Năm 2019, chúng tôi đã công bố Chỉ số hội nhập kinh tế quốc tế (PEII) của Bình Định, trình bày tóm tắt kết quả nghiên cứu về chỉ số PEII mà nhóm nghiên cứu đã tiến hành nghiên cứu trong năm 2018. Trong đó trình bày một số nội dung bao gồm: Tổng quan về Chỉ số hội nhập kinh tế quốc tế (khái niệm về năng lực HNKTQT ở địa phương, khái niệm về Chỉ số hội nhập kinh tế cấp địa phương, thách thức trong quá trình HNKTQT của tỉnh Bình Định và một số mô hình, phương pháp tính chỉ số PEII áp dụng cho trường hợp nghiên cứu ở Bình Định), kết quả tính toán Chỉ số PEII dựa trên điểm số tính toán được từ kết quả khảo sát và số liệu thống kê. Dựa trên kết quả đạt được, công bố cũng trình bày một số giải pháp và nhiệm vụ nhằm nâng cao chỉ số này ở Bình Định trong giai đoạn tiếp theo. Tuy nhiên, để tiếp tục làm rõ hơn những nội dung đã trình bày trước đây, công bố này tiếp tục trình bày chi tiết và cụ thể hơn kết quả tính toán của 8 trụ cột hình thành nên chỉ số HNKTQT mà chúng tôi đã nghiên cứu.
Trang 1Chuyên đề nghiên cứu KẾT QUẢ TÍNH TOÁN CÁC TRỤ CỘT CHỈ SỐ HỘI NHẬP KINH TẾ QUỐC TẾ
CỦA TỈNH BÌNH ĐỊNH
Trương Quang Phong, Hồ Đại Nghĩa Viện Nghiên cứu phát triển kinh tế - xã hội Bình Định
tqphong.skhcn@gmail.com, tony.hdn86@gmail.com
TÓM TẮT – Năm 2019, chúng tôi đã công bố "Chỉ số hội nhập kinh tế quốc tế (PEII) của Bình
Định", trình bày tóm tắt kết quả nghiên cứu về chỉ số PEII mà nhóm nghiên cứu đã tiến hành nghiên cứu trong năm 2018 Trong đó trình bày một số nội dung bao gồm: Tổng quan về Chỉ số hội nhập kinh tế quốc tế (khái niệm về năng lực HNKTQT ở địa phương, khái niệm về Chỉ số hội nhập kinh tế cấp địa phương, thách thức trong quá trình HNKTQT của tỉnh Bình Định và một số
mô hình, phương pháp tính chỉ số PEII áp dụng cho trường hợp nghiên cứu ở Bình Định), kết quả tính toán Chỉ số PEII dựa trên điểm số tính toán được từ kết quả khảo sát và số liệu thống
kê Dựa trên kết quả đạt được, công bố cũng trình bày một số giải pháp và nhiệm vụ nhằm nâng cao chỉ số này ở Bình Định trong giai đoạn tiếp theo Tuy nhiên, để tiếp tục làm rõ hơn những nội dung đã trình bày trước đây, công bố này tiếp tục trình bày chi tiết và cụ thể hơn kết quả tính toán của 8 trụ cột hình thành nên chỉ số HNKTQT mà chúng tôi đã nghiên cứu.
Từ khóa – Chỉ số hội nhập kinh tế quốc tế (PEII), chỉ số LIS, Cộng đồng kinh tế ASEAN (AEC).
MỞ ĐẦU
Trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế (HNKTQT) ngày càng sâu rộng, tỉnh Bình Định đã ban hành các văn bản chỉ đạo và triển khai nhiều hoạt động trên địa bàn Tuy nhiên, theo xếp hạng Chỉ số năng lực hội nhập kinh tế quốc tế cấp địa phương1 (PEII) năm
2012 Bình Định chỉ đạt ở mức thấp, cuối nhóm trung bình (xếp hạng 40/63), 8 trụ cột gồm: Thể chế, cơ sở hạ tầng, văn hóa, đặc điểm tự nhiên, con người, thương mại, đầu tư
và du lịch đạt trung bình thấp Đến năm 2018, Viện Nghiên cứu phát triển kinh tế - xã hội tỉnh Bình Định đã triển khai đề tài nghiên cứu tính toán chỉ số này, nhằm đánh giá sự thay đổi về thực trạng HNKTQK của địa phương so với kết quả đánh giá năm 20122 Tuy nhiên, kết quả nghiên cứu của đề tài này không được như kỳ vọng, quá trình HNKTQT của địa phương vẫn còn chậm chạp và chưa có nhiều bước đột phá
1 Thương mại
1.1 Thương mại sản xuất và tiêu dùng
Giá trị tổng mức bán lẻ hàng hóa trên địa bàn tỉnh Bình Định (theo giá hiện hành) năm 2013 đạt mức 30,42 nghìn tỷ đồng, năm 2018 xấp xỉ đạt mức 53,34 nghìn tỉ đồng
Như vậy, tốc độ tăng trưởng kép hằng năm giai đoạn 2013 – 2018 ở mức 12,23% Đây là giai đoạn tín dụng thắt chặt và tốc độ tăng trưởng của nền kinh tế nước ta bị chậm lại, nhưng tốc độ phát triển của tỉnh đã đạt được là đáng kể Điều này cho thấy, Bình Định
có tiềm năng lớn trong những năm tiếp theo của giai đoạn phục hồi nền kinh tế và sự tham gia mạnh mẽ các hiệp định thương mại tự do trong khu vực và thế giới của Việt Nam
1.2 Xuất - nhập khẩu
Giá trị xuất khẩu của tỉnh liên tục tăng, từ 588,9 triệu USD năm 2013 lên 825,6 triệu USD năm 2018, tăng hơn 1,4 lần Giai đoạn 2013 - 2018, giá trị xuất khẩu tăng khá đều đặn với tốc độ bình quân 6,7%/năm với nhiều biến động, cụ thể năm 2013 tăng 2,6%,
1 Chỉ số năng lực hội nhập kinh tế quốc tế cấp địa phương (PEII) do Ủy ban quốc gia về hợp tác kinh tế quốc tế thực hiện 2 lần trong năm 2010, 2012 và công bố vào năm 2011, 2013.
2 Đề tài “Đánh giá chỉ số hội nhập kinh tế quốc tế (PEII) của tỉnh Bình Định”, theo Quyết định số 848/QĐ-UBND ngày 16/3/2018 của UBND tỉnh Bình Định
Trang 2năm 2014 tăng 7,8%, năm 2015 tăng 10,6%, năm 2016, 2017 tăng khá thấp lần lượt là 0,1% và 3,8% đến năm 2018, tốc độ tăng đột phá đạt mức 13,9% Giai đoạn này, hoạt động xuất khẩu còn chịu ảnh hưởng của cuộc khủng hoảng tài chính và suy thoái kinh tế thế giới Trong đó, Bình Định gặp khó khăn, giảm đáng kể đối với đầu ra một số mặt hàng nông lâm sản, công nghiệp Tuy nhiên, giá trị xuất khẩu đã góp phần quan trọng đối với phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh Bình Định
Kim ngạch nhập khẩu hàng hóa từ năm 2013 đến năm 2018 đạt gần 1,65 tỷ USD, tốc độ tăng trưởng bình quân đạt 11,6%/năm Trong đó, năm 2014 nhập khẩu vượt bậc với mức tăng trưởng là 47,2%, đạt 643,7 triệu USD; năm 2016 và 2017, nhu cầu nhập nguyên vật liệu cho sản xuất giảm mạnh nên hoạt động nhập khẩu ở mức tăng trưởng thấp, lần lượt là 1,1% và 3,6% với kim ngạch nhập khẩu tương ứng 283,0 triệu USD và 293,1 triệu USD Tiếp tục duy trì đà tăng trưởng, năm 2018 kim ngạch nhập khẩu đạt 13,9%
1.3 Hệ thống phân phối thương mại
Hệ thống tổ chức kinh doanh phát triển về số lượng và phạm vi hoạt động trên địa bàn tỉnh Bình Định đến năm 2018, đã có trên 1.770 doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực thương mại, dịch vụ và trên 42.000 hộ kinh doanh thương mại và dịch vụ cá thể Hệ thống này đã phân phối, kinh doanh theo chuỗi, bán hàng qua các trung tâm thương mại, trung tâm phân phối, siêu thị, được phân bố như sau :
Đối với trung tâm thương mại, siêu thị: có 04 trung tâm thương mại, trong đó có 02 Trung tâm thương mại hạng II (Trung tâm thương mại Quy Nhơn, Trung tâm thương mại chợ lớn Quy Nhơn) và 02 Trung tâm thương mại hạng III (Trung tâm thương mại Big C Quy Nhơn, Trung tâm thương mại An Nhơn); có 06 siêu thị, trong đó có 04 siêu thị tổng hợp và 02 siêu thị chuyên doanh, cụ thể: thành phố Quy Nhơn (05 siêu thị): Siêu thị Co.opmart Quy Nhơn (hạng II), Trung tâm Metro Cash và Carry Quy Nhơn (hạng I), Big
C Quy Nhơn (hạng I), Siêu thị nội thất Đài Loan (hạng III), Siêu thị VLXD và trang trí nội thất cao cấp Xuân Hiếu (hạng III); thị xã An Nhơn có 01 siêu thị hạng III (Siêu thị Co.opmart An Nhơn)
Đối với mạng lưới chợ: có 179 chợ, trong đó 44 chợ thành thị (kiên cố) và 135 chợ nông thôn (02 kiên cố, 101 bán kiên cố và 32 chợ tạm) đang hoạt động thuộc diện trong quy hoạch; có 51 chợ đang hoạt động không có trong quy hoạch, hầu hết là chợ cóc, tạm
bợ do một số tiểu thương tự nhóm họp (phần lớn ở khu vực nông thôn)
1.4 Công tác xúc tiến thương mại
Để hỗ trợ phát triển thị trường và đẩy mạnh thực hiện Cuộc vận động “Người Việt Nam ưu tiên dùng hàng Việt Nam”, ngành Công Thương đã tổ chức các “Phiên chợ hàng Việt Nam về nông thôn”, xây dựng “Điểm bán hàng Việt” tại huyện An Lão và thành phố Quy Nhơn Đây là cầu nối cho các doanh nghiệp tiếp tục mở rộng thị trường đến khu vực nông thôn, miền núi, đồng thời tạo điều kiện cho người dân được hưởng lợi từ chương trình bình ổn giá, tiếp cận hàng Việt
Để tạo điều kiện cho các DN xuất khẩu có cơ hội giao thương với các thị trường tiềm năng nhằm tăng cường khả năng xuất khẩu, ngành Công Thương đã tổ chức cho doanh nghiệp tham gia hội chợ, triển lãm trong nước và khu vực để liên kết, quảng bá, giới thiệu sản phẩm, tìm kiếm cơ hội kinh doanh, trao đổi kinh nghiệm, hợp tác đầu tư Mặt khác, công tác dự báo, cung cấp thông tin về pháp luật và thông lệ quốc tế, tình hình thị trường xuất khẩu, quy định của các nước sở tại đối với các sản phẩn chủ lực của Bình Định cho các doanh nghiệp xuất khẩu Đồng thời, thực hiện hỗ trợ kinh phí cho doanh nghiệp tham gia hội chợ triển lãm ở nước ngoài để tìm kiếm thị trường mới Nhờ đó, các
Trang 3sản phẩm chủ lực của Tỉnh, bước đầu đã xuất khẩu sang thị trường Thổ Nhĩ Kỳ, Trung Đông …
Đánh giá chung:
Trụ cột thương mại địa phương có tốc độ tăng trưởng kép 12,23%/năm trong giai đoạn 2013 - 2018 So với các tỉnh trong Vùng Kinh tế trọng điểm miền Trung và cả nước, Bình Định có kim ngạch xuất khẩu không cao, nhưng tỉ lệ xuất khẩu luôn cao hơn gấp đôi
tỉ lệ nhập khẩu Đây là kết quả đáng kể trong giai đoạn khó khăn của nền kinh tế với tín dụng thắt chặt và tốc độ tăng trưởng của nền kinh tế đang có xu hướng dần hồi phục Tuy nhiên, theo kết quả tính toán năm 2018 cho thấy Trụ cột Thương mại đạt 37,06/100 điểm,
là trụ cột có điểm số thấp sau trụ cột Đầu tư Kết quả này cho thấy mặc dù chất lượng hạ tầng phân phối thương mại như Chợ, Siêu thị, Trung tâm thương mại,…trên địa bàn tỉnh được đánh giá khá tốt có khả năng cung cấp đa dạng các mặt hàng, đáp ứng với nhu cầu, thị hiếu người tiêu dùng; cơ sở vật chất, trang thiết bị phục vụ buôn bán, thương mại được đánh giá tốt; chất lượng sản phẩm phân phối trong hệ thống thương mại và tình hình xuất - nhập của địa phương cũng được đánh giá khá Tuy nhiên, yếu tố dịch vụ thương mại và liên kết của DN ở địa phương ở mức trung bình, chưa phát huy hết vai trò trong bối cảnh HNKTQT ở địa phương, do kinh doanh nhỏ lẻ còn lớn, hạn chế về tư duy
và kiến thức hội nhập kinh tế của các tầng lớp kinh doanh, phân phối đã dẫn đến kết quả thấp trong kết quả của trụ cột này
2 Đầu tư
2.1 Đầu tư nội địa
Tổng vốn đầu tư trên địa bàn tỉnh Bình Định có xu hướng tăng ở cả 2 khu vực kinh
tế Khu vực kinh tế Nhà nước, lượng vốn đầu tư tăng đều và liên tục qua các năm, vốn đầu tư trung bình trong giai đoạn 2013 - 2018 là 5.291,8 tỷ đồng/năm Đối với khu vực kinh tế ngoài nhà nước, lượng vốn đầu tư trong khu vực này chiếm tỷ lệ lớn nhất trong 3 khu vực kinh tế, giai đoạn 2013 - 2018 tăng đều qua các năm, lượng vốn đầu tư bình quân giai đoạn này khỏang 14.109,4 tỷ đồng/năm và được đánh giá là bước đột phá tăng nhanh
so với những giai đoạn trước
Tình hình thu hút đầu tư từ khu vực ngoài nhà nước trên địa bàn tỉnh Bình Định trong giai đoạn 2013 – 2018 được dẫn ra ở bảng 1
Bảng 1: Số lượng dự án đầu tư từ khu vực ngoài nhà nước trên địa bàn tỉnh
Vốn đầu tư (tỷ đồng) 3.109,90 1.358,09 3.657,55 3.227,00 12.244,33 6.140,17
Nguồn: Báo cáo hàng năm của Sở Kế hoạch và Đầu tư tỉnh Bình Định
Từ bảng số liệu thống kê cho thấy, năm 2013, có 43 dự án được cấp Giấy chứng nhận đầu tư (GCNĐT) với tổng vốn đăng ký là 3.109,9 tỷ đồng; Năm 2014 số lượng dự
án đầu tư giảm mạnh so với năm 2013, do có 13 dự án phải điều chỉnh GCNĐT; Năm
2015, 2016 vốn đầu tư được duy trì ổn định và tăng chất lượng các dự án đầu tư trong năm 2016; Năm 2017, có 42 dự án được đầu tư với tổng vốn đạt 12.244,33 tỷ đồng, đánh dấu bước đột phá trong việc thu hút đầu tư Trong đó, có 12 dự án trong Khu kinh tế, tổng vốn đầu tư đạt 1.316,83 tỷ đồng; 17 dự án trong các Khu Công nghiệp, tổng vốn đầu tư đạt 5.119,03 tỷ đồng; 13 dự án được cấp ngoài KKT, KCN, tổng vốn đầu tư đạt 5.808,47
tỷ đồng Đây là các dự án có số vốn đầu tư cao, tạo được hiệu ứng tích cực cho đầu tư trên địa bàn tỉnh Năm 2018, sức hút đầu tư mặc dù còn duy trì ở mức khá cao nhưng đã có
Trang 4dấu hiệu chững lại, cần phải có những động lực để tiếp tục duy trì nhịn độ tăng đầu tư như năm 2017
2.2 Đầu tư nước ngoài
Chính quyền địa phương của tỉnh Bình Định luôn nỗ lực ban hành và thực hiện chính sách phù hợp về cải cách hành chính, đầu tư xây dựng và hoàn thiện cơ sở hạ tầng
kỹ thuật, đặc biệt là hệ thống đường giao thông đã tạo được môi trường thuận lợi để thu hút nguồn vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài Trong giai đoạn 2013 – 2018, số lượng dự án đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) và vốn đăng ký có chiều hướng tăng dần, được thể hiện trong bảng 2
Bảng 2: Đầu tư trực tiếp nước ngoài giai đoạn 2013 – 2018
Đvt: Triệu USD
Nguồn: Niên giám thống kê tỉnh Bình Định năm 2013, 2017
Số lượng dự án FDI đầu tư được duy trì ổn định, bình quân 8-9 dự án/ năm với lượng vốn đăng ký biến động qua từng năm Trong năm 2013, số dự án và đặc biệt là tổng vốn đăng ký FDI trong năm đạt ở mức rất cao Tỉnh đã cấp Giấy chứng nhận đăng ký đầu
tư (GCNĐKĐT) cho 8 dự án FDI với tổng vốn đầu tư đăng ký là 1.030,4 triệu USD, tăng gấp nhiều lần so với các năm trước Tuy số vốn đăng ký cao gấp hơn 3 lần so với các năm trong cùng giai đoạn nhưng số vốn thực hiện chỉ chiếm 4% so với số vốn đăng ký trong năm Đến năm 2014, lượng vốn đăng ký giảm còn 141,5 triệu USD, nhưng vốn thực hiện chiếm tỷ lệ 40% so với vốn đăng ký Năm 2015, có số dự án thấp nhất tương ứng với số vốn đăng ký và vốn thực hiện thấp nhất giai đoạn Tuy nhiên, năm 2016 số dự án tăng cao, các dự án đang trong quá trình thực hiện chiếm 29% số vốn đăng ký Trong năm
2017, tỉnh đã cấp GCNĐKĐT cho 9 dự án có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI), với tổng vốn đăng ký 117,2 triệu USD Năm 2018, toàn tỉnh có 7 dự án đầu tư được cấp phép với số vốn đầu tư đăng ký thấp hơn năm 2017 nhưng vốn thực hiện lại cao hơn, đây là tín hiệu tốt trong vấn đề thu hút vốn FDI của địa phương
Đánh giá chung về thu hút vốn đầu tư nước ngoài trên địa bàn tỉnh ít có thay đổi về vốn, mục tiêu, quy mô, công suất, pháp nhân đầu tư; một số dự án tại Khu kinh tế Nhơn Hội và các KCN trên địa bàn tỉnh có tiến độ xây dựng và giải ngân vốn đầu tư chậm, do vướng mắc trong công tác giải phóng mặt bằng và trượt giá thị trườn; đa số các dự án FDI tại Khu Kinh tế Nhơn Hội và các KCN trên địa bàn tỉnh đã đi vào hoạt động đều có quy
mô nhỏ, sử dụng ít lao động và đóng góp cho ngân sách địa phương chưa đáng kể Vì vậy, trụ cột đầu tư tác động đến hội nhập kinh tế của địa phương còn hạn chế
Đánh giá chung:
Dựa trên kết quả nghiên cứu về thực trạng đầu tư trên địa bàn tỉnh Bình Định cho thấy hầu hết các DN trên địa bàn tỉnh có quy mô vừa và nhỏ, rất cần sự hỗ trợ về chính sách khuyến khích đầu tư của Nhà nước Trong đó, vốn đầu tư đã được Ngân hàng nhà nước triển khai thực hiện các chủ trương, chính sách, giải pháp về vốn tín dụng trên địa bàn tỉnh, điều chỉnh giảm lãi suất tiền vay đối với các khoản vay cũ, cơ cấu lại thời hạn trả nợ, triển khai các sản phẩm mới với lãi suất thấp đối với khách hàng vay vốn kinh doanh Tuy nhiên, việc tiếp cận với nguồn vốn vay không hoàn toàn thuận lợi, nguyên
Trang 5nhân chủ yếu là do nhiều thủ tục chưa thông thoáng, không kịp thời và đồng bộ của các
cơ quan thực hiện dịch vụ hành chính công Do đó, nhiều DN chưa khai thác được nguồn vốn này dẫn đến mất thời cơ và ảnh hưởng tiêu cực đến hội nhập kinh tế quốc tế của Bình Định.
Kết quả điểm số của Trụ cột Đầu tư đạt 33,66/100 điểm, là mức thấp nhất trong 8 trụ cột Kết quả này phản ảnh từ những yếu tố chính sau: giải ngân nguồn vốn đầu tư vẫn còn hạn chế; số dự án và lượng vốn thu hút đầu tư được nhiều lớn hơn, nhưng chất lượng
dự án còn hạn chế, nên chưa đáp ứng được kỳ vọng.
3 Du lịch
3.1 Số lượng khách du lịch
Tổng lượng khách du lịch năm 2018 đến Bình Định ước đạt 4,092 triệu lượt khách,
số lượt khách tăng liên tục qua các năm Nhưng hiện nay, tốc độ tăng có dấu hiệu giảm,
cụ thể từ năm 2013 đến 2015, lượt khách đến Bình Định tăng mạnh từ 18% đến 25%, từ
2015 tốc độ tăng lượt khách đã giảm xuống đáng kể, đến cuối năm 2017 thì lượt khách chỉ tăng 15,6% so với cùng kỳ năm trước, năm 2018 chỉ tăng 10,6% so với năm 2017 Trong đó, khách du lịch đến Bình Định chủ yếu là khách nội địa, chiếm trên 90% lượt khách đến Bình Định giai đoạn 2013 - 2017, khách quốc tế đến Bình Định cũng có xu hướng tăng qua các năm nhưng không nhiều
Số lượng khách du lịch đến Bình Định có sự tăng lên về số lượng, song hiệu quả của hoạt động thu hút khách du lịch chưa tương xứng với tiềm năng và chưa thực sự trở thành một điểm đến có sức hút lớn trong tương quan so sánh với các thành phố khác trong khu vực Duyên hải miền Trung như Đà Nẵng, Khánh Hòa, Quảng Nam, Bình Thuận
3.2 Doanh thu du lịch
Số lượng du khách đến Bình Định ngày càng tăng, là cơ hội thúc đẩy sự phát triển của các sản phẩm dịch vụ du lịch: dịch vụ lưu trú, nhà hàng và du lịch lữ hành Doanh thu dịch vụ du lịch tăng trưởng cao, với mức tăng bình quân 30,72%/năm trong giai đoạn
2013 – 2018 Trong đó năm 2018 tăng cao và đột phá nhất trong cả giai đoạn, đạt gần 54,7%
Đặc điểm thu hút du khách đến Bình Định chủ yếu từ hoạt động khai thác thế mạnh tự nhiên vốn có là biển đảo, chưa tạo được nhiều sản phẩm du lịch có giá trị gia tăng cao, mang tính đặc trưng riêng biệt của địa phương như các tỉnh Khánh Hòa, Đà Nẵng, Huế
Đánh giá chung:
Bước đầu Bình Định đã khai thác tài nguyên tự nhiên sẵn có và đang “lộ thiên” có hiệu quả Để trụ cột du lịch giữ vai trò quan trọng trong HNKTQT của địa phương, chính quyền tỉnh Bình Định nên xác định tài nguyên tự nhiên chỉ là điểm tựa ban đầu, làm nền tảng cho việc khai thác, phát triển tiềm năng lịch sử, văn hóa đặc trưng của từng địa phương trong tỉnh Kết quả tính toán điểm số cho Trụ cột Du lịch đạt 38,33/100 điểm Đây là kết quả khá thấp, cho thấy trụ cột này còn có nhiều khâu còn hạn chế Mặc dù chất lượng phương tiện vận tải phục vụ du lịch được đánh giá khá tốt, tuy nhiên, số lượng
và chất lượng sản phẩm du lịch không được đánh giá cao; quảng bá, xúc tiến và tiếp thị
du lịch đến đối tác nước ngoài còn yếu và thiếu; chuẩn hóa dịch vụ du lịch tiến hành còn chậm chạp; quản lý nhà nước đối với dịch vụ du lịch còn hạn chế Bên cạnh đó, có thể thấy du lịch Bình Định đã thu hút được lượt khách đến địa phương khá cao, nhưng mức chi tiêu bình quân/du khách và thu ngân sách từ hoạt động dịch vụ du lịch còn thấp Đây
Trang 6là khó khăn và tồn tại đã trực tiếp cản trở đến quá trình phát triển của địa phương nói chung và ngành du lịch nói riêng.
4 Con người - Lao động
4.1 Dân số, lao động và việc làm
Dân số trung bình tỉnh Bình Định năm 2013 là 1.509,3 nghìn người tăng lên 1.534,767 nghìn người (năm 2018) Quy mô dân số trong tỉnh ngày càng tăng, nhu cầu về lượng hàng hóa và dịch vụ tiêu dùng tăng theo Để thỏa mãn nhu cầu tiêu dùng ngày càng tăng, đòi hỏi phải mở rộng và phát triển sản xuất, đa dạng hóa các ngành nghề hoạt động,
số việc làm được tạo ra nhiều hơn, cơ cấu việc làm biến đổi
Lực lượng lao động từ 15 tuổi trở lên tỉnh Bình Định năm 2013 là 907,2 nghìn người tăng lên 944,683 nghìn người (năm 2018); việc làm được tạo ra nhiều hơn, nhưng
tỷ lệ thất nghiệp cũng tăng từ 1,9% năm 2013 lên 3,04% năm 2018 Đặc biệt, tỷ lệ thất nghiệp năm 2016 chiếm 3,9%, là tỷ lệ cao nhất trong giai đoạn 2013 – 2018
Để cải thiện chất lượng nguồn nhân lực địa phương, chính quyền tỉnh Bình Định
đã tổ chức thực hiện quyết định của Thủ tướng về hỗ trợ đào tạo nghề, định hướng nghề nghiệp, xuất khẩu lao động1 Kết quả đã tiến hành các hoạt động tuyển sinh đào tạo, bồi dưỡng nghề cho 15.000 người lao động nông thôn (đề án 1956), lao động qua đào tạo, bồi dưỡng nghề đạt 56%; hỗ trợ đào tạo nghề và giáo dục định hướng cho 1.000 lao động thuộc hộ nghèo, hộ cận nghèo, hộ dân tộc thiểu số, trong đó khoảng 50% lao động đi làm việc ở nước ngoài Bên cạnh đó, tỉnh Bình Định đã ban hành và thực hiện một số chính sách hỗ trợ về tài chính cho các hộ nghèo nhằm phát triển và nâng cao đời sống người dân2
4.2 Đời sống và thu nhập
Nhu cầu về nhà ở, lương thực, giáo dục, dịch vụ y tế, vui chơi, giải trí của người dân Bình Định ngày càng được nâng cao về chất lượng; thu nhập bình quân trong năm
2012 đạt 1.719 nghìn đồng/người/tháng và năm 2018 đạt 3.135,8 nghìn đồng/người/tháng Kết quả thu nhập tăng cao của người dân thể hiện hiệu quả các chính sách hỗ trợ việc làm, vốn của chính quyền địa phương
Để tiếp tục duy trì tăng thu nhập của người dân, các cấp chính quyền địa phương trong tỉnh cần quan tâm tạo công ăn việc làm, hỗ trợ mở rộng thị trường tiêu thụ sản phẩm, vốn và kỹ thuật trong sản xuất
4.3 Trật tự, an toàn xã hội
Bình Định là một trong những địa phương có tình hình trật tự - an ninh xã hội ổn định nhất cả nước, đặc biệt và về tình hình an toàn giao thông và tình hình phòng cháy chữa cháy ở các cấp địa phương
Số vụ tai nạn giao thông trên địa bàn Bình Định giảm từ 213 vụ năm 2013 xuống
144 vụ năm 2018 Trong năm 2018, có 144 vụ tai nạn giao thông có tính chất từ nghiêm trọng trở lên, làm 153 người chết, 35 người bị thương; so với năm 2017 số vụ tai nạn giao thông năm 2018 giảm 10,6% (giảm 15 vụ); số người chết giảm 10% (giảm 17 người), số người bị thương giảm 3% (giảm1 người) so với năm 2017
1 Quyết định 1956/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ về dạy nghề cho lao động nông thôn đến năm 2020
2 Quyết định số 56/2017/QĐ-UBND ngày 28/9/2017 của UBND tỉnh Bình Định về Ban hành quy chế trích lập, quản lý và sử dụng nguồn vốn từ ngân sách địa phương ủy thác qua ngân hàng chính sách xã hội để cho vay đối với hộ nghèo và các đối tượng chính sách khác trên địa bàn tỉnh Bình Định
Trang 7Về cháy nổ, năm 2018 đã xảy ra 117 vụ tăng 64 vụ so với 2017, ước tính giá trị thiệt hại 133,242 tỷ đồng; so với năm 2017, số vụ cháy, nổ tăng 120,8%, giá trị thiệt hại tăng 105,3%
Đánh giá chung:
Từ kết quả tính toán cho thấy trụ cột Con người đạt 45,79/100 điểm Kết quả này cho thấy vấn đề Con người ở địa phương đang ở mức trung bình với một số kết quả khả quan như: tỷ lệ thất nghiệp và hộ nghèo tương đối thấp; an ninh, trật tự và an toàn xã hội khá tốt; chất lượng phục vụ về giáo dục và y tế đáp ứng nhu cầu cơ bản của người dân;
có một số chính sách hỗ trợ phát triển nguồn nhân lực Tuy nhiên chính sách nhân dụng của chính quyền và doanh nghiệp chưa tốt chưa thu hút được nguồn chất lượng cao về làm việc tại địa phương Bên cạnh đó, hiệu quả sử dụng nguồn nhân lực, đặc biệt nhân lực chất lượng cao còn thấp so với nhu cầu phát triển chung của cả nước.
5 Cơ sở hạ tầng
5.1 Hạ tầng giao thông đường bộ
Tổng chiều dài mạng lưới đường bộ hiện nay trên địa bàn tỉnh Bình Định là 9.437
km Trong đó, có 5 tuyến quốc lộ, với tổng chiều dài đi qua địa phận Bình Định là 308,5
km, kết nối Bình Định với cả nước theo hướng Bắc - Nam và Đông - Tây Quốc lộ 1 có 4 làn xe cùng với tuyến tránh; Quốc lộ 1D và Quốc lộ 19 đã mở rộng từ cấp III đến cấp II; Quốc lộ 19B và QL 19C là đường cấp VI đồng bằng Ngoài ra, Đường tỉnh có 11 tuyến, với chiều dài 506,47 km; Đường huyện có 45 tuyến, với tổng chiều dài là 490,1km; Đường giao thông nông thôn có tổng chiều dài là 7.363 km; Đường đô thị dài 613,4 km; Đường chuyên dùng dài 207 km (tính đến năm 2017)
Mật độ mạng lưới đường (không tính đến đường ngõ xóm và đường nội đồng) tại Bình Định là 0,87 km/km2, cao hơn mức bình quân của vùng Kinh tế trọng điểm miền Trung là 0,59 km/km2.
5.2 Hạ tầng giao thông đường sắt
Tuyến đường sắt thống nhất chạy dọc xuyên suốt địa bàn Bình Định, với tổng chiều dài là 158,4 km bao gồm tuyến chính Bắc – Nam và 1 nhánh nối vào TP Quy Nhơn Tuyến chính Bắc – Nam dài 148km từ đèo Bình Đê (ranh giới với tỉnh Quảng Ngãi) đến Mục Thịnh (ranh giới với tỉnh Phú Yên) Nhánh nối vào Quy Nhơn bắt đầu từ
ga Diêu Trì đến ga Quy Nhơn, có chiều dài 10,4km Trên địa bàn tỉnh có 12 ga, trong đó
11 ga trên tuyến chính (Ga chính là ga Diêu Trì, còn lại chủ yếu là các ga có chức năng tránh tàu), 1 ga trên tuyến nhánh, tuy nhiên lượng hàng hóa và hành khách thông qua ga không nhiều
Ga Quy Nhơn là ga hành khách nằm trong nội đô thành phố, hiện chỉ khai thác tuyến Sài Gòn - Quy Nhơn với lượng khách hạn chế Ga nằm trong nội thành, khai thác không hiệu quả và cản trở giao thông đô thị, hiện đã có chủ trương dừng khai thác
5.3 Hiện trạng kết cấu hạ tầng giao thông đường thủy nội địa
Hiện nay trên địa bàn tỉnh chỉ có 01 tuyến đường thủy nội địa là tuyến Đống Đa – Nhơn Châu3, do Cục đường thuỷ nội địa Việt Nam quản lý, đang khai thác phục vụ hành khách đi lại với tần suất 01 chuyến đi về/ngày Ngoài ra, hoạt động vận tải thủy nội địa
3 Quyết định số 3808/QĐ-UBND ngày 13/12/2013 của UBND tỉnh Bình Định và đóng một số tuyến đường thủy nội địa trên địa bàn tỉnh.
Trang 8vẫn có ở một số khu vực mặt hồ, không có tuyến công bố với tần suất không cố định phục
vụ nhu cầu du lịch, dân sinh như tại Hầm Hô, hồ Núi Một
5.4 Hạ tầng giao thông đường biển
Bình Định có 134 km bờ biển, có đảo, vũng, vịnh và các cửa biển thuận lợi xây dựng cảng biển Các bến cảng biển chính đều tập trung ở TP Quy Nhơn và khu vực tiếp giáp đầm Thị Nại Cụm cảng biển Quy Nhơn có tầm quan trọng chiến lược về kinh tế - xã hội, an ninh quốc phòng của tỉnh Bình Định, khu vực miền Trung và khu vực Tây Nguyên
Cụm cảng biển Quy Nhơn hiện tại có 1 khu bến hoạt động là khu bến Quy Nhơn – Thị Nại, bao gồm 05 bến tổng hợp và 02 bến chuyên dùng đang khai thác4 Năm bến cảng tổng hợp là cảng Quy Nhơn, cảng Thị Nại, Tân cảng Quy Nhơn, Tân cảng Miền Trung và bến địa phương Đống Đa (hiện không khai thác) Trong đó có 2 bến cảng chính chiếm thị phần lớn nhất là cảng Quy Nhơn và cảng Thị Nại; bến Tân cảng Quy Nhơn và bến Tân cảng miền Trung là 2 bến cảng mới công bố; bến Đống Đa là bến địa phương hiện đang trong giai đoạn đầu tư nâng cấp Hai bến chuyên dùng là bến xăng dầu Quy Nhơn và bến xăng dầu An Phú… Luồng hàng hải Quy Nhơn được đầu tư nâng cấp với các thông số kỹ thuật cơ bản5: Tổng chiều dài tuyến luồng là 6,3km, chiều rộng 110m, cao độ đáy đạt -11,0m, vũng quay trở tàu rộng 300m Việc đưa luồng hàng hải Quy Nhơn vào sử dụng sẽ tạo điều kiện cho các tàu có trọng tải 50.000 DWT giảm tải ra vào luồng Quy Nhơn an toàn, giúp giải quyết nhanh chóng lượng hàng hóa thông qua các cảng
Ngoài những cảng biển nêu trên, tỉnh Bình Định còn có cảng địa phương đang hoạt động là cảng Tam Quan và cảng Đề Gi Hai cảng này được quy hoạch thành cảng địa phương nhưng hiện chưa được đầu tư nhiều và đang chỉ phục vụ như bến tàu cá, thuộc quản lý của ngành Nông nghiệp và phát triển nông thôn Ngoài ra, theo quy hoạch sẽ có Cảng Nhơn Hội nằm từ phía Nam cầu Thị Nại kéo dài đến phía Nam bán đảo Phương Mai, gồm cảng thuế quan và cảng phi thuế quan với tổng diện tích 257,91 ha, phục vụ tàu bách hóa và container 50.000 DWT, lượng hàng hóa thông qua 12 triệu tấn/năm Tuy nhiên, sẽ điều chỉnh quy hoạch Cảng Nhơn Hội là cảng chuyên dụng có quy mô nhỏ
5.5 Hạ tầng giao thông hàng không
Cảng hàng không Phù Cát nằm cách quốc lộ 1A khoảng 1,5km về hướng Tây, cách trung tâm thành phố Quy Nhơn 30km về phía Tây Bắc, công suất thiết kế 500.00 hành khách/năm; năm 2018 lượng hành khách thông qua cảng hơn 1.000.000 hành khách/năm, vượt công suất thiết kế
Cảng hàng không Phù Cát đóng vai trò quan trọng trong việc vận chuyển hành khách, đặc biệt là du khách đi đến Bình Định, góp phần thúc đẩy sự phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh Ngoài ra, là sân bay dùng chung dân dụng và quân sự cấp I, được xác định là sân bay chính trong hệ thống phòng thủ quốc phòng, là căn cứ quân sự quan trọng trong
hệ thống phòng thủ bảo vệ tổ quốc Cảng hàng không này sẽ được tiếp tục mở rộng tiếp nhận tuyến bay quốc tế
5.6 Hạ tầng cung cấp điện, nước
4 Quy hoạch chi tiết nhóm cảng biển số 4 (QĐ 1764 năm 2011) sẽ có 2 khu bến Quy Nhơn – Thị Nại, Nhơn Hội và 3 bến là Tam Quan, Đề Gi, bến Nhiệt điện than Bình Định
5 347/QĐ-CHHVN ngày 22/5/2013 của Cục hàng hải Việt Nam V/v Công bố đưa luồng hàng hải Quy Nhơn vào sử dụng
Trang 9Về hạ tầng cung cấp điện, trên địa bàn tỉnh Bình Định có nguồn phát điện từ 6 nhà
máy thủy điện vừa và nhỏ (Vĩnh Sơn, Vĩnh Sơn 5, Trà Xom, Định Bình, Tiên Thuận, Văn Phong) đã hòa lưới điện quốc gia Ngoài ra, Bình Định đang phát triển năng lượng sạch (sức gió, mặt trời) để phát điện Nguồn trạm cao áp có 13 trạm 110kV, bao gồm 19 máy biến áp, với tổng dung lượng 565MVA; lưới điện phân phối trung, hạ áp có 3.202 biến áp, phân phối với tổng dung lượng 954.133kVA; tổng số đường dây trung áp là 2.810,7 km; tổng số đường dây hạ áp là 3.064,51 km Từ đó tạo ra nguồn điện ổn định trên địa bàn tỉnh, đảm bảo chất lượng điện và độ tin cậy cung cấp điện ngày càng nâng cao
Về hạ tầng cung cấp nước, có khả năng đáp ứng được nhu cầu khoảng 100.000 m3/ ngày đêm Trong đó, công suất cấp nước của thành phố Quy Nhơn chiếm gần 50% so với
cả tỉnh, với công suất 48.000 m3/ngày đêm Hiện nay, trữ lượng nước mặt tiềm năng toàn tỉnh Bình Định có khoảng 9,34 tỷ m3/năm Các nguồn nước mặt chủ yếu do 04 sông lớn là sông Lại Giang, sông Kôn, sông La Tinh và sông Hà Thanh
Đánh giá chung:
Hiện nay cơ sở hạ tầng trên địa bàn tỉnh Bình Định được đánh giá ở mức trung bình khá theo tiêu chí phát triển và quản lý hoạt động sử dụng hạ tầng Điều này khá phù hợp với tình hình kinh tế của tỉnh còn khó khăn, phát triển cơ sở hạ tầng đồng bộ của địa phương còn hạn chế so với các tỉnh trong Vùng kinh tế trọng điểm miền Trung.
Kết quả tính toán điểm số của trụ cột Cơ sở hạ tầng đạt 44,80/100 điểm phản ảnh
từ những yếu tố chính sau: hệ thống giao thông đường bộ, đường thủy, đường hàng không đáp ứng tốt nhu cầu di chuyển trong và kết nối ra ngoài tỉnh; hạ tầng viễn thông hiện đại; hạ tầng điện, nước phục vụ tốt cho sinh hoạt và sản xuất Tuy nhiên; hạ tầng về
xã hội chưa đáp ứng nhu cầu của người dân, như nhà ở xã hội, công trình vệ sinh công cộng, hạng mục phục vụ cho người khuyết tật Đây là yêu cầu chính đáng, nhưng nguồn lực đầu tư của tỉnh còn hạn chế
6 Văn hóa
6.1 Di tích lịch sử - văn hóa vật thể
Theo số liệu thống kê đến năm 2018, trên địa bàn tỉnh Bình Định có 234 di tích lịch sử - văn hóa, có 114 di tích được xếp hạng Trong đó, có 01 di tích cấp quốc gia đặc biệt, 35 di tích cấp quốc gia và 78 di tích cấp tỉnh Các di tích tiêu biểu có giá trị và khả năng khai thác du lịch cao như: quần thể di tích lịch sử thời Tây Sơn - Quang Trung (Nhà Bảo tàng Quang Trung, căn cứ địa nghĩa quân Tây Sơn, điện Tây Sơn, gò Đá Đen, bến Trường Trầu, ) Đây là di tích lịch sử cấp Quốc gia đặc biệt (công nhận năm 2014); hệ thống di tích văn hóa Chăm (thành Đồ Bàn, tháp Cánh Tiên, tháp Phú Lốc, phế tích hai tháp Tân Kiều, Chà Rây và trung tâm gốm Lai Nghi, di tích khu lò gốm Gò Sành, ) là di tích văn hóa cấp quốc gia; các di tích lịch sử cách mạng (Căn cứ cách mạng Núi Bà, chứng tích Nho Lâm - Tuy Phước, chứng tích Gò Dài - Tây Sơn, di tích chiến thắng đèo Nhông - Phù Mỹ, ), di tích danh nhân (Lăng Mai Xuân Thưởng, mộ Hàn Mặc Tử, đến thờ Đào Duy Từ, ); các di tích lịch sử tôn giáo (chùa Thập Tháp, chùa Nhạn Sơn, chùa Linh Phong, )
6.2 Lễ hội truyền thống
Bình Định là nơi hội tụ và giao thoa văn hóa của nhiều dân tộc, nên các hình thức văn hóa dân gian và lễ hội truyền thống cũng rất đa dạng và phong phú Hàng năm, trên địa bàn tỉnh thường diễn ra nhiều lễ hội truyền thống đặc sắc, đậm chất truyền thống văn hóa, lễ hội và thường tập trung vào mùa xuân như: lễ hội Đống Đa -Tây Sơn, lễ hội Cầu
Trang 10ngư, hội xuân Chợ Gò, lễ hội Đua thuyền, lễ hội làng rèn Phương Danh, và vô số các lễ hội khác xuyên suốt cả năm
6.3 Nghệ thuật truyền thống
Bình Định nổi tiếng về các loại hình nghệ thuật dân gian Trong đó, nghệ thuật hát bài chòi Bình Định là cái nôi của nghệ thuật bài chòi Trung bộ - Việt Nam (UNESCO công nhận là di sản văn hóa phi vật thể đại diện của nhân loại); hát bội Bình Định, võ cổ truyền Bình Định là di sản văn hóa phi vật thể cấp quốc gia, Ngoài ra, Bình Định cũng là nơi có nhiều nhà thơ nổi tiếng của cả nước như Xuân Diệu, Yến Lan, Hàn Mặc Tử, Chế Lan Viên,
6.4 Nghề thủ công truyền thống
Bình Định được biết đến là nơi có nhiều làng nghề truyền thống Hiện nay, có 41 làng nghề được bảo tồn và phát triển như: nón lá, đúc đồng, đồ gỗ thủ công mỹ nghệ, dệt, gốm, rèn, thảm xơ dừa,…Vùng Nhơn Hậu (thị xã An Nhơn) là nơi tập trung nhiều làng nghề
6.5 Đặc sản, ẩm thực
Bình Định có rất nhiều sản vật đặc sắc từ tự nhiên như yến sào, tôm hùm, tôm sú, cua huỳnh đế, mực ống, cá chua, cá ngừ đại dương, chình mun; ẩm thực được hình thành
và phát triển từ tri thức truyền thống như: rượu Bàu Đá, nem Chợ huyện, sản phẩm từ dừa, bún tôm, bún rạm, chả cá Quy Nhơn, bánh tráng, bún Song thằn An Thái, bánh ít lá gai,
Đánh giá chung:
Bình Định có những giá trị văn hóa vô cùng độc đáo và phong phú với nhiều di tích lịch sử - văn hóa vật thể vô giá, nhiều lễ hội truyền thống độc đáo mang đậm bản sắc văn hóa địa phương Ngoài ra các giá trị nghệ thuật, nghề thủ công, đặc sản, ẩm thực truyền thống nổi tiếng được nhiều người, địa phương biết đến Tuy nhiên việc khai thác của chính quyền, các DN lữ hành cũng như nhận thức của người dân địa phương trong việc bảo vệ, phát huy và khai thác các giá trị này chỉ ở mức rất thấp, chưa đạt như tiềm năng khai thác như mong đợi.
Kết quả tính toán về trụ cột Văn hóa đạt 49,10/100 điểm phản ảnh từ những yếu tố chính sau: các di sản có giá trị văn hóa bản địa đang được bảo tồn và phát triển tốt, đã góp phần tạo dựng biểu tượng địa phương Bình Định Tuy nhiên vấn đề xử lý phù hợp mâu thuẫn ngày càng lớn giữa bảo tồn và phát triển, giữa hòa nhập và hòa tan trong hội nhập là một vấn đề khá cấp thiết, nếu chính quyền địa phương và người dân sinh sống trên địa bàn tỉnh Bình Định không giải quyết tốt vấn đề này thì đây sẽ là yếu tố cản trở năng lực hội nhập quốc tế của địa phương trong tương lai.
7 Đặc điểm địa phương
7.1 Vị trí địa lý
Bình Định thuộc vùng duyên hải miền Trung Việt Nam, trải dài theo hướng Bắc – Nam Phía Bắc giáp tỉnh Quảng Ngãi, phía Nam giáp tỉnh Phú Yên, phía Tây giáp tỉnh Gia Lai và phía Đông giáp biển Đông với bờ biển dài 134 km; là một trong 5 tỉnh của Vùng kinh tế trọng điểm miền Trung, có vị trí địa kinh tế quan trọng trong giao lưu với các quốc gia khu vực và quốc tế Đây là cửa ngõ ra biển Đông gần nhất và thuận lợi nhất của Nam Lào, Đông Bắc Campuchia, Thái Lan và Myanma thông qua Quốc lộ 19 và cảng