1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Giảng dạy nội dung văn học nghệ thuật trong khoá trình lịch sử thế giới trung đại phương đông (lịch sử lớp 10, ban nâng cao)

96 7 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 96
Dung lượng 630,19 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Cấu trúc

  • A. Phần mở đầu (7)
    • 1. Lý do chọn đề tài (7)
    • 2. Lịch sử vấn đề (9)
    • 3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu (10)
      • 3.1. Mục đích nghiên cứu (11)
      • 3.2. Nhiệm vụ nghiên cứu (11)
    • 4. Đối t-ợng và phạm vi nghiên cứu (11)
    • 5. Giả thuyết khoa học (12)
    • 6. Ph-ơng pháp luận và ph-ơng pháp nghiên cứu (12)
      • 6.1. Ph-ơng pháp luận (12)
      • 6.2. Ph-ơng pháp nghiên cứu (12)
    • 7. CÊu tróc luËn v¨n (12)
  • B. Néi dung (13)
    • 1.1. Cơ sở lí luận (13)
      • 1.1.1. Một số cách phân loại văn học, nghệ thuật (13)
      • 1.1.2. Khái niệm văn học, nghệ thuật (15)
      • 1.1.3. ý nghĩa của việc giảng dạy nội dung văn học - nghệ thuật trong dạy học lịch sử (0)
    • 1.2. Cơ sở thực tiễn (20)
    • 2.1. Vị trí, ý nghĩa, nội dung cơ bản của khóa trình (23)
      • 2.1.1. Vị trí (23)
      • 2.1.2. ý nghĩa (24)
      • 2.1.3. Nội dung cơ bản của khóa trình (26)
    • 2.2. Những nội dung văn học - nghệ thuật đ-ợc giảng dạy trong khóa trình (29)
    • 3.1. Một số nguyên tắc, yêu cầu (66)
    • 3.2. Ph-ơng pháp giảng dạy nội dung văn học - nghệ thuật trong khóa trình (0)
      • 3.2.1. Trong giê néi khãa (0)
      • 3.2.2. Trong giờ ngoại khóa (0)
    • 3.3. Thực nghiệm s- phạm (0)
  • C. KÕT LUËN (93)
  • Tài liệu tham khảo (83)

Nội dung

Trong quá trình nghiên cứu chúng tôi đã có cơ hội tiếp cận với nhiều tài liệu: Tâm lí học, Giáo dục học, Ph-ơng pháp dạy học bộ môn và nhiều tài liệu liên quan tới nội dung này nh-: - Kỉ

Phần mở đầu

Lý do chọn đề tài

Con người là yếu tố quyết định mọi sự phát triển của đất nước Vì vậy, đào tạo con người với tư cách là nguồn lực và tiềm năng của quốc gia là ưu tiên hàng đầu Để đáp ứng yêu cầu của sự phát triển kinh tế và xu thế chung của thời đại, giáo dục đào tạo phải luôn đổi mới, trong đó đổi mới phương pháp giảng dạy là khâu trọng tâm Bộ môn Lịch sử ở trường phổ thông cũng không nằm ngoài quy luật này và cần được cập nhật linh hoạt để phù hợp với thực tiễn giáo dục.

Một trong những nguyên tắc quan trọng trong dạy học lịch sử là xác lập mối liên hệ chặt chẽ giữa LSDT và LSTG; nghiên cứu LSTG, thông qua phân tích lịch sử các quốc gia trong khu vực, sẽ giúp hình thành những biểu tượng chung nhất về con đường phát triển của lịch sử loài người, đặc biệt là ở những quốc gia, khu vực có quan hệ gần gũi với nước ta như Trung Quốc, Ấn Độ và Đông Nam Á; việc nghiên cứu đó không chỉ dừng ở các lĩnh vực chính trị, quân sự và kinh tế mà còn cần chú ý đến những nội dung văn hóa, khoa học và nghệ thuật; trong đó nội dung văn học - nghệ thuật được xem là một nội dung quan trọng, có ý nghĩa to lớn, nhằm góp phần giáo dục toàn diện học sinh và giúp các em thấy được tính toàn diện của lịch sử cũng như xác định bản sắc văn hóa độc đáo của mỗi dân tộc trong sự phát triển chung; tại Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương Đảng lần thứ hai, khóa VIII, đã đặt ra nhiệm vụ coi giáo dục là quốc sách hàng đầu và bằng mọi phương cách nâng cao chất lượng và hiệu quả giáo dục đào tạo; riêng môn Lịch sử phải xây dựng nội dung, chương trình, cấu trúc và phương pháp như thế nào để khắc phục quan niệm chỉ chú trọng lịch sử chính trị, quân sự và đấu tranh giai cấp mà bỏ qua lịch sử văn hóa, nghệ thuật, từ đó bảo đảm cho giáo dục học sinh được toàn diện hơn.

Trong cuốn "Giáo dục học", Tập 1 của Hà Thế Ngữ, Đặng Vũ Hoạt, Nxb Giáo dục Hà Nội, năm 1978 cũng đã đề cập “Mỗi môn học chỉ có khả năng phản ánh những kết quả nhận thức của con ng-ời về một số lĩnh vực nhất định cuả thế giới khách quan Chính vì thế trong quá trình dạy học HS nhất định phải đ-ợc học nhiều bộ môn t-ơng ứng với các khoa học nhất định” [15, 220]

Bài viết nhấn mạnh nguyên tắc giáo dục liên môn thông qua nội dung văn học - nghệ thuật Việc giảng dạy kết hợp văn học và nghệ thuật sẽ trang bị cho học sinh vốn hiểu biết đa dạng về các lĩnh vực như văn học, hội họa, kiến trúc và điêu khắc; đồng thời tăng cường tính liên môn và rút ngắn khoảng cách giữa các môn học, từ đó tạo nền tảng tư duy liên ngành và phát huy sự sáng tạo của học sinh.

Trong tác phẩm Chuẩn bị giờ học lịch sử như thế nào của N G Đairi (Nxb Giáo dục Hà Nội, 1973), kinh nghiệm cho thấy nghiên cứu lịch sử qua tác phẩm hội họa, phim ảnh và tiểu thuyết lịch sử là một phương pháp khách quan và cần thiết, vì nó tăng hứng thú với lịch sử, mở rộng kiến thức và điều cốt lõi là nâng cao trình độ hiểu biết về quá khứ lên một mức độ mới.

Giảng dạy nội dung văn học - nghệ thuật rõ ràng đã đóng góp tích cực vào nâng cao hiệu quả bài học và giáo dục nhận thức lịch sử cho học sinh Trong nhiều năm qua, nhất là qua các lần cải cách giáo dục, ngành giáo dục đã nhận diện đúng vai trò của giáo viên và học sinh trong quá trình dạy học nhằm phát huy tối đa tính tích cực của học sinh Tuy nhiên, thực tế vẫn còn nhiều bất cập: nhiều em hiểu biết về lịch sử rất hời hợt và học chỉ để đối phó; giáo viên chưa thực sự làm đúng vai trò của mình, nhiều người dạy học cũng chỉ để cho “xong nghĩa vụ” Điều đó đặt ra yêu cầu đổi mới phương pháp dạy học và tăng cường hứng thú học tập cho học sinh, trong đó việc tăng cường nội dung văn học - nghệ thuật có ý nghĩa to lớn để khơi dậy niềm say mê và nâng cao nhận thức lịch sử cho học sinh.

Lịch sử thế giới thời Trung đại phương Đông ghi nhận một giai đoạn quan trọng với sự hình thành và phát triển của nhiều quốc gia, nổi bật là ba trung tâm văn minh: Trung Quốc, Ấn Độ và Đông Nam Á Thời kỳ phong kiến không chỉ là khoảng thời gian dài mà còn chứng kiến nhiều thành tựu rực rỡ về văn học, kiến trúc, điêu khắc và hội họa, góp phần định hình bản sắc văn hóa của các dân tộc sau này Nhờ sự giao lưu văn hóa và trao đổi thương mại, các nền văn hóa Đông Á và Đông Nam Á đã hình thành những yếu tố bản sắc riêng biệt, đồng thời để lại di sản giàu có cho thế hệ mai sau.

Việc giảng dạy nội dung văn học và nghệ thuật trong giai đoạn lịch sử này góp phần hình thành diện mạo bức tranh hoàn chỉnh của một thời kỳ được xem là ghi dấu ấn đậm nét Thông qua các tác phẩm tiêu biểu và tư liệu liên quan, chương trình giảng dạy giúp học sinh và người đọc hiểu rõ bối cảnh lịch sử, giá trị nghệ thuật và ý nghĩa của thời kỳ ấy Việc tích hợp nội dung văn học - nghệ thuật vào quá trình học tập không chỉ truyền đạt kiến thức mà còn kích thích tư duy phân tích và nhận diện những dấu ấn văn hóa nổi bật, từ đó làm rõ sự độc đáo và đóng góp của thời kỳ này vào dòng chảy lịch sử.

Xuất phát từ những lý do đã nêu, chúng tôi quyết định chọn đề tài “Giảng dạy nội dung văn học và nghệ thuật trong chương trình lịch sử thế giới trung đại phương Đông” làm luận văn tốt nghiệp cho lớp 10 lịch sử, ban Nâng cao.

Lịch sử vấn đề

Việc giảng dạy văn học và nghệ thuật trong dạy học lịch sử là vấn đề được nhiều nhà khoa học quan tâm và xuất hiện trong nhiều công trình nghiên cứu ở quy mô lớn nhỏ Trong quá trình nghiên cứu, chúng tôi có cơ hội tiếp cận khối lượng tài liệu phong phú liên quan tới nội dung này, từ tâm lý học và giáo dục học đến phương pháp dạy học bộ môn và các nguồn tài liệu liên quan khác, nhằm làm rõ vai trò của văn học và nghệ thuật trong giáo dục lịch sử và nâng cao hiệu quả giảng dạy.

Kỉ yếu hội thảo khoa học「Đổi mới nội dung và phương pháp giảng dạy lịch sử ở trường phổ thông」do Hội Giáo dục Lịch sử và Khoa Lịch sử, Trường Đại học Sư phạm Hà Nội tổ chức đã nêu rõ định hướng đổi mới nội dung và phương pháp giảng dạy lịch sử ở cấp phổ thông Hội thảo nhấn mạnh việc giáo dục toàn diện lịch sử, bao gồm cả nội dung văn học - nghệ thuật, đồng thời cung cấp những kiến thức liên quan đến LSDT nhằm nâng cao chất lượng giảng dạy và học tập môn Lịch sử.

Trong cuốn “Chuẩn bị giờ học lịch sử như thế nào” của tác giả N G Đairi (NXB Giáo dục Hà Nội, 1973) đã đề xuất nhiều biện pháp nhằm nâng cao hiệu quả dạy và học lịch sử, đặc biệt nhấn mạnh việc nghiên cứu lịch sử qua các tác phẩm hội họa, điêu khắc và kiến trúc và xem các tác phẩm nghệ thuật này như nguồn kiến thức lịch sử trực tiếp Tác giả cho rằng văn học đóng vai trò quan trọng trong việc phản ánh đời sống xã hội, và không có sách giáo khoa cũng như bài giảng nào có thể mang lại những điều học sinh thu được khi đọc các tiểu thuyết về những biến cố lịch sử quan trọng Vì vậy, vai trò giảng dạy nội dung văn học - nghệ thuật được khẳng định là rất lớn đối với quá trình giảng dạy lịch sử.

* Các tác phẩm có đề cập trực tiếp đến nội dung văn học - nghệ thuật nh-:

- “Văn học Trung Quốc” (Tập 1, 2) của Nguyễn Khắc Phi, Trương Chính,

1987, Nxb Giáo dục; “Văn học ấn Độ”, “Văn học Đông Nam á” của tác giả

L-u Đức Trung (chủ biên), 2004, Nxb Giáo dục là những cuốn sách đã trình bày sơ l-ợc lịch sử văn học, các giai đọan phát triển, nội dung văn học cơ bản của các quốc gia trên

Nghệ thuật kiến trúc thế giới của Đặng Thái Hoàng, xuất bản năm 1976 bởi Nhà xuất bản Văn hóa thông tin, dù dung lượng khiêm tốn nhưng khái quát một cách rõ ràng quá trình hình thành và phát triển kiến trúc thế giới qua các giai đoạn lịch sử Tác phẩm tổng hợp các đặc trưng tiêu biểu của mỗi thời kỳ, giúp độc giả nắm bắt sự đa dạng văn hóa và sự chuyển mình của kiến trúc từ cổ đại đến hiện đại.

Lịch sử văn minh thế giới, do Vũ Dương Ninh làm chủ biên, trình bày những thành tựu nổi bật của văn minh thế giới thông qua các quốc gia và khu vực tiêu biểu, trong đó có nội dung liên quan đến đề tài mà chúng ta đang nghiên cứu.

- “Tổng quan nghệ thuật ph-ơng Đông hội họa Trung Hoa", Phạm.K Khải, Tr-ơng Can Khải, 2005, Nxb Mĩ thuật, là một tác phẩm chuyên ngành chi tiết về những giá trị đặc sắc nhất của nghệ thuật hội họa Trung Hoa

Ngoài ra còn có nhiều tài liệu, bài viết khác có đề cập đến nội dung văn học - nghệ thuật ở những góc độ và mức độ khác nhau Tuy nhiên chúng tôi nhận thấy ch-a một công trình nào nghiên cứu toàn diện về cả hai nội dung văn học - nghệ thuật trong giai đoạn lịch sử thế giới trung đại ph-ơng Đông Song đó rõ ràng là nguồn t- liệu quý báu giúp tác giả luận văn hoàn thành nhiệm vụ nghiên cứu của mình trong khuôn khổ khóa luận này.

Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

Thông qua việc nghiên cứu lí luận và thực tiễn dạy học lịch sử, chúng tôi nêu bật vai trò và ý nghĩa của việc giảng dạy nội dung văn học - nghệ thuật trong dạy học lịch sử, nhằm làm giàu nhận thức lịch sử và phát triển kỹ năng phân tích, tư duy phản biện cho học sinh Bài viết cũng xác định những nội dung cốt lõi và phương pháp dạy học cơ bản có thể vận dụng để nâng cao hiệu quả phần Lịch sử thế giới Trung đại phương Đông ở lớp 10 ban nâng cao, từ đó thiết kế các hoạt động lên lớp phù hợp và liên hệ chặt chẽ giữa văn học, nghệ thuật với các sự kiện và hiện tượng lịch sử để người học có được nhận thức sâu sắc và kỹ năng phân tích lịch sử.

- Nghiên cứu lí luận và thực tiễn liên quan tới việc giảng dạy nội dung văn học - nghệ thuật trong dạy học lịch sử

Về lý luận văn học và nghệ thuật, bài viết tập trung tìm hiểu nội hàm khái niệm văn học và nghệ thuật, làm rõ sự liên hệ và khác biệt giữa hai lĩnh vực, cũng như vai trò của chúng trong giáo dục Các thành tố cơ bản của văn học và nghệ thuật được phân tích nhằm làm sáng tỏ cấu trúc, chức năng và giá trị thẩm mỹ của tác phẩm Việc nhận diện và làm rõ khái niệm giúp người học phát triển khả năng cảm thụ, suy nghĩ phê bình và ngôn ngữ trình bày ý tưởng một cách mạch lạc Ý nghĩa của việc giảng dạy nội dung văn học - nghệ thuật trong dạy học bộ môn là tăng cường vốn từ ngữ, nâng cao kỹ năng diễn đạt, tư duy phản biện và nhận thức văn hóa cho học sinh Việc tích hợp nội dung này vào chương trình giảng dạy giúp học sinh tiếp cận sâu sắc các yếu tố cấu thành văn học và nghệ thuật, từ đó nhận thức được vai trò của nghệ thuật trong đời sống xã hội.

Khảo sát thực trạng dạy học lịch sử ở trường THPT cho thấy các yếu tố chủ chốt ảnh hưởng đến chất lượng dạy học gồm phương pháp dạy học, phương tiện dạy học và đồ dùng dạy học, bên cạnh quá trình tổ chức, quản lý và nguồn lực của nhà trường Việc giáo viên vận dụng các nội dung văn học - nghệ thuật vào bài giảng cần được cân nhắc để bảo đảm tính khách quan, phù hợp với chuẩn kiến thức và đồng thời tăng cường hứng thú, nhận thức lịch sử cho học sinh Nghiên cứu cho thấy mức độ đa dạng và hiệu quả của các phương pháp dạy học hiện nay, mức độ sẵn có và phù hợp của phương tiện dạy học, cũng như đáp ứng của đồ dùng dạy học với mục tiêu phát triển năng lực người học Trong thực tiễn còn tồn tại một số vấn đề như thiếu thốn nguồn lực, thiếu đồng bộ giữa các trường THPT về phương pháp giảng dạy, và nhu cầu nâng cao nghiệp vụ sư phạm để khai thác tối đa mối liên hệ giữa lịch sử và văn hóa, văn học - nghệ thuật.

- Nghiên cứu ch-ơng trình SGK để xác định nội dung và lựa chọn nội dung dạy học

- Chỉ ra một số nội dung văn học - nghệ thuật có thể sử dụng trong dạy học khóa trình này ở tr-ờng phổ thông

- Tổ chức thực nghiệm s- phạm để kiểm tra tính khả thi và hiệu quả của việc tăng c-ờng nội dung văn học - nghệ thuật trong dạy học lịch sử.

Đối t-ợng và phạm vi nghiên cứu

- Đối t-ợng nghiên cứu: là quá trình dạy học lịch sử thế giới trung đại ph-ơng Đông (lịch sử lớp 10, ban Nâng cao)

Phạm vi nghiên cứu của đề tài tập trung vào việc phân tích và đề xuất cách giảng dạy các nội dung văn học và nghệ thuật trong môn lịch sử, nhằm nâng cao hiệu quả dạy học và hứng thú học sinh Nghiên cứu đặc biệt xem xét cách tích hợp nội dung văn học - nghệ thuật vào dạy học lịch sử thông qua khóa trình Lịch sử thế giới Trung đại phương Đông, từ đó xây dựng phương pháp và công cụ giảng dạy phù hợp Nội dung này khai thác nguồn tư liệu văn học và nghệ thuật ở thời kỳ Trung Đại ở phương Đông để hỗ trợ dạy học lịch sử một cách sinh động, trực quan và dễ tiếp cận.

Giả thuyết khoa học

Nếu các giải pháp s- phạm của khoá luận đ-ợc thực hiện một cách hợp lý sẽ góp phần nâng cao hiệu quả bài học, nâng cao chất l-ợng dạy học lịch sử ở tr-ờng phổ thông.

Ph-ơng pháp luận và ph-ơng pháp nghiên cứu

- Dựa vào quan điểm chủ nghĩa Mác - Lênin, t- t-ởng Hồ Chí Minh, đ-ờng lối quan điểm giáo dục của Đảng

- Dựa vào lí luận Tâm lí học, Giáo dục học, Ph-ơng pháp dạy học lịch sử ở tr-ờng phổ thông

6.2 Ph-ơng pháp nghiên cứu

Hoạt động nghiên cứu tài liệu tập trung vào giáo dục học và tâm lý học nhằm làm rõ các phương pháp dạy học lịch sử và cách thức triển khai nội dung chương trình Đồng thời phân tích sâu nội dung SGK và các tài liệu liên quan để đảm bảo tính nhất quán và hiệu quả giảng dạy Các nguồn tài liệu được xem xét bao gồm giáo trình, tài liệu tham khảo và các ấn phẩm liên quan đến giảng dạy lịch sử, giúp tối ưu hóa quá trình học tập và nâng cao chất lượng giảng dạy.

- Điều tra, khảo sát để nắm tình hình thực tế phổ thông

- Tiến hành thực nghiệm s- phạm để xác định tính khả thi của đề tài.

CÊu tróc luËn v¨n

Ngoài phần Mở đầu, Kết luận, Phụ lục, Tài liệu tham khảo, cấu trúc luận văn gồm 3 ch-ơng:

Ch-ơng 1: Cơ sở lí luận và thực tiễn của việc giảng dạy nội dung văn học - nghệ thuật trong bộ môn lịch sử ở tr-ờng phổ thông

Chương 2 giới thiệu một số nội dung văn học - nghệ thuật được giảng dạy trong khóa học lịch sử thế giới thời trung đại phương Đông thuộc chương trình Lịch sử lớp 10, trình độ nâng cao Nội dung này nhấn mạnh vai trò của văn học và nghệ thuật như nguồn tư liệu lịch sử và công cụ phản ánh đời sống xã hội, tư tưởng, tôn giáo và các mối giao lưu văn hóa ở thời kỳ trung đại Các tác phẩm và khuynh hướng nghệ thuật được phân tích từ ca dao, trường ca và thi ca đến mỹ thuật, nhằm làm nổi bật đặc trưng của từng nền văn hóa Đông phương và sự giao thoa giữa các nền văn hóa trong khu vực Việc giảng dạy tích hợp văn học - nghệ thuật giúp học sinh nhận diện bản sắc văn hóa, hiểu mối liên hệ giữa lịch sử và nghệ thuật, và phát triển kỹ năng phân tích, đánh giá giá trị thẩm mỹ của thời kỳ này Chương trình khuyến khích người học xem xét bối cảnh lịch sử - xã hội và các tác phẩm tiêu biểu để nắm được sự tiến hóa của văn học và nghệ thuật trong lịch sử thế giới.

Ch-ơng 3: Ph-ơng pháp giảng dạy nội dung văn học - nghệ thuật trong khóa trình lịch sử thế giới trung đại ph-ơng Đông (Lịch sử lớp 10, ban N©ng cao).

Néi dung

Cơ sở lí luận

1.1.1 Một số cách phân loại văn học - nghệ thuật

Văn học, nghệ thuật là hai lĩnh vực có quan hệ mật thiết với nhau Hiện nay còn khá nhiều quan điểm về hai lĩnh vực này cũng nh- về mối quan hệ giữa văn học và nghệ thuật Đa số cho rằng văn học là một bộ phận của nghệ thuật, cũng có ý kiến cho nó là một dạng hoạt động nghệ thuật đặc biệt

Sau đây là một số cách phân loại:

Cách thứ nhất, theo các tác giả Lê Văn D-ơng, Lê Đình Lục và Lê Hồng Vân trong cuốn Mĩ học đại cương (Nxb Giáo dục, 2002), cho rằng có các loại hình nghệ thuật cơ bản, bao gồm cả văn học và các hình thức biểu đạt khác, là nền tảng của mỹ học và được phân loại nhằm làm rõ cách chúng thể hiện nội dung, cảm xúc và nghệ thuật qua các phương tiện khác nhau.

- Nhóm nghệ thuật ứng dụng: nghệ thuật trang trí, nghệ thuật kiến trúc

- Nhóm nghệ thuật tạo hình: hội họa, điêu khắc

- Nhóm nghệ thuật biểu hiện: âm nhạc và múa

- Nghệ thuật ngôn từ: văn học

- Nhóm nghệ thuật tổng hợp: Điện ảnh, sân khấu

Nh- vậy, chúng ta nhận thấy với cách phân loại này văn học đ-ợc xếp vào một nhóm riêng ‟ nghệ thuật ngôn từ, thuộc các loại hình nghệ thuật

* Cách thứ hai: Trong phần giảng dạy về “Đại cương nghệ thuật học” của tr-ờng đại học An Giang cho rằng có bảy loại hình nghệ thuật là:

So với cách phân loại thứ nhất thì cách phân loại này không dựa vào ph-ơng thức sáng tác và giá trị của nó mà chia thành từng loại riêng biệt theo thứ tự thời gian ra đời Kiến trúc lại không đ-ợc xếp vào các loại hình nghệ thuật bởi theo các tác giả thì yếu tố kĩ thuật xây dựng mới là yếu tố quan trọng nhất chứ ch-a phải là nghệ thuật tạo hình

Mọi cách phân loại văn học đều dựa trên cơ sở khoa học nhất định và có hạt nhân hợp lý riêng; cách thứ nhất dựa vào phương thức biểu hiện, coi văn học là một loại nghệ thuật đặc biệt - nghệ thuật ngôn từ, và tác giả nhấn mạnh rằng văn học là một loại hình nghệ thuật có tính tổng hợp, chứa đựng nhiều khả năng của nhiều loại hình nghệ thuật; cách phân loại thứ hai lại xem yếu tố nghệ thuật là tiêu chí hàng đầu.

Tuy nhiên các cách phân loại đều dựa trên quan điểm phân loại chuyên ngành, phục vụ cho việc giảng dạy bộ môn: giảng dạy văn học hay chuyên đề về nghệ thuật Còn ở đây việc giảng dạy nội dung văn học - nghệ thuật lại đ-ợc tiến hành với t- cách là một bộ phận của bài học lịch sử Vì thế, trên cơ sở những cách phân chia đó, kết hợp với việc nghiên cứu SGK, dạy và học lịch sử thực tiễn, tác giả cho rằng: để thuận tiện hơn cho giảng dạy lịch sử và phù hợp với quan điểm của các nhà viết SGK lịch sử, thì nên tách văn học, nghệ thuật thành hai nội dung riêng biệt, trong đó:

+ Văn học dân gian: Truyền thuyết, thần thoại, sử thi,

+ Văn học thành văn: Thơ, văn xuôi, trường ca…

- Nghệ thuật tập trung vào các mảng chính:

1.1.2 Khái niệm văn học, nghệ thuật

1.1.2.1 Khái niệm văn học (tác phẩm văn học)

Theo định nghĩa trong Bách khoa toàn thư Việt Nam, Văn học là một loại hình sáng tác thể hiện những vấn đề của đời sống, xã hội và con người Phương thức sáng tạo của văn học được thể hiện qua cấu trúc tác phẩm, và nội dung đề tài được trình bày qua ngôn từ Văn học sử dụng ngôn ngữ để phản ánh hiện thực và làm nổi bật mối quan hệ giữa hình thức và nội dung, từ đó truyền tải suy nghĩ, cảm xúc và quan điểm về đời sống tới người đọc.

Theo cuốn Từ điển thuật ngữ văn học của nhóm tác giả Lê Bá Hán, Trần Đình Sử và Nguyễn Khắc Phi, tác phẩm văn học là một công trình nghệ thuật ngôn từ do cá nhân hoặc tập thể sáng tác nhằm thể hiện những khái quát bằng hình tượng về cuộc sống con người, đồng thời thể hiện tâm sự, tình cảm và thái độ của chủ thể trước thực tại.

Tác phẩm văn học khái quát lại có thể tồn tại d-ới hình thức truyền miệng

(văn học dân gian) hay văn học viết (hình thức văn bản nghệ thuật đ-ợc giữ qua văn tự, có thể đựơc viết bằng văn vần hay văn xuôi)

- Ca dao: Là một danh từ để chỉ riêng thành phần nghệ thuật ngôn từ (phần lời thơ) của dân ca (không kể những tiếng đệm, tiếng láy)

- Dân ca: Là một loại hình sáng tác dân gian mang tính chất tổng hợp bao gồm lời nhạc, động tác, điệu bộ kết hợp với nhau trong diễn x-ớng

- Sử thi (anh hùng ca): Xuất hiện sớm trong lịch sử văn học của các dân tộc nhằm ca ngợi sự nghiệp anh hùng có tính chất toàn dân và có ý nghĩa trọng đại đối với dân tộc trong buổi bình minh lịch sử

- Truyền thuyết: Là một loại truyện dân gian có chức năng chủ yếu là phản ánh và lí giải các nhân vật, sự kiện lịch sử có ảnh h-ởng quan trọng tới một thời kì, một bộ tộc, dân tộc hay địa ph-ơng

Truyện cổ tích là một thể loại truyện dân gian nảy sinh từ xã hội nguyên thủy và phát triển chủ yếu trong xã hội có giai cấp, với chức năng phản ánh và lý giải những vấn đề xã hội, những số phận khác nhau của con người trong cuộc sống muôn màu muôn vẻ Có nhiều loại truyện cổ tích, bao gồm truyện cổ tích loài vật, truyện cổ tích thần kỳ và truyện cổ tích sinh hoạt.

Truyện cười dân gian là một thể loại truyện dân gian chứa đựng yếu tố hài hước, dùng tiếng cười làm phương tiện chủ yếu để thể hiện chức năng phê phán, đả kích và chêm biếm, đồng thời mang lại mua vui cho cộng đồng Những câu chuyện này sử dụng tình huống dí dỏm và lối nói mỉa mai để phê phán các hiện tượng xã hội, thói hư tật xấu và những bất công, đồng thời phản ánh sắc thái văn hóa và nhịp sống của người dân ở nhiều vùng miền Nhờ đó, truyện cười dân gian vừa là nguồn giải trí vừa là công cụ nhận thức và phê bình xã hội, góp phần lưu giữ di sản văn hóa dân gian và truyền đạt bài học nhân văn cho thế hệ sau.

Kịch thơ là một loại hình văn học được viết ra để vừa diễn trên sân khấu vừa đọc thành văn bản Lời thoại của mỗi nhân vật thường là một khúc tâm tình sâu sắc hoặc một dòng triết lý nhân sinh, giúp tác phẩm có nhịp điệu và thể hiện suy tư về cuộc sống Đây là sự giao thoa giữa ngôn ngữ thơ ca và nghệ thuật diễn xuất, mang lại hình ảnh sống động và cảm xúc sâu sắc cho người xem và người đọc.

Truyện thơ là một thể loại văn học kết hợp giữa truyện và thơ, được viết theo hình thức thơ nhưng nội dung vẫn kể một câu chuyện có nhịp điệu và nhịp kể Nội dung của truyện thơ bao giờ cũng được trình bày theo một trình tự rõ ràng có mở đầu và kết thúc, đồng thời chứa đựng các tình tiết, diễn biến và tình huống nhất định Nhờ cách kết hợp giữa ngôn từ nghệ thuật của thơ và diễn biến của truyện, truyện thơ mang lại hiệu quả nhạc điệu và sự lôi cuốn cho người đọc.

Trường ca thường được dùng để chỉ các tác phẩm sử thi cổ trung đại, khuyết danh hoặc có tên tác giả; trường ca được soạn bằng cách cải biên các cốt truyện cổ xưa trong quá trình tồn tại và sáng tác của dân gian Tuy nhiên, trong dạy học lịch sử ở trường phổ thông, do đặc trưng môn học, do quỹ thời gian có hạn và do nội dung của từng bài học cụ thể, giáo viên có thể không vận dụng hết các loại hình văn học nói trên.

Cơ sở thực tiễn

Qua quá trình điều tra và lấy ý kiến của một số giáo viên, điều tra đối với học sinh, phát phiếu điều tra và kiểm tra chất lượng về việc giảng dạy nội dung văn học – nghệ thuật (mức độ sử dụng, thuận lợi và khó khăn khi dạy; mức độ hứng thú, sự tập trung chú ý và nhận thức của học sinh), chúng tôi rút ra kết luận thực trạng việc dạy học nội dung văn học – nghệ thuật trong dạy học lịch sử ở trường phổ thông hiện nay như sau: việc lồng ghép văn học – nghệ thuật vào môn Lịch sử được thực hiện ở nhiều trường nhưng mức độ chưa đồng đều, phụ thuộc nhiều vào điều kiện và nguồn lực; thuận lợi gồm khả năng liên hệ nội dung lịch sử với tác phẩm văn học, kích thích hứng thú và tăng tập trung cho học sinh, trong khi khó khăn chủ yếu là thiếu thời lượng chương trình, thiếu tài liệu tham khảo phù hợp và năng lực vận dụng kiến thức cho giáo viên; học sinh tuy có mức độ hứng thú và nhận thức tăng lên ở mức nhất định nhưng vẫn còn hạn chế về phân tích và nhận thức sâu sắc, nên hiệu quả dạy – học chưa đạt được mong đợi Để cải thiện, cần tăng cường nguồn lực, thiết kế các hoạt động học tập mang tính tương tác, mở rộng tài liệu tham khảo và nâng cao năng lực cho giáo viên trong việc tích hợp nội dung văn học – nghệ thuật với lịch sử.

1.2.1 Những mặt đã làm đ-ợc

Qua điều tra, chúng tôi nhận thấy trong công tác giảng dạy lịch sử ở trường THPT, giáo viên đã bước đầu tiếp cận với quan niệm giáo dục toàn diện, chú ý tới cả lịch sử văn hóa và nghệ thuật, bao gồm nội dung văn học – nghệ thuật Chính vì vậy giáo viên đã bắt đầu dành thời gian đầu tư vào sưu tầm tư liệu, tranh ảnh và tài liệu liên quan nhằm tăng tính sinh động cho bài giảng và nâng cao hiệu quả giảng dạy lịch sử tại trường.

- Cũng từ sự nhận thức đ-ợc vai trò của nội dung văn học - nghệ thuật trong việc tiếp thu, nâng cao hứng thú học tập của học sinh nên giáo viên đã có sự chú ý trong việc tổ chức các trò chơi, hoạt động ngoại khóa về danh nhân vặn hóa, câu lạc bộ văn học - sử (tuy mới chỉ là lẻ tẻ và đơn giản)

- So với việc dạy học LSDT thì việc dạy học LSTG đặc biệt là nội dung văn học - nghệ thuật khó hơn vì: khối l-ợng kiến thức lớn, những khái niệm khó, nội dung xa lạ đối với học sinh; quỹ thời gian hạn chế nên khó có thể truyền đạt đ-ợc mục tiêu kiến thức, kĩ năng, t- t-ởng tình cảm

Nhận thức được vai trò của việc giảng dạy nội dung văn học - nghệ thuật, đa số giáo viên cho rằng việc chuẩn bị nội dung này rất mất thời gian và tốn kém Ngay cả khi có chuẩn bị, thời lượng dành cho tổ chức bài học vẫn không đủ để thực hiện một cách hợp lý.

Các em học sinh tuy có chú ý và tìm hiểu về những nội dung kiến thức này, nhưng sự quan tâm đó chỉ mang tính hứng thú cá nhân chứ chưa hình thành động cơ học tập nghiêm túc và có chủ đích Vì vậy, chưa thấy các em xây dựng được mục tiêu học tập rõ ràng hoặc chiến lược học tập để đạt kết quả bền vững Để chuyển từ sự tò mò thành động lực học tập thực sự, cần thiết phải tạo thêm các hoạt động có mục tiêu, gắn kết kiến thức với kỹ năng và định hướng rõ ràng cho mỗi em.

Ở trường phổ thông, lịch sử vẫn bị xem là một môn phụ trong hệ thống môn học, và thời lượng dành cho môn này rất hạn chế, thường chỉ 1–2 tiết mỗi tuần Với khối lượng kiến thức bị giới hạn như vậy, học sinh khó có thể lĩnh hội đầy đủ nội dung bài học, khiến việc mở rộng và đầu tư cho dạy và học lịch sử gặp nhiều khó khăn.

Qua thực tiễn, chúng tôi thấy rằng, hiện t-ợng xem nhẹ mộn lịch sử ở tr-ờng phổ thông còn khá phổ biến, giảng dạy nội dung văn học ‟ nghệ thuật ch-a đ-ợc coi trọng và đầu t- đúng mức Chính vì thế, việc nghiên cứu các biện pháp giảng dạy nội dung văn học ‟ nghệ thuật trong dạy học lịch sử có ý nghĩa to lớn không chỉ về lí luận mà còn có tính thực tiễn cao

1.2.3 Những vấn đề đặt ra

- Phải xác định đúng ý nghĩa của việc giảng dạy các nội dung văn học - nghệ thuật trong dạy học lịch sử ở tr-ờng phổ thông

- Việc đầu t- thời gian, công sức cho việc khai thác các nội dung này phải hợp lí, đảm bảo quỹ thời gian, ít tốn kém mà vẫn hiệu quả

Khéo léo kết hợp với các bộ môn tại trường phổ thông và đa dạng hóa các hình thức tổ chức dạy học nhằm thực thi tốt các nội dung đã đề ra Sự phối hợp giữa nội dung môn học và phương pháp giảng dạy giúp nâng cao chất lượng giáo dục, tối ưu hóa quá trình hình thành kiến thức và kỹ năng cho học sinh Đồng thời, việc kết nối giữa các môn và các hình thức dạy học tăng cường tính liên thông, khai phá tiềm năng của từng môn, đồng thời kích thích sự hứng thú và tính chủ động của người học.

Từ thực tế được nêu lên, chúng tôi nhận thấy việc nghiên cứu và giảng dạy nội dung văn học - nghệ thuật trong dạy học lịch sử mang ý nghĩa lí luận và thực tiễn to lớn, góp phần tăng cường hứng thú tích cực học tập của học sinh và đồng thời nâng cao chất lượng, hiệu quả của dạy học lịch sử ở trường phổ thông.

Chương 2 giới thiệu một số nội dung văn học và nghệ thuật được giảng dạy trong khóa trình Lịch sử thế giới Trung đại phương Đông dành cho lớp 10, ban nâng cao Nội dung tập trung vào các tác phẩm tiêu biểu và thể loại văn học như thi ca, truyện kể và sử thi, đồng thời khái quát các hình thức nghệ thuật nổi bật như kiến trúc, điêu khắc và minh họa chữ viết của các nền văn minh phương Đông thời Trung đại Bài học giải thích vai trò của văn học và nghệ thuật trong đời sống xã hội, sự tác động của tôn giáo và hệ tư tưởng lên sáng tác, cũng như sự giao lưu, trao đổi văn hóa giữa các nền văn minh phương Đông với khu vực và thế giới.

Vị trí, ý nghĩa, nội dung cơ bản của khóa trình

Ch-ơng trình lịch sử lớp 10 ban Nâng cao, phần lịch sử thế giới trung đại ph-ơng Đông gồm 7 bài, 7 tiết

Bài 5: Trung Quốc thời Tần, Hán (1 tiết)

Bài 6: Trung Quốc thời Đ-ờng, Tống (1 tiết)

Bài 7: Trung Quốc thời Minh, Thanh (1 tiết)

Bài 8: Các quốc gia ấn và văn hóa truyền thống ấn Độ (1 tiết)

Bài 9: Sự phát triển lịch sử và văn hóa ấn Độ (1 tiết)

Bài 10: Các n-ớc Đông Nam á đến giữa thế kỉ XIX (1 tiết)

Bài 11: Văn hóa truyền thống Đông Nam á (1 tiết)

Bài 12: V-ơng quốc Campuchia và v-ơng quốc Lào (1 tiết)

Lịch sử trung đại của các quốc gia phương Đông là một thời kỳ đặc biệt, với sự tồn tại của các quốc gia phong kiến có những đặc điểm chung mang tính phổ quát, đồng thời cũng chứa đựng những khác biệt riêng biệt Sự tồn tại kéo dài của thời kỳ này đã để lại những ảnh hưởng sâu sắc và chiếm một vị trí quan trọng trong tiến trình phát triển của các quốc gia ấy Dù thời điểm bắt đầu và kết thúc khác nhau giữa các nước, nhìn chung hệ thống phong kiến được hình thành từ sớm và kết thúc vào khoảng cuối thế kỷ XVIII hoặc đầu thế kỷ XIX, khi chủ nghĩa thực dân phương Tây mở rộng và tác động mạnh lên khu vực Đông Phương.

Tây bắt đầu xâm l-ợc và biến các quốc gia này thành thuộc địa, phụ thuộc, nửa thuộc địa…

Khóa trình này được trình bày theo từng quốc gia và khu vực, mỗi quốc gia nêu bật những nét cơ bản trong tiến trình phát triển chung Dù có những nét riêng biệt giữa các nước, nhìn chung quá trình hình thành, phát triển và suy vong của các quốc gia tuân theo một quy luật nhất định Phân tích theo khu vực giúp làm rõ các yếu tố lịch sử và tác động của nó đến sự phát triển của từng quốc gia, đồng thời cung cấp khung tham chiếu cho nhận diện các mô hình lịch sử ở quy mô toàn cầu.

- Nhằm cung cấp cho học sinh những kiến thức cơ bản về điều kiện tự nhiên, vị trí địa lí của các quốc gia phong kiến ph-ơng Đông Thấy đ-ợc vai trò của điều kiện tự nhiên thuận lợi đối với sự phát triển kinh tế nông nghiệp, làm thủy lợi, cộng thêm yêu cầu chống ngoại xâm là cơ sở cho sự ra đời các quốc gia phong kiến sơ kì bên l-u vực các con sông lớn

Dù trải qua nhiều triều đại phong kiến với mức thịnh–suy khác nhau, mọi tổ chức bộ máy nhà nước ở đây đều mang tính quân chủ chuyên chế, trung ương tập quyền, vua đứng đầu nắm giữ mọi quyền lực Các vị vua ra sức củng cố quyền lực và mở rộng quyền thống trị của mình Các triều đại phần lớn được hình thành từ các cuộc khởi nghĩa và kết thúc trong khủng hoảng suy vong.

Trong mỗi triều đại phong kiến, các thành tựu nổi bật về chính trị, kinh tế, văn hóa và nghệ thuật đã góp phần định hình sự phát triển của xã hội Giữa các quốc gia phong kiến với nhau luôn có sự giao lưu và ảnh hưởng văn hóa mạnh mẽ, tạo nên sự giao thoa đa dạng trong sự thống nhất của văn hóa Phương Đông thời kỳ trung đại.

Những nội dung trên cho thấy quy luật phát triển chung của các quốc gia phong kiến phương Đông: nhà nước hình thành sớm, chủ yếu ở lưu vực các con sông lớn khi công cụ sản xuất còn thô sơ, và chế độ quân chủ chuyên chế tồn tại ở mức độ cao.

Từ đó, hình thành cho các em những biểu t-ợng, khái niệm, quy luật, bài học lịch sử

Khóa học lịch sử thế giới thời trung đại gắn liền với sự tồn tại của các triều đại phong kiến, giúp người học nhận thức đúng vai trò và hạn chế của hệ thống phong kiến và từ đó rèn luyện tư duy phân tích, đồng thời bộc lộ thái độ cá nhân về yêu ghét, cảm phục hay phê phán Nội dung khóa học tập trung vào phân tích tác động của phong kiến lên xã hội, kinh tế và văn hóa, so sánh các triều đại và đánh giá nguồn tư liệu một cách có căn cứ để hình thành quan điểm lịch sử đúng đắn Qua đó học sinh được khuyến khích trình bày ý kiến riêng một cách thấu đáo, khách quan và có căn cứ, đồng thời phát triển kỹ năng phản biện và diễn đạt quan điểm cá nhân Nội dung được tối ưu hóa cho SEO với các từ khóa như lịch sử thế giới thời trung đại, phong kiến, triều đại phong kiến, vai trò và hạn chế, phân tích lịch sử và thái độ cá nhân.

- Có thái độ trân trọng giữ gìn, tôn tạo và bảo vệ đối với những giá trị vật chất và tinh thần đ-ợc tạo dựng

- Hình thành thế giới quan và nhân sinh quan đúng đắn, t- t-ởng thẩm mĩ, trân trọng cái đẹp với những giá trị văn hóa, nghệ thuật

Rèn luyện cho học sinh kỹ năng đánh giá vai trò của triều đại và các cá nhân lịch sử, bao gồm những điều đã làm được và những đóng góp trên nhiều lĩnh vực; đồng thời đánh giá đúng vai trò của các nhân vật lịch sử trong mối quan hệ với quần chúng nhân dân – những người làm nên lịch sử Nội dung giúp phân tích tác động của triều đại và cá nhân lịch sử, làm sáng tỏ cả đóng góp tích cực lẫn nhược điểm để hình thành quan điểm khách quan có căn cứ về lịch sử Nhờ vậy, học sinh nắm được cách nhận diện ảnh hưởng của lịch sử đối với xã hội và vai trò của quần chúng nhân dân trong quá trình làm nên lịch sử.

Phương pháp học theo từng thời kỳ lịch sử của mỗi quốc gia, sau khi kết thúc một nước lại chuyển sang nước khác với những đặc điểm điển hình, trên nền tảng chung là chế độ phong kiến, giúp học sinh dễ dàng so sánh, nhận định và rút ra bài học phát triển giữa các thời kỳ và các quốc gia Ví dụ khi học Trung Quốc thời Đường và Tống, giáo viên có thể cho học sinh so sánh để thấy tổ chức bộ máy nhà nước của hai thời kỳ hoàn thiện như thế nào, từ cấu trúc quan lại, quản lý hành chính, hệ thống thuế cho đến quân sự Phương pháp này tăng cường tư duy phân tích lịch sử, kết nối kiến thức giữa các nước và các thời kỳ, đồng thời hỗ trợ người học nắm bắt mối quan hệ nguyên nhân–kết quả trong sự phát triển của nền phong kiến và sự tiến bộ của hệ thống nhà nước.

- Qua giảng dạy khóa trình lịch sử thế giới trung đại ph-ơng Đông sẽ rèn luyện cho học sinh kĩ năng quan sát, sử dụng, phân tích bản đồ, tranh ảnh, l-ợc đồ: l-ợc đồ các quốc gia Đông Nam á, l-ợc đồ ấn Độ thời cổ đại, tranh ảnh về các công trình kiến trúc

Khóa trình giảng dạy tập trung vào ba trung tâm văn minh lớn, giúp nội dung phát triển nở rộ trên mọi phương diện, đặc biệt là văn học - nghệ thuật Nội dung phong phú với số lượng tranh ảnh và tài liệu đa dạng, có cả những loại mang tính trừu tượng, đòi hỏi học sinh phát huy trí tưởng tượng và khả năng phân tích để phát triển sáng tạo và áp dụng kiến thức vào thực tiễn.

2.1.3 Nội dung cơ bản của khóa trình

Ch-ơng trình lịch sử thế giới trung đại ph-ơng Đông (lớp 10, ban Nâng cao) là thời kì hình thành, phát triển và suy vong của các quốc gia phong kiến: Trung Quốc, ấn Độ, Đông Nam á với hai quốc gia tiêu biểu là Lào, Campuchia

* Trung Quèc thêi phong kiÕn

Khoảng thế kỉ thứ IV TCN, với sự xuất hiện của công cụ lao động bằng sắt đã làm cho kinh tế phát triển mạnh mẽ, xã hội bắt đầu có sự phân chia giai cấp, Trung Quốc chuyển dần sang chế độ phong kiến Năm 221 TCN nhà Tần thống nhất Trung Quốc và tồn tại đ-ợc 15 năm (221 - 209 TCN) rồi nhà Hán lên thay Chế độ phong kiến đ-ợc xác lập vững mạnh từ trung -ơng đến địa ph-ơng, các cuộc chiến tranh xâm l-ợc với các n-ớc láng giềng đ-ợc tiến hành Đây cũng là thời kì đạt đ-ợc những tiến bộ nhất định về kinh tế, văn hãa

Năm 618, Lý Uyên lật đổ nhà Tùy, sáng lập nhà Đường Dưới triều đại phong kiến của nhà Đường, bộ máy nhà nước được kiện toàn và quyền lực phong kiến được củng cố Nhà Đường và sau này nhà Tống tiếp tục các cuộc chiến tranh xâm lược, mở rộng lãnh thổ Trung Quốc Kinh tế được thúc đẩy với nhiều cải cách toàn diện và dũng cảm, văn hóa có bước phát triển nhảy vọt và đạt nhiều thành tựu rực rỡ, đặc biệt là nền thơ với các danh nhân kiệt xuất như Lý Bạch, Đỗ Phủ và Bạch Cư Dị.

D-ới thời Minh - Thanh (từ thế kỉ XIV đến thế kỉ XX), bộ máy nhà n-ớc quân chủ chuyên chế tiếp tục đ-ợc củng cố, hoàn thành bộ máy triều đình Tiếp tục con đ-ờng cuả các triều đại tr-ớc, nhà Minh - Thanh đem quân đi xâm l-ợc ở nhiều n-ớc Đông Nam á và Nam á để phô tr-ơng sức mạnh Nhiều biện pháp kinh tế đ-ợc thi hành nhằm khôi phục kinh tế và mở rộng diện tích đất đai Đến đầu thế kỉ XVI những mầm mống của kinh tế t- bản chủ nghĩa đã xuất hiện Văn hóa có nhiều thành tựu nổi bật, trong đó tiểu thuyết ch-ơng hồi là thể loại văn học điển hình với các tác phẩm tiêu biểu nh-: Tây Du Kí, Thủy hử, Tam quốc diễn nghĩa Kiến trúc, hội họa, điêu khắc cũng là những lĩnh vực tiêu biểu

Những nội dung văn học - nghệ thuật đ-ợc giảng dạy trong khóa trình

* Bài 5: “Trung Quốc thời Tần, Hán”

Lăng Li Sơn, hay lăng mộ Tần Thủy Hoàng, là khu lăng mộ hoàng gia do Tần Thủy Hoàng xây dựng không lâu sau khi thống nhất đất nước Nằm tại Lệ Sơn, ngoại ô thành phố Tây An, tỉnh Thiểm Tây ngày nay, khu lăng mộ này thể hiện tham vọng quyền lực của nhà Tần và là một biểu tượng quan trọng trong di sản lịch sử Trung Quốc.

Hoàng đế đã huy động khoảng 7.000 dân phu làm việc trong 40 năm để xây dựng khu lăng mộ rộng 56 km² Lăng mộ hình chữ nhật, hướng Tây Nam, rộng 345 m và cao 76 m, tổng thể có hình dạng như một kim tự tháp Xung quanh lăng là hơn 500 mộ và các tùy táng Trong các mộ người ta chôn theo xe ngựa đồng tượng dành cho xe của Tần Thủy Hoàng và có hầm mộ binh mã.

Trong lăng mộ của Tần Thủy Hoàng ở Trung Quốc có khoảng 8.000 tượng đất sét được chôn theo cùng các binh mã và ngựa Cánh cửa bảo vệ mộ được làm bằng kim loại từ tính Vào đầu những năm 80 của thế kỷ trước, người ta phát hiện bí mật: ngôi mộ được bao quanh bởi một lớp thủy ngân dày, có thể giết chết mọi ai bước vào; khi mở nắp quan tài, thủy ngân hình thành vô số dòng sông nối liền với nhau Người ta tìm thấy thi thể của Tần Thủy Hoàng trên một mặt đá phẳng Bên cạnh là một ngọn đèn dầu cháy bằng một loại dầu đặc biệt, với mong muốn của vị hoàng đế rằng ngọn đèn sẽ cháy muôn đời trong lăng mộ Ngoài ra trong các hốc đá còn có mũi tên tẩm thuốc độc Đây được xem là khu lăng mộ có quy mô lớn nhất, phong phú nhất và phức tạp nhất trong các lăng mộ vua chúa Trung Quốc.

„ Cung A Phòng: Là một khu cung điện rất rộng lớn, đ-ợc xây dựng gần nh- cùng thời gian với lăng Li Sơn Điện ở dằng tr-ớc có chiều dài 2500 th-ớc, và chiều rộng là 500 th-ớc Để xây dựng công trình này Tần Thủy Hoàng đã phải huy động một lực l-ợng lớn nhân công, vậy mà khi hoàng đế chết cung A Phòng vẫn ch-a hoàn thành

„ Vạn lí tr-ờng thành: đ-ợc xem là một trong 7 kì quan của thế giới cổ đại, là công trình phòng thủ cổ đại lớn nhất thế giới Ban đầu nó là những đoạn thành đ-ợc xây dựng nhằm chống lại sự xâm nhập của một số dân tộc miền Bắc và chính quyền khu cục Trung Nguyên Năm 215 TCN Tần Thủy Hoàng cho nối những đoạn thành tr-ớc đây lại, gia cố thêm cho vững chắc (khi đó thành mới chỉ dài hơn 5000km) Hơn 10 năm, Tần Thủy Hoàng đã huy động đủ mọi nhân, vật lực cho công trình này:

“Hàng trăm ngàn vạn ng-ời lao động

Xây đắp ngôi thành trấn một phương”

Vạn lý trường thành nằm ngang qua địa phận 6 tỉnh, uốn lượn bên sườn núi và phía dưới là vách đá cheo leo Thành được cấu thành từ bốn bộ phận: tường thành cao trung bình 7–8 m, rộng 5–6 m, xây bằng gạch vồ và đá tảng bên trong nhồi đất; trên đỉnh thành có những tấm lá chắn tạo hình răng cưa; cửa ải được bao quanh bởi nhiều tường thành, công sự và đường hào chiến đấu Thân thành có pháo đài được bố trí cứ 200 m, bên trong thành bố trí những tháp canh hình vuông cao 12 m chứa phong hỏa đài Vạn lý trường thành mang giá trị văn hóa to lớn; dân gian có câu: “bất đáo Trường Thành phi hảo hán”, và đây được coi là đệ nhất kỳ quan Trung Quốc.

Quốc Năm 1987 Vạn lí tr-ờng thành đ-ợc xếp vào danh mục di sản thế giới

„ Điêu khắc xe ngựa đồng: Đ-ợc phát hiện trong lăng mộ Tần Thủy

Vào năm 1980, chiếc xe ngựa mô hình này được chế tác với phần thân chính bằng đồng đen, các linh phụ kiện bằng vàng và bạc, và mọi phần trên xe đều được gắn máy móc Thiết kế tinh xảo, kích thước bằng một nửa xe thật và mô hình hoàn toàn phỏng theo xe thật, giúp tái hiện chân thực dáng dấp oai phong của Tần Thủy Hoàng khi ngồi trên xe ngựa.

Thể loại phú thời Hán là một thể loại văn học do người Hán sáng tác, rực rỡ một thời và để lại dấu ấn đậm nét trong nền văn học cổ điển Đây là hình thức kết hợp giữa văn xuôi và văn vần, lời văn gọt giũa công phu, các câu trên đối câu dưới rất sát nhau, nhấn mạnh tính hình thức và sự trau chuốt của ngôn từ Phú chú trọng hình thức, ít chú ý tới tình cảm, và chủ yếu nhằm ca ngợi công đức của giai cấp thống trị, khẳng định vai trò của tầng lớp cai trị trong xã hội thời Hán.

D-ới thời Hán 400, phú có hơn 1000 bài (át hẳn các thể loại khác) Nội dung rất phong phú: thiên nhiên, phương hướng, con người, địa danh…

Trong văn học cổ Trung Hoa, các tác giả và tác phẩm tiêu biểu có thể kể đến như Tư Mã Tương Như với Tử Hư phú và Giả Nghị với Phú điếu Khuất Nguyên (201–169 TCN); đây là hình thức văn học quý tộc, chủ yếu phục vụ giai cấp thống trị, tuy nhiên nó cũng ảnh hưởng sâu sắc tới đời sau.

Nhạc phủ đại diện cho nền thơ ca đời Hán với nội dung phong phú và nghệ thuật điêu luyện, là cơ quan chuyên trách âm nhạc tế lễ do Hán Vũ Đế thành lập Hàng năm, cơ quan này cử người đi sưu tầm thơ ca trong nhân dân, từ đó dân ca về sau cũng được gọi là nhạc phủ.

Nhạc phủ có nội dung phong phú và mang tính hiện thực, miêu tả cảnh cực khổ của nhân dân và vạch trần sự xấu xa trong xã hội phong kiến, với hình tượng nhân vật linh hoạt và mang đậm dấu ấn cá nhân Hình thức sáng tác chủ yếu là thơ năm chữ Tiêu biểu có thể kể đến Vũ Lâm Lang, Mạch Thượng Tang và thơ Tô Lí Nhạc phủ có ảnh hưởng rõ nét đến các giai đoạn về sau, đặc biệt là trong sáng tác của các nhà thơ Đường.

* Bài 6: “ Trung Quốc thời Đường, Tống”

Khái quát thơ Đường: Thơ Đường tồn tại gần 300 năm, để lại hơn 2000 nhà thơ và trên 50.000 tác phẩm Nó đánh dấu bước nhảy vọt của thi ca Trung Quốc với số lượng dồi dào, nội dung phong phú và nghệ thuật điêu luyện, cấu trúc cân đối hài hòa cùng ngôn ngữ tinh luyện Thơ Đường phát triển qua ba giai đoạn tương ứng với lịch sử: sơ Đường, trung Đường và vãn Đường.

Lý Bạch (701–762), tự Thái Bạch, hiệu Thanh Liên cư sĩ, tính tình phóng khoáng, thích ngao du, từng làm quan dưới thời Huyền Tông Do không được trọng dụng và nhận thấy sự thối nát của quan trường, ông vỡ mộng và cùng thi nhân uống rượu làm thơ; rượu trở thành nguồn cảm hứng cho nhiều áng thơ bất hủ của ông Đại bộ phận thơ Lý Bạch là thơ trữ tình; qua thơ ta thấy trước hết là hình ảnh một trí thức có hoài bão, sống trong điều kiện chế độ quân chủ chuyên chế đang từ ổn định đến suy thoái Thơ ông chịu nhiều ảnh hưởng của Nho giáo và Đạo giáo, nhưng vẫn mang đậm dấu ấn cá nhân với tư tưởng du hiệp.

“Nho sĩ đâu bằng người hiệp sĩ Bạc đầu đọc sách có gì hay ho”

Kho tàng thơ được sắp xếp theo ba chủ đề chính: thiên nhiên trong các tác phẩm trữ tình như Cổ phong 19, Thiên thái sơn nhân, Nhìn thác nước ở Lư Sơn; đề tài về con người với Hành lộ nan, Hiệp khách hành; và đề tài lịch sử, chiến tranh được thể hiện qua Chiến thành nam, Đinh đô hộ ca, cổ phong 14, 34 Các bài thơ này vừa ngợi ca vẻ đẹp thiên nhiên, vừa khắc họa số phận và hành trình của con người trong bối cảnh lịch sử, mang lại nhịp điệu trữ tình sâu lắng và giá trị tư tưởng rõ nét.

Thơ của ông phần lớn hướng về thiên nhiên, mở ra một thế giới trong sáng và thuần khiết cho người đọc Những vần thơ này khơi dậy những tình cảm trong sáng của con người và khơi gợi khát vọng chính nghĩa, đồng thời được tinh luyện qua ngôn từ nghệ thuật Với sự tinh tế của ngôn từ, thơ không chỉ miêu tả cảnh sắc mà còn chuyển tải niềm tin và giá trị nhân văn sâu sắc.

“Đầu giường ánh trăng dọi Ngỡ mặt đất phủ s-ơng Ngẩng đầu nhìn trăng sáng Cúi đầu nhớ cố h-ơng”

Một số nguyên tắc, yêu cầu

Nguyên tắc liên môn, hay còn được gọi là sự liên kết môn học, là việc tích hợp và kết nối kiến thức giữa các môn học với nhau để giảng dạy một môn học cụ thể Nguyên tắc này giúp học sinh nhận diện mối liên hệ giữa các lĩnh vực khoa học, đặc biệt là các khoa học kế cận, và áp dụng kiến thức từ nhiều môn vào bài học hiện tại Việc áp dụng nguyên tắc liên môn làm tăng tính liên tục và sáng tạo trong quá trình học tập, đồng thời nâng cao hiệu quả giảng dạy bằng cách mở rộng ngữ cảnh và mục tiêu giáo dục.

Phương pháp luận của mối liên hệ này dựa trên lý luận nhận thức Mác-xít về mối liên hệ và tính định hướng qua lại giữa các sự vật và hiện tượng của thế giới khách quan; từ đó lịch sử được xem như một khoa học và một môn học độc lập ở trường phổ thông, song vẫn có mối liên hệ chặt chẽ với các môn khác như địa lý và văn học Mỗi môn học phản ánh kết quả nhận thức của con người về một hoặc một số lĩnh vực của thế giới khách quan, vì vậy trong quá trình dạy học, học sinh cần được tiếp cận nhiều môn học tương ứng với các khoa học nhất định và có mối liên hệ mật thiết với nhau Lịch sử không nằm ngoài quy luật đó và đóng vai trò quan trọng trong việc hình thành hiểu biết toàn diện về xã hội và tự nhiên thông qua quan hệ với các môn khoa học khác.

Để đảm bảo tính đa dạng và sức hút của các bài giảng lịch sử, không thể chỉ cứng nhắc với câu châm ‘sử là sử’ hay kể lại từng sự kiện một Việc trình bày như vậy sẽ làm cho kiến thức lịch sử trở nên khô khan, thiếu sức sống và khó ghi nhớ Vì thế, cần thiết vận dụng và kết nối kiến thức từ các môn khác, đặc biệt là văn học và nghệ thuật, nhằm mở rộng ngữ cảnh, tăng tính sinh động và giúp người học hình dung lịch sử một cách sâu sắc hơn và ghi nhớ lâu dài.

Xét cho cùng văn học - nghệ thuật là một nội dung, một bộ phận trong tổng thể kiến thức lịch sử nh-ng lại thuộc về môn học khác là văn học và giảng dạy các bộ môn nghệ thuật Nên muốn sử dụng tốt các nội dung văn học

‟ nghệ thuật thì giáo viên cần nắm vững nguyên tắc liên môn và vận dụng nguyên tắc liên môn trong dạy học lịch sử ở tr-ờng phổ thông

3.1.2 Đảm bảo tính đặc tr-ng môn học

Lịch sử là gì? lịch sử là tất cả những gì đã xảy ra trong quá khứ xã hội loài ng-ời Nó bao gồm tất cả các mặt: chính trị, quân sự, kinh tế, văn hóa Khi giảng dạy những nội dung văn học - nghệ thuật trong môn lịch sử, giáo viên cần nhận thức đây là dạy một sự kiện lịch sử chứ không phải tìm hiểu chuyên sâu về văn học hay nghệ thuật Đó là những sự kiện, hiện t-ợng về văn học - nghệ thuật đ-ợc trình bày d-ới góc độ lịch sử, nghĩa là theo tiến trình phát triển của xã hội loài ng-ời, dân tộc

Nội dung văn học - nghệ thuật trong SGK đ-ợc trình bày chủ yếu trên các mặt:

+ Giới thiệu vấn đề văn học - nghệ thuật trong qúa trình phát sinh, phát triển, trong sự vận động và những tác động của nó đến đời sống xã hội

Văn học và nghệ thuật tồn tại trong mối quan hệ chặt chẽ với các sự kiện và hiện tượng văn hóa, đồng thời bị chi phối bởi điều kiện sản sinh của từng thời kỳ và các sự kiện lịch sử khác Nghiên cứu về mối quan hệ này cho thấy tác động qua lại giữa hiện tượng văn hóa và bối cảnh xã hội — kinh tế, công nghệ và giáo dục — hình thành nội dung, hình thức và ngôn ngữ của tác phẩm Do đó, các tác phẩm không chỉ phản ánh thời đại mà còn tham gia vào quá trình hình thành và hiểu biết về lịch sử thông qua sự liên hệ giữa sáng tác và điều kiện xã hội Phân tích như vậy giúp làm rõ nguyên nhân và hậu quả của quá trình sáng tác, giải thích sự biến đổi của thể loại, phong cách và ngôn ngữ theo từng giai đoạn và cung cấp khung tư liệu hữu ích cho bài viết về văn học nghệ thuật trong mối quan hệ với sự kiện lịch sử.

Đoạn giới thiệu ngắn gọn này cung cấp một cái nhìn tổng thể về nội dung tác phẩm, chân dung tác giả và những công trình nghệ thuật tiêu biểu, nhằm giúp học sinh nhận diện các biểu tượng văn hóa chung và hiểu được bối cảnh lịch sử một cách toàn diện Việc nêu bật các tác phẩm tiêu biểu giúp học sinh nắm bắt những biểu tượng chủ đạo và cách chúng hình thành nhận thức lịch sử ở mức tổng thể Nội dung nhấn mạnh vai trò của tác giả, phong cách nghệ thuật và ảnh hưởng của các công trình tiêu biểu đối với thời đại, từ đó làm nền tảng cho nhận thức lịch sử có hệ thống và phát triển tư duy phân tích, liên hệ giữa quá khứ và hiện tại.

Xác định được các đặc điểm này sẽ giúp giáo viên trong quá trình giảng dạy tránh biến bài học lịch sử thành một bài giảng khô khan và ngăn việc biến nó thành một chuyên đề văn học – nghệ thuật quá mức, từ đó duy trì sự gắn kết của bài học lịch sử với mục tiêu giáo dục và tăng hứng thú cho người học.

3.1.3 Đảm bảo tính vừa sức

Trong dạy học lịch sử thế giới, khối lượng kiến thức cần truyền đạt thường rất lớn trong khi thời gian và trình độ nhận thức của học sinh có giới hạn Điều này dễ dẫn tới hiện tượng quá tải kiến thức và quá tải với người học Để giải quyết mâu thuẫn này, giáo viên cần nhận thức đúng lượng kiến thức cơ bản và kết hợp với các phương pháp giảng dạy khoa học, nhằm đảm bảo sự tiếp nhận kiến thức hiệu quả và đồng thời phát triển năng lực nhận thức của học sinh.

Trong thiết kế chương trình, tính vừa sức được thể hiện ở việc đảm bảo lượng kiến thức cơ bản cần thiết đồng thời phù hợp với trình độ nhận thức của học sinh trong quỹ thời gian và điều kiện dạy học cho phép Vì vậy, để chương trình môn học vừa nâng cao kiến thức vừa tăng cường lồng ghép các nội dung văn học nghệ thuật, giáo viên không thể giới hạn ở khuôn khổ giờ nội khoá (mỗi tuần chỉ 1–1,5 tiết lịch sử) Do đó, cần tăng cường các hình thức tổ chức dạy học khác, bao gồm hoạt động ngoại khóa và các hình thức linh hoạt, nhằm thực hiện mục tiêu trên một cách hiệu quả.

3.1.4 Đảm bảo tính trực quan sinh động

Việc giảng dạy nội dung văn học – nghệ thuật chủ yếu cung cấp kiến thức cho học sinh thông qua các tác phẩm văn học (hình tượng nhân vật) và các công trình nghệ thuật (kiến trúc, hội họa, điêu khắc) được minh họa bằng tranh ảnh và thực tế, vì vậy cần thực hiện nguyên tắc trực quan để cụ thể hóa và làm sinh động kiến thức J J Comenius coi tính trực quan là nguyên tắc “vàng” trong dạy học; theo Lênin, qui luật nhận thức cho thấy từ trực quan sinh động đến tư duy trừu tượng, và từ tư duy trừu tượng đến hiện thực là con đường biện chứng của sự nhận thức chân lý khách quan, và nhận thức lịch sử của học sinh cũng tuân theo lộ trình này Phan Ngọc Liên trong Phương pháp dạy học lịch sử, tập 2, nhấn mạnh vai trò của đồ dùng trực quan như chỗ dựa để hiểu biết sâu sắc bản chất sự kiện lịch sử và là công cụ có hiệu quả để hình thành những khái niệm lịch sử quan trọng, giúp học sinh nắm vững các quy luật của sự phát triển xã hội; do đó đồ dùng trực quan có tác động lớn không chỉ ở giai đoạn nhận thức cảm tính mà còn chuyển sang nhận thức lý tính nhằm phát hiện và nắm vững quy luật lịch sử.

Việc giảng dạy nội dung văn học - nghệ thuật đòi hỏi trí tưởng tượng phong phú và khả năng khái quát cao Có sự hỗ trợ của đồ dùng trực quan làm phương tiện giảng dạy không những tiết kiệm thời gian mà còn giúp học sinh nắm bài nhanh chóng và khắc sâu kiến thức Thông qua các hoạt động sinh động, quá khứ được tái hiện một cách sống động và rõ ràng trước mắt học sinh, giúp các em hình dung và tái tạo lịch sử một cách chân thực “Quá khứ phải được khôi phục trước mắt học sinh bằng những hoạt động sinh động, rõ ràng hãy tái tạo nó bằng máu và thịt” [8, 153].

Trong ba nhóm đồ dùng trực quan: nhóm đồ dùng trực quan hiện vật, nhóm đồ dùng trực quan tạo hình và nhóm đồ dùng trực quan quy -ớc để việc giảng dạy nội dung văn học, nghệ thuật hiệu quả hơn cả là nhóm đồ dùng trực quan tạo hình (tranh ảnh minh hoạ - ảnh công trình kiến trúc, điêu khắc, chân dung các nhà văn, nghệ sỹ )

3.2.1 Tích cực hóa ng-ời học

Nội dung văn học - nghệ thuật là một bộ phận quan trọng trong việc giảng dạy lịch sử thế giới thời trung đại phương Đông, góp phần khôi phục bức tranh toàn diện của quá khứ Những kiến thức này cho thấy việc cung cấp của SGK chỉ mang tính thông báo; nếu không được xử lý đúng cách và được mở rộng thêm thì việc tiếp nhận của học sinh cũng sẽ mang tính công thức Do đó để hiểu và nắm được nội dung, giá trị cốt lõi của nó đòi hỏi người giáo viên phải khơi dậy lòng ham hiểu biết, mở hướng cho học sinh tìm tòi, kích hoạt hoạt động học tập và tiếp cận với nhiều nguồn thông tin kiến thức, bởi tài liệu học tập tự nó đã chứa đựng nhiều yếu tố kích thích, động viên lòng ham hiểu biết và tính tích cực của tư duy học sinh.

Thực nghiệm s- phạm

Để đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế và phù hợp với xu thế của thời đại, giáo dục phải có những bước đột phá nhằm đào tạo nguồn nhân lực có năng lực và trình độ đáp ứng yêu cầu xã hội; do đó, ngành giáo dục và đào tạo cần đổi mới nội dung, chương trình và phương pháp dạy học, với khâu trọng tâm là đổi mới phương pháp dạy học Một nguyên tắc cơ bản của dạy học lịch sử là kết hợp đúng đắn mối quan hệ giữa lịch sử dân tộc và lịch sử thế giới để phát triển toàn diện học sinh; trong nhiều năm qua đã có nhiều công trình, đề tài khoa học đề cập đến vấn đề này Với việc lựa chọn đề tài này, chúng tôi mạnh dạn đề ra phương pháp giảng dạy nội dung văn học - nghệ thuật trong quá trình lịch sử thế giới trung đại phương Đông, lịch sử lớp 10, ban nâng cao Qua quá trình thực hiện, chúng tôi rút ra kết luận rằng việc kết hợp nội dung văn học - nghệ thuật với bối cảnh lịch sử thế giới trung đại phương Đông sẽ nâng cao năng lực phân tích, tư duy biện luận và hình thành nhận thức toàn diện cho học sinh lớp 10, từ đó nâng cao hiệu quả giảng dạy và học tập.

Việc giảng dạy nội dung văn học - nghệ thuật có ý nghĩa to lớn đối với ba mặt: giáo dục, giáo dưỡng và phát triển học sinh Nội dung này đảm bảo tính toàn diện của bài học bằng cách cụ thể hóa kiến thức, hình thành khái niệm và biểu tượng lịch sử; đồng thời hình thành thế giới quan duy vật, tư tưởng thẩm mỹ, thái độ và tình cảm tích cực cho các em Nó cũng phát triển năng lực tư duy tổng hợp và thúc đẩy hoạt động thực tiễn, giúp học sinh vận dụng kiến thức vào cuộc sống và các hoạt động học tập khác.

Trong nhiều năm qua, giáo viên đã dần thích nghi với quan điểm giáo dục toàn diện và chú trọng giảng dạy nội dung văn học - nghệ thuật Tuy nhiên nội dung này vẫn đầy thách thức do tính phức tạp, khối lượng kiến thức lớn và thời lượng tiết học có hạn, tạo ra nhiều yêu cầu về phương pháp giảng dạy nhằm đảm bảo học sinh vừa nắm bắt kiến thức vừa phát triển kỹ năng tư duy và năng lực sáng tạo.

Để thực sự phát huy ý nghĩa của việc giảng dạy nội dung văn học - nghệ thuật trong bài giảng lịch sử ở trường phổ thông, cần lựa chọn nội dung một cách có chủ đích và có hệ thống, đồng thời kết nối các tác phẩm với các sự kiện và hiện tượng lịch sử nhằm giúp học sinh nhận diện bối cảnh, ý nghĩa và giá trị nhân văn của từng thời kỳ Việc tích hợp văn học và nghệ thuật vào giảng dạy lịch sử sẽ nâng cao kỹ năng phân tích văn bản, khả năng tư duy phê bình và sự đồng cảm với nhân vật, sự kiện lịch sử, từ đó hình thành nhận thức sâu sắc về di sản văn hóa Đồng thời, thiết kế các hoạt động học tập đa dạng, phù hợp mục tiêu giáo dục sẽ khơi gợi cảm hứng sáng tạo và thúc đẩy học sinh liên hệ nội dung văn học với thực tiễn lịch sử và cuộc sống.

Ngày đăng: 21/10/2021, 23:25

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
[1]. Nguyễn Văn Doanh (1998), Danh thắng và kiến trúc Đông Nam á. Nxb Văn hoá thông tin, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Danh thắng và kiến trúc Đông Nam á
Tác giả: Nguyễn Văn Doanh
Nhà XB: Nxb Văn hoá thông tin
Năm: 1998
[2]. Lê Văn D-ơng, Lê Đình Lục, Lê Hồng Vân (2002), Mĩ học đại c-ơng, Nxb Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Mĩ học đại c-ơng
Tác giả: Lê Văn D-ơng, Lê Đình Lục, Lê Hồng Vân
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 2002
[3]. N. G. Đairi (1973), Chuẩn bị giờ học lịch sử nh- thế nào, Nxb giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chuẩn bị giờ học lịch sử nh- thế nào
Tác giả: N. G. Đairi
Nhà XB: Nxb giáo dục
Năm: 1973
[4]. Will Durant (Nguyễn Hiến Lê, dịch) (2006), Lịch sử văn minh ấn Độ, Nxb Văn hoá thông tin Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lịch sử văn minh Ên "Độ
Tác giả: Will Durant (Nguyễn Hiến Lê, dịch)
Nhà XB: Nxb Văn hoá thông tin
Năm: 2006
[5]. Will Durant (Nguyễn Hiến Lê, dịch) (2006), Lịch sử văn minh Trung Quốc, Nxb Văn hoá thông tin Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lịch sử văn minh Trung Quốc
Tác giả: Will Durant (Nguyễn Hiến Lê, dịch)
Nhà XB: Nxb Văn hoá thông tin
Năm: 2006
[6]. Đặng Thái Hoàng (1976), Nghệ thuật kiến trúc thế giới, Nxb Văn hoá thông tin, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghệ thuật kiến trúc thế giớ
Tác giả: Đặng Thái Hoàng
Nhà XB: Nxb Văn hoá thông tin
Năm: 1976
[7]. Tr-ơng Sỹ Hùng (1996), Thần thoại Đông Nam á, Nxb Đà Nẵng Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thần thoại Đông Nam á
Tác giả: Tr-ơng Sỹ Hùng
Nhà XB: Nxb Đà Nẵng
Năm: 1996
[8]. K. A. Ivanôp (19150), Khảo luận về ph-ơng pháp luận sử học, Xanh Pêtecbua Sách, tạp chí
Tiêu đề: Khảo luận về ph-ơng pháp luận sử học
[9]. Khalamốp (1982), Phát triển t- duy học sinh trong dạy học lịch sử, Nxb Giáo dục Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phát triển t- duy học sinh trong dạy học lịch sử
Tác giả: Khalamốp
Nhà XB: Nxb Giáo dục Hà Nội
Năm: 1982
[10]. Tr-ơng Cam Khải, Khải. K. Phạm (2005), Tổng quan nghệ thuật ph-ơng Đông hội họa Trung Hoa, Nxb Mĩ thuật Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tổng quan nghệ thuật ph-ơng Đông hội họa Trung Hoa
Tác giả: Tr-ơng Cam Khải, Khải. K. Phạm
Nhà XB: Nxb Mĩ thuật
Năm: 2005
[11]. Phan Ngọc Liên (chủ biên) (2002), Ph-ơng pháp dạy học lịch sử, Tập 1, Nxb Đại học S- phạm Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ph-ơng pháp dạy học lịch sử, Tập 1
Tác giả: Phan Ngọc Liên (chủ biên)
Nhà XB: Nxb Đại học S- phạm
Năm: 2002
[12]. Phan Ngọc Liên (chủ biên) (2002), Ph-ơng pháp dạy học lịch sử, Tập 2, Nxb Đại học S- phạm Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ph-ơng pháp dạy học lịch sử, Tập 2
Tác giả: Phan Ngọc Liên (chủ biên)
Nhà XB: Nxb Đại học S- phạm
Năm: 2002
[13]. Phan Ngọc Liên, Trịnh Đình Tùng, Nguyễn Thị Côi, Trần Vĩnh T-ờng (2002), Một số chuyên đề ph-ơng pháp dạy học lịch sử, Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số chuyên đề ph-ơng pháp dạy học lịch sử
Tác giả: Phan Ngọc Liên, Trịnh Đình Tùng, Nguyễn Thị Côi, Trần Vĩnh T-ờng
Nhà XB: Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội
Năm: 2002
[14]. Vũ D-ơng Ninh (chủ biên) (2005), Lịch sử văn minh thế giới, Nxb Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lịch sử văn minh thế giới
Tác giả: Vũ D-ơng Ninh (chủ biên)
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 2005
[15]. Hà Thế Ngữ, Đặng Vũ Hoạt (1978), Gíáo dục học, Tập 1, Nxb Giáo dục Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Gíáo dục học
Tác giả: Hà Thế Ngữ, Đặng Vũ Hoạt
Nhà XB: Nxb Giáo dục Hà Nội
Năm: 1978
[16]. Nguyễn Khắc Phi, Tr-ơng Chính (1987), Văn học Trung Quốc, Tập 1, Nxb Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn học Trung Quốc
Tác giả: Nguyễn Khắc Phi, Tr-ơng Chính
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 1987
[17]. Nguyễn Khắc Phi, Tr-ơng Chính (1987), Văn học Trung Quốc, Tập 2, Nxb Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn học Trung Quốc
Tác giả: Nguyễn Khắc Phi, Tr-ơng Chính
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 1987
[18]. Nguyễn Gia Phu (cb) (2002), Lịch sử thế giới trung đại, Nxb Giáo dôc Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lịch sử thế giới trung đại
Tác giả: Nguyễn Gia Phu (cb)
Nhà XB: Nxb Giáo dôc
Năm: 2002
[19]. Hà Thế Ngữ, Đặng Vũ Hoạt (1978), Gíáo dục học, Tập 1, Nxb Giáo dục Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Gíáo dục học
Tác giả: Hà Thế Ngữ, Đặng Vũ Hoạt
Nhà XB: Nxb Giáo dục Hà Nội
Năm: 1978
[20]. L-u Đức Trung (chủ biên) (1998), Văn hóa Đông Nam á, Nxb Giáo dôc Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn hóa Đông Nam á
Tác giả: L-u Đức Trung (chủ biên)
Nhà XB: Nxb Giáo dôc
Năm: 1998

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w