giảm LDL-C và giảm biến cố tim mạch tương tự Dược liệu pháp • Có 6 genes chính được phát hiện có ảnh hưởng đến mức cholesterol của cơ thể • Các morphism SNPs của 6 genes này có liên quan
Trang 1Director of Cath Lab & EP Lab
Hanoi Heart Hospital
Trang 2J Am Heart Assoc 2014; 3:e 001002
Trang 3J Am Heart Assoc 2014; 3:e 001002
Trang 4J Am Heart Assoc 2014; 3:e 001002
Trang 5J Am Heart Assoc 2014; 3:e 001002
Trang 6J Am Heart Assoc 2014; 3:e 001002
Trang 77
Trang 8Bài học thứ 1: LDL cholesterol là nhân tố
nguyên nhân cho bệnh lý ĐMV
Trang 9Bài học thứ 2: Phát hiện gen tăng LDL là
một yếu tố nguy cơ
J Atheroscler Thromb, 2017; 24: 452-461.
Trang 10Bài học thứ 2: Phát hiện gen tăng LDL là một
yếu tố nguy cơ
Tada H et al Eur Heart J 2017; 21;38(20):1573-1579
Trang 11Bài học thứ 3: Phát hiện gen tăng LDL giúp
chẩn đoán lâm sàng
Eur Heart J 2013;34(45):3478-3490
Trang 12giảm LDL-C và giảm biến cố tim mạch tương tự
Dược liệu pháp
• Có 6 genes chính được phát hiện có ảnh hưởng đến
mức cholesterol của cơ thể
• Các morphism (SNPs) của 6 genes này có liên quan đến mức LDL-C thấp tự nhiên của cơ thể, và tác động lên
những cơ chế tương tự như các thuốc hạ lipid máu hiện đại Ví dụ: gene PCSK9 (~PCSK9i), gene HMGCR (~
statin), gene ABCG8 (~Ezetimibe)
Tada H et al Eur Heart J 2017; 21;38(20):1573-1579
Trang 13Bài học thứ 4: Xác định các Genes có hiệu quả giảm LDL-C và giảm biến cố tim mạch tương tự
Trang 14• Chúng ta chưa áp dụng lâm sàng điều này??
• Trong FH, khi các chỉ dẫn về chẩn đoán lâm sàng là
chưa rõ ràng ở hầu hết các Guideline dựa vào xét
nghiệm gen có thể trợ giúp chúng ta trong việc phân
tầng nguy cơ
• Các gen này không chỉ trợ giúp cho bệnh lý ĐMV mà
còn giúp phân định các yếu tố nguy cơ truyền thống
khác như THA, ĐTĐ,
Tada H et al Eur Heart J 2017; 21;38(20):1573-1579
Trang 15J Atheroscler Thromb, 2017; 24: 452-461.
Trang 16Bài học thứ 6: Vì sao phải kê statin?
Trang 17Fluvastatin 20–40 mg Pitavastatin 1 mg
Stone NJ, et al J Am Coll Cardiol 2013: doi:10.1016/j.jacc.2013.11.002 Available at:
http://content.onlinejacc.org/article.aspx?articleid=1770217 Accessed November 13, 2013.
Lifestyle modification remains a critical component of ASCVD risk reduction, both prior to and in concert with the use of cholesterol lowering drug therapies
Statins/doses that were not tested in randomized controlled trials (RCTs) reviewed are listed in italics
†Evidence from 1 RCT only: down-titration if unable to tolerate atorvastatin 80 mg in IDEAL
‡Initiation of or titration to simvastatin 80 mg not recommended by the FDA due to the increased risk of myopathy, including rhabdomyolysis
Trang 18Bài học thứ 7: Điều trị hạ LDL-C
càng sớm càng tốt?
• Tuy nhiên, rất khó để tiến hành 1 RCT thông thường
để theo dõi một số lượng lớn người chưa có TCLS trong suốt nhiều thập kỉ
• Không thể cho những người trẻ chưa có TCLS dùng
thuốc hạ lipid máu trong khoảng thời gian dài đến vậy
• Rất may, các nhà khoa học đã phát hiện ra cách tiến
hành một thử nghiệm lâm sàng tương tự như RCT, đánh giá hiệu quả giảm nguy cơ BMV của việc ngẫu nhiên
phân bố bệnh nhân vô những tình trạng kiểm soát
LDL-C rất thấp trong một khoảng thời gian dài, thông qua
Mendelian randomization
Trang 19Giả thuyết được đặt ra: bắt đầu điều trị
LDL-C từ sớm liệu có tốt hơn?
• Mảng xơ vữa đa phần tiến triển từ những năm 20-30 tuổi Vì
BXVDM là một bệnh mạn tính tiến triển từ rất sớm, phải mất vài
thập niên mới bắt đầu xuất hiện TCLS, chính vì vậy chế độ ăn uống, luyện tập điều độ cần được áp dụng từ sớm trong những năm 20t
và kéo dài suốt cuộc đời Đối với những người không thể kiểm soát LDL-C tốt với chỉ đơn thuần ăn uống và tập luyện điều độ,
• GIẢ THUYẾT NC: bắt đầu sử dụng thuốc hạ Lipid máu từ
những năm 20t và giữ LDL-C thấp trong suốt cuộc đời có khả năng giảm mạnh nguy cơ tiến triển BMV
Trang 20Ference et al, JACC Vol 60, No 25, 2012
Trang 21• Đầu tiên, cơ sở của loại nghiên cứu này là do:
• Có 6 genes được phát hiện có ảnh hưởng đến mức cholesterol của
Điều trị hạ LDL-C càng sớm càng tốt?
Ference et al, JACC Vol 60, No 25, 2012
Trang 22So sánh sự tương đồng giữa NC quan sát sự phân
bố kiểu gene ngẫu nhiên và NC can thiệp RCT
Ference et al, JACC Vol 60, No 25, 2012
Trang 23• Đây là sơ đồ mô tả sự tương tự nhau về mặt thiết kế củamột nghiên cứu Mendelian và 1 RCT thông thường:
• Mendelian trial sẽ tuyển chọn những BN phù hợp tiêu
chí, và đã được xác định là có hoặc không có các allele giảm LDL-C sau đó so sánh mức giảm LDL-C cũng nhưgiảm nguy cơ BMV giữa 2 nhóm
• Do trong quá trình thụ tinh, các allele dc phân phối ngẫunhiên, nên cũng đảm bảo được tính ngẫu nhiên của NC
• Việc xác định có tồn tại allele giảm LDL-C trong cơ thể sẽtương tự với việc được nhận thuốc hạ LDL-C máu ngay
từ khi mới sinh Và ngược lại
Điều trị hạ LDL-C càng sớm càng tốt?
Trang 24• Ví dụ: những người được di truyền allele 46L của gene PCSK9 đã được chứng minh là trong suốt cuộc đời của
họ, mức LDL-C của họ rất thấp, và nguy cơ BMV cũng được giảm rất thấp Điều này được cho rằng là do :
hạ LDL-C phối hợp từ rất sớm
Điều trị hạ LDL-C càng sớm càng tốt?
Trang 25• Đây là kết quả tổng hợp meta analysis từ rất nhiều nghiên cứu trên mối tương quan giữa morphisms và mức giảm LDL-C cũng như
giảm nguy cơ BMV.
• Các nhà NC cũng chuẩn hóa mối tương quan giữ việc có morphism với nguy cơ BMV trên mỗi đơn vị LDL-C giảm được Từ đó so sánh một cách trực tiếp hiệu quả của việc giảm LDL-C lâu dài trên mục
tiêu bảo vệ tim mạch:
• Hạ LDL-C càng sớm sẽ giúp BN duy trì được mức LDL-C thấp
càng lâu hơn
• Chỉ với 1 mmol/l (38.7 mg/dl) LDL-C thấp hơn nhưng được duy
Trang 26Khởi trị hạ LDL-C càng sớm càng tốt
• Hạ LDL-C càng sớm sẽ giúp BN duy trì được mức LDL-C thấp càng lâu hơn
• Chỉ với 1 mmol/l (38.7 mg/dl) LDL-C thấp hơn nhưng được duy trì trong thời gian dài hơn, sẽ giảm được 55% nguy cơ BMV (OR: 0.45, p =8.4x10 -19 ).
• Ngược lại, nếu khởi trị trễ, cần phải giảm LDL-C nhiều hơn gấp 3 lần (3mmol/L) để có thể đạt được mức giảm nguy cơ tương ứng
(OR: 0.44=0.76x0.76x0.76)
Ference et al, JACC Vol 60, No 25, 2012
Trang 27Liệu bắt đầu điều trị hạ LDL-C sớm hơn,
với liệu pháp phối hợp, có đem lại hiệu quả thậm chí tốt hơn trên kết cục tim mạch?
• Điều trị bằng thuốc: đã được chứng minh phối hợp thuốc (statin+ non-statin) đem lại giảm LDL-C mạnh mẽ hơn,
và giảm biến cố tim mạch tốt hơn
• Vậy, đối với các allele giảm LDL-C, việc một người có 2 alleles giảm LDL-C sẽ tốt hơn người chỉ có 1 allele?
• Tiếp theo là phân tích so sánh giữa người chỉ có 1 allele của gene HMGCR (~statin), hoặc chỉ có allele của gene NPC1L1 (~ezetimibe), hoặc có cả 2 alleles (~ liệu pháp phối hợp)
Trang 28Bài học thứ 8: Cơ chế đa gen?
Lancet, 2013; 381: 1293-1301
Trang 29Phân tích gộp các thử nghiệm dùng Statin
38.153 BN
>40% BN dùng statin liều cao đã
không đạt được mục tiêu LDL-C
Trang 30Adapted from Ballantyne CM et al Circulation 2003;107:2409–2415.
10 mg
(n=65)
Ator
10 mg (n=60)
Ezetimibe + atorvastatin
20 mg (n=62)
Atorvastatin
20 mg (n=60)
Ezetimibe
+
atorvastatin
80 mg (n=63)
Atorvastatin
80 mg
(n=62)
Ezetimibe + atorvastatin
40 mg (n=65)
Atorvastatin
40 mg (n=66)
Ở tất cả các mức liều Atorvastatin, phối hợp Ezetimibe với
Atorvastatin kiểm soát LDL-C tốt hơn đơn trị Atorvastatin
* p<0.01
NC Ballantyne: “10+10=80”
Trang 31J Am Coll Cardiol 2015;65:1552–61
với liệu pháp phối hợp , có đem lại hiệu quả thậm chí tốt hơn trên kết cục tim mạch?
Trang 32Giảm LDL-C và nguy cơ BMV nhiều hơn khi tác
động trên cả HMGCR và NPC1L1
J Am Coll Cardiol 2015;65:1552–61
Trang 33Bài học từ nghiên cứu
• Kết quả: nhóm có cả allele NPC1L1 và HMGCR giảm LDL-C nhiều hơn 5.8 mg/dL và giảm nguy cơ BMV nhiều hơn 10.8% (OR: 0.892, 95% CI: 0.854 to 0.932)
• kết luận:
• Dữ liệu trên cơ chế tự nhiên của gene cũng ủng hộ việc phối hợp Statin liều trung bình với Ezetimibe để giảm LDL-C nhiều hơn, và giảm nguy cơ BMV nhiều hơn, với ít tác dụng ngoại ý hơn Statin
liều cao
Trang 34Genetic LDL-C score: là một công cụ để tính toán
hiệu quả của các morphism trên LDL-C
• We first constructed NPC1L1 and HMGCR genetic LDL-C scores to create an instrument that could overcome the weak effect of most NPC1L1 and HMGCR polymorphisms on plasma LDL-C levels, and that would also allow us to randomly allocate study subjects into
approximately equalsize groups to facilitate the 2 2 factorial
analysis.
• We constructed the genetic LDL-C scores by identifying all
polymorphisms in or within 100 kb on either side of the NPC1L1 and HMGCR genes,respectively, that were associated with LDL-C at a threshold of p < 5.0 10-6, as measured in up to 183,465 persons of European descent in the Global Lipids Genetic Consortium (GLGC)
Trang 35Tương quan giữa mức giảm LDL-C bằng Thuốc và
bằng Gene đối với nguy cơ Bệnh Mạch Vành
Phối hợp hiệu quả hơn Đơn trị
J Am Coll Cardiol 2015;65:1552–61
Trang 36• Ý nghĩa sơ đồ trên: đây là sơ đồ thể hiện mối tương quan của Giảm nguy cơ BMV với mức giảm LDL-C,
– đường thẳng ở trên là vẽ từ kết quả của giảm LDL-C
morphism của gene đơn lẻ, ví dụ: gene PCSK9, gen
morphism được phân tích thêm ở NC phía trên: HMGCR đơn lẻ, NPC1L1 đơn lẻ, hoặc phối hợp cả 2.)
– Đường thẳng ở dưới vẽ từ kết quả của giảm LDL-C thông
GIS-P, SEARCH, ALLHAT –LLT), và phối hợp
Tương quan giữa mức giảm LDL-C bằng Thuốc và bằng
Gene đối với nguy cơ Bệnh Mạch Vành
Phối hợp hiệu quả hơn Đơn trị
Trang 37Kết luận từ sơ đồ:
Giảm LDL-C càng nhiều thì mức giảm nguy cơ biến cố
TM càng nhiều, và không phụ thuộc phương pháp điều trị (phối hợp gene hoặc phối hợp thuốc đều tốt hơn đơn
gene/đơn trị) (dùng thuốc cũng giảm, thừa hưởng gene cũng giảm)
Trang 38Kết Luận
- Rối loạn lipid máu và bệnh động mạch vành là nhữngbệnh lý có tính di truyền cao Phân tích gen sẽ có thểgiúp đưa thông tin cho điều trị
- Khởi trị hạ LDL-C càng sớm càng tốt Lợi ích LS phụ
thuộc vào mức giảm LDL-C càng thấp càng tốt và thờigian duy trì LDL-C thấp càng lâu càng tốt, không phụthuộc liệu pháp điều trị
- Số liệu gene gần như tương đồng với hiệu quả điều trị
hạ thấp LDL-C thông qua ức chế NPC1L1 (Ezetimibe)
và HMGCR (Statin)