1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

tieu luan QLNN chuyen vien chinh

30 63 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Một Số Vấn Đề Về Giải Quyết Tình Huống Tranh Chấp Đất Đai Cụ Thể Ở Địa Phương
Trường học Trường Chính trị tỉnh Zình Dương
Chuyên ngành Quản lý nhà nước
Thể loại tiểu luận
Năm xuất bản 2009
Thành phố Zình Dương
Định dạng
Số trang 30
Dung lượng 106 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Đất đai luôn là tài sản có giá trị lớn, thậm chí là vô giá. Do đó, khi có tranh chấp xảy ra, việc giải quyết rất khó khăn, phức tạp. Thậm chí có vụ việc còn kéo dài cả chục hoặc hơn chục năm. Tiểu luận cuối khóa QLNN chuyên viên chính được 10 điểm vì có nhiều giải pháp hữu ích, phương án khả thi, giải quyết vụ việc dứt điểm không để lại hậu quả

Trang 1

LỜI MỞ ĐẦU

Trong thời buổi kinh tế thị trường không ngừng vậnđộng và phát triển, chính sách mở cửa của nhànước được đề cao, giao lưu kinh tế, văn hóa, xã hộivới các nước trên thế giới đang từng ngày, từng giờthôi thúc, đời sống xã hội cũng vì thế ngày mộtbiến chuyển như vũ bão Những cơn sốt thị trườngtrong các lĩnh vực như những vòng xoáy mà con ngườirất khó có thể bứt mình ra khỏi Đặc biệt là tronglĩnh vực đất đai – loại hàng hóa đặc biệt nhất trongcác loại hàng hóa, loại tài sản vô giá nhất trong cácloại tài sản vô giá – thuộc sở hữu toàn dân chứkhông của riêng ai, do nhà nước thống nhất quản lývà là đại diện chủ sở hữu Cùng với sự phát triểnđó của kinh tế – xã hội, sự đổi mới cơ chế thị trườngvà phát triển các khu đô thị, giá đất không thểthống kê được theo cách tính thông thường và trongmặc định thời gian như như loại giá cả khác Chính điềuấy cũng là một nguyên nhân quan trọng dẫn đếnviệc tranh chấp đất đai

Tình trạng tranh chấp về đất đai diễn ra phức tạp,dẫn đến khiếu nại, khiếu kiện gay gắt, kéo dài, vượtcấp và có xu hướng gia tăng Việc giải quyết khiếunại, khiếu kiện nếu không thận trọng, kiên quyết vàthấu tình đạt lý sẽ không đạt được kết quả, hiệu quảmà còn có thể càng gia tăng tình trạng khiếu nại

Trong phạm vi quản lý hành chính và chức năngnhiệm vụ về chuyên môn nghiệp vụ đang phụ trách,

tôi chọn đề tài “Một số vấn đề về giải quyết tình huống tranh chấp đất đai cụ thể ở địa phương” để thực hiện bài viết tiểu luận cuối khóa

lớp bồi dưỡng kiến thức quản lý nhà nước chuyênviên

Đây là một tình huống tranh chấp thực tế đangdiễn ra ở địa phương, cùng với những kiến thức màngười viết được học tập qua lớp bồi dưỡng kiến thứcquản lý nhà nước chương trình chuyên viên, người viếtcó những đề xuất về phương án giải quyết, với hy

Trang 2

vọng lớn lao có thể được cơ quan có thẩm quyền thamkhảo khi xây dựng, xem xét hoặc lựa chọn các phươngán giải quyết vấn đề cho vụ việc tranh chấp đangdiễn ra Tuy nhiên, để đảm bảo không ảnh hưởngđến những người có liên quan trong vụ tranh chấp,không "đụng chạm" trong quá trình phân tích, nhận xétsự việc theo cảm nhận khách quan của bản thân,người viết đã thay đổi họ tên và ký tự hóa địa chỉcủa các đương sự Đồng thời, trong quá trình nêu têncác chủ thể trong diễn biến và xử lý tình huống,mặc dù không nêu tên cơ quan, đơn vị, nhưng trongphần đánh giá nhận xét chắc chắn còn sơ suất hoặcmang tính chủ quan, rất mong được quý cơ quan, đơn vịliên quan thông cảm và miễn chấp

Qua việc giải quyết tình huống này, người viết nhậnthức được vị trí, vai trò và tầm quan trọng của vai tròchuyên viên trong việc quyết định và đánh giá hiệuquả giải quyết tranh chấp đất đai Từ đó, có cáchnhìn khách quan và cảm nhận đúng đắn hơn khi đánhgiá vai trò và vị trí của đội ngũ cán bộ công chức,

cơ quan nhà nước có thẩm quyền giải quyết tranhchấp đất đai và giải quyết khiếu nại, khiếu kiện tronglĩnh vực đất đai

Trong suốt thời gian được tham gia học lớp Bồi dưỡngkiến thức quản lý Nhà nước chương trình chuyên viênkhóa …… tổ chức tại Trường Chính trị tỉnh Zình Dương(từ ngày …/…/2009 đến …/…/2009), tôi xin chân thànhcảm ơn quý thầy cô, giảng viên ……… đãnhiệt tình truyền đạt những những kiến thức quý báu,bổ ích, giúp vận dụng vào trong giải quyết tình huốngquản lý hành chính nhà nước ở cơ quan, địa phương vànhất là trong công tác hiện nay của bản thân Xinchân thành cảm ơn quý đồng nghiệp đã có những ýkiến trao đổi, đề xuất để đưa ra các phương án giảiquyết vấn đề

Vì là lần đầu tiên làm tiểu luận tình huống, nhữngkiến giải còn mới mẻ nên không thể tránh khỏinhững thiếu sót Học viên rất trân trọng những ý

Trang 3

kiến đóng góp, nhận xét chân tình của quý thầy côgiảng viên.

………

Trang 4

GIỚI THIỆU TÌNH HUỐNG

1 Quan hệ nhân thân của các nhân vật:

- Ông Nguyễn Văn Phúc là cha của bà Lê ThịDung

- Bà Lê Thị Dung là mẹ ruột của bà Đỗ Thị Dương

- Bà Đỗ Thị Dương có 5 người con riêng là:

+ Nguyễn Văn Tiến, sinh năm 1965+ Nguyễn Văn Khánh, sinh năm 1966

+ Nguyễn Thị Nhung, sinh năm 1967+ Nguyễn Thị Diễm, sinh năm 1969+ Nguyễn Thị Thanh, sinh năm 1971

- Bà Đỗ Thị Dương và ông Trần Văn Tài là vợchồng có 2 con chung là:

+ Trần Ann, sinh năm 1976+ Trần Bình, sinh năm 1978

- Bà Nguyễn Thị Diễm là nguyên đơn tranh chấp,khiếu nại và khởi kiện

2 Nguồn gốc và quá trình sử dụng đất trước khi xảy ra tranh chấp:

Phần đất tranh chấp có diện tích 11.352m2 tọa lạctại xã X, huyện Y, tỉnh Z, gồm:

- Đất ruộng 3.996m2, tờ bản đồ số 39 thửa số 363.Đất này do bà Lê Thị Dung khai phá sử dụng trướcnăm 1975, trong chiến tranh đất bị bỏ hoang Sau 1975,bà Lê Thị Dung cho ông Trần Văn Tài và bà Đỗ ThịDương phục hoá sử dụng (bà Lê Thị Dung là mẹ củabà Đỗ Thị Dương và là bà ngoại của bà Nguyễn ThịDiễm)

- Đất gò diện tích 7.656 m2, tờ bản đồ số 32 thửasố 104, do ông Nguyễn Văn Phúc khai phá sử dụngtrước 1975, trong chiến tranh đất bỏ hoang, sau giảiphóng 1975, ông Nguyễn Văn Phúc cho bà Đỗ ThịDương và ông Trần Văn Tài phục hoá sử dụng (ôngNguyễn Văn Phúc là cha của bà Lê Thị Dung, ông

Trang 5

ngoại của bà Đỗ Thị Dương và là ông cố ngoại củabà Nguyễn Thị Diễm).

Năm 1975, bà Đỗ Thị Dương và ông Trần Văn Tàikhai hoang phục hoá để sử dụng đất trên, phần đấtruộng thì sử dụng cấy lúa, đất gò sử dụng làm nhà

ở và trồng cây ăn trái

Năm 1980, bà Đỗ Thị Dương chết, ông Trần VănTài có vợ khác Phần đất trên do 7 người con của ôngTrần Văn Tài và bà Đỗ Thị Dương tiếp tục sinh sốngsử dụng Lần lượt các người con của bà Đỗ Thị Dươnglập gia đình và theo chồng (bà Nguyễn Văn Tiến, sinhnăm 1965; bà Nguyễn Văn Khánh, sinh năm 1966; bàNguyễn Thị Nhung, sinh năm 1967, bà Nguyễn Thị Thanh,sinh năm 1971), chỉ còn lại bà Nguyễn Thị Diễm, sinhnăm 1969 ( là con riêng bà Đỗ Thị Dương), ông Trần Anvà ông Trần Bình (con chung của ông Trần Văn Tài vàbà Đỗ Thị Dương) sử dụng đất trên Năm 1992, bàNguyễn Thị Diễm lấy chồng và tiếp tục sử dụng đấtđó Đến năm 1999, bà Nguyễn Thị Diễm theo chồngvề quê sống Đất bị bỏ hoang một thời gian (từ năm

1999 đến năm 2001), năm 2001 ông Trần Bình trở vềkhai phá đất để sản xuất thì bà Nguyễn Thị Diễmkhông cho nên xảy ra tranh chấp

3 Diễn biến tình huống tranh chấp:

* Đơn tranh chấp của bà Nguyễn Thị Diễm gửi Ủyban nhân dân xã X Ngày 02/5/2002, Ủy ban nhân dânxã X có buổi hòa giải, ý kiến các bên như sau:

- Bà Nguyễn Văn Tiến và Nguyễn Thị Nhung (là 2người con riêng của bà Đỗ Thị Dương), ông Trần An vàTrần Bình ( là hai người con chung của bà Đỗ Thị Dươngvà ông Trần Văn Tài): đều đồng ý chia phần đất11.352m2 thành 7 phần cho 7 anh chị em, mỗi người 1phần

- Bà Nguyễn Thị Diễm: không đồng ý chia thành 7phần Vì đất này của ông Nguyễn Văn Phúc (ông cốngoại) và bà Lê Thị Dung (bà ngoại) để lại cho bàNguyễn Thị Diễm, nên chỉ đồng ý chia khi nào ôngNguyễn Văn Phúc và bà Lê Thị Dung cũng đồng ý

Trang 6

như thế Tuy nhiên bà Nguyễn Thị Diễm không xuấttrình được bất cứ giấy tờ gì chứng minh ông NguyễnVăn Phúc và bà Lê Thị Dung đã cho bà sử dụng đấtđó

Kết quả hòa giải không thành

* Ngày 07/6/2002, Ủy ban nhân dân xã X tiến hànhhòa giải lần thứ 2 nhưng vẫn không thành vì cả 2bên đều giữ nguyên ý kiến như lần đầu

* Ngày 14/8/2002, Ủy ban nhân dân xã X tiến hànhhòa giải lần thứ 3 với sự tham gia của ông Trần VănTài (cha đẻ của Trần An, Trần Bình và là cha dượngcủa bà Nguyễn Thị Diễm), nhưng kết quả cũng khôngthành Hai bên đều giữ nguyên ý kiến như lần đầu.Ông Trần Văn Tài nêu ý kiến đồng ý chia diện tíchđất trên thành 7 phần cho 7 người con (gồm 2 con chungcủa ông với bà Đỗ Thị Dương và 5 người con riêngcủa bà Đỗ Thị Dương) Ủy ban nhân dân xã X chuyểnhồ sơ tranh chấp lên Thanh tra huyện Y để tiếp tục giảiquyết theo quy định pháp luật

* Ngày 01/4/2003 Thanh tra huyện tiến hành làmviệc giữa các bên đương sự Ý kiến như sau:

- Ông Trần Văn Tài (là cha đẻ của ông Trần An,Trần Bình và là cha dượng của bà Nguyễn Thị Diễm),

04 người con có mặt ở lần hòa giải đầu tiên tại Ủyban nhân dân xã X (là ông Trần An, Trần Bình, bàNguyễn Thị Thanh, Nguyễn Thị Nhung): đồng ý kiến chia11.352m2 đất trên cho 7 chị em

- Bà Nguyễn Thị Diễm: đất đó do ông bà để lạicho bà sử dụng nên bà sử dụng hết, không chia cho aicả

- Ông Nguyễn Văn Phúc và bà Lê Thị Dung (là haicha con, có công khai phá đất trên từ trong chiến tranh,sau giải phóng năm 1975 mới cho lại bà Đỗ Thị Dươngvà ông Trần Văn Tài tiếp tục sử dụng) được mời đếnlàm việc và nêu ý kiến: đất đó có nguồn gốc củaNhà nước, nên Nhà nước giải quyết sao ông, bàcũng không có ý kiến gì

Trang 7

Từ kết quả làm việc trên, ngày 15/5/2003 Thanh trahuyện Y đã tham mưu Ủy ban nhân dân huyện Y banhành Quyết định số 28/QĐ-CT về việc giải quyết đơntranh chấp đất đai của bà Nguyễn Thị Diễm, kết quảgiải quyết như sau:

- Đơn của bà Nguyễn Thị Diễm là không có cơ sởgiải quyết

- Giao phần đất 11.352m2 trên cho hộ ông Trần VănTài

Quyết định được công bố ngày 22/5/2003 Đến24/9/2003, Thanh tra huyện, Phòng Tài nguyên Môitrường huyện Y và Ủy ban nhân dân xã X tiến hànhlập biên bản giao đất để thực hiện Quyết định 28/QĐ-CT

Về phía ông Trần Văn Tài, sau khi có Quyết địnhsố 28/QĐ-CT ngày 15/5/2003 về việc giải quyết tranhchấp đất đai, ông Trần Văn Tài đi đăng ký kê khai xincấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất Đến ngày09/10/2006 ông Trần Văn Tài được Ủy ban nhân dânhuyện Y cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đấtdiện tích 7.356m2 tại thửa đất số 104 tờ bản đồ số

32 Tiếp theo, ngày 13/9/2007 ông Trần Văn Tài đượcỦy ban nhân dân huyện Y cấp Giấy chứng nhậnquyền sử dụng đất diện tích 3.996m2 tại thửa số 363tờ bản đồ 39

Tuy nhiên, năm 2004, bà Nguyễn Thị Diễm có đếnỦy ban nhân dân xã X để làm thủ tục cấp Giấychứng nhận quyền sử dụng đất đối với 27.267m2,gồm các thửa:

+ Thửa 363 tờ bản đồ số 39 – diện tích 3.996m2

+ Thửa 94 tờ bản đồ số 32 – diện tích 3.032m2

+ Thửa 104 tờ bản đồ số 32 – diện tích 7.656m2

+ Thửa 478, 479, 480, 481 tờ bản đồ số 44 – diệntích 12.883m2

Hồ sơ đăng ký quyền sử dụng đất của bàNguyễn Thị Diễm được Ủy ban nhân dân xã X xét đủđiều kiện cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đấtnên ngày 30/8/2004 Ủy ban nhân dân huyện Y đã cấp

Trang 8

quyền sử dụng đất cho bà Nguyễn Thị Diễm với tổngdiện tích là 27.267m2 (bao gồm cả diện tích 11.352m2đất của ông Trần Văn Tài, gồm thửa 363 tờ bản đồsố 39 – diện tích 3.996m2 và thửa 104 tờ bản đồ số 32– diện tích 7.656m2)

Đến năm 2005, ông Trần Văn Tài tiến hành xâydựng 01 căn nhà để thờ ông bà (diện tích ngang 5m xdài 12m), giữa hai bên phát sinh mâu thuẫn, Ủy bannhân dân xã X phát hiện diện tích 11.352m2 đất trướcđây hai bên tranh chấp (đã được giải quyết bằngQuyết định 28/QĐ-CT của Chủ tịch Ủy ban nhân dânhuyện và Biên bản giao đất ngày 24/9/2003 với kếtquả giao cho ông Trần Văn Tài) nhưng lại đang ở trongGiấy chứng nhận quyền sử dụng đất do bà NguyễnThị Diễm đứng tên từ năm 2004 Do đó, ngày03/7/2006, Ủy ban nhân dân xã X đã có Tờ trình xin thuhồi giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đã cấp chobà Nguyễn Thị Diễm; ngày 25/9/2006, Phòng TàiNguyên và Môi trường tham mưu Ủy ban nhân dânhuyện quyết định thu hồi Giấy chứng nhận quyền sửdụng đất đã cấp cho bà Nguyễn Thị Diễm

Ngày 03/10/2006, Ủy ban nhân dân huyện đã banhành Quyết định số 618/QĐ-UBND về việc thu hồi Giấychứng nhận quyền sử dụng đất số 01439 QSDĐ/QĐ-UBngày 30/8/2004 do bà Nguyễn Thị Diễm đứng tên đốivới các thửa 363 tờ bản đồ 39 diện tích 3.996m2, thửa

104 tờ bản đồ 32 diện tích 7.356m2; đồng thời cấp lạicho bà Nguyễn Thị Diễm Giấy chứng nhận quyền sửdụng đất đối với các thửa 478, 479, 480, 481 tờ bảnđồ 44 diện tích 12.883m2 (sót thửa 94 tờ bản đồ 32diện tích 3.032m2, đây là diện tích đất do bà NguyễnThị Diễm khai phá, không liên quan diện tích đất tranhchấp)

Ngày 13/8/2008 trao đổi với cơ quan thanh tra huyện,ông Trần Văn Tài thể hiện ý nguyện chia phần đấttrên thành 7 phần cho 7 đứa con (gồm 5 người conriêng của bà Đỗ Thị Dương và 2 người con chung củaông với bà Đỗ Thị Dương), bản thân ông không nhậnphần nào, phần đã xây nhà thờ tự ông bà từ năm

Trang 9

2005 hiện do ông Trần Bình (con trai út ông Trần VănTài và bà Đỗ Thị Dương) quản lý, sử dụng Vì theoông Trần Văn Tài, nguồn gốc đất trên là do bên vợ(gồm ông ngoại vợ – ông Nguyễn Văn Phúc, và mẹ vợ– bà Lê Thị Dung) khai phá và cho lại vợ chồng ôngtiếp tục canh tác, nay để lại cho các con của vợ ônglà hợp tình, hợp lý.

Bà Nguyễn Thị Diễm không đồng ý với Quyếtđịnh 618/QĐ-UBND về việc thu hồi Giấy chứng nhậnquyền sử dụng đất của mình nên đã khiếu nại Quyếtđịnh 618/QĐ-UBND đến Chủ tịch Ủy ban nhân dânhuyện

Ngày 01/4/2008, Chủ tịch Ủy ban nhân dân huyệnban hành Quyết định số 359/QĐ-UBND về việc giảiquyết khiếu nại của bà Nguyễn Thị Diễm đối vớiQuyết định 618/QĐ-UBND Nội dung: bác đơn khiếu nạicủa bà Nguyễn Thị Diễm, giữ nguyên Quyết định618/QĐ-UBND

Bà Nguyễn Thị Diễm không đồng ý với Quyếtđịnh 618/QĐ-UBND về việc thu hồi Giấy chứng nhậnquyền sử dụng đất của mình, nên đã khiếu nại đếnChủ tịch Ủy ban nhân dân huyện

Ngày 01/4/2008, Chủ tịch Ủy ban nhân dân huyệnban hành Quyết định số 359/QĐ-UBND về việc giảiquyết khiếu nại của bà Nguyễn Thị Diễm đối vớiQuyết định 618/QĐ-UBND Nội dung giải quyết như sau:bác đơn khiếu nại của bà Nguyễn Thị Diễm, giữnguyên Quyết định 618/QĐ-UBND

Bà Nguyễn Thị Diễm không đồng ý với Quyếtđịnh 359/QĐ-UBND nên khởi kiện một vụ án hành chínhtại Tòa án nhân dân huyện Y yêu cầu hủy Quyếtđịnh 618/QĐ-UBND

Trong quá trình Tòa án thụ lý vụ việc, Ủy ban nhândân huyện Y ban hành Quyết định số 760/QĐ-UBNDngày 11/8/2008 bổ sung một phần Quyết định 618/QĐ-UBND: cấp bổ sung Giấy chứng nhận quyền sử dụngđất cho bà Nguyễn Thị Diễm đối với thửa đất số 94thuộc tờ bản đồ 32 diện tích 3.032m2

Trang 10

Tại bản án hành chính sơ thẩm số 01/2008/HCSTngày 29/8/2008 của Tòa án nhân dân huyện Y tuyênkhông chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà NguyễnThị Diễm về việc hủy Quyết định hành chính số618/QĐ-UBND của Chủ tịch Ủy ban nhân dân huyện,giữ nguyên Quyết định 618/QĐ-UBND và Quyết định760/QĐ-UBND bổ sung Quyết định 618/QĐ-UBND.

Bà Nguyễn Thị Diễm kháng cáo Tuy nhiên, tạiphiên tòa phúc thẩm, bà Nguyễn Thị Diễm đã tựnguyện rút lại đơn khởi kiện và yêu cầu kháng cáo.Tại bản án hành chính phúc thẩm số 02/2009/HCPTngày 17/02/2009, Tòa án nhân dân tỉnh Z tuyên: chấpnhận yêu cầu rút đơn khởi kiện và yêu cầu khángcáo của đương sự; hủy bản án sơ thẩm số01/2008/HCST ngày 29/8/2008 của Tòa án nhân dânhuyện Y, đình chỉ giải quyết vụ án

Ngày 30/3/2009, Ủy ban nhân dân huyện ban hành

2 quyết định:

- Một là, Quyết định số 261/QĐ-UBND về việcthu hồi Quyết định 618/QĐ-UBND ngày 03/10/2006và Quyết định 760/QĐ-UBND ngày 11/8/2008

- Hai là, Quyết định số 262/QĐ-UBND về việcthu hồi đất và Giấy chứng nhận quyền sửdụng đất

Bà Nguyễn Thị Diễm không đồng ý việc thu hồiđất và giấy chứng nhận quyền sử dụng đất nênkhiếu nại Quyết định 262/QĐ-UBND

Trang 11

PHÂN TÍCH TÌNH HUỐNG

1 Phân tích theo diễn biến của tình huống:

Từ việc giải quyết một tình huống tranh chấp đấtđai xảy ra từ năm 2001 đến nay, đã có quyết địnhgiải quyết tranh chấp, dẫn đến khiếu nại quyết địnhhành chính, sau đó khiếu kiện hành chính, lại tiếp tụckhiếu nại Có thể thấy:

Những năm trước 1980 đến 1999, việc canh tác, sửdụng đất giữa 7 chị em cùng mẹ khác cha không cóvấn đề gì, mục đích sử dụng đất chủ yếu là trồnglúa và cây ăn trái cho thu hoa lợi không đáng kể,dẫn đến việc đất bị bỏ hoang từ năm 1999 đến năm2001

Từ năm 2000, đất đai trở nên có giá, có thời giantrở thành “sốt giá” với sự gia tăng ảo giữa giá trịthực tế (còn gọi là giá thị trường) và giá đất theokhung giá nhà nước quy định Trước những mối lợikhổng lồ do đất đai mang lại, không ít trường hợp chamẹ con, vợ chồng, anh chị em… phát sinh mâu thuẫn,từ tranh giành từng miếng đất dẫn đến đưa nhau ratrước pháp đình Cụ thể như tình huống trên, sự tranhchấp trước sau chỉ diễn ra giữa bà Nguyễn Thị Diễmvới ông Trần Bình (là hai chị em cùng mẹ khác cha).Quá trình tranh chấp đã dẫn đến sự có mặt củanhững người liên quan có quyền thừa kế đối với đấtđó, gồm ông Trần Văn Tài (người có công khai phácùng với bà Đỗ Thị Dương), các người con riêng củabà Đỗ Thị Dương (bà Nguyễn Văn Khánh và NguyễnThị Thanh không có ý kiến gì, cũng không đồng ýtham gia vụ việc tranh chấp), ông Trần An (con chungcủa ông Trần Văn Tài và bà Đỗ Thị Dương, là emcùng mẹ với bà Nguyễn Thị Diễm)

Xem xét toàn bộ quá trình vụ việc từ khi ông TrầnBình cho xe san ủi đất để sử dụng thì bà Nguyễn ThịDiễm không cho, nên giữa hai bên mâu thuẫn vàphát sinh tranh chấp cho đến nay, có thể thấy rằng,nguồn gốc đất là của ông cố ngoại và bà ngoại của

Trang 12

cả 7 chị em để lại, lẽ ra, các chị em có thể thỏathuận phân chia để cùng thừa hưởng, nhưng bàNguyễn Thị Diễm luôn muốn giành toàn bộ quyền sửdụng Đó chính là nguyên nhân dẫn đến sự tranh chấpkéo dài và kéo theo cả quá trình giải quyết khiếunại, khiếu kiện với sự tham gia giải quyết vụ việc củanhiều cơ quan (Ủy ban nhân dân xã, huyện, Tòa ánhuyện, Tòa án tỉnh, Thanh tra, Phòng Tài nguyên Môitrường).

Quyết định 28/QĐ-CT về việc giải quyết tranh chấpđất đai đã có hiệu lực pháp luật, các cơ quan hữutrách đã tiến hành giao đất trên thực tế, nhưng việcđăng ký cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đấtcủa ông Trần Văn Tài bị thiếu sót nên đăng ký từnăm 2003 mà đến năm 2006 mới được cấp Giấychứng nhận Trong khi đó, việc bà Nguyễn Thị Diễmđược xét đủ điều kiện cấp Giấy chứng nhận quyềnsử dụng đất, thực tế đã thực hiện việc kê khai đăngký và được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đấtvào năm 2004 đối với 11.352m2 đất tranh chấp năm

2003 với ông Trần Văn Tài Từ đó cho thấy, khâuquản lý, theo dõi thực hiện quyết định giải quyết tranhchấp đất đai còn bị bỏ ngõ, không đảm bảo tínhnghiêm túc Mặt khác, Quyết định 618/QĐ-UBND thu hồicác thửa đất 363 tờ bản đồ 39, thửa 104 tờ bản đồ

32 để cấp cho ông Trần Văn Tài, nhưng lẽ ra phải cấpthửa 94 tờ bản đồ 32 và các thửa 478 đến 481 tờbản đồ 44 cho bà Nguyễn Thị Diễm thì cơ quan thammưu ra quyết định giải quyết tranh chấp lại thiếu sótmất thửa 94 Việc được cấp Giấy chứng nhận quyềnsử dụng đất rồi lại bị thu hồi (bởi Quyết định 618/QĐ-UBND) và quyết định thu hồi lại thiếu sót thửa 94 chínhlà cơ sở để bà Nguyễn Thị Diễm thực hiện các việckhiếu nại, khiếu kiện sau này

Tóm lại, về phía bà Nguyễn Thị Diễm, do bà khôngđồng ý với quyết định thu hồi quyền sử dụng đấtmà Ủy ban nhân dân đã cấp cho bà từ năm 2004;về phía cơ quan tham mưu giải quyết khiếu nại, đãkhông xem xét kỹ vấn đề, thu hồi giấy chứng nhậnquyền sử dụng đất nhưng lại không thu hồi đất (theo

Trang 13

quy định của khoản 2 điều 42 Nghị định 181/2004/NĐ-CPngày 29/10/2004)

Việc ban hành Quyết định 618/QĐ-UBND có sai sótlà: tổng diện tích đất cấp cho bà Nguyễn Thị Diễm là27.267m2, thu hồi 11.352m2 để cấp cho ông Trần VănTài theo Quyết định 28/QĐ-CT về giải quyết tranh chấpđất đai, nhưng lại để thiếu mất thửa 94 (diện tích3.032m2) của bà Nguyễn Thị Diễm, do đó, phải banhành tiếp Quyết định 760/QĐ-UBND để bổ sung nộidung này Sau đó, Quyết định 618/QĐ-UBND bị kiện ratòa, vụ việc qua xét xử sơ thẩm, bị kháng cáo nêntiếp tục xét xử phúc thẩm, kết quả cuối cùng làđình chỉ giải quyết vụ án Nhưng sau khi có kết quảxét xử của Tòa án, Quyết định 618/QĐ-UBND vàQuyết định 760/QĐ-UBND lại không được tiếp tục thựchiện mà bị thu hồi theo Quyết định 261/QĐ-UBND vì lýdo:

- Quyết định 618/QĐ-UBND bị thiếu sót làkhông cấp lại cho hộ bà Nguyễn Thị Diễm thửađất số 94 tờ bản đồ 32 với diện tích 3.032m2

- Quyết định 760/QĐ-UBND là quyết định đượcban hành để bổ sung Quyết định 618/QĐ-UBND, nênthu hồi Quyết định 618/QĐ-UBND thì phải thu hồiluôn

Đồng thời, cơ quan tham mưu giải quyết vụ việc lạitiếp tục tham mưu Ủy ban nhân dân huyện ban hànhQuyết định 262/QĐ-UBND thu hồi đất và giấy chứngnhận quyền sử dụng đất Quyết định này một mặtkhắc phục những thiếu sót của Quyết định 618/QĐ-UBND và Quyết định 760/QĐ-UBND, nhưng mặt khác lạitạo điều kiện để đương sự thực hiện quyền khiếu nạihoặc khởi kiện hành chính, bởi vì theo quy định tại LuậtKhiếu nại, tố cáo, một quyết định hành chính có thể

bị khiếu nại qua hai cấp giải quyết hoặc bị khởi kiện

ra tòa và cũng trải qua hai cấp xét xử theo trình tự,thủ tục quy định tại Pháp lệnh thủ tục giải quyết cácvụ án hành chính

Ở một góc độ khác, Quyết định 618/QĐ-UBND mặcdù có thiếu sót như đã nêu trên, nhưng đã được bổ

Trang 14

sung bởi Quyết định 760/QĐ-UBND và đã được Tòa ántuyên giữ nguyên, thì có hiệu lực thi hành, do vậy,không nên thu hồi để ban hành Quyết định khác thaythế Vì điều đó làm cho đương sự lẽ ra mất quyềnkhiếu nại tiếp (Quyết định 618/QĐ-UBND là quyết địnhhành chính bị khiếu nại, đã được Chủ tịch Ủy bannhân dân huyện – người ra quyết định – giải quyếtkhiếu nại bởi Quyết định 359, bà Nguyễn Thị Diễmkhông đồng ý với quyết định giải quyết khiếu nạicủa Chủ tịch Ủy ban nhân dân huyện nên lựa chọnkhởi kiện một vụ án hành chính ra Tòa án, thay vìkhiếu nại tiếp đến Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh, dovậy, theo quy định của Luật Khiếu nại, Tố cáo, bàNguyễn Thị Diễm mất quyền khiếu nại tiếp), đồngthời, cũng mất quyền kháng cáo tiếp (vụ việc đã quaxét xử hành chính sơ thẩm, bà Nguyễn Thị Diễmkhông đồng ý nên có kháng cáo và đã được Tòaán tỉnh xét xử phúc thẩm, vì vậy, theo quy định củaPháp lệnh Thủ tục giải quyết các vụ án hành chính,bà Nguyễn Thị Diễm không còn quyền kháng cáo,trừ trường hợp có yêu cầu kháng nghị của cơ quan,tổ chức có thẩm quyền theo quy định), nhưng lại cóđiều kiện tiếp tục khiếu nại một vụ việc khiếu nạimới (đối với Quyết định 262/QĐ-UBND) hoặc khởi kiệnmột vụ án hành chính đối với một quyết định hànhchính mới (nếu bà Diễm không đồng ý với kết quảgiải quyết khiếu nại)

2 Phân tích trách nhiệm, thiếu sót của từng đơn vị và cá nhân liên quan trong tình huống:

Từ những vấn đề trên cho thấy, trong tình huốngnêu ra, mỗi đơn vị và mỗi cá nhân có liên quan đềucó trách nhiệm cũng như thiếu sót nhất định trongviệc để tình huống kéo dài qua nhiều năm Xin tómlược như sau:

- Về phía Ủy ban nhân dân xã X: quản lý biếnđộng đất đai ở địa phương, hiện trạng sử dụng đất,xét duyệt điều kiện cấp Giấy chứng nhận quyền sửdụng đất còn chưa đảm bảo tính chặt chẽ Dẫn đếnsự chồng chéo trong đăng ký cấp giấy chứng nhận

Trang 15

quyền sử dụng đất (cùng một diện tích đất nhưng ôngTrần Văn Tài kê khai đăng ký năm 2003 và được cấpGiấy chứng nhận năm 2006, bà Nguyễn Thị Diễm kêkhai đăng ký năm 2004 và được cấp giấy chứng nhậnnăm 2004) Nguồn gốc đất kê khai theo bà Nguyễn ThịDiễm là do ông bà để lại, nhưng Ủy ban nhân dân xã

X đã không xác minh điều đó Mặt khác, nếu nói đấtđó do ông bà để lại thì phải xác minh xem tại sao có 7chị em mà chỉ có một mình bà Nguyễn Thị Diễm đượchưởng, nhưng Ủy ban nhân dân xã X đã rất chủ quankhi chỉ căn cứ vào nội dung kê khai của bà NguyễnThị Diễm mà bỏ qua các anh, chị, em khác của bàNguyễn Thị Diễm

- Về phía cơ quan tham mưu giải quyết tranh chấp:Phòng Tài nguyên và Môi trường là cơ quan chuyênmôn quản lý về đất đai ở địa phương, nhưng công tácquản lý đất đai còn lỏng lẻo, đất tranh chấp đã cóquyết định giải quyết tranh chấp có hiệu lực phápluật nhưng không theo dõi được tiến độ cấp Giấychứng nhận quyền sử dụng đất cũng như thực trạngsử dụng đất; thiếu trách nhiệm trong việc kiểm tra hồ

sơ do địa phương (Ủy ban nhân dân xã) chuyển lên Vìvậy, tham mưu Ủy ban nhân dân huyện cấp giấychứng nhận quyền sử dụng đất cho bà Nguyễn ThịDiễm vào năm 2004, trong khi hồ sơ của ông Trần VănTài từ năm 2003 cũng đối với diện tích đất đó màchưa được cấp Ngòai ra, còn sơ sót trong việc tham mưuban hành quyết định, dẫn đến việc ban hành quyếtđịnh bổ sung, thay thế, thu hồi nhiều lần trong cùng vụviệc (do thu hồi mà không cấp lại thửa 94 tờ bản đồ

32 (diện tích 3.032m2) cho bà Nguyễn Thị Diễm)

- Về phía ông Trần Văn Tài: khi tham gia vụ việctranh chấp với tư cách người bị tranh chấp, ông TrầnVăn Tài luôn thể hiện ý chí và nguyện vọng giànhdiện tích đất trên cho 2 đứa con chung của ông và 4người con riêng của bà Đỗ Thị Dương Nhưng khi sự việctranh chấp được giải quyết xong (bằng Quyết định28/QĐ-CT), ông lại chủ quan và thiếu trách nhiệm trongviệc kê khai đăng ký quyền sử dụng đất để phânchia cho các con, chỉ bằng hành động nộp hồ sơ kê

Ngày đăng: 22/10/2021, 06:41

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
3. Luật Tổ chức Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân ngày 26/11/2003 Khác
4. Luật Khiếu nại Tố cáo năm 1998, Luật sửa đổi một số điều của Luật khiếu nại Tố cáo năm 2004 và 2005 Khác
5. Luật Đất đai năm 1993, Luật sửa đổi bổ sung một số điều của Luật Đất đai năm 1998, 2001 Khác
7. Nghị định 136/2006/NĐ-CP ngày 14/11/2006 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành Luật Khiếu nại, tố cáo Khác
8. Nghị định 181/2004/NĐ-CP ngày 29/10/2004 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành Luật đất đai Khác

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w