1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Sử dụng tài liệu văn học trong dạy học khoá trình lịch sử việt nam giai đoạn 1954 1975 (sách giáo khoa lịch sử 12 nâng cao)

105 9 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 105
Dung lượng 877,54 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Từ những lý do trên, chúng tôi chọn đề tài: "Sử dụng tài liệu văn học trong dạy học khóa trình lịch sử Việt Nam giai đoạn 1954 - 1975" SGK lịch sử lớp 12 - nâng cao để làm khóa luận tốt

Trang 1

Tr-ờng đại học vinh

Khoa Lịch sử

ngô minh hợi

khóa luận tốt nghiệp đại học

sử dụng tài liệu văn học trong dạy học khóa trình lịch sử Việt Nam giai đoạn

1954 - 1975

(Sách giáo khoa lịch sử 12 - nâng cao)

chuyên ngành PHƯƠNG PHáP DạY HọC lịch sử

Trang 2

Tr-ờng đại học vinh

Khoa Lịch sử

ngô minh hợi

khóa luận tốt nghiệp đại học

sử dụng tài liệu văn học trong dạy học khóa trình lịch sử Việt Nam giai đoạn

Trang 3

Lời cảm ơn

Để khoá luận đ-ợc hoàn thành, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến cô

giáo - thạc sĩ Nguyễn Thị Duyên - ng-ời đã trực tiếp h-ớng dẫn tôi trong

suốt thời gian thực hiện đề tài

Qua đây, tôi cũng xin gửi lời cảm ơn chân thành nhất tới các thầy cô giáo trong khoa lịch sử tr-ờng Đại học Vinh nói chung và các thầy cô giáo trong tổ Ph-ơng pháp dạy học lịch sử nói riêng cùng gia đình, bạn bè đã hết lòng giúp

đỡ tôi hoàn thành khoá luận này

Do thời gian và trình độ kiến thức còn nhiều hạn chế, chắc chắn khoá luận không tránh khỏi những sai sót Do vậy, tôi rất mong nhận đ-ợc sự góp ý chân thành của các thầy cô giáo và bạn đọc để khoá luận đ-ợc hoàn chỉnh hơn

Tôi xin chân thành cảm ơn !

Vinh, tháng 5 năm 2009

Tác giả

Ngô Minh Hợi

Trang 5

Mục lục

Trang

A Mở đầu 1

B Nội dung 7

Ch-ơng 1 Vấn đề sử dụng tài liệu văn học trong dạy học lịch sử ở tr-ờng THPT - lý luận và thực tiễn 7

1.1 Cơ sở lý luận 7

1.1.1 Khái niệm tài liệu văn học và cách phân loại tài liệu văn học 7

1.1.2 ý nghĩa của việc sử dụng tài liệu văn học trong dạy học lịch sử ở tr-ờng PT 9

1.1.3 Các loại tài liệu văn học sử dụng trong dạy học lịch sử ở tr-ờng PT 11

1.2 Cơ sở thực tiễn 15

1.2.1 Thực trạng của việc dạy học lịch sử 15

1.2.2 Thực trạng việc vận dụng tài liệu văn học trong dạy học lịch sử ở tr-ờng PT hiện nay 18

Ch-ơng 2 Các loại tài liệu văn học đ-ợc sử dụng trong dạy học khóa trình lịch sử Việt Nam giai đoạn 1954 - 1975 (SGK lịch sử lớp 12 - Nâng cao) 22

2.1 Vị trí, ý nghĩa và nội dung cơ bản của khóa trình 22

2.1.1 Vị trí 22

2.1.2 ý nghĩa 22

2.1.3 Nội dung cơ bản của khóa trình 25

2.2 Một số nội dung văn học đ-ợc sử dụng trong dạy học khóa trình 28

Trang 6

Ch-¬ng 3 Ph-¬ng ph¸p sö dông tµi liÖu v¨n häc trong d¹y häc

khãa tr×nh lÞch sö ViÖt Nam giai ®o¹n 1954 - 1975 65

3.1 Mét sè nguyªn t¾c sö dông tµi liÖu v¨n häc trong d¹y häc lÞch sö 65

3.2 Nh÷ng yªu cÇu khi sö dông tµi liÖu v¨n häc trong d¹y häc lÞch sö ë tr-êng PT 69

3.3 Ph-¬ng ph¸p sö dông tµi liÖu v¨n häc trong d¹y häc khãa tr×nh lÞch sö ViÖt Nam giai ®o¹n 1954 - 1975 70

3.4 Thùc nghiÖm s- ph¹m 82

KÕt luËn 92

Tµi liÖu tham kh¶o 95

Phô lôc

Trang 7

A Mở đầu

1 Lý do chọn đề tài

Thế kỷ XXI đang diễn ra những chuyển biến mới cực kỳ quan trọng ảnh h-ởng to lớn đến tình hình các n-ớc, các dân tộc và cuộc sống th-ờng nhật của con ng-ời Trong những chuyển biến đó, nổi bật là sự hình thành một xã hội thông tin, kinh tế tri thức và sự phát triển nhanh chóng ch-a từng thấy của khoa học công nghệ, xu thế không c-ỡng lại đ-ợc của toàn cầu hoá Những yếu tố đó đã tác động mạnh mẽ đến giáo dục, tạo ra một làn sóng cải cách giáo dục chung ở các n-ớc trên thế giới mà điểm hội tụ là sự chú ý đặc biệt

đến khuyến cáo về 4 trụ cột giáo dục của tổ chức Liên hiệp quốc về giáo dục, khoa học, văn hoá (UNESCO):

Con ng-ời đ-ợc đào tạo theo mục tiêu giáo dục nh- vậy, vừa tiếp nhận truyền thống dân tộc vừa đáp ứng những yêu cầu hiện tại; vừa thể hiện bản sắc dân tộc vừa tiếp nhận tinh hoa văn hoá nhân loại Việc thực hiện mục tiêu đào tạo nh- trên đòi hỏi sự đóng góp tích cực của bộ môn lịch sử ở tr-ờng PT Nhà n-ớc Việt Nam đã đặt môn lịch sử ở vị trí xứng đáng của nó trong ch-ơng

trình, kế hoạch giáo dục thế hệ trẻ Bởi vì, trong nền văn hoá dân tộc, "kiến thức lịch sử không chỉ giúp cho học sinh có biểu t-ợng đầy đủ về quá khứ mà còn làm cho ng-ời đang sống có ý thức về xã hội, suy nghĩ, cảm thụ những gì

Trang 8

đã xảy ra trong ngày qua để có trách nhiệm với hiện tại và mai sau" [15,235]

Nó có ý nghĩa quan trọng đối với việc xây dựng và phát triển nền văn hoá Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc

Sự phát triển nh- vũ bão của cách mạng và khoa học công nghệ ngày nay gây nên một ấn t-ợng lệch lạc là khoa học, kỹ thuật có quyền uy tối th-ợng trong việc tạo "một nền văn minh mới" [15,459] Chúng ta không coi nhẹ sức mạnh, tác động của cách mạng khoa học - kỹ thuật vì chúng ta đang tiến hành công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất n-ớc Tuy những thành tựu của cuộc cách mạng khoa học kỹ thuật và công nghệ ngày càng tăng, có ảnh h-ởng lớn đến đời sống hiện tại, song không thể xóa bỏ sự phát triển hợp quy luật của lịch sử, không hề làm giảm sự chú ý, hấp dẫn của mọi ng-ời với lịch

sử quá khứ Mỗi thế hệ trẻ đi vào cuộc sống, h-ớng theo sự phát triển chung của nhân loại và dân tộc, không thể không mang theo mình những giá trị của quá khứ, không thể không tiếp nhận những tinh hoa văn hoá của dân tộc và nhân loại, làm cơ sở để hình thành nhân cách, trách nhiệm của mình với dân tộc với thời đại

Việc nâng cao, đổi mới nội dung, ph-ơng pháp dạy học lịch sử ở Việt Nam hiện nay nhằm góp phần tích cực hơn vào sự nghiệp giáo dục Trong bản

"Khuyến nghị" số 1283 (1996) của Nghị viện Hội đồng châu Âu có viết: “ lịch

sử là một trong những ph-ơng tiện để thấy lại quá khứ và để xác lập nên một bản sắc văn hoá nó cũng là một cánh cửa mở ra kinh nghiệm và sự phong phú của quá khứ và của những nền văn hoá khác" [15,463]

Khóa trình lịch sử Việt Nam giai đoạn 1954 - 1975 trong ch-ơng trình lịch sử lớp 12 (nâng cao) là một khóa trình lịch sử quan trọng đề cập đến công cuộc xây dựng CNXH ở miền Bắc, cũng nh- cuộc đấu tranh chống đế quốc

Mỹ xâm l-ợc ở miền Nam thống nhất n-ớc nhà Đây là khóa trình có rất nhiều

sự kiện lịch sử tiêu biểu có ý nghĩa giáo dục đối với học sinh, là đơn vị kiến thức chủ đạo trong các kỳ thi tốt nghiệp của học sinh hay thi tuyển sinh vào

Trang 9

đại học, cao đẳng, trung học chuyên nghiệp Vì vậy, dạy học khóa trình lịch

sử này, giáo viên không chỉ cung cấp cho học sinh những kiến thức cần thiết

mà thông qua đó phải góp phần hoàn thiện, bồi d-ỡng phẩm chất, năng lực cho học sinh

Từ những lý do trên, chúng tôi chọn đề tài: "Sử dụng tài liệu văn học

trong dạy học khóa trình lịch sử Việt Nam giai đoạn 1954 - 1975" (SGK lịch sử lớp 12 - nâng cao) để làm khóa luận tốt nghiệp đại học, hi vọng với ý

nghĩa lý luận và thực tiễn của đề tài sẽ góp một phần nhỏ vào việc nâng cao chất l-ợng dạy học lịch sử ở tr-ờng PT hiện nay

2 Lịch sử vấn đề

Ph-ơng pháp sử dụng tài liệu văn học nói riêng, ph-ơng pháp sử dụng tài liệu tham khảo nói chung trong dạy học lịch sử là vấn đề đ-ợc nhiều nhà khoa học, nhiều công trình lớn nhỏ đề cập đến

Trong quá trình nghiên cứu chúng tôi đã tiếp cận một số tài liệu: Tâm lý học, Giáo dục học, tài liệu về lý luận dạy học bộ môn và các tài liệu tham khảo có liên quan đến vấn đề sử dụng tài liệu văn học trong dạy học lịch sử

Trong cuốn "Phát triển t- duy học sinh" (NXB Giáo dục, 1976) tác giả M Alecxep,V Ônhixuc cho rằng "T- duy phản ánh hiện thực không phải trực tiếp

mà là gián tiếp, tức là thông qua cảm giác, tri giác, biểu t-ợng" [24;10]

Trên Tạp chí Giáo dục số 90 (chuyên đề) tháng 4/ 2004 tác giả Nguyễn

Quốc ái (giáo viên tr-ờng Cao đẳng s- phạm Thái Bình) có bài: "Đôi điều về ph-ơng pháp dạy học lịch sử" đã nêu rõ: viết lịch sử đã mang tính nghệ thuật

cao, dạy học lịch sử cũng phải có tính nghệ thuật

Chúng tôi cũng tiếp cận tác tài liệu về ph-ơng pháp dạy học bộ môn

nh-: Ph-ơng pháp dạy học lịch sử, Tập 2 của Phan Ngọc Liên, Trần Văn Trị (NXB Giáo dục, 2000); Hệ thống các ph-ơng pháp dạy học lịch sử ở tr-ờng

Trang 10

PT của Trịnh Đình Tùng (chủ biên) trong đó có nêu về ph-ơng pháp sử dụng

tài liệu văn học trong dạy học lịch sử

Ngoài ra chúng tôi còn tham khảo một số khóa luận tốt nghiệp nh-: “Sử dụng tài liệu tham khảo trong dạy học khóa trình lịch sử Việt Nam giai đoạn

1930 - 1945 (SGK lịch sử lớp 12)“ của tác giả Nguyễn Thị Trang Nhung; "Sử dụng câu hỏi trong dạy học lịch sử Việt Nam giai đoạn 1954 - 1975" của tác

giả Nguyễn Thị Quý

3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

* Mục đích nghiên cứu

Thông qua nghiên cứu lý luận và thực tiễn dạy học lịch sử chúng tôi nên lên vai trò, ý nghĩa của việc sử dụng tài liệu văn học trong dạy học lịch sử Việt Nam khóa trình 1954 - 1975 nhằm nâng cao chất l-ợng bộ môn

* Nhiệm vụ nghiên cứu

- Nghiên cứu cơ sở lý luận và thực tiễn liên quan đến vấn đề sử dụng tài liệu văn học trong dạy học lịch sử ở tr-ờng PT

+ Về lý luận: Tìm hiểu các vấn đề đặc tr-ng của bộ môn lịch sử, đặc

điểm hoạt động nhận thức của học sinh, việc sử dụng tài liệu văn học trong dạy học lịch sử, đổi mới ph-ơng pháp dạy học lịch sử ở tr-ờng PT

+ Về thực tiễn: Khảo sát điều tra thực trạng dạy học lịch sử ở tr-ờng PT

về các ph-ơng pháp dạy học, điều kiện dạy học, chất l-ợng dạy học, những vấn đề thực tiễn đặt ra

- Nghiên cứu ch-ơng trình sách giáo khoa để xác định nội dung và đối t-ợng văn học đ-ợc sử dụng trong bài học

- Vận dụng tài liệu văn học trong dạy học quá trình lịch sử Việt Nam giai đoạn 1954 - 1975

- Thực nghiệm s- phạm để kiểm tra tính khả thi, hiệu quả của việc vận dụng tài liệu văn học vào giảng dạy khóa trình lịch sử nói trên

Trang 11

4 Đối t-ợng và phạm vi nghiên cứu

* Đối t-ợng nghiên cứu của khóa luận

Là quá trình dạy học khóa trình lịch sử Việt Nam giai đoạn 1954 - 1975 (SGK lịch sử lớp 12 - nâng cao)

* Phạm vi nghiên cứu

Nghiên cứu vấn đề sử dụng tài liệu văn học trong dạy học khóa trình lịch sử Việt Nam giai đoạn 1954 - 1975 (SGK lịch sử lớp 12 - nâng cao)

5 Giả thuyết khoa học

Nếu các giải pháp s- phạm trong việc vận dụng tài liệu văn học đ-ợc thiết kế phù hợp với thực tiễn dạy học lịch sử ở tr-ờng PT sẽ làm cho hiệu quả bài học đ-ợc nâng lên, đồng thời sẽ nâng cao chất l-ợng dạy học lịch sử

6 Ph-ơng pháp luận và ph-ơng pháp nghiên cứu

6.1 Cơ sở ph-ơng pháp luận

Dựa vào quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lê Nin, t- t-ởng Hồ Chí Minh

và quan điểm, đ-ờng lối về giáo dục, đào tạo của Đảng

- Nghiên cứu thực tiễn

+ Điều tra, khảo sát thực tế việc vận dụng tài liệu văn học trong dạy học lịch sử ở tr-ờng THPT qua dự giờ, trao đổi với giáo viên, học sinh, phát phiếu

điều tra xử lý thông tin và đ-a ra nhận xét khái quát chung

+ Soạn và thực nghiệm một tiết dạy cụ thể của khóa trình lịch sử Việt Nam giai đoạn 1954 - 1975 (SGK lịch sử lớp 12 - nâng cao) để khẳng định tính khả thi của việc sử dụng tài liệu văn học trong dạy học lịch sử ở tr-ờng PT

Trang 12

7 Cấu trúc của khóa luận

Ngoài phần Mở đầu, Kết luận, Phụ lục, Tài liệu tham khảo, cấu trúc khóa luận gồm 3 ch-ơng:

Ch-ơng 1 Vấn đề sử dụng tài liệu văn học trong dạy học lịch sử ở

tr-ờng THPT - lý luận và thực tiễn

Ch-ơng 2 Các loại tài liệu văn học đ-ợc sử dụng trong dạy học khoá

trình lịch sử Việt Nam giai đoạn 1954 - 1975 (SGK lịch sử lớp 12 - Nâng cao)

Ch-ơng 3 Ph-ơng pháp sử dụng tài liệu văn học trong dạy học khoá

trình lịch sử Việt Nam giai đoạn 1954 - 1975

Trang 13

B Nội dung Ch-ơng 1 Vấn đề sử dụng tài liệu văn học trong dạy học lịch sử ở tr-ờng THPT - Lý luận và thực tiễn

độ của chủ thể tr-ớc thực tại Tác phẩm văn học là sự thống nhất trọn vẹn của các yếu tố đề tài, chủ đề, t- t-ởng nhân vật, kết cấu, cốt truyện, lời văn Nh-ng sự thống nhất ấy lại đ-ợc thực hiện theo những quy định nhất định

1.1.1.2 Phân loại tài liệu văn học

- ở Ph-ơng Tây ng-ời ta chia tác phẩm văn học làm ba loại sau:

+ Tác phẩm tự sự: tái hiện đời sống thông qua việc miêu tả sự kiện, có

sự thâm nhập sâu sắc t- t-ởng, tình cảm của nhà thơ ở đây nhà thơ đóng vai trò là ng-ời kể lại các sự kiện tự vận động và tự kết thúc Loại này gồm thơ tự

sự, tiểu thuyết, truyện ngụ ngôn

+ Loại trữ tình: bao gồm các tác phẩm thông qua sự bộc lộ tình cảm của

tác giả mà phản ánh hiện thực ở loại này, tác giả trực tiếp bộc bạch những cảm xúc và tình cảm yêu ghét của mình tr-ớc hiện thực đời sống

Trang 14

+ Loại kịch: bao gồm các tác phẩm trong đó nhân vật tự biểu hiện qua

hành động của mình Tác phẩm loại này vừa có cốt truyện hoàn chỉnh lại vừa

có yếu tố trữ tình Nó bao gồm hài kịch, bi kịch và chính kịch…

- ở Trung Quốc ng-ời ta thừa nhận văn học có 4 loại:

+ Thơ ca: gồm thơ trữ tình và thơ tự sự

+ Tiểu thuyết: có các đặc điểm nổi bật là lấy việc miêu tả con ng-ời,

khắc họa tính cách làm trung tâm, có nhiều đặc điểm riêng trong cốt truyện, trần thuật, lời văn khác hẳn với thơ và văn xuôi Nó có vị trí đặc biệt trong đời sống tinh thần ng-ời hiện đại nên ng-ời ta tách riêng ra làm một loại

+ Văn xuôi: Phạm vi loại này rất rộng, bao gồm văn xuôi trữ tình, văn

xuôi có cốt truyện nh- du ký, tạp ký, phóng sự, truyện ký kết hợp trần thuật và bình luận như tạp văn, tiểu phẩm…

+ Kịch: hoàn toàn trùng với loại kịch theo quan niệm của Châu âu

- ở Việt Nam, trong các giáo trình lý luận văn học th-ờng chia thành các loại sau:

* Thơ trữ tình: là sự thổ lộ ý nghĩa, cảm xúc tr-ớc thế giới một cách

trực tiếp, trong đó tình cảm là mạch phát triển chủ đạo của tác phẩm

* Tiểu thuyết: Tiểu thuyết có thể chứa đựng lịch sử của nhiều cuộc đời,

những bức tranh phong tục, đạo đức xã hội, miêu tả cụ thể các điều kiện sinh hoạt giai cấp, tái hiện nhiều tính cách đa dạng Tiểu thuyết là thể loại tự sự dân chủ, năng động và giàu khả năng phản ánh đời sống nhiều mặt bậc nhất trong các thể loại văn học

* Ký: Gulaiep cho rằng: “ký là một biến thể của loại tư sự” [5;420] Thể

ký bao gồm phóng sự, bút ký, tuỳ bút, thư, truyện ký…Là những thể văn xuôi xuất hiện khá sớm

* Kịch: Có nhiều cách phân loại kịch theo nhiều tiêu chuẩn khác nhau

Nh-ng cách phân loại phổ biến nhất là theo tính chất của các loại hình xung

Trang 15

đột, ng-ời ta chia thành: Bi kịch, hài kịch, chính kịch Ngoài ra, còn có một số thể loại nh- sau:

- Truyện vừa: là thể loại văn xuôi tự sự cỡ trung bình Câu văn truyện

vừa th-ờng giản dị, gọn gàng, trong sáng, đối t-ợng đ-ợc tái hiện của truyện vừa là các sự kiện, các cuộc đời th-ờng là đặc sắc, khác th-ờng hoặc các hiện t-ợng đời sống nổi bật

- Truyện ngắn: Là hình thức ngắn của tự sự Truyện ngắn có thể kể về

cả một cuộc đời hay một đoạn đời, một sự kiện hay một “chốc lát” trong cuộc sống nhân vật, nh-ng cái chính của truyện ngắn không phải ở hệ thống sự kiện, mà ở cái nhìn tự sự đối với cuộc đời

- Anh hùng ca (sử thi): là thể loại tự sự miêu tả các sự kiện quan trọng,

có ý nghĩa quyết định đối với đời sống tinh thần và vận mệnh của dân tộc, của nhân dân Vì vậy, đặc tr-ng chủ yếu của anh hùng ca là biểu hiện ý thức cộng

đồng của nhân dân, dân tộc đối với quá khứ vẻ vang của mình

- Truyện thơ, tr-ờng ca, thơ tr-ờng thiên: là thể loại tự sự bằng thơ Cái

chung của các hình thức truyện thơ, tr-ờng ca, thơ tr-ờng thiên là sự quan tâm

đến con ng-ời và những tình cảm của nó Nhân vật của hình thức này là những ng-ời bình th-ờng, những cá nhân với những lợi ích thuần tuý con ng-ời của nó

- Ngụ ngôn: là một kiểu truyện phúng dụ bằng thơ hoặc văn xuôi rất

ngắn mang nội dung giáo dục đạo đức Bài học đạo đức trong ngụ ngôn toát ra

từ việc chế giễu các tính cách và đặc điểm tiêu cực nào đó của con ng-ời Phần lớn các thói xấu và nh-ợc điểm của con ng-ời trong ngụ ngôn đều đ-ợc thể hiện trong các hình tượng loài vật như chim, cá, gia súc, thú vật…

1.1.2 ý nghĩa của việc sử dụng tài liệu văn học trong dạy học lịch sử ở tr-ờng PT

* Về giáo d-ỡng

Nói đến lịch sử là nói đến sự kiện, không gian, thời gian Vì vậy, trong quá trình giảng dạy lịch sử, nhiệm vụ cơ bản của giáo viên là cung cấp cho

Trang 16

Các tác phẩm văn học góp phần quan trọng làm cho bài giảng sinh động, hấp dẫn, nâng cao hứng thú học tập cho học sinh Bởi vì, các tác phẩm thực sự có giá trị đều phản ánh cuộc sống một cách chân thực Vì vậy, trong quá trình dạy học ngoài việc sử dụng các ph-ơng pháp khác nhau nh-: ph-ơng pháp sử dụng đồ dùng trực quan, sử dụng bài tập nhận thức, sử dụng dạy học nêu vấn

đề…thì việc sử dụng tài liệu văn học để bổ sung vào bài học là rất quan trọng Qua việc sử dụng tài liệu văn học để minh họa cho bài học lịch sử, giáo viên

sẽ giúp học sinh hiểu sâu sắc kiến thức lịch sử, góp phần nhất định vào việc khôi phục, tái hiện hình ảnh quá khứ Việc sử dụng tài liệu văn học còn giúp cho học sinh có thêm cơ sở để nắm vững bản chất các sự kiện, hình thành khái niệm, hiểu rõ quy luật, bài học của lịch sử

* Về giáo dục

Các tác phẩm văn học bằng những hình t-ợng cụ thể, có tác động mạnh

mẽ đến t- t-ởng, tình cảm của ng-ời học, từ đó làm nảy sinh những hành động

đúng đắn Ngoài ra, sử dụng tài liệu văn học trong dạy học lịch sử còn góp phần giáo dục t- t-ởng, đạo đức cho học sinh Đặc biệt trong giai đoạn hiện nay, vấn đề giáo dục t- t-ởng, đạo đức càng đặt ra một cách cấp thiết Nền kinh tế thị tr-ờng với những mặt tích cực ngày càng đ-ợc khẳng định trong quá trình đổi mới toàn diện của đất n-ớc, song nó cũng có mặt tiêu cực cần phải hạn chế và khắc phục Trong bối cảnh chung ấy, giáo dục lịch sử cần phải khai thác những giá trị tiến bộ, đích thực để làm phong phú đời sống vật chất, tinh thần của nhân dân ta, cần phải tiếp thu có chọn lọc tinh hoa của nhân loại, giữ gìn bản sắc văn hoá của dân tộc mình

Trang 17

- Rèn luyện kỹ năng so sánh, phân tích, đối chiếu các nguồn tài liệu trên cơ sở đó có kết luận khách quan chính xác

- Mặt khác, sử dụng tài liệu văn học trong dạy học lịch sử góp phần phát triển cho học sinh thói quen và kỹ năng tự làm việc với tài liệu phục vụ cho bài học, phát huy năng lực tự học cho học sinh

1.1.3 Các loại tài liệu văn học sử dụng trong dạy học lịch sử ở tr-ờng PT

Trong việc dạy học lịch sử ở tr-ờng phổ thông, giáo viên th-ờng sử dụng các loại tài liệu văn học chủ yếu sau: văn học dân gian và văn học viết

- Văn học dân gian: ra đời sớm và rất phong phú, bao gồm nhiều thể

loại như thần thoại, truyền thuyết, truyện cổ tích, ca dao, dân gian…Đây là những loại tài liệu có giá trị, phản ánh nội dung nhiều sự kiện lịch sử quan trọng trong lịch sử dân tộc Nếu gạt bỏ những yếu tố thần bí, hoang đ-ờng, chúng ta có thể tìm đ-ợc nhiều yếu tố hiện thực của lịch sử trong văn học dân gian Ví dụ: “Không thêm, không bớt nửa lời,

Nhà ta ta ở, không dời không đi.”

Câu ca dao trên thể hiện tinh thần chống chính sách di dân lập dinh

điền, lập khu trù mật của Mỹ - Diệm, chống cái gọi là “quốc sách ấp chiến lược” của Mỹ - Diệm; chống tập trung dân vào ấp chiến l-ợc, nhân dân kiên quyết bám đất, bám ruộng v-ờn Sử dụng tài liệu văn học dân gian, giáo viên

có thể tiến hành có kết quả việc giáo dục t- t-ởng, đạo đức nói chung, giáo dục truyền thống dân tộc nói riêng cho học sinh

- Văn học viết: cũng rất đa dạng nh-ng trong dạy học lich sử ở tr-ờng

PT giáo viên có thể sử dụng các loại cơ bản sau đây: truyện ngắn, tiểu thuyết lịch sử, ký, thơ ca cách mạng

+ Truyện ngắn: là hình thức ngắn của tự sự, đặc biệt là các tác phẩm

xuất hiện vào thời kỳ diễn ra các sự kiện lịch sử, có ý nghĩa đối với việc khôi phục hình ảnh quá khứ Trong khóa trình lịch sử dân tộc, nhất là phần lịch sử

Trang 18

xà nu” của Nguyễn Trung Thành, “Những đứa con trong gia đình” của Nguyễn Thi, “Chiếc lược ngà’’ của Nguyễn Quang Sáng, “Mảnh trăng cuối rừng” của Nguyễn Minh Châu…Các tác phẩm đã tập trung khái quát mô - típ căm thù, nét đặc tr-ng nổi bật của tính cách con ng-ời Miền Nam trong đấu tranh Các tác giả mô tả nhiều dạng căm thù khác nhau, qua sự mô tả đó, làm nổi bật tính cách, thuyết minh hùng hồn cho sức mạnh chiến thắng của lòng yêu n-ớc và căm thù giặc của con ng-ời miền Nam

+ Tiểu thuyết lịch sử: lấy chủ đề là những sự kiện trong quá trình lịch

sử, giúp học sinh khôi phục lại bối cảnh lịch sử, hình ảnh các sự kiện, của quá khứ Đặc biệt trong dạy học khóa trình lịch sử dân tộc giai đoạn 1954 - 1975 thì tiểu thuyết miền Nam đã để lại cho chúng ta một số hình t-ợng đẹp thuộc nhiều giới khác nhau, nhiều thế hệ khác nhau Những thế hệ nh- ông T- Đồn (Hòn đất) mắt mù mà lòng yêu n-ớc sáng rực, tuổi đã cao nh-ng vẫn tham gia chống địch bằng cách kéo đàn vận động binh sỹ nguỵ trở về với chính nghĩa;

ông Hai Biền (Rừng U Minh) khảng khái nuôi giấu cán bộ phong trào, kiên c-ờng đấu tranh chống địch dồn dân lập ấp; ông T- Trầm (ở xã Trung Nghĩa) chống bọn đại diện nguỵ quyền lăm le c-ớp lại phần đất mà cách mạng đã cấp cho ông Nhiều tác phẩm tỏ ra thành công hơn với những nhân vật phụ nữ của

họ Có nhiều bà má nh-: Má Sáu (Hòn đất), má Bảy (Gia đình má Bảy), má

Ba (Rừng U Minh) giàu lòng yêu n-ớc và tin yêu Đảng, có đủ can đảm và sự tháo vát để đảm đ-ơng những công việc khó khăn của cách mạng và v-ợt qua những thử thách của kẻ thù Mỗi bà má đều yêu th-ơng chăm sóc cán bộ và con cái của mình với tinh thần ng-ời mẹ và tinh thần bà má chiến sỹ Th-ơng cán bộ cách mạng nh- th-ơng con, má Sáu đã gả Quyên cho Ngạn; má Ba lợi dụng việc tổ chức đám c-ới cho con để đào hầm trong buồng nuôi Chín Kiên Hoặc th-ơng con với tinh thần bà má chiến sỹ nh- má Bảy tỏ thái độ gan góc tr-ớc mặt kẻ thù khi chúng tra tấn út Sâm con gái má

ít tuổi hơn các má, có những chị nh- chị Sứ (Hòn đất) chung thuỷ đảm

đang, sẵn sàng hi sinh vì cách mạng, vì nhân dân làng Hòn Chị Hai Khê (ở xã

Trang 19

Trung Nghĩa), can đảm trong việc v-ợt cạn một mình và dũng cảm quyết liệt tr-ớc kẻ thù khi chúng đến c-ớp đất, c-ớp nhà của chị Chị Sáu Thắm (đất Quảng) từ những mất mát đau th-ơng nhất đã đứng dậy cao lớn, trực diện

đ-ơng đầu với kẻ thù giai cấp Trẻ tuổi hơn là những nữ thanh niên nh- út Sâm (gia đình má Bảy) b-ớc theo cách mạng với tâm hồn trong sáng hồn nhiên, rất anh dũng khi đánh giặc và gan góc chịu đựng những đòn tra tấn của kẻ thù; út Hảo (rừng U Minh), cô Vi (đất Quảng) đầy sức trẻ trung và nhiệt tình công tác, dũng cảm và thẳng thắn, không ngại gian khổ, không ngại hi sinh…

Song, cần lựa chọn và xác định những tiểu thuyết lịch sử nào đáp ứng những yêu cầu của dạy học lịch sử, tránh những loại tiểu thuyết bịa đặt, ảnh h-ởng xấu đến nhận thức lịch sử của học sinh

- Ký: cũng là thể loại có giá trị giáo dục có thể khai thác để phục vụ

cho quá trình dạy học lịch sử ở tr-ờng PT Chúng ta có một loạt tính cách trong truyện ký nh-: Nguyễn Văn Trỗi, Nguyễn Thị út, Nguyễn Đức Thuận…

Đó vừa là những hình t-ợng văn học đẹp, vừa là những điển hình mang ý nghĩa cách mạng của thời đại Nguyễn Văn Trỗi là một khuôn mẫu về ng-ời thanh niên Việt Nam trong thời kỳ chống đế quốc Mỹ Đó là hình ảnh hoà hợp

lý t-ởng cách mạng và hành động đấu tranh kiên c-ờng chống kẻ thù, hoà hợp tình yêu và nghĩa vụ Một khuôn mẫu khác là hình ảnh Nguyễn Đức Thuận

Đó là chất thép đã tôi trong lò lửa của những thử thách kinh khủng nhất, sáng rực vì trải qua những cuộc đấu tranh của bản thân, bảo đảm kiên trì lý t-ởng Nguyễn Đức Thuận đã trở thành một nhân cách cách mạng, một tấm g-ơng phản chiếu cuộc thi gan đọ sức giữa những ng-ời cách mạng đầy đủ bản lĩnh với kẻ thù trâng tráo đáng tởm nhất trong thời đại ngày nay Qua cuộc đọ sức mang ý nghĩa giai cấp, ý nghĩa thời đại ấy, ng-ời cộng sản ấy đã chiến thắng bằng cách gi-ơng cao ngọn cờ lý t-ởng cách mạng Trong khi đó, chị út là một điển hình về ng-ời phụ nữ vừa nuôi con vừa đánh giặc, mang những phẩm chất -u tú của ng-ời nông dân Miền Nam Chị út là hình ảnh của cuộc sống

Trang 20

bình th-ờng mà anh hùng của ng-ời phụ nữ Miền Nam trong chiến tranh: Chị

đánh giặc cũng giản dị tự nhiên nh- chị nuôi con vậy; chị yêu chồng, săn sóc cán bộ cũng nhẹ nhàng nh- chị làm công tác nguỵ vận vậy Trên đôi vai chị

út, tất cả những nặng nhọc của cuộc sống trong chiến tranh trở thành một công việc bình th-ờng mà ng-ời đ-ợc gánh vác lấy làm thích thú và nếu không đ-ợc làm nh- thế thì sẽ buồn biết chừng nào! Cuộc sống của chị út, đó

là cuộc sống đích thực của ng-ời phụ nữ Việt Nam trong chiến tranh, đó là ph-ơng thức sống đích thực của nhân dân Miền Nam trong kháng chiến tr-ờng kỳ

- Thơ ca cách mạng: là những bài thơ, bài ca có nội dung cách mạng

nh-: Thơ Hồ Chí Minh, thơ Tố Hữu, thơ Tế Hanh, thơ Chế Lan Viên, thơ Lê Anh Xuân…

Việc sử dụng các loại tài liệu văn học trong dạy học lịch sử ở tr-ờng PT phải đảm bảo hai tiêu chuẩn cơ bản: giá trị giáo d-ỡng - giáo dục và giá trị văn học Tài liệu văn học góp phần tạo nên một bức tranh sinh động về những

sự kiện, nhân vật lịch sử của thời đại đang học, miêu tả đ-ợc bối cảnh của xã hội cụ thể, phục vụ nội dung, yêu cầu của từng bài học, phù hợp với trình độ nhận thức của học sinh Tài liệu văn học không làm loãng nội dung bài lịch

sử, phân tán sự chú ý của học sinh vào những vấn đề đang học mà trái lại càng làm tăng thêm hứng thú học tập cho học sinh

Tóm lại, tài liệu văn học là ph-ơng tiện cần thiết và quan trọng đối với việc dạy học lịch sử của giáo viên và học sinh Mỗi thể loại văn học có vị trí

và tác dụng nhất định, nếu đ-ợc sử dụng đúng lúc, đúng chỗ, thì hiệu quả s- phạm của nó rất lớn Vì vậy, ph-ơng pháp sử dụng tài liệu văn học này phải tiến hành trên những cơ sở lý luận của việc dạy học lịch sử, theo yêu cầu giáo d-ỡng, giáo dục của bộ môn và thực tiễn của nhà tr-ờng PT Trong sử dụng tài liệu văn học chúng ta cần chú ý tránh tình trạng “quá tải”, làm cho giờ học trở nên quá nặng nề, hoặc làm loãng nội dung, mất đặc tr-ng của bài lịch sử, hoặc

Trang 21

biến giờ học lịch sử trở thành một giờ văn học, hay bài giảng giáo dục công dân Tuy nhiên, việc khai thác nội dung các kiến thức văn học trong giờ lịch

sử lại là cần thiết để nâng cao hiệu quả của việc sử dụng tài liệu tham khảo, tăng chất l-ợng giáo dục môn học

Nhờ chất l-ợng giảng dạy của giáo viên và sự nỗ lực của học sinh, việc học tập bộ môn lịch sử nhìn chung cũng có một số tiến bộ đáng mừng Đa phần các em chăm học hơn, số học sinh thích học lịch sử tăng lên, chất l-ợng học tập của những em ở các tr-ờng chuyên, lớp chọn đã v-ợt xa những học sinh ở loại hình tr-ờng, lớp này nhiều năm về tr-ớc Những học sinh đại trà tuy chuyển biến chậm hơn nhiều so với bộ phận học sinh giỏi, nh-ng cũng đã

có một số dấu hiệu tích cực Những chuyển biến tích cực trong việc dạy và học môn lịch sử nói trên xuất phát từ nhiều nguyên nhân

- Thứ nhất: Đó là sự tiến bộ toàn diện của đất n-ớc ta, sự quan tâm của

toàn xã hội đối với ngành giáo dục Điều này, khiến cho các tr-ờng THPT có thêm cơ sở vật chất, thiết bị tạo nên những tiền đề về mặt tâm lý xã hội rất quan trọng để nâng cao chất l-ợng giảng dạy, đặc biệt dạy các môn khoa học

xã hội trong đó có môn lịch sử

- Thứ hai: bắt nguồn từ sự đổi mới về ch-ơng trình và SGK để phục vụ

cải cách giáo dục

Trang 22

- Thứ ba: đó là tình yêu nghề, sự phấn đấu v-ợt qua nhiều thiếu thốn

gian khổ của đội ngũ giáo viên trực tiếp giảng dạy ở các tr-ờng THPT trên khắp mọi miền của đất n-ớc, đặc biệt là những giáo viên đang công tác giảng dạy ở những vùng xa xôi, hẻo lánh

- Thứ t-: Khâu chỉ đạo chuyên môn của các cấp, đặc biệt ở các phòng

PT thuộc các Sở giáo dục - Đào tạo đã có nhiều chuyển biến tích cực Hàng năm, các phòng PT đều có văn bản h-ớng dẫn đầu năm học khá cụ thể về nhiệm vụ giảng dạy bộ môn cho các tr-ờng, các tổ bộ môn

Tóm lại, cùng với sự chuyển biến tích cực của đất n-ớc, của ngành giáo dục, bằng sự nỗ lực từ nhiều phía, việc dạy và học môn lịch sử ở tr-ờng THPT

định chung chung, nhàm chán, theo lối “đồng phục hoá bài giảng”, mà những nhận định ấy nhiều khi các em đã biết kỹ qua các tiết học tr-ớc

Đặc biệt, hiện nay vẫn còn những giờ lịch sử đ-ợc tiến hành theo ph-ơng pháp độc thoại, thầy đọc trò ghi, không hoạt động hoá đ-ợc ng-ời học Điều này khiến cho tiết dạy lịch sử trong nhà tr-ờng bỗng trở thành một

“bát canh nhạt nhẽo” (như cách diễn đạt của Tvadovski), làm tê liệt sự hào hứng của học sinh Mặt khác, vẫn còn một bộ phận ít thầy, cô giáo thích thú với loại giáo án mẫu, bài soạn mẫu…dù họ thừa biết điều hứng thú đó trái ng-ợc với bản chất s-u tầm t- liệu của việc giảng dạy lịch sử

Trang 23

Bên cạnh đó, khâu kiểm tra đánh giá vẫn ch-a đ-ợc đổi mới Không ít

đề bài yêu cầu quá cao đối với hoc sinh, hoặc thiếu chính xác về mặt khoa học, diễn đạt mơ hồ Không hiếm giáo viên ch-a có thói quen chuẩn bị đáp án

và biểu điểm chấm đồng thời hoặc ngay sau việc ra đề Việc chấm bài còn khá nhiều thiếu sót Phần lớn giáo viên chỉ sử dụng một số mức điểm nhiều nhất là

điểm 5, 6, 7, rất hiếm khi cho điểm 9, 10 và th-ờng cho điểm 3, 4 khi cần thấy phải phạt học trò Lời phê th-ờng hết sức chung chung, không chỉ ra mặt mạnh, mặt yếu của bài làm và không gợi ý ph-ơng h-ớng để học sinh khắc phục, cho nên không khích lệ đ-ợc tinh thần học hỏi của học sinh Thậm chí, không hiếm giáo viên chỉ cho điểm mà không để lại “bút tích” gì trong toàn

bộ bài làm của học sinh

Việc đổi mới ph-ơng pháp giảng dạy tuy đã đ-ợc phát động từ lâu, nh-ng về căn bản phần đông giáo viên vẫn dạy theo ph-ơng pháp cũ Các giờ học lịch sử hầu nh- dạy chay, không có đồ dùng trực quan, không có tranh

ảnh, không có tài liệu tham khảo…không phát huy đ-ợc tính tích cực chủ

động của học sinh, làm giảm sút sức hấp dẫn của bộ môn

Về học sinh

Có một bộ phận học sinh say mê học lịch sử điều đó thể hiện qua kết quả học tập môn lịch sử của các em, hoặc có một bộ phận thể hiện tinh thần tìm hiểu lịch sử qua các cuộc thi nh-: Theo dòng lịch sử, tham gia các cuộc thi tìm hiểu lịch sử do Đài truyền hình tổ chức Tuy nhiên, bộ phần này ít, phần

đông, các em vẫn tỏ ra thờ ơ, ít có nhu cầu học tập môn lịch sử

Do quan niệm về “môn chính, môn phụ” mà tỷ lệ giờ dạy ở trường PT không phù hợp Mặt khác, học sinh còn bị tâm lý “ứng thi” chi phối, trong đó các em chỉ quan tâm đến các môn học đ-ợc Bộ giáo dục - Đào tạo quy định thi tốt nghiệp như Văn, Toán, Ngoại ngữ,…Môn lịch sử cũng chịu chung số phận như nhiều “môn phụ” khác, nếu năm học nào không thi tốt nghiệp môn lịch sử coi nh- kế hoạch dạy và học chấm dứt vào những ngày đầu của tháng 4

Trang 24

càng say mê với các môn khoa học tự nhiên như: Toán, Lý, Hoá, Sinh…để sau này thi vào các tr-ờng đại học thuộc khối kinh tế và kỹ thuật, bởi sau khi tốt nghiệp ở các tr-ờng đó sinh viên dễ kiếm việc làm và việc làm lại tập trung ở các đô thị lớn với thu nhập cao

Vấn đề đặt ra ở đây, không phải là vấn đề đánh giá bài làm lịch sử khá hay kém, việc khinh hay trọng đối với môn học mà điều đáng nói hơn là chứng tỏ chất l-ợng dạy và học môn lịch sử rõ ràng còn nhiều bất cập Thực tế này, đòi hỏi ngành giáo dục phải có những biện pháp đồng bộ để nâng cao chất l-ợng đào tạo, mà tr-ớc hết, theo ý kiến của chúng tôi là khắc phục những hạn chế đã nêu trên

1.2.2 Thực trạng việc vận dụng tài liệu văn học trong dạy học lịch sử ở tr-ờng PT hiện nay

Đối với giáo viên

Tất cả các giáo viên đ-ợc chúng tôi điều tra đều nhận thức rõ ràng sự cần thiết phải sử dụng đồng thời sách giáo khoa và tài liệu văn học trong quá trình dạy, học lịch sử Nhiều ng-ời còn đánh giá cao tác dụng tích cực của việc làm này vì nó không những góp phần nâng cao hiệu qủa bài dạy, giúp học sinh ghi nhớ nhanh, nhớ lâu, dễ hiểu bài và có hứng thú học tập Nh- vậy, tài liệu văn học là cần thiết cho việc phục vụ dạy và học Tuy nhiên, mức độ sử dụng đồng thời cả sách giáo khoa và tài liệu văn học này ở giáo viên không cao Điều đó đ-ợc thể hiện cụ thể ở kết quả điều tra nh- sau: Số giáo viên

“thường xuyên” sử dụng chỉ có 5%, và có 14% số giáo viên “thỉnh thoảng” mới sử dụng Đây là những giáo viên có nhiều kinh nghiệm giảng dạy, là những giáo viên giỏi của các tỉnh, thành phố Số còn lại là những giáo viên

“không sử dụng” vì nhiều lý do như: Không có tài liệu “tham khảo” chủ yếu,

“học sinh không chịu học”, “thời gian của một tiết học quá ngắn”,… Mặt khác, phần lớn giáo viên đều cho rằng, trong tình hình khó khăn về nhiều mặt

Trang 25

như hiện nay (đời sống, điều kiện, phương tiện học tập…) thì khi dạy “chỉ cần nói đúng, nói đủ như sách giáo khoa đã là tốt lắm rồi!”

Về ph-ơng pháp giảng dạy, chúng tôi nhận thấy rằng phần lớn giáo viên chỉ trình bày lại nội dung của sách giáo khoa mà thôi (thậm chí có giáo viên gần nh- chỉ đọc bài cho học sinh chép), một số giáo viên đã sử dụng tài liệu văn học nh-ng cũng chỉ dừng lại ở mức độ thông báo, làm sinh động, cụ thể hoá sự kiện, hiện t-ợng lịch sử chứ không đi sâu để giúp học sinh hiểu bản chất của sự kiện, hiện t-ợng lịch sử đó Một số giáo viên sử dụng tài liệu văn học cũng rất hình thức nh- giới thiệu vắn tắt nội dung của tài liệu hay sử dụng một đoạn trích có tính khái quát cao, điển hình từ một tài liệu văn học nào đó

và yêu cầu học sinh phân tích, chứng minh (khi làm bài kiểm tra) hoặc đọc trích một đoạn tài liệu văn học để minh hoạ… Hoặc ngược lại, nhiều giáo viên

“quá tải” khi sử dụng tài liệu văn học, thoát ly hoàn toàn sách giao khoa lịch

sử, chỉ tập trung giới thiệu về tác phẩm văn học đó

Trên thực tế, có thể nói rằng việc dạy, học lịch sử ở tr-ờng PT hiện nay chủ yếu chỉ dựa vào sách giáo khoa để đảm bảo sự tiếp thu của học sinh theo

đúng ch-ơng trình đã quy định, còn việc sử dụng tài liệu văn học hầu nh- không

đ-ợc chú ý Rõ ràng, ph-ơng pháp dạy học lịch sử nh- vậy không phát huy đ-ợc tính tích cực trong nhận thức của học sinh, không gây đ-ợc hứng thú trong học tập cho nên đã ảnh h-ởng không ít đến chất l-ợng học tập của học sinh

Đối với học sinh

Nhiều học sinh, nhất là bộ phận học sinh khá, giỏi th-ờng xuyên tham khảo tài liệu văn học để bổ sung vào bài học, nâng cao hiểu biết của mình, tự hình thành cho mình một ph-ơng pháp khoa học làm việc với tài liệu, có hứng thú say mê tìm hiểu tài liệu văn học Bên cạnh đó, đa phần học sinh ít hoặc thậm chí là không bao giờ sử dụng tài liệu văn học Nhiều học sinh chỉ dừng lại ở mức độ tham khảo, nhớ máy móc bài giảng của giáo viên

Qua tìm hiểu các bài kiểm tra môn lịch sử của học sinh đã cho thấy nội

Trang 26

nhận xét khái quát, không có những liên hệ, những so sánh, những sự đối chiếu cần thiết Các em th-ờng chỉ viết chung chung, đại khái như: “Chúng bóc lột nhân dân ta vô cùng thậm tệ”, “đời sống của nhân dân ta vô cùng cực khổ”…Điều đó chứng tỏ học sinh chưa biết cách sử dụng tài liệu văn học, ch-a thể hiện đ-ợc tính độc lập trong suy nghĩ của mình, ch-a biết trình bày nội dung của bài viết… các em cũng còn nhiều khó khăn, lúng túng khi xác

định về không gian và thời gian của một tác phẩm văn học nào đó có liên quan

đến nội dung của bài học lịch sử

Có nhiều nguyên nhân dẫn đến tình trạng này, trong đó đáng chú ý các nguyên nhân chủ yếu sau đây:

- Thứ nhất: Mặc dù giáo viên đã nhận thức đ-ợc việc sử dụng tài liệu

văn học trong dạy học lịch sử là quan trọng, nhưng họ “chưa nắm vững kỹ năng và phương pháp sử dụng tài liệu” Việc xử lý mối quan hệ giữa nội dung của SGK và của tài liệu văn học ch-a đ-ợc giáo viên xác định rõ ràng

Do không làm được điều này, nên nội dung của bài học không “thêm” mà cũng không “bớt” những nội dung của SGK Chính vì thế, mặc dù giáo viên

có đủ tài liệu văn học, nh-ng đôi khi họ vẫn không dám sử dụng, vì sợ “tiết học quá ngắn”, “nói hết SGK đã không còn thời gian thì làm sao có thể sử dụng thêm tài liệu nữa”, “tài liệu văn học thì nhiều, biết chọn loại nào và không chọn loại nào”…Mặt khác, ngoài bài học trên lớp, các hình thức tổ chức dạy học khác cho phép giáo viên sử dụng rộng rãi các tài liệu văn học cũng ít đ-ợc thực hiện

- Thứ hai: ở các tr-ờng PT hiện nay, tài liệu văn học cần thiết cho việc

dạy của giáo viên, việc học của học sinh lại không thật đầy đủ Hơn nữa, thầy

và trò cũng ch-a mạnh dạn khắc phục những khó khăn trong việc s-u tầm tài liệu văn học

Điều này, một phần do giáo viên ch-a có điều kiện để đầu t- công sức vào việc giảng dạy Mặt khác, do động cơ học tập của học sinh ch-a đúng đắn

Trang 27

Ngoài ra, những khó khăn, thiếu thốn về cơ sở vật chất của nhà tr-ờng cũng có

ảnh h-ởng nhất định đến tâm lý giảng dạy, học tập của cả thầy và trò

Qua thực tế một số tr-ờng PT hiện nay, chúng tôi cho rằng việc sử dụng tài liệu văn học trong dạy, học lịch sử lại càng phải đ-ợc quan tâm hơn nữa trên tất cả các mặt từ trong nhận thức và trong những việc làm cụ thể nhằm

đáp ứng những yêu cầu, những nhiệm vụ trong tình hình đổi mới toàn diện ch-ơng trình, cấu trúc, sách giáo khoa, ph-ơng pháp dạy học nh- hiện nay

Trang 28

Ch-ơng 2 Các loại tài liệu văn học đ-ợc sử dụng trong dạy học khóa trình lịch sử Việt Nam giai đoạn 1954 - 1975 (sách giáo khoa lịch sử lớp 12 - nâng cao)

2.1 Vị trí, ý nghĩa và nội dung cơ bản của khóa trình

2.1.1 Vị trí

Trong tiến trình lịch sử dân tộc, giai đoạn 1954 - 1975 chiếm một vị trí

đặc biệt quan trọng Đây là giai đoạn Việt Nam tạm thời bị chia làm 2 miền với 2 chế độ khác nhau: Miền Bắc đã hoàn toàn giải phóng và đi lên CNXH, còn Miền Nam tạm thời bị đế quốc Mỹ và các lực l-ợng tay sai thống trị Sự nghiệp cách mạng dân tộc dân chủ của nhân dân trên cả n-ớc còn ch-a hoàn thành Nhân dân Việt Nam vừa phải lo hàn gắn vết th-ơng chiến tranh, khôi phục kinh tế, đ-a Miền Bắc tiến dần lên CNXH, vừa phải tiếp tục đẩy mạnh cuộc cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân ở Miền Nam, tiến tới thực hiện hoà bình thống nhất đất n-ớc

Lịch sử dân tộc giai đoạn này ghi dấu nhiều thắng lợi vẻ vang ở cả 2 miền, đặc biệt là đại thắng mùa Xuân năm 1975 Sau chiến thắng đó, dân tộc

ta tiến vào một kỷ nguyên mới - kỷ nguyên độc lập, tự do đi lên CNXH Vì vậy, đây cũng là giai đoạn có tính bản lề, khép lại một chặng đ-ờng dài dân tộc ta phải sống trong cảnh g-ơm đao, súng đạn của chiến tranh, mở ra một thời kỳ mới - thời kỳ hoà bình xây dựng cuộc sống tự do, hạnh phúc

2.1.2 ý nghĩa

* Về mặt giáo d-ỡng

Giảng dạy lịch sử Việt Nam giai đoạn này, phải giúp học sinh nắm đ-ợc quá trình cách mạng và những thành tựu đạt đ-ợc của nhân dân ta suốt 20 năm xây dựng và chiến đấu Qua việc cung cấp cho học sinh những sự kiện cụ thể, giúp các em nhận thức đ-ợc tình hình n-ớc ta sau Hiệp định Giơnevơ, do so

Trang 29

sánh lực l-ợng và tình hình chính trị thế giới phức tạp lúc đó, dẫn đến việc 2 miền phải tiến hành 2 nhiệm vụ chiến l-ợc khác nhau Miền Bắc bắt tay vào tiến hành cách mạng XHCN, làm nghĩa vụ hậu ph-ơng đối với cách mạng cả n-ớc khi hoà bình cũng nh- khi có chiến tranh phá hoại của Mỹ Trong khi

đó, nhân dân Miền Nam phải đối phó với một kẻ thù nham hiểm nhất từ tr-ớc

đến nay, đó là đế quốc Mỹ Nh-ng nhân dân cả 2 miền đã giành đ-ợc những thắng lợi to lớn, góp phần đánh bại đế quốc Mỹ và tiến tới thống nhất n-ớc nhà vào năm 1975

Nh- vậy, trên cơ sở kiến thức các em đã đ-ợc học ở cấp II, khi dạy lịch

sử giai đoạn này phải làm cho các em có những nhận thức sâu sắc hơn, khái quát hơn, đặc biệt là nâng cao về mặt lý luận Trong điều kiện cho phép, giáo viên cũng cần phải giúp học sinh thấy đ-ợc tác động mạnh mẽ của quan hệ quốc tế đối với dân tộc ta Đây là thời kỳ đối đầu giữa hai phe: XHCN và đế quốc chủ nghĩa, đứng đầu là Liên Xô và Mỹ Sự đối đầu đó chi phối mạnh mẽ

đến đời sống chính trị của toàn thế giới Những kết quả mà dân tộc ta đạt đ-ợc trong giai đoạn này là biểu hiện sự mền dẻo của Đảng ta trong việc xử lý các mối quan hệ quốc tế

Đồng thời, khi giảng dạy khóa trình lịch sử Việt Nam giai đoạn 1954 -

1975 cũng cần làm cho các em nhận thức đ-ợc những bài học, quy luật phát triển của lịch sử Mặt khác, cần củng cố và hình thành cho học sinh hệ thống khái niệm mới nh-: chủ nghĩa thực dân kiểu cũ, kiểu mới; chiến tranh cục bộ; chiến tranh đặc biệt; Việt Nam hoá chiến tranh; đồng khởi

* Về mặt giáo dục

Có thể nói lịch sử Việt Nam giai đoạn 1954 - 1975 là chặng đ-ờng đầy khó khăn gian khổ, nh-ng cũng hết sức vẻ vang trong lịch sử dân tộc Cho nên, giảng dạy lịch sử giai đoạn này giáo viên phải làm cho học sinh biết tự hào về truyền thống kiên c-ờng, bất khuất của dân tộc ta Bởi vì, trong lịch sử chống ngoại xâm, ch-a bao giờ dân tộc ta phải đ-ơng đầu với một kẻ thù mạnh nh- đế quốc Mỹ - một tên đế quốc giàu có và sừng sỏ nhất thế giới

Trang 30

Bên cạnh đó, giúp học sinh thấy đ-ợc vai trò lãnh đạo của Đảng với

đ-ờng lối chính trị, quân sự, ngoại giao đúng đắn, độc lập, linh hoạt và sáng tạo, là nhân tố quyết định cho mọi thắng lợi của cách mạng n-ớc ta Từ đó, giáo dục các em lòng biết ơn và tin t-ởng vào sự lãnh đạo của Đảng trong thời

đại ngày nay Mặt khác, nhắc nhở các em biết kính yêu những ng-ời đã anh dũng chiến đấu hy sinh để bảo vệ Tổ quốc Từ đó các em biết quý trọng cuộc sống ấm no, hạnh phúc mà mình đang sống và biết sống xứng đáng với những gì mà thế hệ cha, anh đi tr-ớc đã hy sinh để đem lại cuộc sống đó cho mình Giáo dục các em truyền thống “uống nước nhớ nguồn” của dân tộc ta

Qua dạy học lịch sử giai đoạn này, cũng cần giáo dục học sinh niềm tin vào chính nghĩa và có thái độ đúng đắn đối với bọn đế quốc xâm l-ợc Ngoài

ra còn giáo dục cho học sinh thấy đ-ợc sức mạnh tình đoàn kết của dân tộc ta cũng nh- của nhân dân 3 n-ớc Đông D-ơng trong mặt trận chống kẻ thù chung, sự ủng hộ của nhân loại tiến bộ trên thế giới Thấy đ-ợc những thành quả của cách mạng XHCN, từ đó có niềm tin vào CNXH, trung thành với con

đ-ờng và lý t-ởng mà Đảng, Bác Hồ và nhân dân ta đã lựa chọn đó là độc lập dân tộc gắn liền với CNXH

* Về mặt phát triển

Dạy học lịch sử Việt Nam giai đoạn 1954 - 1975 phải góp phần nâng cao năng lực nhận thức, t- duy lý luận, khả năng nhận xét, đánh giá các sự kiện lịch sử cũng nh- biết so sánh rút ra những điểm giống nhau và khác nhau của các chiến l-ợc chiến tranh nh-: chiến tranh đặc biệt, chiến tranh cục bộ, Việt Nam hóa chiến tranh… mà Mỹ áp dụng ở Việt Nam Biết làm việc với đồ dùng trực quan nh- phân tích bản đồ, trình bày diễn biến các chiến dịch lớn trên bản đồ, biết làm việc với các tài liệu gốc, hoặc các nguồn tài liệu khác nhau Vì vậy, đòi hỏi học sinh phải có khẳ năng khái quát, hệ thống hoá kiến thức, xâu chuỗi các sự kiện để tìm ra đ-ợc mối liên hệ bên trong của các sự kiện, hiện t-ợng lịch sử

Trang 31

Tóm lại, giảng dạy lịch sử Việt Nam khóa trình này giáo viên cần phải biết kết hợp nhiều ph-ơng pháp dạy học nhằm kích thích tính tích cực, chủ

động của học sinh để nâng cao chất l-ợng dạy và học

2.1.3 Nội dung cơ bản của khóa trình

Cuộc đấu tranh chống Mỹ cứu n-ớc của dân tộc ta có thể chia thành 5 giai đoạn nhỏ nh- sau:

- Giai đoạn 1954 - 1960: Đây là giai đoạn gắn liền với việc đế quốc Mỹ hất cẳng lực l-ợng thực dân Pháp còn lại ở Miền Nam Việt Nam, dựng lên chính quyền bù nhìn Ngô Đình Diệm thân Mỹ thay thế chính quyền Bảo Đại thân Pháp Về phía địch, đây là giai đoạn thường gọi là “chiến tranh đơn phương” hay “chiến tranh một phía” Mỹ - Diệm thiết lập chế độ độc tài gia

đình trị ở Miền Nam Chúng mở “chiến dịch tố cộng” đánh phá lực lượng nòng cốt của cách mạng, chúng lập nhiều sư đoàn chuẩn bị “Bắc tiến” nhằm biến Miền Nam Việt Nam thành căn cứ quân sự , thành thuộc địa kiểu mới của Mỹ Về phía nhân dân ta đây là giai đoạn đấu tranh chính trị là chính, bảo tồn lực l-ợng yêu n-ớc, đòi dân sinh, dân chủ, đòi thi hành các điều khoản Hiệp nghị Giơnevơ ở giai đoạn này, cách mạng Miền Bắc gặt hái đ-ợc nhiều thành tựu trong công cuộc cải cách ruộng đất khôi phục kinh tế, b-ớc đầu cải tạo XHCN và phát triển kinh tế, văn hoá Trong khi đó, cuộc đấu tranh của nhân dân Miền Nam đang gặp nhiều khó khăn, tổn thất do chính quyền Diệm thi hành chính sách phát xít, thẳng tay khủng bố nhân dân, tiêu diệt lực l-ợng cách mạng Nh-ng với phong trào “Đồng khởi” cách mạng Miền Nam đã chuyển sang một thời kỳ mới

- Giai đoạn 1961 - 1965: Đây là giai đoạn Miền Bắc b-ớc vào kế hoạch

5 năm lần thứ nhất Những thành tựu đạt đ-ợc trong kế hoạch này đã làm biến

đổi sâu sắc mọi mặt của kinh tế - xã hội Miền Bắc, đồng thời là cơ sở để Miền Bắc làm tròn nghĩa vụ hậu ph-ơng lớn ở Miền Nam, đế quốc Mỹ thực hiện

Trang 32

Việt” Chiến lược chiến tranh này được thực hiện qua 2 kế hoạch lớn là: kế hoạch Xtalây - Taylo và kế hoạch Giônxơn - Mác Namara

Kế hoạch Xtalây - Taylo (năm 1961) dự định quét sạch lực l-ợng cách mạng Miền Nam trong vòng 18 tháng Mỹ - Diệm tăng c-ờng nguỵ quân cao

độ (40 vạn) nhằm “tiêu diệt Việt cộng trong trứng nước” Chúng bày ra chiến thuật “phượng hoàng bay” tức là dùng trực thăng bất ngờ nhảy dù bắt du kích

và cán bộ Chúng lập hệ thống “ấp chiến lược” nhằm cắt đứt quan hệ giữa nhân dân với lực lượng vũ trang của nhân dân, nhằm “tách cá khỏi nước” Nh-ng kế hoạch đó đã thất bại tr-ớc khí thế cách mạng của nhân dân Miền Nam Chiến thắng ấp Bắc (21/1/1963) cho thấy vũ khí hiện đại và máy bay

Mỹ không quyết định đ-ợc thắng lợi

Kế hoạch Giônxơn - Mác Namara ra đời thay thế cho kế hoạch Xtalây - Taylo nhằm tăng c-ờng sự chỉ huy trực tiếp của Mỹ, ra sức bình định Miền Nam trong vòng 2 năm 1964 - 1965 Nh-ng với chiến thắng Bình Giã (Bà Rịa)

từ khoảng tháng 12/1964 đến tháng 1/1965 quân dân ta đã làm thất bại kế hoạch này cũng nh- làm thất bại hoàn toàn chiến l-ợc chiến tranh đặc biệt của

Mỹ - Nguỵ

- Giai đoạn 1965 - 1968: Đây là giai đoạn cả n-ớc có chiến tranh Miền Bắc chiến đấu chống chiến tranh phá hoại lần thứ nhất của Mỹ kết hợp với xây dựng CNXH, làm tròn nghĩa vụ hậu ph-ơng Miền Nam chiến đấu chống chiến lược “chiến tranh cục bộ” của Giônxơn Đông Xuân 1965 - 1966, kẻ xâm lược mở cuộc “phản công chiến lược mùa khô” (thứ nhất) nhằm “bẻ gãy x-ơng sống Việt cộng” Nh-ng, cái bị bẻ gãy không phải là quân giải phóng

mà chính là chiến lược “5 mũi tên” [6,10] của Mỹ B-ớc sang mùa khô năm

1966 - 1967, Chúng mở cuộc “phản công chiến lược mùa khô” (thứ 2), cũng với mục tiêu “tìm diệt” như năm trước Nh-ng chúng cũng không thể chuyển bại thành thắng, mà bị thất bại nặng nề hơn Trên đà thắng to, trên thế chủ

động ở chiến tr-ờng, quân dân Miền Nam phấn khởi bắt đầu cuộc tổng tiến công và nổi dậy đồng loạt vào Xuân Mậu Thân (năm 1968) Cuộc tổng tấn

Trang 33

công và nổi dậy năm 1968 đã làm cho sự bố trí chiến l-ợc của Mỹ ở Miền Nam bị đảo lộn và đặt Giônxơn vào một tình thế khốn đốn Giônxơn buộc phải ngừng ném bom Miền Bắc, ngồi vào bàn đàm phán với ta tại Hội nghị Pari (13/5/1968) và tuyên bố không ra tranh cử tổng thống năm 1968

- Giai đoạn1968 - 1973: Tiếp tục thời kỳ cả n-ớc có chiến tranh ở Miền Nam, Mỹ thực hiện chiến l-ợc “Việt Nam hoá chiến tranh” và “Đông Dương hoá chiến tranh” can thiệp mạnh hơn vào Lào và uy hiếp Campuchia

âm mưu cơ bản của Mỹ vẫn là “dùng người Việt đánh người Việt”, “dùng người Đông Dương đánh người Đông Dương” với bom đạn, đô la Mỹ, do Mỹ chỉ huy và vì lợi ích của Mỹ Những chiến thắng của nhân dân 3 n-ớc Đông D-ơng trong giai đoạn này, đặc biệt là cuộc tiến công chiến l-ợc năm 1972 của quân dân Miền Nam Việt Nam đã làm thất bại hoàn toàn âm m-u của Mỹ

ở Miền Bắc, tiếp tục bắt tay vào hàn gắn vết th-ơng chiến tranh, đẩy mạnh xây dựng CNXH, chiến đấu chống chiến tranh phá hoại lần thứ 2 của Mỹ và chi viện cho Miền Nam Đây cũng là giai đoạn ta tiến hành đấu tranh với Mỹ trên mặt trận ngoại giao Hội nghị Pari về Việt Nam đ-ợc bắt đầu từ ngày 13/5/1968 trải qua tất cả 202 phiên họp chung công khai, 24 cuộc tiếp xúc riêng, trong thời gian 4 năm 9 tháng đến ngày 27/1/1973 Hiệp định Pari đ-ợc

ký kết, nhiệm vụ “đánh cho Mỹ cút” được hoàn thành, mở ra khả năng lớn để tiếp tục hoàn thành nhiệm vụ “đánh cho Nguỵ nhào” giải phóng hoàn toàn Miền Nam, thống nhất đất n-ớc

- Giai đoạn 1973 - 1975: Đây là thời kỳ khôi phục và phát triển kinh tế Miền Bắc, cả n-ớc dồn sức giải phóng hoàn toàn Miền Nam, giành toàn vẹn lãnh thổ tổ quốc Sau khi hoàn thành xong nhiệm vụ “đánh cho Mỹ cút” chúng

ta lại tiếp tục thực hiện nhiệm vụ còn lại của cuộc kháng chiến là “đánh cho Nguỵ nhào” Ngay sau năm 1973, cả nước ra sức chuẩn bị mọi mặt để bước vào một trận đánh lớn Riêng ở Miền Nam, đến năm 1974, thời cơ thuận lợi đã

đến, Bộ chính trị đã kịp thời chớp lấy đề ra kế hoạch giải phóng Miền Nam

Trang 34

trong vòng 2 năm, nhưng lại nhấn mạnh “cả năm 1975 là thời cơ” và chỉ rõ

“nếu thời cơ đến vào đầu hoặc cuối năm 1975 thì lập tức giải phóng Miền Nam trong năm 1975” Cuộc tổng tiến công và nổi dậy Mùa Xuân 1975 đã diễn ra với tốc độ “một ngày bằng 20 năm” với 3 chiến dịch lớn: Chiến dịch Tây Nguyên, chiến dịch Huế - Đà Nẵng và chiến dịch mang tên Hồ Chí Minh

đánh vào Sài Gòn giành thắng lợi hoàn toàn Nguỵ quyền bị sụp đổ, Miền Nam đ-ợc giải phóng, đất n-ớc ta đ-ợc thống nhất

Cần phải khẳng định rằng, cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu n-ớc 1954

- 1975 là một thắng lợi vĩ đại, có ý nghĩa dân tộc và quốc tế sâu sắc Thắng lợi này là kết quả của nhiều nhân tố khách quan và chủ quan, trong đó sự lãnh

đạo của Đảng là nhân tố quyết định hàng đầu

2.2 Một số nội dung văn học đ-ợc sử dụng trong dạy học khóa trình

Để thuận tiện cho quá trình dạy học, chúng tôi lựa chọn trích dẫn một

số đoạn, bài tiêu biểu trong các tác phẩm văn học có thể minh họa cho các nội dung lịch sử, trình bày theo nội dung của bài của khóa trình lịch sử Việt Nam giai đoạn 1954 -1975 Qua đây, giúp giáo viên và học sinh có thể sử dụng tham khảo trong dạy và học khóa trình ở tr-ờng PT

Bài 24: Miền Bắc thực hiện những nhiệm vụ kinh tế - xã hội, Miền Nam đấu tranh chống chế độ Mỹ - Diệm, gìn giữ hoà bình (1954 -1960)

I Tình hình và nhiệm vụ cách mạng n-ớc ta sau Hiệp định Giơnevơ năm 1954 về Đông D-ơng

Sau chiến thắng quân sự ở Điên Biên Phủ dẫn tới chiến thắng chính trị ở Giơnevơ, Miền Bắc đ-ợc giải phóng ở Niềm Nam, Đế quốc Mỹ âm m-u dập tắt phong trào cách mạng, biến nơi đây làm thuộc địa kiểu mới làm căn cứ tấn công Miền Bắc và hệ thống XHCN Cách mạng ở mỗi miền có nhiệm vụ chiến l-ợc riêng nh-ng phối hợp chặt chẽ với nhau

“Việt Nam chôn rau cắt rốn giữa rừng

Trang 35

Việt Nam những ngày nguyên tử vẫn xông lên hàng đầu với gậy tầm vông

Việt Nam ngày nay đã ra đứng tr-ớc thế giới, tr-ớc mọi ng-ời Mình ch-a đeo hết vàng chiến thắng

Nh-ng cũng đã mặc áo đỏ vinh quang Tay ch-a xách đ-ợc cái sọ trắng kẻ thù nh-ng chân cũng đã dẫm

đạp lên sự gục ngã của nó”

(Chào mừng - gửi các anh)

Trong giai đoạn này n-ớc ta đã trải qua một cơn biến động xã hội lớn trong lịch sử Đất n-ớc ta tạm thời bị chia cắt làm 2 miền với 2 nhiệm vụ chính trị khác nhau Tr-ớc thực tế lịch sử đó nhà thơ Chế Lan Viên đã viết:

“Chúng muốn xé bản đồ ta làm hai nửa Tổ quốc

Xé thân thể ta thành máu thịt đôi miền”

(Chế Lan Viên - Đừng quên) Hay Tố Hữu cũng viết rằng:

“Ai vô đó, nói với đồng bào, đồng chí Nói với nửa - Việt Nam yêu quý

N-ớc ta là của chúng ta N-ớc Việt Nam dân chủ cộng hoà Chúng ta, con một cha, nhà một nóc Thịt với xương, tim, óc dính liền”

(Ta đi tới - Tố Hữu) Thịt, x-ơng, tim, óc vốn là những bộ phận tạo thành cơ thể con ng-ời đã

đ-ợc các nhà thơ miêu tả nh- những bộ phận của cơ thể Tổ quốc Điều đó chứng tỏ ý niệm về Tổ quốc của các nhà thơ trở nên hết sức thiêng liêng, đối với họ Tổ quốc là một cơ thể sống, không thể chia cắt đ-ợc, giống nh-:

“Một thân không thể chia đôi

Trang 36

Nhà thơ Tế Hanh cũng viết:

“Một dòng sông Hiền L-ơng Không thể nào chia sẻ

Một dòng n-ớc sông H-ơng Vẫn của con của mẹ

Mẹ yêu mẹ đợi chờ Con yêu con phấn đấu Hai tấm lòng -ớc mơ

Một ngày mai đoàn tụ ” [7,126 -127]

Hay với tập thơ “Mũi Cà Mau” Xuân Diệu đã làm cho hình ảnh đất n-ớc hiện lên thật cụ thể, sâu sắc:

“Đất n-ớc trong tôi là một khối Dòng sông Bến Hải chảy qua tim”

ở đây Xuân Diệu đã chỉ ra kẻ thù của dân tộc lúc này là đế quốc Mỹ và bọn tay sai đang tìm cách chia cắt đất n-ớc, hại dân Xuân Diệu một mặt thể hiện tình cảm của mình với Miền Nam nh-ng mặt khác cũng bộc lộ lòng căm giận kẻ thù, tình cảm xót xa của mình tr-ớc cảnh đồng bào Miền Nam đang trong n-ớc sôi, lửa bỏng:

“Sao tôi chỉ có hai bàn tay Sao tôi chỉ có trái tim này Tôi muốn khóc thành rừng, thành lửa Thành cơn thịnh nộ đất đá bay”

Và Xuân Diệu đã nhìn thấy đúng hiện thực của Miền Nam đó là lòng thuỷ chung và niềm tin không gì lay chuyển đ-ợc của nhân dân đối với sự nghiệp đấu tranh thống nhất n-ớc nhà Một ng-ời phụ nữ mặc áo sờn vai, theo

Đảng nuôi con ngày ngày tâm niệm:

“Một nửa quê h-ơng em quyết bảo toàn Trao lại tay anh ngày về thống nhất” [22,111]

Trang 37

Mặt khác, Tổ quốc còn đ-ợc quan niệm nh- một con ng-ời đang v-ơn mình đứng dậy:

“Nước Việt Nam từ trong máu lửa

Rũ bùn đứng dậy sáng loà”

(Đất n-ớc - Nguyễn Đình Thi)

II Miền Bắc hoàn thành cải cách ruộng đất, khôi phục kinh tế, cải tạo quan hệ sản xuất (1954 -1960)

1 Hoàn thành cải cách ruộng đất, khôi phục kinh tế, hàn gắn vết th-ơng chiến tranh (1954 - 1957)

Phản ánh nhịp sống hối hả, hăng say của không khí lao động, sản xuất, xây dựng CNXH trên Miền Bắc, trong bài thơ “Mười năm” ta được chứng kiến

sự thay da đổi thịt của Miền Bắc sau chiến thắng Điện Biên Phủ:

“Tôi đứng giữa bốn bề ánh điện Nhìn mênh mông nh- đứng giữa ban ngày Hải Phòng, Hòn Gai, Uông Bí

Một vùng công nghiệp của ta”

(M-ời năm - Lê Anh Xuân)

2 Cải tạo quan hệ sản xuất, b-ớc đầu phát triển kinh tế - xã hội (1958 -1960)

Trong 3 năm tiếp theo (1958 -1960), Miền Bắc lấy cải tạo XHCN làm trọng tâm Giáo viên có thể đọc các câu thơ sau của Tế Hanh để thấy rõ hơn quá trình cải tạo quan hệ sản xuất, b-ớc đầu phát triển kinh tế - xã hội:

“Trên đường xã hội chủ nghĩa chúng tôi đi tới Cần có thêm xe, có thêm lúa, có thêm nhà

Có thêm ngừơi, có thêm sách, có thêm hoa Thêm tình yêu và có thêm hạnh phúc” [7,179]

Nói về chủ tr-ơng hợp tác hoá nông nghiệp, tác giả viết:

“Nhà bác Liên hôm nay vắng vẻ

Trang 38

Cuộc vận động hợp tác hoá nông nghiệp đ-ợc tiến hành theo nguyên tắc

tự nguyện, cùng có lợi và quản lý dân chủ cho nên đời sống nông thôn ở Miền Bắc đã có nhiều đổi mới Trong “Bài thơ tháng Bảy” Tế Hanh đã miêu tả về cuộc sống mới ở Miền Bắc XHCN:

“Nửa đất nước thân yêu theo bánh chuyển Tới t-ơng lai trong nhịp hát công tr-ờng Ngày lao động ngon lành nh- trái chín Trĩu cây đời quấn quít những cành th-ơng Vành đai trắng đã xanh rờn ruộng lúa

Tổ đổi công vui tiếng học i tờ V-ơn nhịp mới cầu nối bờ th-ơng nhớ Than mấy tầng đen nhánh ánh thi đua ” [7,187]

III Miền Nam đấu tranh chống chế độ Mỹ - Diệm, gìn giữ và phát triển lực lượng cách mạng tiến tới “Đồng khởi” (1954 -1960)

1 Đấu tranh chống chế độ Mỹ - Diệm, gìn giữ và phát triển lực l-ợng cách mạng (1954 -1959)

Từ những ngày sau Hiệp định Giơnevơ năm 1954, Thanh Hải đã ghi lại một cuộc bãi thị:

Trang 39

“Chợ ta ngày ấy vắng tanh

Em không đi bán theo anh dặn dò” [22,165]

Đó là một trong những hình thức đấu tranh chính trị của đồng bào Miền Nam dựa trên cơ sở pháp lý của Hiệp định Giơnevơ

Cuối năm 1959 đầu năm 1960, ca dao và thơ quần chúng phản ánh rõ khí thế cách mạng đi lên, phản ánh những cuộc đấu tranh mạnh mẽ của quần chúng cách mạng:

“Nửa khuya gà gáy rộn vang Giật mình sửa soạn hành trang lên đ-ờng Một tay chị giữ lá đơn

Một tay vỗ nhẹ vai chồng gửi con.” [22,41]

Ng-ời phụ nữ gửi con cho chồng để vào thị xã đấu tranh, còn anh thanh niên ốm liệt lại nằm mơ tấn công:

“Cơm trắng không màng, cháo cũng không Thịt heo bảo đắng, cá tanh nồng

Nằm nghe đơn vị bàn chiến đấu Vùng dậy xin vào A “thọc hông.” [22,41]

Tế Hanh thì lại viết:

“Khi quê hương đứng lên như sóng bể Cuộc mít tinh sôi sục vạn con ng-ời Con tin là mẹ trong đó, mẹ ơi!

Nh- cây chuối nhiều tàu, lá lành che lá rách” [7,225]

2 Phong trào “Đồng Khởi” (1959 - 1960)

- Khi chính quyền Ngô Đình Diệm ban hành đạo luật 10/59, đặt cộng sản ngoài vòng pháp luật, cho phép thẳng tay giết hại bất cứ ng-ời yêu n-ớc nào, bất cứ ai có biểu hiện chống lại chúng, làm cho hàng vạn cán bộ, đảng viên bị giết hại, hàng chục vạn đồng bào yêu n-ớc bị tù đày Sự có mặt của đế quốc Mỹ

và tay sai đã làm nên những trang đau th-ơng của dân tộc Việt Nam Bất cứ nơi

Trang 40

đâu cũng hằn sâu dấu chân quỷ dữ Chúng ta thấy không ngày nào mà không có những thân thể bị tra tấn bắn giết, xác phơi đầy đồng, thây đầy lạch sông:

“Năm năm qua Trời năm năm khủng khiếp!

Quê ta trong lửa bỏng dầu sôi Bọn Mỹ - Nguỵ thẳng tay bắn giết Không ngày nào không máu chảy x-ơng rơi” [7,297]

Chính sách “tố cộng”, “diệt cộng” với phương châm: “bắn nhầm còn hơn bỏ sót” thì đâu đâu mạng sống của con người cũng mong manh như lá mỏng cành khô:

“Đợt tố cộng như một cơn gió chướng Mạng con ng-ời nh- lá rụng cành khô

Đợt dinh điền tiếp theo: dòng n-ớc cuốn Ng-ời sống không nơi, ng-ời chết không mồ Xóm bên Đông có đứa con khóc mẹ

Xóm bên Tây có ng-ời mẹ khóc con Chồng th-ơng vợ nh- cành cây gió bẻ

Vợ th-ơng chồng không nắm đất vùi thân” [7,297]

Hay trong bài “Mẹ mãi còn” Tế Hanh viết:

“Mẹ còn không sau những ngày năm bảy (57)

Đợt “tố cộng” dìm quê ta trong máu chảy?

Mẹ còn không sau những ngày năm chín (59), Mẹ ơi Khi quân thù đem cọc tre, thép gai

Dồn dân chúng trong “khu trù mật” [7,244 -245]

Đồng bào Miền Nam đã nói không ngoa rằng: “Chế độ Mỹ - Diệm là một lò sát sinh man rợ nhất trên trái đất ngày nay” [22,127] Thật vậy, tội ác của Mỹ - Diệm nhiều nh- lá rừng mỗi bức th- đều có vạch ra Thử đọc vài

đoạn thư: “Anh Ty ở Hiệp H-ng bị chúng bắt đè ra mổ bụng, cắt gan Anh chạy hoảng, la thất thanh, máu ở ruột tuôn xối ra Anh ngã ra chết giữa tiếng

Ngày đăng: 21/10/2021, 23:25

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w