Đất nước ta đang bước vào thời kỳ đẩy mạnh công cuộc đổi mới, thực hiện công nghiệp hóa, hiện đại hóa, tăng cường hội nhập kinh tế quốc tế, phấn đấu đến năm 2020 nước ta cơ bản trở thành một nước công nghiệp theo hướng hiện đại; xây dựng con người Việt Nam phát triển toàn diện trên quan điểm: “Mở rộng dân chủ, phát huy tối đa nhân tố con người, con người là chủ thể, nguồn lực chủ yếu và mục tiêu của sự phát triển”. Con người là nhân tố cơ bản có ý nghĩa quyết định trong cấu thành của lực lượng sản xuất xã hội. Đảng ta coi con người là vốn quý nhất của xã hội nước ta nhân tố quyết định sức mạnh của quốc gia; bàn tay và khối óc của con người làm nên tất cả, tạo ra mọi của cải vật chất và tinh thần cho xã hội, thúc đẩy và xây dựng xã hội phát triển. Trong sự nghiệp đổi mới công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước với mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội dân chủ, công bằng văn minh thì con người và nguồn nhân lực được coi là nhân tố quan trọng hàng đầu, quyết định sự phát triển nhanh, hiệu quả và bền vững nền kinh tế nước ta. Chúng ta khẳng định con người vừa là mục tiêu vừa là động lực của phát triển kinh tế xã hội đồng thời phải là những con người có tri thức và đạo đức. Từ đây mỗi con người sẽ là một chủ thể sáng tạo ra các giá trị, bao gồm các giá trị tinh thần và giá trị vật chất, cho bản thân và cho xã hội. Vì vậy, vấn đề cốt lõi là, ta phải thực hiện chiến lược đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao, phát triển con người một cách toàn diện cả thể lực lẫn trí lực. Với nhận thức như vậy, Đảng ta coi chăm lo hạnh phúc cho con người là mục tiêu phấn đấu cao nhất của Đảng, của chế độ xã hội nước ta. Nâng cao dân trí, bồi dưỡng và phát huy nguồn lực to lớn của con người Việt Nam là nhân tố quyết định thắng lợi của công cuộc đổi mới và thực hiện thành công sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa nước nhà, đào tạo và phát triển nhanh nguồn nhân lực là yếu tố quyết định, trong đó, đào tạo và phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao là khâu đột phá của chiến lược phát triển kinh tế xã hội. Với lý do đó, em lựa chọn đề tài “Nhân tố con người trong sự phát triển lực lượng sản xuất và chiến lược đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao ở nước ta” làm đề tài tiểu luận cho bài viết của mình. B. NỘI DUNG I. Lực lượng sản xuất (LLSX) và vai trò nhân tố con người trong lực lượng sản xuất 1. Khái niệm lực lượng sản xuất a. Định nghĩa và tính chất lực lượng sản xuất b. Cấu trúc LLSX c. Tính chất đặc biệt của LLSX hiện đại 2. Vai trò của con người trong LLSX 3. Chiến lược đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao ở nước ta C. KẾT LUẬN Ngày nay, với cuộc cách mạng kỹ thuật công nghệ hiện đại, đã dần dần đi đến khẳng định sự phát triển con người là yếu tố quyết định của mọi sự phát triển. Trong sự phát triển con người đặc biệt nhấn mạnh vai trò của trí tuệ và đi liền với nó là vai trò của giáo dục đào tạo nguồn lực con người. Đối với sự nghiệp công nghiệp hoá hiện đại hoá nước ta phải coi nhân tố con người là nhân tố quyết định, từ đó phải nâng cao dân trí cũng như chuẩn bị tốt nguồn nhân lực có đủ trí tuệ và nghị lực, tay nghề và công nghệ, ý thức và tâm hồn thấm đượm sâu bản sắc dân tộc, khoa học và ý chí, thực hiện sự chuyển mình từ một xã hội nông nghiệp thành xã hội công nghiệp theo định hướng xã hội chủ nghĩa. Các cuộc cách mạng thắng lợi của dân đã đi vào lịch sử suy cho cùng là thắng lợi của chính con người Việt Nam. Bài học đó còn nguyên giá trị cho tới ngày nay. Với chiến lược giáo dục đào tạo đúng đắn và khoa học của Đảng, với trí tuệ và phẩm chất của con người Việt Nam, chúng ta sẽ thực hiện thắng lợi sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước. Với kiến thức và sự cố gắng, em đã hoàn thành bài tiểu luận song không tránh khỏi còn nhiều thiếu sót. Kính mong nhận được lời nhận xét và đánh giá của thầy để em rút kinh nghiệm trong những bài sau..
Trang 1A LỜI MỞ ĐẦU
Đất nước ta đang bước vào thời kỳ đẩy mạnh công cuộc đổi mới, thực hiện công nghiệp hóa, hiện đại hóa, tăng cường hội nhập kinh tế quốc tế, phấn đấu đến năm 2020 nước ta cơ bản trở thành một nước công nghiệp theo hướng hiện đại; xây dựng con người Việt Nam phát triển toàn diện trên quan điểm:
“Mở rộng dân chủ, phát huy tối đa nhân tố con người, con người là chủ thể, nguồn lực chủ yếu và mục tiêu của sự phát triển”.
Con người là nhân tố cơ bản có ý nghĩa quyết định trong cấu thành của lực lượng sản xuất xã hội Đảng ta coi con người là vốn quý nhất của xã hội nước ta - nhân tố quyết định sức mạnh của quốc gia; bàn tay và khối óc của con người làm nên tất cả, tạo ra mọi của cải vật chất và tinh thần cho xã hội, thúc đẩy và xây dựng xã hội phát triển
Trong sự nghiệp đổi mới công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước với mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội dân chủ, công bằng văn minh thì con người và nguồn nhân lực được coi là nhân tố quan trọng hàng đầu, quyết định sự phát triển nhanh, hiệu quả và bền vững nền kinh tế nước ta Chúng ta khẳng định con người vừa là mục tiêu vừa là động lực của phát triển kinh tế xã hội đồng thời phải là những con người có tri thức và đạo đức Từ đây mỗi con người sẽ là một chủ thể sáng tạo ra các giá trị, bao gồm các giá trị tinh thần và giá trị vật chất, cho bản thân và cho xã hội Vì vậy, vấn đề cốt lõi là, ta phải thực hiện chiến lược đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao, phát triển con người một cách toàn diện cả thể lực lẫn trí lực Với nhận thức như vậy, Đảng ta coi chăm lo hạnh phúc cho con người là mục tiêu phấn đấu cao nhất của Đảng, của chế độ xã hội nước ta Nâng cao dân trí, bồi dưỡng và phát huy nguồn lực to lớn của con người Việt Nam là nhân tố quyết định thắng lợi của công cuộc đổi mới và thực hiện thành công sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa nước nhà, đào tạo và phát triển nhanh nguồn nhân lực là yếu tố quyết định, trong đó, đào tạo và phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao là khâu đột phá của chiến lược phát triển kinh tế - xã hội
Với lý do đó, em lựa chọn đề tài “Nhân tố con người trong sự phát triển lực lượng sản xuất và chiến lược đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao ở nước ta” làm đề tài tiểu luận cho bài viết của mình.
Trang 2B NỘI DUNG
I Lực lượng sản xuất (LLSX) và vai trò nhân tố con người trong lực lượng sản xuất
1 Khái niệm lực lượng sản xuất
a Định nghĩa và tính chất lực lượng sản xuất
Lực lượng sản xuất là tổng thể các nhân tố vật chất kỹ thuật đựơc sử dụng trong các quá trình sản xuất của xã hội tức là trong quá trình con người cải tạo, cải biến giới tự nhiên cho phù hợp với nhu cầu tồn tại và phát triển của mình
Trước hết, nó phản ánh quan hệ giữa con người với tự nhiên trong quá trình sản xuất Con người là sản phẩm của quá trình phát triển hết sức lâu dài của giới tự nhiên Do đó ta thấy rõ một sự thật tất yếu khách quan là con người không thể tồn tại nếu không có mối quan hệ mật thiết, gắn kết chặt chẽ với tự nhiên Đồng thời nó cũng thể hiện trình độ, khả năng chinh phục tự nhiên của con người
Mặt khác, LLSX có tính khách quan trong quá trình sản xuất Có thể thấy, không có một quá trình sản xuất nào mà lại không cần đến sức lao động của con người hay những yếu tố sẵn có trong tự nhiên Nói cách khác trong quá trình sản xuất vật chất không thể không cần đến LLSX
b Cấu trúc LLSX
LLSX bao gồm người lao động và tư liệu sản xuất
- Hoạt động lao động sản xuất vừa là điều kiện cho sự tồn tại của con người vừa là phương thức để làm biến đổi đời sống và bộ mặt xã hội Chính những người lao động là chủ thể của quá trình lao động sản xuất, với sức mạnh
và kĩ năng lao động của mình, sử dụng tư liệu lao động trước hết là công cụ lao động, tác động vào đối tượng lao động để sản xuất ra của cải vật chất Bước sang kinh tế tri thức, sự phát triển của LLSX biểu hiện ở hai mặt: Trí lực và
những nhân tố mới (trong đó trí lực sẽ đóng vai trò chủ đạo).
- Tư liệu sản xuất bao gồm tư liệu lao động và đối tượng lao động Con người không thể sản xuất vật chất mà không cần đến những yếu tố sẵn có trong
tự nhiên như đất, nước, khoáng sản, không khí, … Đó chính là những đối tượng lao động Đặc trưng nổi bật của công cụ sản xuất và đối tượng lao động biểu hiện chủ yếu ở sự gia tăng hàm lượng khoa học và công nghệ, cuối cùng là hàm lượng tri thức được kết tinh trong sản phẩm ngày càng nhiều Còn tư liệu lao động là những phương tiện, công cụ lao động mà con người sử dụng để tác động vào đối tượng lao động, sản xuất ra của cải vật chất
c Tính chất đặc biệt của LLSX hiện đại
Trong sự phát triển của LLSX, khoa học đóng vai trò ngày càng to lớn Sự phát triển của khoa học gắn liền với sản xuất là động lực mạnh mẽ thúc đẩy sản xuất phát triển Ngày nay, khoa học đã phát triển đến mức trở thành nguyên nhân trực tiếp của nhiều biến đổi to lớn trong sản xuất, trong đời sống và trở
Trang 3thành LLSX trực tiếp Yếu tố trí lực trong sức lao động đặc trưng cho lao động hiện đại không còn là kinh nghiệm và thói quen của họ mà là tri thức khoa học Như vậy, dù không phải là yếu tố thứ ba của LLSX nhưng có thể nói khoa học
và công nghệ hiện đại là đặc trưng cho LLSX hiện đại
2 Vai trò của con người trong LLSX
a Khái niệm con người
Quan niệm của triết học Mac-Lênin về con người và bản chất con người, xuất phát từ giác độ khái quát nhất, đứng trên lập trường duy vật biên chứng Trước hết, con người là một thực thể thống nhất giữa mặt sinh vật với mặt xã hội Là sản phẩm của tự nhiên và xã hội nên quá trình hình thành và phát triển của con người luôn bị quyết định bởi các hệ thống quy luật khác nhau nhưng thống nhất với nhau Chúng cùng tác động, tạo nên thể thống nhất hoàn chỉnh trong đời sống con người bao gồm cả mặt sinh học và mặt xã hội Để nhấn mạnh bản chất xã hội của con người Mác đã nêu trong luận đề nổi tiếng Luận cương
về Phoiơbăc: “Bản chất con người không phải là một cái trừu tượng cố hữu của
cá nhân riêng biệt Trong tính hiện thực của nó, bản chất con người là tổng hoà các quan hệ xã hội”.
Trong đời sống con người, xét trên ba phương diện khác nhau: Quan hệ giữa con người với tự nhiên, với xã hội và chính bản thân con người, suy đến cùng đều mang tính xã hội Con người là chủ thể và là sản phẩm của lịch sử
b Con người là nhân tố trung tâm có tính quyết định LLSX
Trong các yếu tố của LLSX, “LLSX hàng đầu của toàn thể nhân loại là công nhân là người lao động” Con người là nhân vật chính của lịch sử, vừa là
mục tiêu, vừa là động lực để phát triển xã hội Nhân tố con người vừa là phương tiện sáng tạo ra mọi giá trị của cải vật chất và tinh thần, sáng tạo và hoàn thiện ngay chính bản thân mình đồng thời vừa là chủ nhân sử dụng có hiệu quả mọi tài sản vô giá ấy Trên phương diện đó vai trò nhân tố con người lao động trong LLSX là yếu tố động nhất sáng tạo nhất của quá trình sản xuất Nhân tố trung tâm của con người chính là sức lao động bao gồm thể lực và trí lực
Vai trò con người trong thời đại mới là cần hiểu sâu sắc những giá trị lớn lao và ý nghĩa quyết định của nhân tố con người, chủ thể của mọi sáng tạo, mọi nguồn của cải vật chất và văn hoá, mọi nền văn minh của các quốc gia….Con người phát triển cao về trí tuệ, về thể chất, tinh thần, trong sáng về đạo đức là động lực của sự nghiệp xây dựng xã hội mới Hơn nữa, các nhân tố khác đều là sản phẩm của người lao động Chỉ có nhân tố con người mới có thể làm thay đổi được công cụ sản xuất làm cho sản xuất ngày càng phát triển với năng suất và chất lượng cao, thay đổi quan hệ sản xuất và các quan hệ xã hội khác Trong thời đại mới, nhân tố con người có tri thức ngày càng đóng vai trò quyết định hơn trong LLSX Có thể khẳng định rằng nhân tố con người đóng vai trò quyết định quá trình lao động sản xuất ra của cải vật chất
Trang 4II Chiến lược đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao
1 Những nhận thức chung về nguồn nhân lực
Một quốc gia muốn phát triển thì cần phải có các nguồn lực của sự phát triển kinh tế như: Tài nguyên, vốn, khoa học - công nghệ, con người … Trong các nguồn lực đó thì nguồn lực con người là quan trọng nhất, có tính chất quyết định trong sự tăng trưởng và phát triển kinh tế của mọi quốc gia từ trước đến nay
- Nguồn nhân lực là tổng hoà thể lực và trí lực, trong đó kết tinh truyền thống và kinh nghiệm lao động sáng tạo của một dân tộc trong lịch sử được vận dụng để sản xuất ra của cải vật chất và tinh thần phục vụ cho nhu cầu hiện tại và
tương lai của đất nước Trong thời đại ngày nay, con người được coi là một ''tài nguyên đặc biệt'' Bởi vậy việc phát triển con người, phát triển nguồn nhân lực
trở thành vấn đề chiếm vị trí trung tâm trong hệ thống phát triển các nguồn lực
- Phát triển nguồn nhân lực là gia tăng giá trị cho con người, cả giá trị vật chất và tinh thần, cả trí tuệ lẫn tâm hồn cũng như kỹ năng nghề nghiệp, làm cho con người trở thành người lao động có những năng lực và phẩm chất mới, cao hơn, đáp ứng được những yêu cầu to lớn và ngày càng tăng của sự phát triển kinh tế - xã hội
- Nguồn nhân lực chất lượng cao là khái niệm để chỉ một con người, một
người lao động cụ thể có trình độ lành nghề (về chuyên môn, kỹ thuật) ứng với
một ngành nghề cụ thể theo tiêu thức phân loại lao động về chuyên môn, kỹ thuật nhất định Nguồn nhân lực chất lượng cao là nguồn nhân lực phải đáp ứng
được yêu cầu của thị trường (có chuyên môn, có kỹ năng, có thái độ, tác phong làm việc tốt, trách nhiệm với công việc…)
2 Vai trò nguồn nhân lực chất lượng cao đối với sự phát triển kinh tế- xã hội nước ta hiện nay
Mối quan hệ giữa nguồn nhân lực với phát triển kinh tế thì nguồn nhân lực luôn luôn đóng vai trò quyết định đối với mọi hoạt động kinh tế trong các nguồn lực để phát triển kinh tế
- Thứ nhất là, nguồn nhân lực chất lượng cao là nguồn lực chính quyết định quá trình tăng trưởng và phát triển kinh tế- xã hội So với các nguồn lực khác, NNL với yếu tố hàng đầu là trí tuệ, chất xám có ưu thế nổi bật ở chỗ nó không bị cạn kiệt nếu biết bồi dưỡng, khai thác và sử dụng hợp lý, còn các nguồn lực khác dù nhiều đến đâu cũng chỉ là yếu tố có hạn và chỉ phát huy được tác dụng khi kết hợp với NNL một cách có hiệu quả Vì vậy, con người với tư cách là NNL, là chủ thể sáng tạo, là yếu tố bản thân của quá trình sản xuất, là trung tâm của nội lực, là nguồn lực chính quyết định quá trình phát triển kinh tế
- xã hội
- Thứ hai là, nguồn nhân lực chất lượng cao là một trong những yếu tố quyết định sự thành công của sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa; là quá trình chuyển đổi căn bản, toàn diện các hoạt động sản xuất, kinh doanh Do đó yêu cầu nâng cao chất lượng NNL, nhất là trí lực có ý nghĩa quyết định tới sự
Trang 5thành công của sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước và phát triển bền vững Đảng ta đã xác định phải lấy việc phát huy chất lượng nguồn nhân lực làm yếu tố cơ bản cho sự phát triển nhanh và bền vững
- Thứ ba là, nguồn nhân lực chất lượng cao là điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế Quá trình hội nhập vào nền kinh tế khu vực và quốc tế, nguồn nhân lực đặc biệt là nguồn nhân lực chất lượng cao của Việt Nam đang đứng trước nhiều thách thức lớn
3 Chiến lược đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao ở nước ta
3.1 Thực trạng nguồn nhân lực nước ta
Dân số nước ta hiện nay khoảng 90 triệu người, là nước đông dân thứ 14 trên thế giới, thứ 8 Châu Á và thứ 3 khu vực Đông Nam Á Trong 51,4 triệu người từ 15 tuổi trở lên thuộc lực lượng lao động, chỉ có hơn 8 triệu người (15,6%) đã được đào tạo, chiếm 15,6% tổng lực lượng lao động Như vậy, tuy nguồn nhân lực của Việt Nam trẻ và dồi dào nhưng trình độ tay nghề và chuyên môn kỹ thuật thấp Tỷ lệ lao động đã qua đào tạo cao nhất là ở Hà Nội (30,7%)
và thấp nhất là Đồng Bằng sông Cửu Long (8,6%) Tỷ trọng lực lượng lao động
có trình độ đại học trở lên khác nhau đáng kể giữa các vùng Nơi có tỷ trọng này cao nhất là Hà Nội và TP HCM (17,0%), Đồng bằng sông Cửu Long có tỷ trọng lực lượng lao động có trình độ đại học trở lên thấp nhất (3,4%)
Việt Nam đang trong thời kỳ cơ cấu dân số vàng, việc tận dụng “cơ cấu dân số vàng” để tạo cơ hội cho phát triển kinh tế - xã hội đã và đang nhận được
rất nhiều sự quan tâm của các nhà nghiên cứu, các nhà hoạch định chính sách
Để tạo ra một lực lượng lao động vàng trong thời kỳ này, cần xây dựng chiến lược phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao gắn liền với chiến lược phát triển kinh tế - xã hội nhằm tận dụng hiệu quả cơ hội vàng của dân số cho phát triển
Số liệu tính đến năm 2011: 20,4 triệu lao động làm “Nghề giản đơn” (chiếm 40,4%), 7,6 triệu lao động làm “Dịch vụ cá nhân, bảo vệ và bán hàng” (15,0%), 7,1 triệu lao động làm “Nghề trong nông, lâm, ngư nghiệp” (14,1%) và 6,1 triệu lao động làm “Thợ thủ công và các thợ khác có liên quan” (12,1%).
Lao động làm các nghề về quản lý, đòi hỏi phải có trình độ chuyên môn kỹ thuật
và tay nghề cao chiếm tỷ trọng khá khiêm tốn trong tổng số lao động đang làm việc như chỉ có 2,7 triệu lao động có trình độ chuyên môn kỹ thuật bậc cao (5,3%) và 1,8 triệu lao động có trình độ chuyên môn kỹ thuật bậc trung (3,5%)
Chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa là một chủ trương lớn của Đảng và Nhà nước Đến nay, khu vực “Nông, lâm, thủy sản” chiếm 48,4% lao động (giảm 13,8 điểm phần trăm so với năm 2000), khu vực
“Công nghiệp và xây dựng” chiếm 21,3% và khu vực “Dịch vụ” chiếm 30,3%
Những năm qua, trong khi thực hiện đường lối đổi mới, đẩy mạnh sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, Đảng và Nhà nước ta đã đề ra nhiều chủ trương, chính sách và giải pháp thúc đẩy sự nghiêp đào tạo và phát triển nguồn nhân lực của nước nhà Chúng ta đã đạt được những thành tựu đáng
Trang 6kể trong phát triển con người nói chung, trong giáo dục, đào tạo và phát triển nguồn nhân lực, nói riêng Sự nghiệp đào tạo và phát triển nguồn nhân lực ở nước ta trong những năm qua, đặc biệt mấy năm gần đây đã đạt được những thành tựu đáng kể và có bước phát triển tốt Báo cáo Chính trị tại Đại hội Đảng toàn quốc đánh giá: “Quy mô giáo dục tiếp tục được phát triển Đến năm 2010, tất cả các tỉnh, thành phố đã đạt chuẩn phổ cập giáo dục trung học cơ sở Tỉ lệ lao động qua đào tạo tăng, năm 2010 đạt 40% tổng số lao động đang làm việc Hoạt động nghiên cứu, ứng dụng tiến bộ khoa học, công nghệ được đẩy mạnh, góp phần thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội” Theo số liệu thống kê của Bộ Giáo dục và Đào tạo, hiện nay cả nước đã có 2.052 cơ sở dạy nghề, trong đó có
160 trường Đại học, 178 trường Cao đẳng, 285 trường Trung cấp chuyên nghiệp Ngoài hệ thống đào tạo nói trên, tham gia vào đào tạo nghề còn có 632 trung tâm, 1.123 cơ sở giáo dục, lớp dạy nghề của các doanh nghiệp, các làng nghề Theo số liệu thống kê năm 2008, cả nuớc có trên 14.000 tiến sĩ và tiến sĩ khoa học, 1.131 giáo sư; 5.253 phó giáo sư; 16 nghìn người có trình độ thạc sĩ;
30 nghìn cán bộ hoạt động khoa học và công nghệ; 52.129 giảng viên đại học, cao đẳng, trong đó có 49% của số 47.700 có trình độ thạc sĩ trở lên, gần 14 nghìn giáo viên trung cấp chuyên nghiệp, 11.200 giáo viên dạy nghề và 925 nghìn giáo viên hệ phổ thông Số trường đại học tăng nhanh
Những kết quả nêu trên phản ảnh sự đúng đắn của đường lối giáo dục của Đảng ta và chính sách phát triển giáo dục của Nhà nước, sự nỗ lực của toàn xã hội cộng đồng dân cư ở các vùng miền trên phạm vi cả nước
Tuy nhiên, trước đòi hỏi của tiến trình đổi mới, thực hiện sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa nước nhà, thế mạnh về nguồn nhân lực dồi dào của nước ta chưa được phát huy đầy đủ và khai thác có hiệu quả Chất lượng của nguồn nhân lực thấp, khả năng cạnh tranh trên thị trường lao động quốc tế hết sức hạn chế, có nhiều khó khăn và luôn bị thua thiệt Thực tế cho thấy, ở lĩnh vực nào, ngành nào, trong nông nghiệp, công nghiệp, dịch vụ, hay quản lý trên đất nước ta đều khát khao lực lượng lao động được đào tạo bài bản, có trình độ chuyên môn cao, có tay nghề thành thạo, có phong cách lao động công nghiệp
Báo cáo Chính trị Đại hội Đảng chĩ rõ: “Chất lượng giáo dục và đào tạo chưa đáp ứng yêu cầu phát triển, nhất là đào tạo nguồn nhân lực trình độ cao vẫn còn hạn chế; chưa chuyển mạnh sang đào tạo theo nhu cầu của xã hội Chưa giải quyết tốt mối quan hệ giữa tăng số lượng, quy mô với nâng cao chất lượng, giữa dạy chữ và dạy người Chương trình, nội dung, phương pháp dạy và học lạc hậu, đổi mới chậm; cơ cấu giáo dục không hợp lý giữa các lĩnh vực, ngành nghề đào tạo; chất lượng giáo dục toàn diện giảm sút, chưa đáp ứng được yêu cầu của sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá Quản lý Nhà nước về giáo dục còn bất cập” Số đã qua đào tạo tại các trường đại học, cao đẳng, trung cấp
dạy nghề trình độ chuyên môn, nghiệp vụ, tay nghề, phần lớn chưa đáp ứng, phần lớn phải đào tạo bổ sung, hoặc đào tạo lại Sự phân bố nguồn nhân lực ở nước ta không đồng đều và mất cân đối, chủ yếu và phần lớn được phân bổ trong khu vực nông nghiệp, nông thôn - nơi yêu cầu về kỹ năng lao động, trình độ tay nghề chưa
Trang 7đòi hỏi ở mức độ cao, trong khi lực lượng lao động trong nông nghiệp, nông thôn chiếm trên 70% Đây là một sự lãng phí lớn về nguồn nhân lực
Theo báo cáo của Chương trình Phát triển Liên hợp quốc (UNDP) công
bố tại Hà Nội ngày 9/11/2011, chỉ số phát triển con người HDI năm 2011 của Việt Nam là 0,728 Chỉ số này đã tăng 11% so với mức 0,651 được công bố 10 năm trước đây, nhưng không có gì thay đổi so với năm 2010 Việt Nam được xếp thứ 128 trong 187 nước được khảo sát Báo cáo cũng cho thấy HDI năm
2011 của Việt Nam ở dưới mức trung bình so với các nước khác có mức phát triển con người trung bình và ở dưới mức trung bình của các nước Châu á Thái Bình Dương
Những thực tế nêu trên cho thấy, mặc dầu đã cố gằng rất nhiều, song chất lượng nguồn nhân lực của nước ta vẫn còn thấp và nhiều bất cập, vừa thiếu về số lượng, yếu về chất lượng, lại không đồng bộ Nguồn nhân lực nước ta vẫn chưa đáp ứng kịp với nhu cầu và đòi hỏi của tiến trình phát triển xã hội nói chung, của nền kinh tế, sự tiến bộ của khoa học và công nghệ nói riêng Năng suất lao động thấp, khả năng cạnh tranh kinh tế trên thị trường hạn chế Chẳng hạn, giai đoạn
2001 – 2010, năng suất lao động trung bình của nước ta chỉ đạt trên 5%, thấp kém nhiều lần so các nước trong khu vực, như: Hàn Quốc gấp 23,5 lần; Malaysia gấp 12 lần; Thái Lan gấp 4,5 lần và Trung Quốc gấp 2 lần
Hiện nay chúng ta đang phải đối mặt với nhiều khó khăn và thách thức Chúng ta đang ở trong tình trạng khan hiếm và thiếu hụt nghiêm trọng về nhân lực, nói chung, đặc biệt là nhân lực có trình độ chuyên môn cao, có nghề nghiệp được đào tạo bài bản Hầu hết các ngành kinh tế đều nằm trong tình trạng thiếu nhân lực, nhất là nhân lực có trình độ chuyên môn, kỹ năng lao động và tay nghề cao, thành thạo công việc
3.2 Quan điểm của Đảng về phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao
Xác định ý nghĩa chiến lược của nguồn nhân lực, Đảng đã chĩ rõ: “Phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao, đặc biệt là đội ngũ cán bộ lãnh đạo quản lý giỏi; đội ngũ cán bộ khoa học, công nghệ, văn hóa đầu đàn; đội ngũ doanh nhân
và lao động lành nghề Đẩy mạnh đào tạo nghề theo nhu cầu phát triển của xã hội; có cơ chế chính sách thiết lập mối liên kết chặt chẽ giữa các doanh nghiệp với cơ sở đào tạo Xây dựng và thực hiện các chương trình, đề án đào tạo nhân lực cho các ngành, lĩnh vực mũi nhọn, đồng thời chú trọng đào tạo nghề cho nông dân, đặc biệt đối với người bị thu hồi đất; nâng cao tỉ lệ lao động qua đào tạo Quan tâm hơn tới phát triển giáo dục, đào tạo vùng sâu, vùng xa, vùng khó khăn Bảo đảm công bằng xã hội trong giáo dục, thực hiện tốt chính sách ưu đãi,
hỗ trợ đối với người và gia đình có công, đồng bào dân tộc thiểu số, học sinh giỏi, học sinh nghèo, học sinh khuyết tật, giáo viên công tác ở vùng sâu, vùng
xa, vùng có nhiều khó khăn”
Trong các nguồn lực có thể khai thác như nguồn lực tự nhiên, nguồn lực khoa học công nghệ, nguồn lực con người thì nguồn lực con người là quyết định nhất bởi lẽ những nguồn lực khác chỉ có thể khai thác có hiệu quả khi nguồn lực
Trang 8con người được phát huy Những nguồn lực khác ngày càng cạn kiệt, ngược lại nguồn lực con người ngày càng đa dạng và phong phú
Đại hội Đảng toàn quốc đã khẳng định: “Con người và nguồn nhân lực là nhân tố quyết định sự phát triển đất nước trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa, cần tạo chuyển biến cơ bản toàn diện về giáo dục đào tạo….Đào tạo lớp người lao động có kiến thức cơ bản làm chủ kỹ năng, nghề nghiệp, quan tâm hiệu quả thiết thực, nhạy cảm với cái mới có ý thức vươn lên về khoa học và công nghệ Xây dựng đội ngũ công nhân lành nghề, các chuyên gia và nhà khoa học, nhà văn hoá, nhà kinh doanh, nhà quản lý Chính sách sử dụng lao động và nhân tài phải tận dụng mọi năng lực phát huy, mọi tiềm năng của các tập thể và
cá nhân phục vụ sự nghiệp xây dựng và bảo vệ đất nước ”
3.3 Một số giải pháp để đào tạo phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao ở nước ta
a Hoạch định chính xác và xây dựng chiến lược phát triển hiệu quả
Đây là công việc vô cùng quan trọng, quyết định đến thành công trong việc đào tạo và phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao, do vậy trước khi hoạch định cần phải phân tích rất kỹ về mục tiêu và định hướng phát triển của tổ chức, của nền kinh tế, của xã hội và của cả thế giới trong từng giai đoạn cụ thể, đặc biệt chú trọng đến việc phát triển các lĩnh vực mới, hiện đại hoặc các lĩnh vực thế mạnh của chúng ta; đánh giá về những yếu tố bên trong, bên ngoài có tác động liên quan đến việc xây dựng và phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao, …
Song song với việc đào tạo để phát triển về chuyên môn, nghiệp vụ thì cần chú trọng đào tạo đến các kỹ năng, tính chuyên nghiệp cho đội ngũ vì đây chính là điểm yếu nhất của lực lượng lao động Việt Nam hiện nay Ngoài ra trong xu hướng hội nhập ngày càng mạnh mẽ thì việc giáo dục về lối sống lành mạnh, về tình cảm, đạo đức và ý thức chính trị là điều hệ trọng trong việc phát triển bền vững của nước ta
b Phát triển hệ thống đào tạo và nâng cao chất lượng đội ngũ giảng viên
Cần đánh giá lại hệ thống đào tạo để xem xét những điểm yếu, điểm thiếu
và cập nhật, nâng cấp chương trình, đổi mới toàn diện cơ chế quản lý, phương pháp dạy và học mới mang tính đột phá và phù hợp với xu hướng phát triển, xây dựng chuẩn đầu ra phù hợp với nhu cầu của từng tổ chức, cơ quan, doanh nghiệp, việc đào tạo phải sát thực tế, trên công nghệ mới và hiện đại, có định hướng rõ ràng cho từng nghề cụ thể Ngoài việc phát triển các trường đại học, trường cao đẳng, trường trung cấp thì nên chú trọng phát triển các trung tâm dạy nghề cho công nhân nhằm giúp họ chuyên môn hóa công việc mà họ đang làm hoặc công việc họ sẽ làm trong tương lai
Bên cạnh phát triển hệ thống đào tạo thì việc nâng cấp đội ngũ giảng viên
là ưu tiên hàng đầu vì có thầy giỏi mới có những người thợ giỏi, do vậy cần xây dựng tiêu chuẩn giảng viên cho từng cấp, xây dựng tiêu chí đánh giá và thực hiện
Trang 9việc đánh giá thành tích của từng giảng viên nhằm tạo động lực, kích thích sự học hỏi và phấn đấu trong tập thể giảng viên, thu hút và đãi ngộ xứng đáng đối với những giảng viên giỏi nghiệp vụ và giàu kinh nghiệm thực tế, giảng viên người nước ngoài, …
c Áp dụng nghệ thuật, chính sách sử dụng người hiệu quả
- Một là thu hút nhân tài: Đầu tiên cần phải phát hiện, thu hút nguồn nhân lực hiện có bằng những chính sách phù hợp, bồi dưỡng, giữ gìn và nâng cấp chất lượng nhằm tránh làm thất thoát chất xám Ngoài ra việc thu hút phải đảm bảo tính công bằng, khách quan,
- Hai là phân công, bố trí công việc hợp lý: Tuỳ theo trình độ, khả năng của từng người mà phân công, bố trí công việc cho đúng người, đúng việc, đảm bảo
có sự dẫn dắt, kèm cặp và hỗ trợ Đây là một công việc rất quan trọng và quyết định sự thành công, mức độ gắn bó của nhân tài đối với cơ quan, tổ chức mà họ vào làm việc; việc phân công hợp lý sẽ tạo động lực cho họ làm việc hiệu quả hơn, chất lượng công việc sẽ tốt hơn và họ sẽ phát huy được thế mạnh, niềm đam
mê cá nhân của họ
- Ba là môi trường làm việc và việc quản lý điều hành: Sự cần thiết và phải đổi mới hiện nay đó là mỗi cơ quan, tổ chức cần xây dựng môi trường làm việc an toàn, chuyên nghiệp, có bài bản và nền tảng là các quy trình, quy định cụ thể và thống nhất; đảm bảo sự thân thiện, hợp tác và tin tưởng lẫn nhau Việc quản lý điều hành phải nhất quán và có mục tiêu, kế hoạch cụ thể cho từng giai đoạn phát triển Việc xây dựng mục tiêu phải cụ thể, thực tế, có thời gian xác định và đo lường được; mỗi mục tiêu cần xây dựng chiến lược và các biện pháp thực hiện khả thi, hiệu quả Áp dụng việc đánh giá thành tích cho từng cá nhân phải được thực hiện theo định kỳ và căn cứ vào kết quả thực hiện mục tiêu đã định Việc đánh giá thành tích được tiến hành công khai, minh bạch và thể hiện
sự công bằng nhằm giúp cho người bị đánh giá ngày một hoàn thiện hơn, hoàn thành tốt hơn nhiệm vụ được giao và được hưởng mức lương và những phần thưởng, các điều kiện khác xứng đáng với kết quả mà họ đạt được
- Bốn là sự tôn trọng và cơ hội phát triển: Phải khẳng định rằng trong xu thế phát triển không ngừng như hiện nay thì nguồn nhân lực nói chung và nguồn nhân lực chất lượng cao nói riêng sẽ là vấn đề quan tâm hàng đầu của những nhà hoạch định chính sách và chúng ta có thể khẳng định rằng nguồn nhân lực chất lượng cao là tài sản quý nhất của doanh nghiệp, cơ quan, tổ chức và của Quốc gia,
do vậy chúng ta cần phải tôn trọng thông qua sự lắng nghe, không xúc phạm, động viên và tán thưởng kịp thời, ngoài ra chúng ta phải tạo điều kiện để họ được học hỏi, làm giàu công việc, phát triển nghề nghiệp và thăng tiến một cách công bằng Nếu chúng ta làm được điều này sẽ tạo động lực cho họ phát triển, họ sẽ thấy yêu công việc, thấy được sự tôn trọng và đặc biệt là con đường tương lai rộng mở ở phía trước đang chờ đón họ và thực sự chúng ta đã làm cho ngọn lữa trong mỗi con người bừng cháy sang hơn, mạnh hơn, nguồn nhân lực đã được huy động một cách tối đa
Trang 10- Năm là việc truyền thông hiệu quả: Đây chính là công cụ quan trọng để giúp cán bộ, nhân viên thấu hiểu được mục tiêu, chủ trương, chính sách của tổ chức, đặc biệt là của Đảng và Nhà nước ta, từ đó có sự thống nhất về tư tưởng
và cùng hành động một cách đúng đắn, mang lai hiệu quả cao Truyền thông hiệu quả sẽ giúp Cán bộ, nhân viên tránh mơ hồ về thông tin, hiểu sai lệch về thông tin, tạo cơ hội cho việc “đôi mách” làm mất đoàn kết nội bộ, phá vỡ môi trường làm việc, sự đoàn kết thống nhất trong tập thể, tạo nên bức tường vững chắc bảo vệ tổ chức, bảo vệ chế độ trước những phần tử xấu phá hoại
Nhân tài nói chung và nhân tài trong quản lý nói riêng không phải tự nhiên mà có mà nhân tài chính là sản phẩm của một quá trình đào tạo rèn luyện
và tự rèn luyện rất lâu dài và công phu Để nhân tài có thể phát triển được thì phải có điều kiện: Thứ nhất nhân tài trước hết phải được đào tạo rất cẩn thận, tu dưỡng, rèn luyện, tự tích luỹ kinh nghiệm và kiến thức trong một môi trường thuận lợi thúc đẩy con người luôn sáng tạo và hành động Thứ hai, phải có các nguồn lực và dành cho mỗi người một khả năng lựa chọn và huy động tổ chức các nguồn lực thực hiện có hiệu quả mục đích đã đề ra Tóm lại, điều kiện nảy sinh và phát triển nhân tài là phải có một nền giáo dục tiên tiến có sự kết hợp hài hoà giữa ba yếu tố nhà trường - gia đình - xã hội cùng quan tâm đến thế hệ trẻ và giáo dục
C KẾT LUẬN
Ngày nay, với cuộc cách mạng kỹ thuật công nghệ hiện đại, đã dần dần đi đến khẳng định sự phát triển con người là yếu tố quyết định của mọi sự phát triển Trong sự phát triển con người đặc biệt nhấn mạnh vai trò của trí tuệ và đi liền với nó là vai trò của giáo dục đào tạo nguồn lực con người
Đối với sự nghiệp công nghiệp hoá hiện đại hoá nước ta phải coi nhân tố con người là nhân tố quyết định, từ đó phải nâng cao dân trí cũng như chuẩn bị tốt nguồn nhân lực có đủ trí tuệ và nghị lực, tay nghề và công nghệ, ý thức và tâm hồn thấm đượm sâu bản sắc dân tộc, khoa học và ý chí, thực hiện sự chuyển mình từ một xã hội nông nghiệp thành xã hội công nghiệp theo định hướng xã hội chủ nghĩa Các cuộc cách mạng thắng lợi của dân đã đi vào lịch sử suy cho cùng là thắng lợi của chính con người Việt Nam Bài học đó còn nguyên giá trị cho tới ngày nay Với chiến lược giáo dục đào tạo đúng đắn và khoa học của Đảng, với trí tuệ và phẩm chất của con người Việt Nam, chúng ta sẽ thực hiện thắng lợi sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước
Với kiến thức và sự cố gắng, em đã hoàn thành bài tiểu luận song không tránh khỏi còn nhiều thiếu sót Kính mong nhận được lời nhận xét và đánh giá của thầy để em rút kinh nghiệm trong những bài sau./