PHÂN TÍCH CUNG CẦU GIÁ CẢ THỊ TRƯỜNG CỦA MỘT MẶT HÀNG TIÊU DÙNG TRONG MỘT KHOẢNG THỜI GIAN NÀO ĐÓ. PHẦN 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN CHƯƠNG 1:CẦU HÀNG HÓA VÀ DỊCH VỤ I.Khái niệm CẦU VÀ LUẬT CẦU Cầu (D) là số lượng hàng hóa hay dịch vụ mà người mua muốn mua và có khả năng mua ở các mức giá khác nhau trong một khoảng thời gian nhất định, các yếu tố khác không đổi. Muốn mua biểu thị nhu cầu cảu người tiêu dùng về một hàng hóa hoặc dịch vụ nào đó. Sẵn sàng mua biểu thị có khả năng mua, khả năng thanh toán. Thực thế cho thấy, nếu thiếu một trọng hai yếu tố muốn mua và có khả năng mua thì sẽ không tồn tại cầu. Cầu khác nhu cầu, nhu cầu là những mong muốn, sở thích của người tiêu dùng, nhưng có thể không có khả năng thanh toán. Nhu cầu của con người là vô tận, chẳng hạn: Một sinh viên đang sống và học tập tại Hà Nội tranh thủ mấy ngày nghỉ lễ muốn vào thành phố Đà Nẵng bằng máy bay để thăm họ hàng nhưng anh ta không có đủ tiền để mua vé máy bay vì vậy không có cầu của sinh viên này về vé máy bay. Ngoài ra, khi phân tích cầu của người tiêu dùng nào đó chúng ta phải ứng vào một không gian và thời gian cụ thể. Ví dụ, cầu về phở buổi sáng khác buổi trưa. Trong thực tế, người ta hay nói đến cầuthị trường thay vì cầu cá nhân bời các hiện tượng kinh tế thường được dự đoán bởi hành vi của một đám đông chứ không phải hành vi của một cá thể. Lượng cầu (QD) là số lượng hàng hóa hoặc dịch vụ cụ thể mà người mua muốn mua và sẵn sàng mua tại mức giá đã cho trong một khoảng thời gian nhất định. Biểu cầu là bảng chỉ số lượng hàng hóa hoặc dịch vụ mà người tiêu dùng sẵn sàng và có khả năng mua ở các mức giá khác nhau trong một thời gian nhất định (Ceteris Paribus). Ví dụ: Cho biểu cầu về cà phê trên thị trường thành phố X trong một tháng như sau: Bảng cầu về cà phê trên thị trường thành phố X trong một tháng Giá (USD) 45 44 43 42 41 40 Lượng (tấn) 670 680 690 700 710 720 Luật cầu: Số lượng hàng hóa được cầu trong khoảng thời gian đã cho tăng lên khi giá của hàng hóa đó giảm xuống và ngược lại, giả định các yếu tố khác không đổi Giá cả tăng thì lượng cầu giảm: P thì QD Giá cả giảm thì lượng cầu tăng: P thì QD Vì sao lại có luật cầu? Lý do là phần lớn mọi loại hàng hóa (dịch vụ) đều có khả năng thay thế bởi loiaj hàng hóa khác cùng chủng loại. Ví dụ: Mỗi một que kem Tràng tiền giá là 5000 đồng, một sinh viên tên là Nam có thể ăn cùng một lúc 3 chiếc cho thỏa thích, nhưng do chi phí đầu vào tăng nên nhà quản lý kem Tràng tiền quyết định tăng giá mỗi que kem lên 7000 đồng, tâm lý bị chi phối về khả năng thanh toán nên sinh viên Nam giảm tiêu dùng xuống còn 2 chiếc hoặc chuyển sang mua kem merino của kodofoods với giá rẻ hơn. Hầu hết các loại hàng hóa (dicj vụ) trên thị trường đều tuân theo quy luật cầu, chỉ có một số rất ít hàng hóa không tuân theo quy luật cầu, ngược với luật cầu được gọi là hàng hóa giffen. Hàng hóa giffen do nhà thống kê và kinh tế học Ser Rober Giffen (18371910) người Anh đưa ra. Hàng hóa gọi là Giffen khi mà tác động thu nhập đủ lớn để làm lược cầu giảm khi giá giảm. Điều này có nghĩa là đường cầu dốc lên (như đường cung). Trường hợp này hiếm khi xảy ra và ít được quan tâm trong thực tế. Ví dụ: Một khu vực xảy ra lũ lụt và bị cô lập dẫn đến giá lương thựcthực phẩm tăng nhưng cầu về những mặt hàng này không hề giảm mà lại tăng. II. PHƯƠNG TRÌNH VÀ ĐỒ THỊ ĐƯỜNG CẦU Giả định các yếu tố khác không đổi chỉ có mối quan hệ giữa giá cả và lượng cầu, khi đó chúng ta có thể xây dựng hàm cầu tuyến tính có dạng đơn giản: Qx=f(Px) Dạng hàm cầu tuyến tính cơ bản nhất là: QD=a bP hoặc Hàm cầu ngược: P=ab –(1b)QD Trong đó: a và b là hai tham số,a>0 và b≥0. Tham số chặn a cho biết giá trị của QD khi biến P có giá trị bằng 0. Các tham số b được gọi là hệ số góc: Đo ảnh hưởng đối với lượng cầu khi biến P thay đổi và các yếu tố khác giữ nguyên.Ví dụ, hệ số góc b đo sự thay đổi trong lượng cầu khi giá thay đổi 1 đơn vị, có nghĩa là b= ΔQdΔP. Như đã nhấn mạnh ở trên, Qdvà P tỉ lệ nghịch, b có giá trị âm vì ΔQ và ΔP trái dấu. Vậy nếu lượng cầu tăng (giảm) thì ΔQd là số dương (âm).
Trang 1ĐỀ TÀI THẢO LUẬN:
PHÂN TÍCH CUNG CẦU GIÁ CẢ THỊ TRƯỜNG CỦA MỘT MẶT HÀNG TIÊU DÙNG
TRONG MỘT KHOẢNG THỜI GIAN NÀO ĐÓ
LỜI MỞ ĐẦU
Nền kinh tế Việt Nam sau thời kỳ hội nhập kinh tế thế giới đã có những bước phát triển lớn và đạt được nhiều thành tựu nhất định Kinh tế phát triển đồng nghĩa với việc đời sống của người dân được nâng cao hơn nhiều so với trước Con người người ngày càng quan tâm đến vấn đề dinh dưỡng và một trong đó, sữa là một thực phẩm bổ sung chất dinh dưỡng rất tốt Vì vậy, trong sự phát triển chung đó, sẽ là thiếu sót nếu không nhắc đến thị trường sữa Việt Nam
Trên thị trường hiện nay, số lượng cung ứng trên thị trường ngày một gia tăng với chất lượng và mẫu mã đa dạng Trong đó phải kể đến Vinamilk (Công ty cổ phần sữa Việt Nam) – doanh nghiệp hàng đầu của ngành công nghiệp chế biến sữa Với hơn 40 năm phát triển, cái tên Vinamilk chẳng còn xa lạ với người tiêu dùng Việt
Do đó chúng em xin trình bày về đề tài: “Phân tích cung cầu giá cả thị trường của một mặt hàng tiêu dùng trong một khoảng thời gian nào đó” để phân tích biến động thị trường sữa ở Việt Nam
về tình hình sản xuất, nhập khẩu, tình hình tiêu thụ, giá cả, đồng thời đưa ra đề xuất để thúc đẩy thị trường sữa phát triền mạnh hơn
PHẦN 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN
CHƯƠNG 1:CẦU HÀNG HÓA VÀ DỊCH VỤ
I.Khái niệm CẦU VÀ LUẬT CẦU
Cầu (D) là số lượng hàng hóa hay dịch vụ mà người mua muốn mua và có khả năng mua ở các mức giá khác nhau trong một khoảng thời gian nhất định, các yếu tố khác không đổi
Muốn mua biểu thị nhu cầu cảu người tiêu dùng về một hàng hóa hoặc dịch vụ nào đó Sẵn sàng mua biểu thị có khả năng mua, khả năng thanh toán Thực thế cho thấy, nếu
thiếu một trọng hai yếu tố muốn mua và có khả năng mua thì sẽ không tồn tại cầu Cầu khác nhu cầu, nhu cầu là những mong muốn, sở thích của người tiêu dùng, nhưng có thể không có khả năng thanh toán Nhu cầu của con người là vô tận, chẳng hạn: Một sinh viên đang sống và học tập tại Hà Nội tranh thủ mấy ngày nghỉ lễ muốn vào thành phố Đà Nẵng bằng máy bay để thăm họ hàng nhưng anh ta không có đủ tiền để mua vé máy bay vì vậy không có cầu của sinh viên này về vé máy bay Ngoài ra, khi phân tích cầu của người tiêu dùng nào đó chúng ta phải ứng vào một không gian và thời gian cụ thể Ví dụ, cầu về phở buổi sáng khác buổi trưa Trong thực tế, người ta hay nói đến cầu
Trang 2thị trường thay vì cầu cá nhân bời các hiện tượng kinh tế thường được dự đoán bởi hành
vi của một đám đông chứ không phải hành vi của một cá thể
Lượng cầu (QD) là số lượng hàng hóa hoặc dịch vụ cụ thể mà người mua muốn mua và sẵn sàng mua tại mức giá đã cho trong một khoảng thời gian nhất định
Biểu cầu là bảng chỉ số lượng hàng hóa hoặc dịch vụ mà người tiêu dùng sẵn sàng và có khả năng mua ở các mức giá khác nhau trong một thời gian nhất định (Ceteris Paribus)
Ví dụ: Cho biểu cầu về cà phê trên thị trường thành phố X trong một tháng như sau: Bảng cầu về cà phê trên thị trường thành phố X trong một tháng
Giá (USD) 45 44 43 42 41 40
Lượng (tấn) 670 680 690 700 710 720
Luật cầu: Số lượng hàng hóa được cầu trong khoảng thời gian đã cho tăng lên khi giá của hàng hóa đó giảm xuống và ngược lại, giả định các yếu tố khác không đổi
Giá cả tăng thì lượng cầu giảm: P thì QD
Giá cả giảm thì lượng cầu tăng: P thì QD
Vì sao lại có luật cầu? Lý do là phần lớn mọi loại hàng hóa (dịch vụ) đều có khả năng thay thế bởi loiaj hàng hóa khác cùng chủng loại
Ví dụ: Mỗi một que kem Tràng tiền giá là 5000 đồng, một sinh viên tên là Nam có thể
ăn cùng một lúc 3 chiếc cho thỏa thích, nhưng do chi phí đầu vào tăng nên nhà quản lý kem Tràng tiền quyết định tăng giá mỗi que kem lên 7000 đồng, tâm lý bị chi phối về khả năng thanh toán nên sinh viên Nam giảm tiêu dùng xuống còn 2 chiếc hoặc chuyển sang mua kem merino của kodofoods với giá rẻ hơn
Hầu hết các loại hàng hóa (dicj vụ) trên thị trường đều tuân theo quy luật cầu, chỉ có một số rất ít hàng hóa không tuân theo quy luật cầu, ngược với luật cầu được gọi là hàng hóa giffen Hàng hóa giffen do nhà thống kê và kinh tế học Ser Rober Giffen (1837-1910) người Anh đưa ra Hàng hóa gọi là Giffen khi mà tác động thu nhập đủ lớn
để làm lược cầu giảm khi giá giảm Điều này có nghĩa là đường cầu dốc lên (như đường cung) Trường hợp này hiếm khi xảy ra và ít được quan tâm trong thực tế Ví dụ: Một khu vực xảy ra lũ lụt và bị cô lập dẫn đến giá lương thực-thực phẩm tăng nhưng cầu về những mặt hàng này không hề giảm mà lại tăng
II PHƯƠNG TRÌNH VÀ ĐỒ THỊ ĐƯỜNG CẦU
Giả định các yếu tố khác không đổi chỉ có mối quan hệ giữa giá cả và lượng cầu, khi đó chúng ta có thể xây dựng hàm cầu tuyến tính có dạng đơn giản: Qx=f(Px)
-Dạng hàm cầu tuyến tính cơ bản nhất là: QD=a- bP hoặc
-Hàm cầu ngược: P=a/b –(1/b)QD
Trong đó: a và b là hai tham số,a>0 và b≥0 Tham số chặn a cho biết giá trị của QD khi biến P có giá trị bằng 0 Các tham số b được gọi là hệ số góc: Đo ảnh hưởng đối với
lượng cầu khi biến P thay đổi và các yếu tố khác giữ nguyên.Ví dụ, hệ số góc b đo sự thay đổi trong lượng cầu khi giá thay đổi 1 đơn vị, có nghĩa là b= Δ Qd/ ΔP Như đã nhấn mạnh ở trên, Qd và P tỉ lệ nghịch, b có giá trị âm vì Δ Q và ΔP trái dấu Vậy nếu lượng
cầu tăng (giảm) thì ΔQd là số dương (âm)
Tương tự như vậy, nếu giá tăng (giảm) thì Δ P là số dương (âm) Nói chung thương số
Đường cầu: Là đường biểu diễn các mối quan hệ giữa lượng cầu và giá Các điểm nằm trên đường cầu sẽ cho biết lượng cầu của người mua ở các mức giá nhất định
Trang 3P
ΔP
PB B
ΔQ D
O
QA QB Q
Hình 1 Đồ thị đường cầu
Theo quy ước trục tung biểu thị giá cả, trục hoành biểu thị sản lượng, ta xây dựng được đường cầu D( xem hình 1) Với tham số b> 0, đồ thị đường cầu là đường dốc xuống về phía phải, có độ dốc
âm Độ dốc của đường cầu thường được xác định bởi công thức:
ΔPΔQ = - 1b =P’(Q)= 1Q’(P)'
Cầu thị trường: Bằng tổng các mức cầu cá nhân(từ cầu cá nhân ta có thể suy ra được cầu thị
trường) Đường cầu thị trường được xác đinh bằng cách cộng theo chiều ngang (trục hoành) các đường cầu cá nhân tương ứng tại mỗi mức giá Do đó, độ dốc của đường cầu thị trường thường thoải hơn đường cầu cá nhân Hình 2 cho thấy đường cầu thị trường bằng tổng đường cầu A và đường cầu B cộng lại theo chiều ngang
III CÁC YẾU TỐ TÁC ĐỘNG ĐẾN CẦU
Tùy thuộc vào từng loại hàng hóa khác nhau mà các yếu tố tác động đến cầu sẽ khác nhau Sau đây là một số yếu tố tác động đến cầu phổ biến:
-Thu nhập của người tiêu dùng: Thu nhập là một trong những yếu tố quan trọng nhất quyết định mau gì và bao nhiêu đối với người tiêu dùng vì thu nhập quyết định khả năng mua của người tiêu dùng Nếu thu nhập tăng khiến cho người tiêu dùng có cầu cao hơn đối với một loại hàng hóa khi tất cả các yếu tố khác là không đổi, ta gọi hàng hóa hóa đó là hàng hóa thông thường Trong hàng
Trang 4hóa thông thường lại có hàng hóa thiết yếu và hàng hóa xa xỉ Hàng hóa thiết yếu hàng hóa được cầu nhiều hơn khi thu nhập tăng lên nhưng sự tăng cầu là tương đối nhỏ hoặc xấp xỉ như sự tăng của thu nhập Có một số loại hàng hóa và dịch vụ mà khi các yếu tố khác là không đổi, thu nhập tăng sẽ làm giảm cầu tiêu dùng Loại hàng hóa này được gọi là hàng hóa thứ cấp Đối với loại hàng hóa này, thu nhập tăng khiến người tiêu dùng có cầu về hàng hóa này ít đi và thu nhập giảm khiến người tiêu dùng có cầu tăng lên
Khi xét một hàng hóa nào đó là hàng hóa xa xỉ, thông thường hay thứ cấp người ta thường xác định tại một không gian và thời gian cụ thể Một loại hàng hóa có thể vừa là hàng hóa thông thường vừa là hàng hóa thứ cấp Cùng với sự gia tăng thu nhập của người tiêu dùng theo thời gian, một hàng hóa, dịch vụ là hàng bình thường hôm nay có thể trở thành một hàng thứ cấp trong tương lai
• Giá của hàng hóa liên quan trong tiêu dùng: Hàng hóa liên quan gồm hàng hóa thay thế hoặc hàng hóa bổ sung
Hàng hoa thay thế: Là những loại hàng hóa cùng thỏa mãn một nhu cầu ( nhưng có thể mức độ thỏa mãn là khác nhau) Thông thường, hàng hóa thay thế là những loại hàng hóa cùng công thức và cùng chức năng nên người tiêu dùng có thể chuyển từ mặt hàng này sang mặt hàng khác khi giá của các mặt hàng này là thay đổi Nếu các yếu tố khác là không đổi, cầu đối với một loại hàng hóa nào đó sẽ giảm (tăng) đi khi giá của hàng hóa thay thế của nó giảm (tăng), ví dụ như chè và cà phê, rau muống và rau cải, nước chanh và nước cam,
Hàng hóa bổ sung: Là những hàng hóa được sử dụng song hành với nhau để bổ sung cho nhau nhằm thỏa mãn một nhu cầu nhất định nào đó Nếu các yếu tố khác không đổi, cầu đối với một loại hàng hóa nào đó sẽ giảm (tăng) khi giá của hàng hóa bổ sung của nó tăng (giảm), ví dụ như chè lipton và chanh, giày trái và giày phải, bếp ga và bình ga,
-Số lượng người tiêu dùng (hay quy mô thị trường): là một trong những yếu tố tiêu dùng quyết định lượng tiêu dùng tiềm năng
Thị trường càng nhiều người tiêu dùng thì cầu càng tăng và ngược lại Chẳng hạn, những mặt hàng được tiêu dùng bởi hầu hết người dân là mặt hàng thiết yếu nên số lượng người
Trang 5mua trên thị trường những mặt hàng này rất lớn, vì vậy, cầu đối với những mặt hàng này rất lớn Ngược lại có những mặt hàng chỉ phục vụ cho một nhóm người tiêu dùng như rượu ngoại, nước hoa, nữ trang cao cấp, kính cận thị, do đó, số lượng người tiêu dùng đối với những mặt hàng này tương đối ít nên cầu đối với mặt hàng này thấp Dân số nơi tồn tại củ thị trường là yếu tố quan trọng quyết định quy mô thị trường Cùng với sự gia tăng dân số, cầu đối với hầu hết các loại hàng hóa đều có thể gia tăng
• Các chính sách kinh tế của chính phủ: Đánh thuế vào người tiêu dùng thì cầu sẽ giảm, chính phủ trợ cấp người tiêu dùng thì cầu sẽ tăng
• Kỳ vọng về giá cả và kỳ vọng về thu nhập:
Kỳ vọng của người tiêu dùng về giá cả trong tương lai của một loại hàng hóa có thể làm thay đổi quyết định mua hàng hóa ở thời điểm hiện tại của họ Nếu người tiêu dùng kỳ vọng giá cả sẽ tăng trong tương lai, cầu ở hiện tại sẽ có thể tăng lên Ngược lại, kỳ vọng về giá giảm trong tương lai sẽ làm sức mua ở hiện tại chững lại, cầu ở hiện tại sẽ giảm xuống
Ví dụ về ngành công nghiệp ô tô, vài tháng trước khi tung mẫu xe mưới ra thị trường, các nhà sản xuất thường thông báo giá của mẫu xe năm sau sẽ tăng để kích thích cầu xe của năm nay Bên cạnh đó, nếu ngưới tiêu dùng kỳ vọng thu nhập của họ tăng trong tương lai, cầu ở hiện tại sẽ giảm xuống, người tiêu dùng sẽ giành tiền để đầu tư và tiêu dùng thêm trong tương lai
-Thị hiếu, phong tục, tập quán, mốt, quảng cáo,
Thị hiếu là ý thích của con người Thị hiếu xác định chủng loại hàng hóa mà người tiêu dùng muốn mua Thị hiếu thường rất khó quan sát và các nhà kinh tế thường giả định là thị hiếu không phụ thuộc vào giá của hàng hóa và thu nhập của người tiêu dùng Thị hiếu phụ thuộc vào các nhân tố như tập quán tiêu dùng, tâm lý lứa tuổi, giới tính, tôn giáo, Thị hiếu cũng có thể thay đổi theo thời gian và chịu ảnh hưởng lớn của quảng cáo Người tiêu dùng thường sẵn sàng bỏ nhiều tiền để mua các loại hàng hóa có nhãn mắc nổi tiếng và được quảng cáo nhiều Thay đổi trong thị hiếu của người tiêu dùng cũng có thể làm thay đổi cầu đối với hàng hóa hoặc dịch vụ Khi các biến khác không đổi, thị hiếu của người tiêu dùng đối với hàng hóa hoặc dịch vụ tăng sẽ làm cầu tăng và sở thích người tiêu dùng giảm sẽ dẫn đến giảm cầu Phong tục, tập quán cũng tác động đến cầu đối với một số loại hàng hóa Ví dụ: Đối với người Việt Nam, những ngày giữa tháng hoặc đầu tháng âm lịch, nhiều người dân thường mua hoa quả, bánh trái thắp hương ở bàn thờ tổ tiên hoặc ở các chùa chiền Điều này làm cho cầu về các loại hoa quả, bánh trái ở những địa điểm đó tăng lên
• Các nhân tố khác: Môi trường tự nhiên, điều kiện thời tiết, khí hậu, chính trị,
Sự thay đổi cầu đối với hàng hóa, dịch vụ còn phụ thuộc vào một số yếu tố khác như các yếu tố thuộc về tự nhiên như thời tiết, khí hậu hay những yếu tố mà chúng ta không thể dự đoán trước được Thí dụ, cầu đối với dịch vụ đi lại bằng máy bay đột ngột suy giảm sau khi xảy ra sự kiện ngày 11 tháng 9 năm 2001 tại New York (Mỹ) hay cầu về thịt gà giảm mạnh khi xỷ ra dịch cúm gà ở một số nước châu Á tại thời điểm có dịch Khi thời tiết lạnh và băng giá, cầu về chăn gối, ga đệm, lò sưởi, chăn điện, tăng còn khi trời nắng nóng cầu về quạt, điều hòa nhiệt độ, tủ lạnh tăng mạnh
Trang 6CHƯƠNG II: CUNG VỀ HÀNG HÓA VÀ DỊCH VỤ
I Khái niệm cung và luật cung
Cung (ký hiệu là S) là số lượng hàng hóa và dịch vụ mà người bán muốn bán và sẵn sàng bán tại các mức giá khác nhau trong một khoảng thời gian nhất định các yếu tố khác không đổi
Lượng cung (ký hiệu Qs) là lượng hàng hóa hoặc dịch vụ cụ thể mà người bán muốn bán và sẵn sàng bán tại mức giá đã cho trong một khoảng thời gian nhất định
Số lượng cung là số lượng hàng hóa mà người bán sẵn sàng bán tỏng một thời kỳ nhất định Sẵn sàng bán ở đây nghĩa là người bán sẽ sẵn sàng cung cấp số lượng cung nếu có đủ người mua hết số hàng đấy Điều này rất quan trọng để phân biệt số lượng cung và số lượng thực sự bán Cung ứng trong kinh tế học, chỉ việc chào bán hàng hóa hay dịch vụ nào đó Lượng của một mặt hàng được chào bán với một mức giá cả thị trường hiện hành,
ở mức giá nhất định của các yếu tố sản xuất và trình độ kỹ thuật nhất định, với những quy chế nhất định của chính phủ, kỳ vọng về giá, thời tiết gọi là lượng cung ứng, hay lượng cung Tổng tất cả các lượng cung về một mặt hàng bởi tất cả những người bán trong một nền kinh tế gọi là cung thị trường Tổng tất cả các lượng cung của các hàng hóa hoặc dịch
vụ bởi các nhà sản xuất trong một nền kinh tế gọi là tổng cung
Biểu cung: Là bàng mô tả số lượng hàng hóa hoặc dịch vụ mà người bán sẵn sàng bán và
có khả năng bán ở các mức giá khác nhau trong một khoảng thời gian nhất định Biểu cung phản ánh mối quan hệ giữa giá cả và khối lượng hàng hóa cung ứng ( lượng cung), đó là mối quan hệ tỷ lệ thuận
Xem xét ví dụ về cung trứng gà của xã X được mô tả trong bảng 2 sau đây:
Bảng 2: Biểu cung của trứng cho xã X
Khi giá trứng trên thị trường là 3.000 VNĐ/quả, lượng cung trứng ra thị trường của các nhà sản xuất chỉ là 3.000 quả/ngày Tuy nhiên, khí giá trứng là 4.500 VNĐ/quả, thì sản lượng cung cấp trên thị trường lên tới 4.500 quả/ngày Giá trứng tăng cao thúc đẩy các nhà sản xuất tăng sản lượng trứng ra thị trường Một kịch bản tương tự xảy ra khi tăng giá trứng lên 5.000 VNĐ/quả Với mức giá cao, một lần nữa các nhà cung cấp sẵn sàng bán lên tới 7.000 quả/ngày Như vậy, có thể kết luận rằng với giá bán càng cao, các nhà sản xuất luôn sẵn sàng cung ứng ra thị trường một sản lượng lớn hơn
Vậy, giá càng cao lượng cung sẽ càng lớn và ngược lại giá càng thấp lượng cung sẽ càng giảm với giả định các yếu tố khác không đổi Mỗi quan hệ giữa giá và lượng cung được thể hiện thông qua luật cung
Luật cung: Số lượng hàng hóa được cung trong khoảng thời gian nhất định tăng lên khi giá của nó tăng lên và ngược lại, giả định các yếu tố khác không đổi
Giá cả tăng thì lượng cung tăng: P Qs
Trang 7Giá cả giảm thì lượng cung giảm: P Qs
Chúng ta có thể giải thích luật cung thông qua động cơ tối đa hóa lợi nhuận của doanh nghiệp Nếu như giá của các yếu tố đầu vào dùng để sản xuất ra hàng hóa được cố định, thì giá hàng hóa cao hơn, có nghĩa là lợi nhuận cao hơn đối với nhà sản xuất Họ sẽ sản xuất nhiều hơn và kéo dài thêm nhiều doanh nghiệp vào sản xuất, do đó lượng cung hàng hóa sẽ tăng lên
II.Phương trình và đồ thị đường cung
Giả đinh các nhân tố khác không đổi, chỉ có mỗi quan hệ giữa giá cả và lượng cung, khi đó chúng ta có thể xây dựng được hàm cung có dạng đơn giản: Qx= f(Px)
• Giả sử hàm cung dạng tuyến tính có dạng: Qs= c+ dP hoặc
• Hàm cung ngược: P=-(c/d)+(1/d) Qs
Trong đó: d là tham số dương, c là một tham số bất kỳ
Đồ thị đường cung: là đường gồm tập hợp tất cả các điểm phản ánh mối quan hệ giữa giá cả và khối lượng hàng hóa và dịch vụ cung ứng trong khi các yếu tố khác giữ nguyên Đường cung là đường dốc lên về phía phải, có độ dốc dương Giá trị độ dốc của đường cung ∆P∆Q = 1d = P’(Q) = 1Q'(P) Cung thị trường bằng tổng các mức cung của doanh nghiệp trong thị trường đó Nếu xét trên đồ thị, đương cung thị trường được xác đinh bằng cách cộng theo chiều ngang (trục hoành) các lượng của từng doanh nghiệp tương ứng với mỗi mức giá Do đó, độ dốc của đường cung thị trường thường thoải hơn đường cung của từng doanh nghiệp
P P P
SB
SA SC
2
0 Q 0 Q 0 Q
Hãng A Hãng B Thị trường
III.Các yếu tố tác động tới cung
Trang 8Cung là một loại hàng hóa, dịch vụ nào đó phụ thuộc vào giá cả của chính hàng hóa, dịch
vụ đó Ngoài ra, cung còn phụ thuộc vào một số yếu tố khác Sự thay đổi của các yếu tố này dẫn đến sự dịch chuyển của đường cung Bây giờ, chúng ta sẽ xem chi tiết hơn về các yếu tố này
S2 S0
P1 B
P0 A S1
0
Q0 Q1 Q
Cung tăng (dịch sang phải) hoặc cung giảm (dịch sang trái)
• Tiến bộ công nghệ (ứng dụng công nghệ mới làm tăng năng suất): Công nghệ có ảnh
hưởng trực tiếp đến số lượng hàng hóa được sản xuất ra Công nghệ tiên tiến sẽ làm tăng năng suất và do đó nhiều hàng hóa hơn được sản xuất ra Ví dụ: Sự cải tiến trong công nghệ dệt vải, gặt lúa, lắp ráp ô tô, đã làm cho năng suất vải, lúa gạo, ô tô tăng lên
• Giá cả các yếu tố đầu vào của quá trình sản xuất( chi phí sản xất): Để tiến hành sản xuất,
các nhà sản xuất cần mua các yếu tố đầu vào trên thị trường các yếu tố như tiền công, tiền mua nguyên vật liệu, tiền thuê vốn, tiền thuê đất đai, Giá yếu tố đầu vào tác động trực tiếp đến chi phí sản xuất và do đó ảnh hưởng đến lượng hàng hóa mà các doanh nghiệp muốn bán Nếu giá của các yếu tố đầu vào giảm, chi phí sản xuất sẽ giảm, lợi nhuận sẽ lớn
và do đó, doanh nghiệp sẽ muốn cung nhiều hàng hóa hơn Khi giá đầu vào tăng lên, chi phí sản xuất tăng, khả năng lợi nhuận giảm, do đó doanh nghiệp cung ít sản phẩm hơn Khi
đó, các nhà sản xuất sẽ cảm thấy kém hấp dẫn hơn khi sản xuất vì có thể lợi nhuận sẽ thấp hơn và do vậy sẽ cắt giảm sản lượng Ví dụ: khi giá bột mì tăng lên, các nhà sản xuất bánh
mì hơn ở mỗi mức giá
• Số lượng nhà sản xuất trong ngành: Số lượng người sản xuất có ảnh hưởng trực tiếp đến số
lượng hàng hóa được bán ra trên thị trường Càng nhiều người sản xuất thì lượng hàng hóa ngày càng nhiều, đường cung dịch chuyển sang bên phải Ngược lai, nếu ít người sản xuất thì đường cung dịch chuyển sang bên trái
• Giá của các hàng hóa liên quan trong sản xuất:
✔ Hàng hóa thay thế trong sản xuất: Là loại hàng hóa khi tăng giá của loiaj hàng hóa này, lượng cung của hàng hóa này tăng lên, nhưng cung của hàng hóa thay thế sẽ giảm, ví dụ, trồng trọt xen canh
✔ Hàng hóa bổ sung: Là loại hàng hóa khi tăng giá của hàng hóa này, lượng cung của hàng hóa này tăng lên và cung của hàng hóa bổ sung của tăng lên
• Các chính sách kinh tế của chính phủ: như chính sách thuế, chính sách trợ cấp, Nhà
nước sửu dụng thuế như công cụ sản xuất
Trang 9Đối với các doanh nghiệp, thuế là chi phí nên khi chính phủ giảm thuế, miễn thuế hoặc trợ cấp
có thể khuyến khích làm tăng cung Ngược lại, nếu chính phủ đánh thuế sẽ hạn chế sản xuất và làm giảm cung
• Lãi suất: Lãi suất tăng , đầu tư có xu hướng giảm xuống, cung sẽ giảm
• Kỳ vọng giá cả: Cũng giống như người tiêu dùng, các nhà sản xuất cũng đưa ra quyết
định cung cấp của mình dựa vào các kỳ vọng Ví dụ: Nếu các nhà sản xuất kỳ vọng thời gian tới chính phủ sẽ mở cửa thị trường đối với các nhà sản xuất nước ngoài-các nhà sản xuất có khả năng cạnh tranh mạnh hơn, họ phải cố gắng nâng cao chất lượng và số lượng sản xuất để đủ sức cạnh tranh với các doanh nghiệp nước ngoài
• Điều kiện thời tiết khí hậu: Việc sản xuất của các doanh nghiệp có thể gắn liền với các
điều kiện tự nhiên như đất, nước, thời tiết, khí hậu, Điều kiện tự nhiên là một yếu tố kìm hãm hoặc thúc đẩy việc sản xuất Đối tượng của sản xuất nông nghiệp là cây trồng
và vật nuôi Đó là những cơ thể sống nên rất dễ bị tác động bởi điều kiện tự nhiên Thời tiết- khí hậu thuận lợi sẽ tạo ra năng suât cao và ngược lại sẽ làm giảm năng suất Một nền sản xuất nông nghiệp càng lạc hậu thì càng dễ bị điều kiện tự nhiên chi phối và ngược lại
Môi trường kinh doanh thuận lợi: Khả năng sản xuất tăng lên, cung sẽ tăng,
Phần II: Cơ sở thực tiễn về cung, cầu và giá cả thị trường mặt hàng sữa của công ty
vinamilk
1 Giới thiệu về sản phẩm sữa của Vinamilk
Vinamilk là tên gọi tắt của Công ty Cổ phần sữa Việt Nam (Vietnam Dairy Products Joint Stock
Company) là một công ty sản xuất, kinh doanh sữa và các sản phẩm từ sữa cũng như những thiết
bị máy móc liên quan Vinamilk ra đời ngày 20 tháng 8 năm 1976 và đã phát triển lớn mạnh đến ngày nay trở thành trở thành doanh nghiệp hàng đầu của ngành công nghiệp chế biến sữa, chiếm 54.5% thị phần sữa nước, 40.6% thị phần sữa bột, 33.6% thị phần sữa chua uống, 84.5% thị phần sữa chua ăn, 79.7% thị phần sữa đặc trên toàn quốc Trong năm 2018, Vinamilk đã lên tục giới thiệu đến người tiêu dùng những sản phẩm tiêu biểu và mang lại lợi thế cạnh tranh vượt trội như Sữa tươi 100% organic, Sữa tươi 100% A2, Sữa tươi đậu nành, hạt óc chó, Sữa chua Hy Lạp, Sữa chua nếp cẩm, Hệ thống bán hàng của Vinamilk tỏa rộng khắp cả nước thông qua các kênh bán hàng truyền thống (bao gồm 208 nha phân phối với hệ thoogs điểm lẻ lên đến 250.000 điểm), kênh hiện đại (bao gồm hầu hiết siêu thị và cửa hàng tiện lợi trên cả nước) Nhà máy sữa bột Việt Nam mỗi năm cho ra đời 54.000 tấn sữa bột còn nhà máy sữa Việt Nam (Mega factory) thì có công suất 400 triệu lít sữa nước/năm và đang trong giai đoạn mở rộng qua giai đoạn 2 với công suất lên gấp đôi, đạt 800 triệu lít sữa/năm Bên ngoài lãnh thổ Việt Nam, Vinamilk còn sở hữu các nhà máy sản xuất sữa tại mỹ (100% cổ phần nhà máy Driftwood), tại Campuchia (100% cổ phần nhà máy Angkormilk), tại New Zealand (22.8% cổ phần) và một công ty con tại Ba Lan Bên cạnh đó, Vinamilk còn đầu tư phát triển trang trại hữu cơ tại Lào và tiếp tục tìm các cơ hội hợp tác
ở các nước trong khu vực Mặc dù mức tiêu thụ sữa bình quân của Việt Nam còn khá thấp so với các nước tong khu vực, nhưng ngành sữa đang suy giảm ở các khu vực thành thị và động lực tăng trưởng đnag đến từ nông thôn – theo nghiên cứu của Kantar Worldpanel Công ty nghiên cứu thị trường này cho biết khối lượng sữa tiêu thụ tại thành thị giảm 1.8% trong giai đoạn ba tháng trước tháng 11/2018, trong khi khối lượng tiêu thụ ở nông thôn tăng 8.5%
Trang 102 Các nhân tố ảnh hưởng tới cầu của vinamilk tại Việt Nam
1 Giá của hàng hóa có liên quan
Đối với dòng sản phẩm sữa dành cho trẻ em, khách hàng mục tiêu của Vinamilk là trẻ em đang trong giai đoạn phát triển với các dòng sản phẩm có uy tín trên thị trường Trong môi trường cạnh tranh tự do như hiện nay, Vinamilk có rất nhiều các đối thủ cạnh tranh cũng chọn cùng đối tượng khách hàng mục tiêu như Dutch Lady, TH true milk, Dòng sản phẩm này khách hàng mục tiêu là trẻ em – thành phần chưa làm chủ về tài chính, người tiêu dùng sản phẩm là trẻ em nhưng người quyết định tiêu dùng là cha mẹ Dựa vào số liệu khảo sát cho thấy 70% phụ huynh sẵn sàng chuyển quyết định sang mua các loại sữa khác khi có sự giảm giá của các hãng sữa khác Như vậy sẽ tác động trực tiếp đến cầu của Vinamilk làm cho cầu của Vinamilk giảm
2 Thu nhập của người tiêu dùng
Thu nhập là yếu tố quyết định khả năng mua của người tiêu dùng Vì vậy khi thu nhập thay đổi dẫn đến khả năng mua thay đổi khiến cho cầu về hàng hóa và dịch vụ thay đổi
Từ ảnh hưởng của thu nhập lên tiêu dùng hàng hóa, nhà thống kê người Đức đã chia ra thành hai nhóm hàng hóa là hàng hóa thông thường/ xa xỉ và hàng hóa thứ cấp Đối với đối tượng là sinh viên – người có thu nhập trung bình hàng tháng trong xã hội, thu nhập là yếu tố tác động mạnh đến khả năng tiêu dùng sản phẩm sữa của họ Tuy nhiên, ở thời điểm hiện tại Vinamilk vẫn thuộc vào loại hàng hóa thông thường nên khi thu nhập của người tiêu dùng tăng dẫn đên cầu về hàng hóa của Vinamilk tăng
3 Thị hiếu của người tiêu dùng
Thị hiếu là nhân tố thể hiện mong muốn mua của người tiêu dùng giúp xác định loại hàng hóa mà người tiêu dùng muốn mua Do đó thị hiếu là một yếu tố rất quan trọng được các doanh nghiệp quan tâm đến khi sản xuất và kinh doanh Vinamilk cũng vậy họ cũng rất quan tâm và chú trọng đến thị hiếu của người tiêu dùng khi sản xuất và kinh doanh để phát triển các dòng sữa của mình nhằm đáp ứng tối đa nhu cầu và thị hiếu của người tiêu dùng, đồng thời làm tăng cầu của hãng Nắm được thị hiếu của người tiêu dùng trong những năm