực để đầu tư cho sản xuất trong vụ mùa 2006, khiến bóng ma nạn
đói hiện hình trở lại ngang với quy mô của trận đói năm 2002
Được hỗ trợ bởi một nhóm các nhà tài trợ, Chính phủ Ma-la-uy đã xây
dựng một chiến lược nhằm đưa các vật tư sản xuất tới tay những người
nông dân sản xuất nhỏ Khoảng 311.000 tấn phân bón và 11.000 tấn hạt
ngô giống đã được bán ra với giá ưu đãi Hơn 2 triệu hộ gia đình đã được
mua phân bón với giá 7 Đô-la Mỹ/50 kg – chưa bằng một phần ba giá bán
trên thị trường thế giới Đối với kênh phân phối, chính phủ sử dụng cả các
kênh tư nhân cũng như qua các cơ quan nhà nước, qua đó cho phép người
nông dân được chọn nguồn cung cấp cho mình
Các vụ mùa tiếp theo đã cho thấy chương trình cung cấp vật tư đầu vào cho sản xuất này đã tạo ra một thành công đáng mừng Các cơn mưa thuận lợi và việc tăng diện tích gieo trồng để tạo ra sự đa dạng về chủng loại cây trồng đã làm tăng năng suất cũng như tổng sản lượng Người ta ước tính rằng chương trình này đã tạo ra thêm 600.000-700.000 tấn ngô vào năm 2007, đó là chưa tính đến biến động về lượng mưa Ước tính giá trị của sản lượng tăng thêm này vào khoảng từ 100 tới 160 triệu Đô-la Mỹ, trong khi chi phí của chương trình là 70 triệu Đô-la Mỹ Kinh tế Ma-la-uy cũng được hưởng lợi từ việc giảm nhu cầu nhập khẩu lương thực Và sự tăng trưởng về sản xuất đã tạo ra thêm thu nhập và cơ hội việc làm cho các hộ gia đình
Chương trình hỗ trợ vật tư đầu vào cho sản xuất không phải là một chiến lược phát triển con người đứng độc lập Nó cũng không phải là một liều thuốc tiên cho tình trạng nghèo đói ở vùng nông thôn Vẫn còn phải làm nhiều việc hơn nữa để tăng cường trách nhiệm giải trình của chính phủ, giải quyết các bất bình đẳng sâu sắc và tăng mức đầu tư vào cung cấp các dịch vụ cơ bản cho người nghèo Chương trình này sẽ phải được duy trì trong nhiều năm để phá vỡ cái vòng luẩn quẩn năng suất thấp vốn đang ảnh hưởng đến nền nông nghiệp của Ma-la-uy Tuy nhiên, bài học của quốc gia này cho thấy rõ vai trò của chính sách nhà nước trong việc giảm thiểu nguy
cơ thiệt hại trước rủi ro khí hậu bằng cách tạo ra một môi trường thuận lợi cho xoá đói giảm nghèo
Hộp 4.4 Giảm thiểu khả năng bị tổn thương thông qua nông nghiệp ở Ma-la-uy
Nguồn: Denning và Sachs 2007; DFID 2007.
Trợ cấp bằng tiền mặt gắn
liền với các mục tiêu phát
triển con người rõ ràng
có tác dụng ngăn chặn
bớt cơ chế chuyển hoá từ
mức độ rủi ro thành khả
năng bị tổn thương