Trong công trình này tác giả không những đề cập khá kỹ về quá trình xâm nhập, xâm l-ợc của thực dân ph-ơng Tây ở Đông Nam á mà còn đề cập nhiều đến phong trào đấu tranh chống l-ợc của nh
Trang 1Tr-ờng đại học vinh Khoa lịch sử
- -
Xu h-ớng canh tân ở một số n-ớc Đông Nam
á
khoá luận tốt nghiệp đại học
chuyên ngành lịch sử thế giới
Giáo viên h-ớng dẫn : ThS.GVC Bùi Văn Hào
Sinh viên thực hiện : Tr-ơng Văn D-ơng
Lớp: 46B - lịch sử
Vinh, 5/2009
Trang 2đầu từ đầu thế kỷ XVI, mở đầu bằng sự kiện Bồ Đào Nha nổ súng xâm l-ợc Malắcca (1511) và cơ bản hoàn thành vào cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX
Đứng tr-ớc hoạ xâm lăng của thực dân ph-ơng Tây, các quốc gia Đông Nam
á đã bằng nhiều con đ-ờng khác nhau đứng lên cứu n-ớc, bảo vệ nền độc lập dân tộc Trong phong trào chống xâm l-ợc cuối thế kỷ XIX, ở Đông Nam á
đã xuất hiện hai xu h-ớng Bên cạnh các cuộc bạo động chống xâm l-ợc của
Đíppônêgôrô, phong trào kháng chiến của nhân dân Achê (ở Inđônexia); các cuộc khởi nghĩa của Tr-ơng Định, Nguyễn Trung Trực hay xu h-ớng cứu n-ớc theo con đ-ờng bạo động của Phan Bội Châu, v.v… (ở Việt Nam); cuộc cách mạng Philíppin (1896 – 1898); hay phong trào kháng chiến của nhân dân Lào và Cămpuchia thì phong trào cứu n-ớc, bảo vệ độc lập dân tộc theo xu h-ớng cải l-ơng cũng diễn ra mạnh mẽ, rộng khắp ở hầu hết các n-ớc Đông Nam á Trong phong trào theo cứu n-ớc theo xu h-ớng cải l-ơng, ở Đông Nam á cũng xuất hiện nhiều xu h-ớng khác nhau, một trong những xu h-ớng phát triển khá mạnh mẽ lúc bấy giờ là chủ tr-ơng tiếp thu văn minh ph-ơng Tây để làm cho “quốc phú, binh cường”, có đủ khả năng “chống lại súng đạn
và đại bác của phương Tây” Đi theo xu hướng này, không thể không kể đến
Trang 32
các cuộc cải cách của các vua Xiêm trong nửa cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX; chủ tr-ơng canh tân đất n-ớc của Nguyễn Tr-ờng Tộ, Nguyễn Lộ Trạch,
Đặng Huy Trứ, Phạm Phú Thứ, Bùi Viện, v.v… ở Việt Nam nửa cuối thế kỷ
XI X; hoạt động của Hoxê Ridan và Liên minh Philíppin; hay chủ nghĩa cải l-ơng ở Inđônêxia, Mianma Không phải tất cả các n-ớc chủ tr-ơng canh tân đều thực hiện đ-ợc, nh-ng ít nhiều nó cũng đã để lại những dấu ấn trong lịch sử của mỗi quốc gia trong quá trình lựa chọn con đ-ờng bảo vệ
độc lập chủ quyền đất n-ớc
Từ tr-ớc đến nay, việc đánh giá xu h-ớng cứu n-ớc theo con đ-ờng canh tân đất n-ớc cũng có nhiều quan điểm khác nhau Có quan điểm cho rằng đó là “con đường phi thực tế”, nhưng cũng có nhiều quan điểm cho rằng đó là tư tưởng “đi trước thời đại, vượt trước hoàn cảnh” Cho nên, đi sâu tìm hiểu xu h-ớng canh tân ở các n-ớc Đông Nam á cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX sẽ giúp chúng ta có cái nhìn tổng thể hơn, có cách đánh giá chính xác hơn về những -u điểm cũng nh- những hạn chế của nó Nhất là trong giai
đoạn hiện nay, khi hội nhập quốc tế và khu vực đang trở thành xu thế tất yếu của mọi quốc gia, khi Việt Nam đang thực hiện đ-ờng lối mở cửa để phát triển kinh tế – xã hội, việc tìm hiểu hoàn cảnh lịch sử, nội dung t- t-ởng cũng nh- nguyên nhân thành công ở n-ớc này, thất bại ở n-ớc khác khi đi theo xu h-ớng canh tân đất n-ớc trong giai đoạn cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX sẽ cho phép chúng ta rút ra những bài học bổ ích Chính vì vậy, chúng tôi chọn:
“Xu hướng canh tân ở một số nước Đông Nam á (từ nửa cuối thế kỷ XIX
đến đầu thế kỷ XX)” làm đề tài Khoá luận
2 Lịch sử vấn đề
Liên quan đến nội dung đề tài, đã có nhiều công trình nghiên cứu của các tác giả trong và ngoài n-ớc đề cập đến Tuy nhiên, do còn hạn chế về ngoại ngữ, chúng tôi ch-a có điều kiện tiếp xúc với tất cả các tài liệu n-ớc ngoài liên quan đến đề tài Thông qua các công trình của các tác giả trong n-ớc và các
Trang 43
công trình đã đ-ợc dịch thuật, chúng tôi đã cố gắng tập hợp t- liệu để giải quyết những vấn đề đề tài đặt ra
“Lịch sử các quốc gia Đông Nam á” của D.G.E Hall là một trong
những công trình nghiên cứu đề cập khá toàn diện lịch sử các quốc gia Đông Nam á trong thời kỳ cận đại Trong công trình này tác giả không những đề cập khá kỹ về quá trình xâm nhập, xâm l-ợc của thực dân ph-ơng Tây ở Đông Nam á mà còn đề cập nhiều đến phong trào đấu tranh chống l-ợc của nhân dân các n-ớc Đông Nam á cũng nh- sự biến đổi tình hình kinh tế xã hội của
Đông Nam á tr-ớc sự tác động của chủ nghĩa thực dân Xu h-ớng cách tân
đất n-ớc ở Đông Nam á cũng đã đ-ợc tác giả đề cập đến, nh-ng chủ yếu là ở Xiêm
“Lịch sử Đông Nam á” của Lơng Linh (chủ biên) Đỗ Thanh Bình
-Trần Thị Vinh là công trình nghiên cứu lịch sử Đông Nam á xuyên suốt từ thời xuất hiện nhà n-ớc cho đến thời kỳ hiện đại Trong công trình này, các tác giả cũng đã đề cập đến các xu h-ớng tiêu biểu trong phong trào đấu tranh chống xâm l-ợc, giải phóng dân tộc của nhân dân các n-ớc Đông Nam á trong giai đoạn cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX
Bài viết: “Con đ-ờng cứu n-ớc trong đấu tranh giải phóng dân tộc ở một
số n-ớc châu á” trong “Cuộc đấu tranh chống chính sách chia để trị của thực dân ở Đông D-ơng, Mã Lai, Mianma” của tác giả Đỗ Thanh Bình đã xác định
các con đ-ờng cứu n-ớc, giải phóng dân tộc khác nhau ở một số n-ớc châu á Trong đó, tác giả đánh giá cao xu h-ớng canh tân đất n-ớc ở các n-ớc, nhất là cải cách của các vua Xiêm
“T- t-ởng cách tân đất n-ớc d-ới triều Nguyễn” của các tác giả Đỗ
Bang- Trần Bạch Đằng - Đinh Xuân Lâm - Hoàng Văn Lân - L-u Anh Rô - Nguyễn Quang Trung Tiến - Nguyễn Trọng Văn là công trình đề cập và phân tích khá chi tiết hoàn cảnh lịch sử, nội dung t- t-ởng cũng nh- nguyên nhân t- t-ởng canh tân ở Việt Nam không thực hiện đ-ợc
Trang 54
Ngoài ra, liên quan đến nội dung đề tài còn có một số công trình nghiên
cứu khác đề cập đến như: “L-ợc sử Đông Nam á” của Phan Ngọc Liên (chủ biên); “Lịch sử V-ơng quốc Thái Lan” của Vũ D-ơng Ninh; “Lịch sử
Mianma” của Vũ Quang Thiện, v.v… ; và một số bài viết đăng trên các Tạp
chí: Nghiên cứu Đông Nam á; Nghiên cứu Lịch sử
Từ tình hình nghiên cứu trên, chúng tôi cố gắng s-u tầm, tập hợp t- liệu
để giải quyết các vấn đề đề tài đặt ra
3 Giới hạn đề tài
- Về thời gian : Đề tài chủ yếu tập trung tìm hiểu xu h-ớng canh tân đất n-ớc
ở Đông Nam á từ nửa cuối thế kỷ XIX đến những năm đầu thế kỷ XX
- Về mặt nội dung: Đề tài chủ yếu đi sâu tìm hiểu xu h-ớng canh tân ở một số
quốc gia tiêu biểu nh- Xiêm và Việt Nam Vì ch-a có điều kiện tìm hiểu cụ thể, nên xu h-ớng canh tân ở các n-ớc khác nh- Philíppin, Inđônêxia hay Mianma chúng tôi chỉ đề cập một cách khái quát
Ch-ơng 2: Xu h-ớng canh tân ở một số n-ớc Đông Nam á (từ nửa
cuối thế kỷ XIX đến đầu thế kỷ XX)
Trang 65
Ch-ơng 1 Khái quát quá trình xâm l-ợc, cai trị và bóc lột của thực dân ph-ơng Tây ở Đông Nam á
1.1 Tình hình Đông Nam á tr-ớc khi bị thực dân ph-ơng Tây xâm l-ợc
Từ rất sớm, c- dân Đông Nam á đã xây dựng cho mình một nền văn minh mang bản sắc riêng Cũng nh- các nền văn minh ph-ơng Đông khác, cơ tầng của văn minh Đông Nam á chính là nền kinh tế nông nghiệp trồng lúa n-ớc Tuy nhiên, văn minh Đông Nam á là: “Một nền văn minh có đủ sắc thái đồng bằng, biển, nửa đồi núi, nửa rừng với đủ các dạng kết cấu đan xen phức tạp nh-ng mẫu số chung là nền văn minh nông nghiệp lúa n-ớc, văn hoá xóm làng” [ 12;23]
Xem xét tiến trình phát triển lịch sử cho chúng ta thấy các v-ơng quốc
cổ Đông Nam á ra đời từ sớm, khoảng đầu công nguyên đến thế kỷ X và phát triển thịnh đạt từ thế kỷ X đến thế kỷ XV, sau đó dần suy thoái và tr-ợt dài trên con đ-ờng khủng hoảng suy vong Mặc dầu quá trình suy thoái diễn ra không đồng nhất về mặt thời gian nh- Cămpuchia bắt đầu từ thế kỷ XIII, Chămpa từ thế kỷ XV, Đại Việt, Miến Điện bắt đầu từ thế kỷ XVI trong khi đó v-ơng quốc Xiêm, Lan Xang lại đang ở thời kỳ h-ng thịnh, nh-ng nhìn chung đến giữa thế kỷ XIX hầu hết các quốc gia Đông Nam á khủng hoảng trên nhiều ph-ơng diện
Về tình hình kinh tế: Tr-ớc khi bị thực dân ph-ơng Tây xâm l-ợc cơ
bản các quốc gia Đông Nam á vẫn duy trì nền kinh tế nông nghiệp mang tính tự nhiên, tự cấp, tự túc Hầu nh- c- dân Đông Nam á với khoảng 90% c- dân lao động sản xuất nông nghiệp Với công cụ sản xuất thô sơ lạc hậu dùng cuốc và dùng cày có sử dụng sức kéo động vật canh tác với hai hình thức phổ biến “du canh và định canh” trên các miền địa hình khác nhau của khu vực Hình thức định canh định c- xuất hiện từ sớm đối với các dân sinh
Trang 76
sống ổ các miền châu thổ các con sông lớn, trong đó lấy kinh tế nông nghiệp lúa n-ớc làm chủ đạo với hai hoạt động cơ bản là trị thuỷ và thuỷ lợi Đối với những c- dân lấy đồi núi trung du làm địa bàn c- trú sinh sống thì hình thức du canh du c- gắn liền với kinh tế n-ơng rẫy và săn bắn Nhìn chung c- dân Đông Nam á có đời sống kinh tế thấp kém, sinh sống trên các miền địa hình đa dạng từ lâu đời nh-ng cho đến tr-ớc khi thực dân ph-ơng Tây xâm l-ợc so với các trung tâm văn minh khác thì Đông Nam á vẫn còn nằm trong tình trạng thấp kém của nền kinh tế nông nghiệp á
Đông
Về chế độ ruộng đất, phổ biến ở ph-ơng Đông nói chung và Đông Nam á nói riêng vẫn là chế độ sở hữu tối cao rộng đất của vua chúa phong kiến về danh nghĩa bởi sự ngự trị lâu dài của chế độ “quân chủ chuyên chế” Ruộng đất trong xã hội về danh nghĩa thuộc về nhà vua, song trên thực tế đ-ợc chia làm hai bộ phận: ruộng đất công và ruộng đất t- Một bộ phận ruộng đất đ-ợc phong th-ởng ban cấp cho các v-ơng hầu, quý tộc, quan lại địa chủ phong kiến để khai thác, sử dụng và bóc lột nông dân chủ yếu bằng hình thức phát canh thu tô Một bộ phận ruộng đất công làng xã còn lại vẫn chiếm tỉ lệ đáng kể trong cơ cấu ruộng đất đ-ợc chia cho các gia đình canh tác và nộp thuế cho Nhà n-ớc hoặc ở d-ới dạng quản lý của làng xã công xã nông thôn Trong xã hội tình trạng bao chiếm,kiêm tímh
“chiếm công vi tư” về ruộng đất diễn ra phổ biến theo xu h-ớng thắng thế dần của ruộng đất sở hữu t- nhân của địa chủ phong kiến so với ruộng công làng xã Nh- vậy chế độ ruộng đất ở Đông Nam á ở giai đoạn này chứng tỏ vẫn còn duy trì, tồn tại nền kinh tế tiểu nông với hình thức bóc lột siêu kinh
tế, có sự chi phối sâu sắc của nhà n-ớc chuyên chế
ở ph-ơng Đông nói chung và Đông Nam á nói riêng suốt cả thời kỳ dài trung đại có sự ngự trị của công xã nông thôn d-ới dạng làng, buôn, sóc, bản, m-ờng với tính chất đóng kín bảo thủ của nền kinh tế tự túc tự cấp, trong đó có sự kết hợp chặt chẽ giữa kinh tế nông nghiệp và thủ công
Trang 87
nghiệp truyền thống và hầu nh- biệt lập với thế giới bên ngoài Sự tồn tại lâu dài dai dẳng của nó đã cản trở rất lớn quá trình giao l-u trao đổi hàng hoá giữa các vùng miền và các quốc gia trong khu vực cũng nh- bên ngoài Mặc dù bên cạnh đó một số khu vực, vùng miền thuận lợi mầm mống kinh
tế hàng hoá sản xuất theo h-ớng t- bản chủ nghĩa đã xuất hiện, đó là vùng
đồng bằng ven biển, hải cảng lớn tập trung đông dân c- và hoạt động trao
đổi hàng hoá với ng-ời Trung Quốc, ấn Độ, sau đó là với ph-ơng Tây diễn
ra mạnh mẽ Nh-ng kinh tế hàng hoá ở Đông Nam á không có điều kiện để phát triển mạnh do sự tồn tại của quan hệ sản xuất phong kiến, chính sách
“bế quan toả cảng” và của nền kinh tế tự cấp, tự túc chi phối Nh- thế, sự tồn tại của nền kinh tế phong kiến khép kín kết hợp với chính sách bảo thủ của giai cấp thống trị đã kìm hãm sự phát triển của kinh tế hàng hoá, điều
đó làm cho tình hình kinh tế phong kiến vốn trì trệ lại càng khủng hoảng trầm trọng hơn
Về chính trị -xã hội: Tr-ớc khi ng-ời ph-ơng Tây xâm l-ợc thống trị
lên Đông Nam á thì các quốc gia khu vực này vẫn duy trì tồn tại chế độ quân chủ chuyên chế trung -ơng tập quyền, song ở vào giai đoạn khủng hoảng trầm trọng Các cuộc khởi nghĩa của nông dân diễn ra liên tiếp khắp nơi chống địa chủ phong kiến giành ruộng đất Mâu thuẫn cơ bản trong xã hội giữa địa chủ phong kiến với nông dân vốn đ-ợc xác lập từ tr-ớc nay càng trở nên sâu sắc hơn và không thể điều hoà Ngay trong nội bộ giai cấp phong kiến thống trị cũng diễn ra sự phân biệt gay gắt, tình trạng tranh giành quyền lực, phân tranh cát cứ giữa các tập đoàn phong kiến ở trung -ơng, địa ph-ơng diễn ra phổ biến, tính chuyên chế của nhà n-ớc trung -ơng ngày càng suy giảm
Kết cục của diễn biến xã hội nói trên càng làm cho Đông Nam á vốn suy thoái kinh tế lại khủng hoảng rối ren chính trị xã hội, đồng thời lãnh thổ quốc gia dân tộc bị phân tán đã làm giảm đi sức đề kháng của dân tộc tr-ớc nguy cơ xâm l-ợc từ bên ngoài
Trang 98
Về văn hoá: Các quốc gia Đông Nam á là vùng chịu ảnh h-ởng sâu
sắc của văn hoá ấn Độ và Trung Hoa, có một số người còn gọi là vùng “ấn
Độ hoá” hay vùng “Hoa hoá” Văn minh ấn Độ, Trung Hoa du nhập vào
Đông Nam á từ sớm trên nhiều ph-ơng diện của đời sống xã hội đặc biệt là t- t-ởng tôn giáo.Văn minh bên ngoài vào kết hợp với nền văn hoá bản địa
đang “tắm mình trong nền văn hoá dân gian” đã hình thành nên bản sắc văn hoá Đông Nam á thống nhất trong đa dạng và độc đáo mang đậm yếu tố tôn giáo ở các quốc gia Mianma, Xiêm, Lào, Cămpuchia chịu sự chi phối của dòng Phật giáo Tiểu Thừa có nguồn gốc từ ấn Độ và đạo Phật ở các n-ớc này tựa nh- quốc giáo Trên bán đảo Mãlai và quần đảo Inđônêxia lại chịu ảnh h-ởng sâu sắc của Hồi giáo từ Trung á qua qua ấn Độ tràn xuống Riêng Việt Nam vừa chịu ảnh h-ởng của Phật giáo Đại Thừa, lại vừa chịu tác động sâu sắc của các tr-ờng phái t- t-ởng Trung Hoa trong đó tiêu biểu nhất là Nho giáo Khổng - Mạnh Nh- vậy văn hoá Đông Nam á về cơ bản vẫn mang xu h-ớng đóng kín h-ớng nội thủ cựu và ch-a hề v-ợt ra khỏi phạm trù của văn hoá phong kiến Điều này nó không cho phép sự du nhập, nảy nở của các trào l-u t- t-ởng tiến bộ từ bên ngoài vào làm biến đổi xã hội theo h-ớng phát triển
Tóm lại, cho đến tr-ớc khi thực dân ph-ơng Tây xâm l-ợc, thống trị thì
Đông Nam á đang ở thời kỳ khủng hoảng suy tàn Nền kinh tế lạc hậu trì trệ của quan hệ sản xuất phong kiến kết hợp với chính sách đối ngoại bảo thủ và những mâu thuẫn xã hội nổi lên gay gắt đã làm cho nhà n-ớc chuyên chế không thể duy trì đ-ợc trật tự nh- cũ tr-ớc sự phát triển đi lên của nhân loại Bên cạnh đó nền văn hoá phong kiến thủ cựu đã kìm hãm sự giao l-u, nảy nở những t- t-ởng tiến bộ trong lòng xã hội càng làm cho bức tranh kinh tế - chính trị - văn hoá xã hội Đông Nam á đến giữa thế kỷ XIX trở nên ảm đạm Trong bối cảnh đó đến thời kỳ này các n-ớc Âu Mỹ đã hoàn thành xong cách mạng t- sản, nhu cầu trong n-ớc không thể đáp ứng đ-ợc
Trang 109
sự đòi hỏi của nền sản xuất t- bản chủ nghĩa buộc họ phải đi tìm, mở rộng chinh phục ra những vùng đất mới ở châu á, Phi, Mỹ Latinh Chính vì lẽ
đó quá trình xâm nhập, xâm l-ợc của thực dân ph-ơng Tây vào Đông Nam
á cũng là tất yếu của lịch sử
1.2 Khái quát quá trình xâm nhập, xâm l-ợc của thực dân ph-ơng Tây ở Đông Nam á
Ng-ời ph-ơng Tây đầu tiên có mặt ở Đông Nam á là ai? Xuất hiện thời gian nào? - Đó là những câu hỏi ch-a có lời giải đáp chính xác Hiện nay, theo một số tài liệu còn l-u giữ đ-ợc thì các nhà nghiên cứu đã xác
định, ng-ời châu Âu đầu tiên có mặt ở Đông Nam á là Macôpôlô Vào năm
1275, khi còn làm quan cho nhà Nguyên, ông đã có chuyến đi qua các n-ớc của Đông Nam á lục địa nh- Miến Điện, Lào, Đại Việt, Chămpa Tiếp với mục đích truyền đạo Cơ Đốc vào Đông Nam á, có một linh mục thuộc dòng Phrancis tên là Giônmôtê Corvinô có mặt tại Bắc Kinh ( Trung Quốc), sau đó đặt chân lên hòn đảo Inđônêxia vào năm 1294 Đây là sự kiện mở đằu cho quá trình truyền bá Cơ Đốc giáo vào Đông Nam á Sau đó ng-ời ta còn biết đến một ng-ời châu Âu khác là Phrancirs Ôdôric, từ 1316
- 1336 ông đã đến Đông Nam á và thông tin này đ-ợc khẳng định trong cuốn sách “Mô tả về phương Đông ” do chính ông viết Tiếp đến, vào năm
1330 có hai linh mục châu Âu khác tên là Gordarnus và Gômmari Goldi
đặt chân lên Đông Nam á , họ là tác giả của tác phẩm “ Những kỳ quan ph-ơng Đông ” trong đó có nhắc tới một số địa danh ở Đông Nam á
Theo sau quá trình truyền giáo vào Đông Nam á, các th-ơng nhân châu Âu lần l-ợt v-ợt biển sang khu vực này vào các thế kỷ XIV, XV, XVI
Để trao đổi buôn bán và đi đầu là ng-ời Bồ Đào Nha, Tây Ban Nha
Đến đầu thế kỷ XVI, vào năm 1511 th-ơng nhân Bồ Đào Nha đã lập th-ơng điếm đầu tiên ở Đông Nam á trên đảo Malắcca và từ đây ng-ời
Trang 1110
châu Âu không ngừng mở rộng ảnh h-ởng ra các vùng khác cả về th-ơng mại lẫn vũ lực xâm l-ợc
Đến cuối thế kỷ XVI trung tâm kinh tế châu Âu chuyển dần từ biển
Địa Trung Hải lên ven bờ Bắc Hải nên Bồ Đào Nha, Tây Ban Nha dần suy yếu, trong khi -u thế thuộc về những tên thực dân nh- Hà Lan, Anh, do các n-ớc này sớm hoàn thành cách mạng t- sản trong n-ớc nên kinh tế t- bản phát triển rất mạnh Hai nước này đã thành lập “Công ty Đông ấn” của mình để cạnh tranh với ng-ời Bồ Đào Nha và cạnh tranh quyết liệt với nhau ở Đông Nam á Với thế mạnh của mình ng-ời Hà Lan đã đánh bật Bồ
Đào Nha ra khỏi Malắcca và xâm l-ợc Inđônêxia Sau đó Anh nổi lên chiếm Malắcca của Hà Lan và tiến hành chinh phục các tiểu quốc của bán
đảo Mãlai, rồi biến Mianma thành thuộc địa của mình Tiếp sau Anh là thực dân Pháp tiến vào xâm l-ợc Việt Nam, Lào, Cămpuchia và cạnh tranh với Anh Đến đầu thế kỷ XIX, Mỹ nhảy vào gạt bỏ ảnh h-ởng của Tây Ban Nha
ở Philíppin và thôn tính n-ớc này
Nh- vậy, đến đầu thế kỷ XX lần l-ợt các quốc gia Đông Nam á đều nằm d-ới ách thống trị của thực dân ph-ơng Tây Dọn đ-ờng cho quá trình thôn tính Đông Nam á của ng-ời ph-ơng Tây, đầu tiên bằng con đ-ờng truyền giáo, sau đó là lái buôn và đại bác tàu chiến Thực dân đã sử dụng mọi thủ đoạn kể cả những biện pháp hèn hạ nhất để xâm l-ợc vùng đất này
và cạnh tranh quyết liệt với nhau biến các quốc gia trong khu vực này thành thuộc địa độc chiếm của chúng
Về quá trình xâm l-ợc của thực dân ph-ơng Tây ở các n-ớc Đông Nam
á, có thể tóm l-ợc một số nét chính sau:
- Quá trình xâm l-ợc bán đảo Mãlai : Đến đầu thế kỷ XVI Malắcca trở
thành một trung tâm quan trọng tên bán đảo Mãlai Chính điều này đã thu hút nhiều n-ớc thực dân ph-ơng Tây đến khu vực này tranh giành ảnh h-ởng Năm 1511, Bồ Đào Nha đã dùng 19 chiến thuyền, 1400 lính tiến công đánh chiếm vùng này Nhân dân Mãlai d-ới sự lãnh đạo của thủ lĩnh
Trang 1211
Mamua đã kháng cự quyết liệt, song do chênh lệch về lực l-ợng, vũ khí, chiến thuật nên Bồ Đào Nha chiếm Malắcca và biến nơi này thành căn cứ quan trọng của họ để mở rộng ảnh h-ởng ra vùng lân cận Đây cũng là sự kiện làm mốc mở đầu cho quá trình xâm l-ợc của thực dân ph-ơng Tây vào
Đông Nam á
Từ nửa cuối thế kỷ XVI, Trung tâm kinh tế Tây Âu chuyển từ biển Địa Trung Hải lên bờ Bắc Hải nên Bồ Đào Nha suy yếu dần trong khi đó Hà Lan, Anh mạnh lên do đó đã diễn ra cuộc tranh chấp thuộc địa quyết liệt giữa Hà Lan và Bồ Đào Nha ở nhiều nơi trong đó có Đông Nam á Do có -u thế nên đến cuối thế kỷ XVI đầu thế kỷ XVII Hà Lan đã giành đ-ợc ảnh h-ởng ở Malắcca và cũng từ đây không ngừng mở rộng xâm l-ợc ra các vùng xung quanh
Cũng trong khoảng thời gian này thực dân Anh mạnh lên và tìm ảnh h-ởng của mình ở Đông Nam á Do Hà Lan còn rất mạnh nên Anh ch-a thể cạnh tranh đ-ợc với Hà lan do đó họ đã chiếm một khu vực khác đó là Kêđắc trên bán đảo Mãlai và từ đây không ngừng tìm mọi cách mở rộng
ảnh h-ởng của mình ở Đông Nam á Đến sau khi cách mạng t- sản thắng lợi, kinh tế t- bản chủ nghĩa Anh phát triển cực mạnh nên từ đây họ giành
đ-ợc -u thế trong các cuộc tranh chấp với các n-ớc thực dân khác Năm
1795, Anh đã gạt bỏ ảnh h-ởng của Hà Lan ở Malắcca Đến năm 1815 tại hội nghị Viên (áo), Anh thoả thuận trả lại Malắcca cho Hà Lan nh-ng họ lại lập tức chiếm Xinggapo Với mọi thủ đoạn Anh đã chiếm đ-ợc vùng này vào năm 1824 Tiếp đó vào thủ đoạn mua chuộc, dụ dỗ cộng vũ lực ng-ời Anh đã chinh phục đ-ợc các tiểu quốc khác ở Mãlai nh- Sêlangô, Pêlay, Ugiông , Pôlít, Kêlantan cho đến 1909 thực dân Anh hoàn thành việc xâm l-ợc bán đảo Mãlai
- Quá trình xâm l-ợc Philípin: Ngày 16/3/152 đoàn thám hiểm ng-ời
Tây Ban Nha đầu tiên đặt chân lên philíppin Đến tháng 2/1521, chính quyền Tây Ban Nha phái một đạo quân gồm 5 tàu chiến cùng 370 binh lính
Trang 1312
từ Mêhicô v-ợt biển Thái Bình D-ơng đến xâm l-ợc quần đảo này, nh-ng
bị c- dân bản địa kháng cự quyết liệt nên âm m-u xâm l-ợc Philíppin của Tây Ban Nha lần đầu thất bại Cũng chính lần tiến quân này ng-ời Tây Ban Nha lấy tên của thái tử Philíp - con trai vua Tây Ban Nha để đạt tên cho quần đảo này
Đến năm 1564, Tây Ban Nha lại phái một đội quân đông họ đ-ợc tổ chức chặt chẽ trang bị vũ khí thiện chiến tấn công vào Philippin lần thứ hai
- Quá trình xâm l-ợc Inđônêxia: Bồ Đào Nha là n-ớc có mặt đầu tiên ở
Inđônêxia Năm 1511, sau khi chiếm đ-ợc MaLắcca ng-ời bồ đã sang xâm l-ợc đảo Anbon Đến năm 1592 họ lại tiếp tục chiếm pháo đài Tecnát - một
vị trí chiến l-ợc quan trọng ở khu vực này, đồng thời cũng từ đó th-ơng nhân Bồ Đào Nha không ngừng mở rộng buôn bán và độc quyền làm chủ khu vực này Tây Ban Nha và Bồ Đào Nha là hai tên đi đầu vào xâm l-ợc những vị trí quan trọng ở Inđônêxia cũng nh- Đông Nam á nên đã diễn ra cuộc tranh chấp gay gắt giữa hai n-ớc này Để giải quyết mâu thuẫn hai bên Tây-Bồ đi đến thoả thuận: Bồ Đào Nha bồi th-ờng cho Tây Ban Nha một số tiền và vàng, đổi lại Tây Ban Nha giao toàn bộ quyền ảnh h-ởng cho ng-ời
Bồ ở khu vực này
Tiếp sau Bồ Đào Nha là thực dân Hà Lan nhảy vào tranh giành ảnh h-ởng ở Inđônêxia Sau khi công ty Đông ấn Hà Lan ra đời, chính phủ n-ớc này đã lập nhiều công ty khác, trong đó có công ty viễn ph-ơng Giava cùng làm ăn buôn bán ở Inđônêxia Tuy nhiên đến năm 1602, công ty
Đông ấn Hà Lan mới chính thức ra đời (viết tắt V.O.C) và nắm vai trò chủ
đạo trong việc buôn bán, xâm l-ợc quần đảo Inđônêxia Biểu hiện đầu tiên
Trang 1413
là công ty này gạt bỏ ảnh h-ởng của Bồ ở Anbon, sau đó họ sử dụng nhiều biện pháp kể cả những thủ đoạn bỉ ổi nhất để chiếm Giacacta, đồng thời đổi tên trung tâm thành thị này thành Batavia vào năm 1619
Sau khi chiếm đ-ợc Giacacta, Hà Lan h-ớng mục tiêu sang xâm l-ợc tiểu quốc Bantan và Mataram Trong thời kỳ này ở Mataram diễn ra một cuộc khởi nghĩa do GiôGiô lãnh đạo và ng-ời Hà Lan muốn lợi dụng cuộc khởi nghĩa này song kế hoạch bất thành nên họ quay sang ủng hộ chính quyền phong kiến đàn áp khởi nghĩa Không lợi dụng đ-ợc khởi nghĩa Hà Lan lại tìm cách khoét sâu mâu thuẫn giữa Bantan và Mataram, từng b-ớc làm cho cả hai tiểu quốc này khủng hoảng, suy yếu cuối cùng phải thần phục Hà Lan Tiếp đó thực dân Hà Lan tiến hành chinh phục các đảo khác
và về cơ bản đã hoàn thành xâm l-ợc quần đảo Inđônêxia vào cuối thế kỷ XIX
Cùng với quá trình chinh phục của Hà Lan, từ 1814-1815 thực dân Anh cũng đ-a quân sang chiếm đ-ợc một số đảo ở Inđônêxia và từng b-ớc mở rộng ảnh h-ởng trên quần đảo này
- Quá trình độc chiếm Mianma của thực dân Anh: Theo tài liệu của
các nhà nghiên cứu thì Mianma là n-ớc có quan hệ làm ăn buôn bán với ph-ơng Tây sớm nhất ở Đông Nam á Từ thế kỷ XV, các th-ơng nhân ng-ời ý, Nga đã xuất hiện ở đây, sang thế kỷ XVI có thêm th-ơng nhân Anh đến đây buôn bán, nh-ng n-ớc đi đầu xâm l-ợc Mianma là thực dân
Bồ Đào Nha
Năm 1553, ng-ời Bồ sử dụng đội quân đánh thuê để chinh phục vùng
đồng bằng ven biển của ng-ời Miến Tuy nhiên trong quá trình chinh phục Miến Điện lại chủ yếu diễn ra tranh chấp giữa thực dân Anh với Pháp Với ng-ời Anh, Miến Điện ở vị trí chiến l-ợc hết sức quan trọng Nếu chinh phục đ-ợc hạ Miến thì làm chủ đ-ợc vịnh Bengan, còn chinh phục đ-ợc Th-ợng Miến sẽ làm chủ đ-ợc kho báu nổi và quan trọng hơn là độc chiếm
đ-ợc con đ-ờng vào Tây Nam Trung Quốc Với tính toán trên ng-ời Anh đã
Trang 1514
huy động lực l-ợng lớn để xâm l-ợc quốc gia này song gặp rất nhiều khó khăn họ đã phải tiến hành 3 cuộc chiến tranh 61 năm mới chinh phục đ-ợc vùng đất này
Cuộc chiến tranh lần thứ nhất (từ năm 1824 đến năm 1826): Nguyên nhân trực tiếp là do xẩy ra sự sung đột giữa lính biên phòng Anh ở ấn Độ với lính Mianma Lấy lý do này, tháng 3/1824 Anh tuyên chiến với Mianma bằng một cuộc tấn công quân sự quy mô lớn ở vùng Hạ Miến và nhanh chóng làm chủ đ-ợc vùng này Quân đội Mianma mặc dù chiến đấu dũng cảm song do chênh lệch lực l-ợng, vũ khí trang bị, đặc biệt sau khi vị t-ớng tài ng-ời Miến là Bunđala tử trận thì -u thế thắng lợi thuộc về Anh Đến năm 1826, Mianma buộc chấp nhận ký hiệp -ớc Iandabô với Anh với điều khoản sau: Mianma cắt cho Anh 2 tỉnh giàu có là Aracan và Tênát xêrim;
đồng thời vua Miến phải bồi th-ờng cho Anh 1 triệu bảng chiến phí Nh- thế với cuộc chiến này mặc dù Anh dành thắng lợi song họ cũng phải trả giá rất đắt với 15 000 quuân lính bỏ mạng và một khối l-ợng vật chất khổng lồ cho cuộc chiến
Cuộc chiến tranh lần thứ hai (từ 1852 đến năm 1853): Nguyên cớ của cuộc chiến tranh này do thống đốc tỉnh Pêgu ng-ời Miến đã phạt hai thuyền tr-ởng của tàu Anh 1000 Rupi về tội xâm phạm lãnh thổ Viện vào cớ đó thực dân Anh đòi vua Miến phải bồi th-ờng 1 triệu Rupi cho Anh và phải cách chức vị tỉnh tr-ởng tỉnh Pêgu Tuy nhiên những yêu cầu ngang ng-ợc của Anh đã bị vua Miến cự tuyệt, ngay lập tức ngày 3-4-1852 thực dân Anh phát động chiến tranh mở rộng xâm l-ợc Miến Điện lần hai Quân đội Miến
đã chiến đấu rất anh dũng song do lực l-ợng của thực dân Anh quá hùng hậu nên họ đã nhanh chóng chiếm đ-ợc Rănggun, Mataban và các vùng còn lại ở Hạ Miến Đến năm 1862, toàn bộ những vùng Anh chiếm đ-ợc ở Hạ Miến trở thành xứ “Miến Điện thuộc Anh”
Cuộc chiến tranh lần thứ ba diễn ra năm1885 Sau khi làm chủ Hạ Miến thực dân Anh lại chuyển mục tiêu lên Th-ợng Miến Đến năm 1867, Anh ép vua Miến ký hiệp -ớc bất bình đẳng, trong đó cho phép ng-ời Anh
Trang 1615
tự do buôn bán ở khu vực Th-ợng Miến Do vùng Th-ợng Miến có vị trí chiến l-ợc quan trọng, giàu tài nguyên nên ở đây diễn ra cuộc tranh chấp quyết liệt giữa các n-ớc t- bản nh- Pháp, Đức, ý, Mỹ Tuy nhiên lo sợ nhất là sự lộng hành của Anh nên vua Miến chủ tr-ơng dựa vào Pháp để
được “che chở” Năm 1885, một hiệp -ớc giữa Mianma với Pháp đ-ợc thoả thuận, trong đó ghi rõ: Vua Miến nh-ờng cho Pháp nhiều -u đãi về trao đổi buôn bán ở khu vực này; đổi lại thực dân Pháp công nhận Mianma là n-ớc trung lập nằm d-ới sự bảo hộ của Pháp
Chính giữa Mianma với Pháp đã làm thực dân Anh lo sợ mất vùng đất béo bở ở Th-ợng Miến nên họ đã tổ chức hành động tr-ớc Duyên cớ của cuộc chiến lần này là vụ triều đình Miến phạt công ty Bom Bay của Anh 146.666 bảng do khai thác số l-ợng gỗ tếch quá quy định và không trả l-ơng cho công nhân ng-ời Miến Vào ngày 30-10-1885, sứ thần Anh chuyển tối hậu th- yêu cầu vua Miến xem xét lại vụ gỗ tếch song bị kh-ớc
từ, lấy cớ đó ngày 14-11-1885 Anh huy động lực l-ợng hùng hậu tấn công lên Th-ợng Miến Do lực l-ợng chênh lệch nên vua Miến nhanh chóng đầu hàng và bị bắt đày sang Cancutta (ấn Độ) Ngày 1-1-1886, Phó v-ơng Anh
ở ấn Độ tuyên bố sát nhập Mianma vào ấn Độ và từ đây n-ớc này thành một tỉnh của ấn Độ thuộc anh
Nh- thế, trải qua 61 năm bằng ba cuộc chiến tranh với những nguyên
cớ khác nhau nằm trong âm m-u của kẻ xâm l-ợc, thực dân Anh đã hoàn thành độc chiếm Mianma và biến n-ớc này thành thuộc địa của mình để khai thác bóc lột
- Quá trình xâm l-ợc Việt Nam, Lào, Cămpuchia của thực dân Pháp
+ Đối với Việt Nam: Để dọn đ-ờng cho quá trình thôn tính Đại Nam, ngay từ các thế kỷ XVI, XVII, XVIII các giáo sĩ ph-ơng Tây trong đó sôi nổi nhất là giáo sĩ ng-ời Pháp đã đến đây truyền đạo Ngoài việc truyền đạo
và buôn bán th-ơng mại thì giáo sĩ và lái buôn đã bí mật thăm dò tình hình
để xâm l-ợc n-ớc ta trên quy mô lớn
Trang 1716
Đến giữa thế kỷ XIX, khi triều đình nhà Nguyễn đang lâm vào khủng hoảng sâu sắc thì thực dân Pháp đã nổ súng xâm l-ợc n-ớc ta vào ngày 1-1-1859 tại bán đảo Sơn Trà- Đà Nẵng.Thất bại ở Đà Nẵng, Pháp kéo lực l-ợng vào
đánh chiếm Gia Định và sau một thời gian giành đ-ợc thắng lợi Trong khi tinh thần chống Pháp của nhân dân Nam Kỳ đang dâng cao thì triều đình phong kiến lại sợ hãi và ký điều -ớc Nhâm Tuất (5-6-1862) với Pháp Nội dung của Hiệp -ớc Nhâm Tuất là: Triều đình nhà Nguyễn phải cắt ba tỉnh miền Đông Nam Kỳ (Gia Định, Định T-ờng, Bình Hoà) cho Pháp; mở cửa biển Ba Lạt, Đà Nẵng, Quảng Yên cho th-ơng nhân Pháp tự do buôn bán; triều đình nộp tiền bồi th-ờng chiến phí 280 vạn lạng bạc Sau khi chiếm
đ-ợc ba tỉnh miền Đông, lợi dụng sự nhu nh-ợc của triều đình Huế thực dân Pháp đã lấn tới chiếm nốt ba tỉnh miền Tây Nam Kỳ Đến tháng 6-
1867, “Nam Kỳ lục tỉnh” đã rơi vào tay thực dân Pháp, từ đây chúng nhanh chóng củng cố lực l-ợng, lập bộ máy cai trị để làm bàn đạp xâm l-ợc toàn
bộ lãnh thổ n-ớc ta
Cuối năm 1873 đầu năm 1874, thực dân Pháp kéo quân ra xâm l-ợc Bắc Kỳ lần thứ nhất nh-ng bị nhân dân Bắc Kỳ kháng cự quyết liệt làm cho chúng tổn thất nặng nề, tiêu biểu là trận Cầu Giấy (4-12-1874) Trong khi thực dân Pháp thiệt hại đang lúng túng thì triều đình Huế lại nhu nh-ợc, lo
sợ nên đã ký với chúng điều -ớc Giáp Tuất (13-3-1874) Điều -ớc Giáp Tuất đã công nhận chủ quyền của Pháp ở sáu tỉnh Nam Kỳ, công nhận quyền đi lại, buôn bán, kiểm soát và điều tra tình hình của Pháp ở Việt Nam Những điều khoản này thực sự là một thắng lợi quan trọng của thực dân Pháp, tạo điều kiện cho chúng dần thâu tóm lãnh thổ n-ớc ta
Đến năm 1882, thực dân Pháp lại kéo quân ra đánh Bắc Kỳ lần 2, cũng nh- lần tr-ớc chúng vấp phải sự kháng cự mạnh mẽ của nhân dân và bị thất bại liên tiếp tại trận Cầu Giấy lần thứ hai (19-5-1883) Lại thêm một lần nữa triều đình Huế hết sức lo sợ và đã cử Nguyễn Văn T-ờng đi ký với cao
uỷ Pháp là Hác măng (Harmand) gọi là “Hiệp ước Hác măng” (25-7-1883) Với hiệp -ớc này triều đình Huế đã chính thức thừa nhận quyền bảo hộ của
Trang 1817
thực dân Pháp trên toàn bộ lãnh thổ quốc gia, mọi công việc chính trị kinh
tế, ngoại giao của Việt Nam đều do Pháp nắm giữ Tiếp đó ngày 6-6-1884 thực dân Pháp ký với triều đình hiệp -ớc Patơnốt (Pate note) khẳng định lại một lần nữa sự cai trị của ng-ời Pháp trên lãnh thổ Việt Nam
Nh- thế, với hiệp -ớc Hác măng (1883) và Patơnốt (1984) khẳng định
sự hoàn thành quá trình xâm l-ợc Việt Nam của thực dân Pháp
+ Đối với Cămpuchia: Sau một giai đoạn phát triển thịnh đạt d-ới thời
Ăngco (thế kỷ IX-XV), từ thế kỷ XVI trở đi Cămpuchia dần suy thoái ở
đây chế độ phong kiến vẫn tồn tại song tính chuyên chế không cao Trên danh nghĩa quyền lực tối cao vẫn thuộc về nhà vua song trên thực tế phân thành ba nhánh với ba V-ơng phủ (V-ơng phủ của Phó v-ơng quản lý 7 tỉnh; V-ơng phủ Thái tử quản lý 5 tỉnh; V-ơng phủ của Hoàng hậu quản lý
3 tỉnh)
Đến thế kỷ XVII, ng-ời Pháp đã bắt đầu có mặt ở v-ơng quốc này, mặc dù tr-ớc đó ng-ời Bồ Đào Nha, Tây Ban Nha, sau đó là Hà Lan đã thâm nhập vào Cămpuchia nh-ng ch-a có kết quả, song đến ng-ời Pháp thì việc truyền đạo, buôn bán dọn đ-ờng cho quá trình xâm l-ợc đã thành công Sau khi chiếm đ-ợc ba tỉnh miền Đông và tiếp tục mở rộng đánh chiếm ba tỉnh miền Tây Nam Kỳ (Việt Nam) thì thực dân Pháp đã đ-a quân ng-ợc dòng sông Mê Kông tiến vào Tudon của Cămpuchia Mặc dù Cămpuchia lúc đó đang chịu ảnh h-ởng của Xiêm và triều đình Xiêm tìm cách ngăn cản song không đ-ợc, ngày 11/8/1863 đại diện của Pháp đã gặp Nôrôđôm ký một bản hiệp -ớc bảo hộ với nội dung sau: Cămpuchia công nhận quyền bảo hộ của Pháp; hoàng đế Pháp cử một viên khâm sứ bên cạnh nhà vua Cămpuchia; mọi việc ký kết, giao tiếp ngoại giao của Cămpuchia với n-ớc khác phải đ-ợc Pháp đồng ý; ng-ời Pháp đ-ợc quyền lãnh sự tài phán, tự do c- trú, đi lại, buôn bán, truyền đạo trên đất Cămpuchia Đổi lại Pháp cam kết giúp Cămpuchia chống ngoại xâm, nội phản; công nhận Nôrôđôm là Vua, là Quốc v-ơng của Cămpuchia
Trang 19Đây cũng là sự kiện xem nh- thực dân Pháp về cơ bản đã hoàn thành việc chinh phục Cămphuchia
+ Đối với Lào: Tr-ớc khi bị thực dân Pháp xâm l-ợc thì v-ơng quốc Lang Xang bị chia thành 3 tiểu quốc: Viêng chăn, Luông pha băng, Chăm
pa Xắc Đồng thời 3 tiểu quốc này đều nằm d-ới ách thống trị của v-ơng quốc Xiêm (từ cuối thế kỷ XVIII đến đầu thế kỷ XIX)
Từ giữa thế kỷ XIX, ng-ời Pháp bắt đầu xuất hiện ở Lào với t- cách là những nhà nghiên cứu lịch sử, tự nhiên và truyền đạo Đến năm 1865, Pháp chính thức đ-a quân lên n-ớc Lào và Pavie đ-ợc cử làm Phó v-ơng lãnh sứ Năm 1886 thực dân Pháp đã phái một đạo quân từ Hà Nội lên Lai Châu qua Th-ợng Lào và tiến vào Luông pha băng
Cũng giống nh- ở Cămphuchia, Pháp đ-a quân sang Lào thì mâu thuẫn Pháp - Xiêm trở nên gay gắt và cuộc chiến tranh giữa hai bên đã cận kề Tuy nhiên, do không đ-ợc Anh ủng hộ nên cuối cùng Xiêm phải nh-ợng bộ
và ký hoà -ớc với Pháp vào ngày 31-10-1893
Theo hoà -ớc này thì hai bên lấy sông Mê Kông làm ranh giới: phía Tây thuộc quyền quản lý của Xiêm, phía Đông thuộc quyền quản lý của Pháp Với bản hoà -ớc này thực dân Pháp đã chính thức thiết lập chế độ cai trị ở Lào
- Quá trình xâm nhập của thực dân ph-ơng Tây vào v-ơng quốc Xiêm
Quá trình xâm nhập của thực dân ph-ơng Tây vào Xiêm diễn ra lâu dài, dai dẳng và cơ bản đ-ợc chia làm hai giai đoạn
Trang 2019
Giai đoạn thứ nhất (từ cuối thế kỷ XVI đến giữa thế kỷ XVIII): Xiêm
là n-ớc có mặt hầu nh- các tên thực dân đến tranh giành ảnh h-ởng, năm
1596 thực dân Hà Lan đã đặt chân lên v-ơng quốc này và lập tức giành
đ-ợc quyền buôn bán ở đây Theo sau ng-ời Hà Lan, ng-ời Anh cũng có mặt ở vùng đất này Năm 1612, sứ thần Anh là Ađanđentơn đến Băng Cốc
và th-ơng nhân Anh cũng bắt đầu đ-ợc phép buôn bán ở đây Từ đó đã nảy sinh mâu thuẫn giữa thực dân Anh với Hà Lan, biểu hiện là có sự cạnh tranh quyết liệt giữa công ty Đông ấn Anh với công ty Đông ấn Hà Lan Tuy nhiên, lúc này Hà Lan đang rất mạnh nên họ đã giành thắng lợi tr-ớc ng-ời Anh ở khu vực này Đồng thời cũng sau sự kiện này Xiêm đã thực hiện chính sách “trung lập”, họ không ngã về bên nào mà lại thực thi mở cửa với ng-ời n-ớc ngoài vào buôn bán Cũng từ chính sách này càng làm cho thực dân ph-ơng Tây quyết tâm hơn trong việc xâm l-ợc Xiêm Năm
1656, thực dân Bồ Đào Nha và Tây Ban Nha đã tiến hành xâm l-ợc Xiêm nh-ng nhờ Hà Lan giúp đỡ nên Xiêm đã giành thắng lợi Từ đây, Hà Lan không ngừng mở rộng ảnh h-ởng lũng đoạn ở đất Xiêm Để giảm bớt sự sách nhiễu o ép của Hà Lan, vua Xiêm đã chủ tr-ơng dựa vào thực dân Anh
để đ-ợc giúp đỡ Nh-ng ngay lập tức ng-ời Hà Lan phản đối và phát động chiến tranh nên Xiêm buộc phải nh-ợng bộ và đi đến một bản hiệp -ớc Xiêm-Hà Hiệp -ớc đ-ợc ký kết (1664) với những điều khoản -u đãi cho ng-ời Hà Lan
Sau hiệp -ớc này, vua Xiêm vẫn theo đuổi chính sách dựa vào Anh nh-ng khi sứ thần Anh đến Xiêm với thái độ ngang ng-ợc, hống hách nên
bị vua Xiêm cự tuyệt Sự kh-ớc từ của nhà vua làm cho Anh tức giận và họ lên kế hoạch xâm l-ợc n-ớc này Đúng lúc này, ng-ời Pháp lại xuất hiện nên Xiêm lại dựa vào Pháp để giảm áp lực từ phía Anh và Hà Lan Đến năm
1687, hiệp -ớc Pháp-Xiêm đ-ợc ký kết với những đặc quyền th-ơng mại dành cho Pháp Sau khi hiệp -ớc này đ-ợc ký kết thì một cuộc khởi nghĩa nông dân đã nổ ra ở đây buộc Pháp phải rút lui khỏi Xiêm và từ đây Xiêm chủ trương từ chính sách “mở cửa” sang “đóng cửa”
Trang 2120
Giai đoạn thứ hai (từ cuối thế kỷ XVIII đến giữa thế kỷ XIX): Đi đầu trong cuộc chinh phục Xiêm lần này là thực dân Anh Năm 1822, một chiến hạm Anh đã cập bến sông Mê Nam nhằm hai mục đích th-ơng thuyết và đe dọa Xiêm Kết cục của sự kiện trên là một hiệp -ớc bình đẳng Anh-Xiêm
Mỹ và ký với n-ớc này một bản hiệp -ớc dựa trên tinh thần bình đẳng nh-
đã ký với Anh năm 1822, tiếp đó năm 1840 Xiêm lại tiếp tục chủ ký một bản hiệp -ớc t-ơng tự với thực dân Pháp
Với các bản hiệp -ớc này, Rama III đã bình ổn đất n-ớc về chính trị để tạo điều kiện cho việc xây dựng lực l-ợng quân sự hùng hậu theo kiểu ph-ơng Tây, tạo điều kiện để phát triển kinh tế đất n-ớc
Những chính sách cứng rắn của Rama III đã gây ra sự bức xúc đối với hầu hết các n-ớc ph-ơng Tây và họ càng tỏ ra quyết tâm buộc xiêm phải
mở cửa buôn bán Cũng đúng lúc này Rama IV lên ngôi và có thay đổi một
số chính sách ngoại giao của Xiêm theo h-ớng nh-ợng bộ thân ph-ơng Tây Rama IV đã chủ tr-ơng ký một loạt hiệp -ớc bất bình đẳng với Anh (1855), với Pháp (1856), Đan Mạch (1858), với Mỹ (1859), Hà Lan (1860) và với Phổ (1862)
Mục tiêu của Rama IV (Môngcút) là chủ tr-ơng thực hiện cải cách đất n-ớc và cải cách ấy đ-ợc các vua đời sau Rama V, Rama VI tiếp tục h-ởng ứng Những cố gắng trong chính sách ngoại giao của các vua Xiêm đã giúp
đất n-ớc này giữ đ-ợc độc lập, tuy nhiên nền độc lập của đất n-ớc này cũng chỉ mang tính chất hình thức
Tóm lại, các n-ớc t- bản ph-ơng Tây đã v-ợt xa hơn hẳn và đứng trên các quốc gia phong kiến Đông Nam á một ph-ơng thức sản xuất tiến bộ
Trang 2221
của lịch sử Với những thế mạnh -u việt của ph-ơng thức sản xuất ấy, cho
đến cuối thế kỷ XIX, các tên thực dân ph-ơng Tây đã mở rộng đ-ợc tầm
ảnh h-ởng và cơ bản đặt đ-ợc ách thống trị lên hầu hết các n-ớc Đông Nam
á Cũng từ đây xã hội phong kiến Đông Nam á vốn đã tồn tại mâu thuẫn giai cấp giữa đại đa số nông dân với địa chủ phong kiến mang lại có thêm mâu thuẫn giữa các dân tộc Đông Nam á bị áp bức với chủ nghĩa thực dân xâm l-ợc Bởi thế nhiệm vụ đặt lên vai các thế hệ yêu n-ớc Đông Nam á lúc này là tìm ra con đ-ờng thoát khỏi lệ thuộc, giành độc lập dân tộc và
đ-a đất n-ớc đi lên tự c-ờng giàu mạnh
1.3 Chính sách cai trị và bóc lột của thực dân ph-ơng Tây ở các n-ớc Đông Nam á (cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX)
Sau khi chiếm đ-ợc các quốc gia Đông Nam á, để thống trị và vơ vét
thuộc địa có hiệu quả, các n-ớc thực dân đều tiến hành xây dựng ngay bộ máy cai trị Tuy mức độ, hình thức bộ máy cai trị thuộc địa của mỗi tên thực dân có sự khác nhau ở mỗi thuộc địa song nhìn chung chủ nghĩa thực dân đã áp dụng ở Đông Nam á hai hình thức cai trị cơ bản: trực tiếp và gián tiếp Bởi vậy dù hai hình thức cai trị khác nhau hoàn toàn song chúng
đều có điểm chung là giống nhau về bản chất
Xem xét quá trình xâm l-ợc, thống trị của thực dân ph-ơng Tây ở
Đông Nam á thì Bồ Đào Nha, Tây Ban Nha, đặc biệt là Hà Lan và Pháp, trong thời kỳ đầu các tên thực dân này đều áp dụng hình thức xâm l-ợc, cai trị của các công ty th-ơng mại viễn ph-ơng Biểu hiện là sự xuất hiện của hàng loạt công ty Đông ấn và thông qua các công ty này chính phủ các n-ớc t- bản ph-ơng Tây đã thống trị và bóc lột các n-ớc Đông Nam á Nh-ng sau khi các công ty viễn ph-ơng hết vai trò của mình thì chính phủ các n-ớc thực dân trực tiếp điều hành quyền xâm l-ợc, thống trị và bóc lột các nước thuộc địa Như thế, hình thức “gián tiếp” ở đây được hiểu theo hai góc độ là: Các n-ớc thực dân thông qua các công ty th-ơng mại viễn
Trang 2322
ph-ơng để cai trị, bóc lột và các n-ớc thực dân sử dụng chính quyền phong kiến tay sai bản xứ để cai trị thuộc địa Với hình thức cai trị gián tiếp, chính quyền thực dân th-ờng cử đại diện của mình bên cạnh chính quyền tay sai bản xứ để nắm tình hình với các tên gọi nh-: Cố vấn, Công sứ, Khâm sứ, Thống sứ
Cùng với chính sách cai trị gián tiếp thì chủ nghĩa thực dân cũng áp dụng chế độ cai trị trực tiếp ở Đông Nam á bằng hệ thống quan chức thực dân từ trung -ơng đến hàng tỉnh Đứng đầu thuộc địa là một viên toàn quyền, d-ới đó là các viên Thống đốc và d-ới nữa là các quan lại thực dân hàng tỉnh Sau khi chiếm xong các n-ớc Đông Nam á, để nắm giữ chính quyền địa ph-ơng thì bọn thực dân ch-a đủ sức nên chúng vẫn duy trì chính quyền phong kiến tay sai, đặc biệt là từ cấp huyện đến làng xã, thôn xóm Bên cạnh đó, bọn thực dân còn thực thi chính sách “chia để trị”, chia rẽ khối đoàn kết giữa các dân tộc, tôn giáo, vùng miền, các địa ph-ơng và truyền thống có từ lâu nhằm làm suy yếu phong trào yêu n-ớc giải phóng dân tộc Tiêu biểu cho thủ đoạn này là thực dân Pháp: “Chúng thực hiện âm m-u chia để trị giữa các dân tộc, lập ra các vùng có chế độ chính trị khác nhau nh-: Việt Nam, chúng phân chia làm ba kỳ, Lào bị chia thành hai miền (Bắc Lào và Hạ Lào), lập ra các khu theo chế độ quân quản ở vùng núi Việt Nam và Lào, dùng dân tộc này đàn áp dân tộc kia” [9; 24]
Để cai trị xứ thuộc địa phục vụ đắc lực cho mục đích bóc lột vơ vét của cải, tài nguyên và lao động thì bọn thực dân đã không từ một thủ đoạn nào, từ chỗ chia rẽ dân tộc chúng còn khoét sâu mâu thuẫn trong nội bộ mỗi n-ớc giữa các vùng, miền.ở Mianma, thực dân Anh thực hành chíng sách “vùng đồng bằng với dân số đông đảo là người Miến thì phải chịu chế
độ trực trị, nh-ng ở vùng đất cao, các vùng đất có nh-ời thiểu số sinh sống thì thực dân Anh áp dụng chế độ cai trị gián tiếp” Hậu quả là sự chia rẽ và
đẩy mâu thuẫn giữa ng-ời Miến với các dân tộc thiểu số bùng phát Mâu thuẫn giữa chĩa vào người Anh giảm” [14; 234]
Trang 2423
Song song với chính sách chia rẽ dân tộc, vùng miền bọn thực dân còn thực thi chính sách chia rẽ sắc tộc, tôn giáo và sử dụng nó nh- một thứ công cụ để thống trị thuộc địa ở Philíppin, thực dân Tây Ban Nha nhanh chóng cai trị đ-ợc vùng này nhờ mối quan hệ giữa chính quyền thực dân với nhà thờ Các linh mục, tu sĩ của đạo Cơ Đốc đ-ợc phái về các miền quê truyền đạo Bằng những mánh khoé lôi kéo, bắt ép, c-ỡng bức thì giáo lý của đạo Cơ Đốc đã nhanh chóng ăn sâu, bám rễ trên mảnh đất này Đồng thời chính quyền Tây Ban Nha đã sử dụng Cơ Đốc giáo để chống lại Hồi giáo ở Minđanao gây ra cuộc xung đột tôn giáo kéo dài dai dẳng ở đây Đối với các cộng đồng ng-ời trên bán đảo Mãlai và Singapo, chính quyền thực dân vừa đủ mạnh chia rẽ sắc tộc (Melaya-Hoa-ấn) vừa tăng c-ờng chia rẽ tôn giáo (Hồi giáo-Phật giáo-Hinđu giáo) mà kết cục của nó đã làm cho tình hình sắc tộc, tôn giáo ở đây vô cùng phức tạp, hỗn độn
Nh- vậy, với âm m-u của kẻ thống trị thuộc địa bọn thực dân ph-ơng Tây đã thực thi những chính sách cai trị hết sức thâm độc, tàn bạo ở các quốc gia Đông Nam á Với những hình thức cai trị khác nhau chính quyền thực dân đã lợi dụng triệt để bộ máy cai trị của chính quyền phong kiến bản
xứ, biến chính quyền này thành công cụ tay sai của chúng Hậu quả của những chính sách chia rẽ dân tộc, sắc tộc, tôn giáo, không những gây nên
sự xáo động phức tạp đối với xã hội đ-ơng thời mà còn để lại ảnh h-ởng sâu sắc lâu dài ở cả giai đoạn sau và đến cả hôm nay
Mục tiêu đầu tiên và là chủ yếu của thực dân ph-ơng Tây là vơ vét, bóc lột tài nguyên và nhân công của các n-ớc Đông Nam á Các n-ớc đế quốc
đã bằng mọi cách, mọi thủ đoạn biến Đông Nam á thành nơi cung cấp nguyên liệu cho nền kinh tế chính quốc, là thị tr-ờng tiêu thụ hàng hoá và xuất khẩu t- bản mang về những món lời kếch xù cho chúng
Trong việc bóc lột khai thác thuộc địa của thực dân ở Đông Nam á
có một đặc điểm chung là chúng tiến hành khai thác, vơ vét, bòn rút các n-ớc thuộc địa này bằng chính sách thuế khoá vô nhân đạo đối với mọi tầng
Trang 2524
lớp nhân dân bản xứ Đồng thời chúng tiến hành c-ớp đoạt ruộng đất, lập
đồn điền, bóc lột sức ng-ời, sức của, vơ vét tài nguyên, biến thuộc địa thành nơi tiêu thụ hàng hoá ế ẩm cho chúng để thu lợi nhuận cao
Trong nông nghiệp, việc chuyển ruộng đất của nông dân để lập đồn
điền là chính sách cơ bản của thực dân ph-ơng Tây ở Đông Nam á.Với bộ máy cai trị của mình, bọn thực dân đã thẳng tay chiếm đoạt, đuôi nông dân
ra khỏi vùng đất sản xuất để lập đồn điền, phát canh thu tô, c-ỡng bức trồng các loại cây nguyên liệu nhằm phục vụ cho nền công nghiệp chính quốc mà bỏ qua cuộc sống bần cùng đói rách của nông dân bản xứ Chính quyền thực dân Hà Lan đề ra chính sách “Cưỡng bức trồng trọt” ở Inđônêxia vào năm 1830 Với chính sách này bọn thực dân Hà Lan buộc nông dân phải giành 1/3 đất sản xuất để trồng các loại cây do chúng quy định và sản phẩm thu đ-ợc phải nộp cho chính quyền thực dân Mục tiêu là mở rộng thị tr-ờng, khai thác nguyên liệu, trồng những loại cây công nghiệp có giá trị nh- cao su, thuốc lá, cà phê, chè phục vụ cho nhu cầu sản xuất hàng hoá của chính quốc Đến tr-ớc năm 1914, t- bản Hà Lan và các n-ớc châu Âu
đã lập ra 2400 đồn điền, chiếm 1/4 diện tích đất trồng trọt của n-ớc này
ở Việt Nam, “Năm 1900 thực dân Pháp cũng chiếm 301.000 ha ruộng
đất trong cả n-ớc, đến năm 1930 diện tích đất canh tác rơi vào tay thực dân Pháp lên tới 1.200.000 ha, chiếm 1/4 diện tích đất canh tác của cả nước” [14; 239]
Chính sách c-ớp đoạt ruộng đất, c-ỡng bức trồng trọt và lập ra các đồn
điền lớn còn diễn ra phổ biến ở các quốc gia khác ở Đông Nam á Trong các đồn điền mà bọn thực dân lập ra chúng bắt nông dân bản xứ trồng các loại cây nguyên liệu có giá trị xuất khẩu cao nh- cà phê, cao su, chè Nh-ng mặt khác chúng cũng không ngừng mở rộng diện tích đồn điền trồng lúa để phát canh thu tô, mọi chi phí sản xuất ng-ời nông dân phải chịu hoàn toàn song sản phẩm thu đ-ợc họ phải nộp 1/3 đến 1/4 sản l-ợng cho bọn chủ
Trang 2625
Bên cạnh chính sách c-ớp đoạt ruộng đất, chính quyền thực dân còn đề
ra hàng trăm thứ thuế vô lý nh- thuế thân, thuế r-ợu, thuế muối để bòn rút nhân dân lao động bản xứ ở Việt Nam ruộng đất đ-ợc chính quyền thuộc địa chia ra làm nhiều loại, mỗi loại phải chịu một thứ thuế nh-: Loại ruộng hạng nhất vào năm 1897 phải nộp 1,5 đồng Đông D-ơng một mẫu; hạng nhì 1,1 đồng, hạng ba 0,8 đồng Ngoài thuế ruộng ng-ời dân thuộc địa còn phải đóng thuế thân Chính quyền thuộc địa quy định ng-ời dân Đông Nam á từ 18 tuổi đến 60 tuổi phải đóng thuế thân, kể cả phải chịu thuế thân cho đến chết.Thậm chí ng-ời chết trong năm cũng không đ-ợc miễn thuế
Để thu vén triệt để nguồn lợi ở thuộc địa, chính quyền thực dân đã thu
và đặt ra nhiều loại thuế giản thu khác nh- thuế muối, thuế r-ợu, thuế thuốc phiện “ ở Việt Nam năm 1897, mỗi tạ muối phải đóng 0,25 đồng, đến năm
1906 là 2,25 đồng Ng-ời dân Lào phải mua r-ợu uống mỗi ng-ời 7 lít/năm” [144; 243]
Ngoài các loại thuế có tên chính thức nói trên, chính quyền thực dân còn đặt ra nhiều loại lệ phí, tiền phạt đối với c- dân thuộc địa.Ví nh- thực dân Pháp quy định: ng-ời dân Lào nếu không mang thẻ thân trong ng-ời cũng phải chịu phạt giam từ 1đến 5 ngày lao động và chịu nộp phạt từ 1đến
6 đồng
Đồng thời với chính sách thuế khoá, lệ phí, tiền phạt thì ng-ời dân
Đông Nam á còn phải chịu nhiều chế độ phu phen tạp dịch hà khắc nh-: Làm đ-ờng sá, cầu cống, khai phá đất lập đồn điền, cuốc mỏ Để phục vụ cho mục đích khai thác thuộc địa, vơ vét các loại tài nguyên thiên nhiên và
đàn áp cai trị xứ thuộc địa, chính quyền thực dân đã cho xây dựng mạng l-ới giao thông cả thủy lẫn bộ bằng chính công sức lao động của dân thuộc
địa Nh- ở Mianma, tr-ớc khi thực dân Anh xâm l-ợc giao thông n-ớc này chủ yếu là lợi dụng các con sông lớn nhỏ để đi lại, chở hàng hoá bằng ghe thuyền Khi Anh đặt nền cai trị n-ớc này thì chúng đã tận dụng lợi thế các dòng sông để phát triển hệ thống đ-ờng thuỷ Công ty tàu thuỷ Iraoađi đ-ợc
Trang 2726
thành lập năm 1865 và có sử dụng một đội tàu chạy bằng hơi n-ớc ở đây
Hệ thống đ-ờng bộ cũng đ-ợc phát triển, đến năm 1918 lên tới 2000 dặm
đ-ờng rải đá do chính x-ơng máu công sức của dân bản xứ
Nh- vậy, chính sách khai thác bóc lột của thực dân ph-ơng Tây ở
Đông Nam á là hết sức tàn bạo, dã man và có tác động mạnh mẽ đến nền kinh tế các quốc gia này Bên cạnh nề kinh tế lạc hậu phong kiến, đã xuất hiện thêm thành phần kinh tế hàng hoá t- bản chủ nghĩa làm cho bức tranh kinh tế ở đây trong chừng mực nhất định phát triển h-ng thịnh hơn Tuy nhiên sự phát triển ấy chỉ đem lại lợi ích cho một bộ phận nhỏ giai cấp thống trị, t- sản mai bản còn đại đa số nhân dân lao động vẫn đói rách bần cùng và nền kinh tế thuộc địa ngày càng lệ thuộc chặt chẽ vào kinh tế chính quốc Quan trọng hơn, hậu quả của những chính sách bóc lột, vơ vét tàn khốc ấy đã làm vơi cạn nguồn tài nguyên giàu có ở Đông Nam á, phá hoại, lũng đoạn nền kinh tế nông nghiệp- thủ công truyền thống bản xứ và làm suy giảm tiềm năng, sức lực, trí tuệ của các thế hệ nhân dân lao động đ-ơng thời
Một đặc điểm nổi bật trong chính sách cai trị về văn hoá của chủ nghĩa thực dân ở Đông Nam á là chúng thi hành chính sách “ngu dân”, đầu độc dân thuộc địa bằng r-ợu cồn và thuốc phiện Chính quyền thực dân đã kìm hãm dân trí thuộc địa trong vòng ngu dốt để dễ bề cai trị ở Lào “chính sách ngu dân đ-ợc Pháp sử dụng triệt để Năm 1902, chính quyền thực dân trích một khoản ít ỏi để tổ chức lớp học và đào tạo phiên dịch Đến năm
1907, Pháp chủ trương đào tạo một số giáo viên nhưng với số lượng ít ỏi” [14; 255] Các tr-ờng học đ-ợc xây dựng nh-ng rất ít ỏi, chủ yếu để đào tạo bọn tay sai quan lại cũ phục vụ cho mục đích cai trị của chính quốc
Bên cạnh chính sách ngu dân, các chính quyền thực dân ở Đông Nam
á còn thực hiện chính sách “đầu độc văn hoá” nhân dân thuộc địa Chúng bãi bỏ các phong tục truyền thống lễ hội tốt đẹp của dân tộc, đồng thời cổ xuý duy trì những t- t-ởng lạc hậu, bảo thủ, mê tín dị đoan nhằm mục
Trang 281897, chính quyền thực dân ép ng-ời nấu r-ợu bán cho chúng với giá 0,17
đồng/lít rồi pha thành 2 lít để bán cho các đại lý với giá 0,4 đồng/lít Từ năm 1900-1920 Pháp thu được 45 triệu Phrăng tiền lãi nhờ bán rượu” [14; 256]
Có thể nói chính sách cai trị về văn hoá của thực dân ph-ơng Tây ở
Đông Nam á là hết sức thâm độc, vô nhân đạo Hậu quả của những chính sách về văn hoá đã làm phá vỡ, đảo lộn xã hội truyền thống Đông Nam á trong vòng quẩn quanh, lạc hậu, trì trệ Tất cả những chính sách này đều không nằm ngoài mục đích làm ngu dân thuộc địa nhằm phục vụ cho công cuộc cai trị, bóc lột của chúng
Nh- vậy, sau một thời kỳ phát triển rự rỡ và có nhiều đóng góp vào kho tăng văn minh nhân loại, từ thế kỷ XVI trở đi, hầu hết các quốc gia phong kiến dân tộc Đông Nam á đã dần dần rơi vào tình trạng suy tàn và khủng hoảng Sự suy tàn và khủng hoảng của các quốc gia Đông Nam á trở nên trầm trọng vào nửa cuối thế kỷ XIX, đó cũng là thời kỳ chủ nghĩa t- bản chuyển sang giai đoạn đế quốc chủ nghĩa Chính vì vậy, Đông Nam á
đã trở thành “miếng mồi béo bở của thực dân phương Tây” như các nước khác ở châu á, châu Phi và Mỹ latinh Tham gia vào quá trình xâu xé Đông Nam á có mặt hầu nh- đầy đủ các n-ớc ph-ơng Tây, từ Bồ Đào Nha, Tây Ban Nha cho đến Hà Lan, Anh, Pháp, Mỹ Quá trình đó đ-ợc bắt đầu từ đầu thế kỷ XVI và đến đầu thế kỷ XX mới hoàn thành Đứng tr-ớc nguy cơ
“nước mất, nhà tan”, các giai tầng khác nhau trong xã hội đã thực thi nhiều biện pháp để cứu n-ớc, bảo vệ nền độc lập dân tộc Trong bối cảnh lịch sử ấy,
đã xuất hiện t- t-ởng canh tân đất n-ớc ở nhiều n-ớc trong khu vực, trong đó tiêu biểu nhất là các cuộc cải cách mang tính chất của một cuộc cách mạng t- sản của các vua Xiêm và một số t- t-ởng cải cách ở Việt Nam
Trang 2928
Ch-ơng 2
Xu h-ớng canh tân ở một số n-ớc đông nam á (từ nửa Cuối thế kỷ XIX đến đầu thế kỷ xx)
2.1 Cải cách của các vua Xiêm
2.1.1 Bối cảnh lịch sử
Cho đến giữa thế kỷ XIX, trong khi các n-ớc Đông Nam á nói chung cũng nh- Xiêm nói riêng đang nằm trong “đêm tr-ờng trung cổ” thì các n-ớc Âu-Mỹ đã hoàn thành xong cách mạng t- sản và hệ thống t- bản chủ nghĩa đã xác lập trên phạm vi thế giới Thắng lợi của các cuộc cách mạng t- sản đã mở đ-ờng cho nền kinh tế t- bản chủ nghĩa phát triển mạnh mẽ và
nó trở thành trào l-u chung của thời đại lúc bấy giờ Trào l-u cách mạng t- sản và những thành tựu văn minh của nó đã có sức cuốn hút mạnh mẽ, trở thành một tấm g-ơng, một con đ-ờng mới mẻ thôi thúc các quốc gia lạc hậu non yếu khác v-ơn tới trong đó có v-ơng quốc Xiêm
Trong thời điểm các n-ớc á Đông đang bị chủ nghĩa thực dân xâm nhập, xâm l-ợc và ch-a tìm ra đ-ợc lối đi cho dân tộc thì Nhật Bản đã nhanh chóng nhạy bén chớp lấy thời cơ tiến hành công cuộc Duy tân Minh Trị thắng lợi Sự thành công vang dội của cuộc cải cách này đã đ-a Nhật Bản dần thoát khỏi lệ thuộc của ph-ơng Tây và trở nên phú quốc binh c-ờng Thắng lợi của cải cách Minh Trị đã có tác động mạnh mẽ đối với các quốc gia ở á Đông đang muốn h-ớng theo và ng-ời Xiêm cũng không nằm ngoài tầm ảnh h-ởng đó, đặc biệt là các vua đời sau của Xiêm Rama
IV, Rama V,Rama VI
Bên cạnh những tác động từ bên ngoài dội vào thì bên trong đất n-ớc Xiêm cũng nảy sinh những yêu cầu, điều kiện cấp thiết thúc đẩy n-ớc này tiến hành cải cách Cũng giống nh- các quốc gia Đông Nam á khác, giai
đoạn giữa thế kỷ XIX Xiêm đứng tr-ớc sức ép xâm l-ợc của thực dân ph-ơng Tây vấn đề “mở cửa” hay “đóng cửa” cũng đặt ra bức thiết ở đất
Trang 30Bản thân các vua Xiêm là ng-ời chịu ảnh h-ởng sâu sắc của t- t-ởng Phật giáo song họ lại sớm tiếp xúc tiếp thu t- t-ởng dân chủ t- sản của ph-ơng Tây, đặc biệt Rama V Rama VI là những ng-ời có t- t-ởng "Âu hoá" v-ợt trội nên họ có tầm nhìn rộng mở và nhạy bén tr-ớc xu thế thời
đại Mặt khác các vua Xiêm lúc này có thực quyền rất lớn trong tay bởi giai
đoạn này chế độ quân chủ chuyên chế trung -ơng tập quyền ở Xiêm đang h-ng thịnh và đất n-ớc này chịu ảnh h-ởng của Phật giáo nên v-ơng quyền nhà vua đã gắn với thần quyền Các vua Xiêm vừa là ng-ời đứng đầu về mặt nhà n-ớc vừa là ng-ời đứng đầu về tôn giáo nên quyền lực tối th-ợng thuộc
về chính quyền trung -ơng mà đại diện là nhà vua Vì những lý do này vua Xiêm đã đứng về lực l-ợng cấp tiến để tiến hành cải cách, mở cửa đất n-ớc
2.1.2 Nội dung cải cách của các vua Xiêm
Công cuộc cải cách mở cửa ở Xiêm cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX
đ-ợc thực hiện d-ới thời ba vị vua: Môngcút (Rama IV), Chualalongcon (Rama V) và Vattriravut (Rama VI)
Nội dung công cuộc cải cách của ba vị vua này có sự bổ sung kế thừa
và phát triển cho phù hợp với đặc điểm chính trị xã hội ở Xiêm trong từng thời điểm lịch sử cụ thể Tuy nhiên trong đó tiêu biểu, toàn diện và thắng lợi vang dội nhất là cải cách của Chulalongcon (Rama V)
- Cải cách của Môngcút (Rama IV): Ngày 3-4-1851 Rama III qua đời,
Mông cút lên ngôi lấy hiệu Rama IV Sau khi lên ngôi ông lập tức chuẩn bị tiến hành ch-ơng trình cải cách mà việc làm đầu tiên là gạt bỏ dần ảnh h-ởng của phái bảo thủ trong nội bộ triều chính đất n-ớc Môngcút đã cử
Trang 3130
ng-ời đứng đầu lực l-ợng cấp tiến là Piaxunivôngxê Bunnác giữ chức Bộ tr-ởng quốc phòng, tiếp đó cử em trai mình là ng-ời có t- t-ởng "Âu hóa" triệt để làm Phó v-ơng Đồng thời thay thế những chức vụ quan trọng khác trong triều do phái thủ cựu nắm giữ bằng những ng-ời thuộc phái tiến bộ
đảm nhận Đối với lực l-ợng bảo thủ Môngcút đã khôn khéo gạt bỏ ảnh h-ởng của họ ra khỏi đời sống chính trị đất n-ớc bằng những biện pháp ôn hoà Mục đích của ông là làm cho phái cấp tiến mạnh lên làm chỗ dựa vững chắc để cải cách và dọn đ-ờng thông thoáng cho mở cửa về mặt t- t-ởng Sau khi ổn định xong nội bộ triều chính, Mông cút đã mạnh dạn sử dụng các chuyên gia ph-ơng Tây, mời họ đóng vai trò làm cố vấn trong các lĩnh vực cải cách nh- quốc phòng, kinh tế, giao thhông vận tải, giáo dục Việc sử dụng chuyên gia ph-ơng Tây vào làm cố vấn cho công cuộc cải cách vừa học hỏi đ-ợc kinh nghiệm, vừa thể hiện đ-ợc mối quan hệ thân thiện giữa Xiêm với các n-ớc ph-ơng Tây, đồng thời thể hiện thiện chí “mở cửa" của ng-ời Xiêm
Thực thi ch-ơng trình cải cách, vua Môngcút đã ra quyết định bãi bỏ chế độ độc quyền của nhà n-ớc trong xuất khẩu nhất là xuất khẩu gạo và
đ-ờng Chủ tr-ơng này đã tạo điều kiện cho xuất khẩu t- nhân phát triển và hình thành nên một tầng lớp th-ơng nhân t- sản ng-ời Xiêm mạnh lên trong n-ớc để cạnh tranh gạt bỏ sự lũng đoạn của ng-ời n-ớc ngoài ở Xiêm
Đồng thời chính sách này cũng góp phần thúc đẩy kinh tế nông nghiệp Xiêm phát triển làm thay đổi hình thức sản xuất tự cấp, tự túc sang kinh tế sản xuất hàng hoá xuất khẩu Cùng với việc đẩy mạnh xuất khẩu, vua Mông cút đã chủ tr-ơng hình thành các vùng chuyên canh lúa gạo, mía đ-ờng lớn với 31 xí nghiệp sản xuất đ-ờng và thu dụng trung bình 200 công nhân Trong lĩnh vực tài chính, năm 1861 vua Rama IV cho lập một x-ởng
đúc tiền bằng bạc để l-u thông thay cho vàng cục hay bạc hình dẹt, hình tròn tr-ớc đây phục vụ cho l-u thông hàng hoá tiền tệ trong n-ớc Ngoài ra nhà vua còn cho l-u thông các đồng tiền của n-ớc ngoài
Trang 3231
Về mặt đối ngoại, vua Môngcút đã chủ trương “mở rộng cửa” trong các quan hệ song ph-ơng và đa ph-ơng với ph-ơng Tây Chính ông cho rằng “chính sách đóng cửa hạn chế ng-ời ph-ơng Tây đến buôn bán không phải là biện pháp phòng thủ có hiệu quả” [14; 73] Với chủ tr-ơng này Môngcút đã ký một loạt các hiệp -ớc bất bình đẳng với ph-ơng Tây nh- với thực dân Anh(1856),Pháp (1858), Hà Lan (1860), Phổ (1862), với Bỉ và ý (1868) Trong đó đáng chú ý nhất là bản hiệp -ớc ký với Anh (18-4-1856) với những nội dung sau
- V-ơng quốc Xiêm bảo đảm chế độ tự do buôn bán cho ng-ời Anh, thủ tiêu các tổ chức độc quyền th-ơng mại Xiêm
- Quy định đặc quyền ngoại giao của công dân Anh, họ chỉ chịu trách nhiệm tr-ớc lãnh sự Anh ở Băng Cốc
- Cho phép ng-ời Anh có quyền sở hữu đất đai trong khu vực lãnh thổ
có bán kính bằng 24 giờ đi thuyền cách trung tâm Băng Cốc đây là vùng
đồng bằng màu mỡ của sông Mê Nam
- Hiệp -ớc này còn quy định thủ tiêu toàn bộ những khoản thuế đánh vào chiều dài và rộng của tàu Anh (quy định trong hiệp -ớc 1826) thay bằng thuế nhập khấu 3%
Với những hiệp -ớc nh-ợng bộ nhiều điểm quan trọng về mặt chủ quyền pháp lý, về thuế quan, độc quyền xuất khấu th-ơng mại, Xiêm đã làm thoả mãn hầu nh- yêu cầu của các tên thực dân nói chung cũng nh- thực dân Anh trên v-ơng quốc này đồng thời lại bảo vệ đ-ợc độc lập chủ quyền, tận dụng đ-ợc lợi thế để duy tân đất n-ớc và nâng cao vị trí tầm ảnh h-ởng của Xiêm trong khu vực cũng nh- quốc tế
Ngoài ra trong thời kỳ cầm quyền của mình vua Môngcút còn ban hành một số chủ tr-ơng cải cách khác về văn hoá xã hội nh-: Đạo luật cấm những ng-ời tự bán mình làm nô lệ, xoá bỏ những tập tục lạc hậu ở Xiêm, chủ tr-ơng khuyến khích ng-ời Hoa c- trú trên đất Xiêm
Trang 33Mặc dù công cuộc cải cách của Môngcút là hết sức cố gắng để đ-a Xiêm đi lên tự c-ờng giàu mạnh nh-ng đến khi ông qua đời (1968) n-ớc Xiêm vẫn là quốc gia phong kiến lạc hậu và vẫn chịu lệ thuộc lớn vào thực dân ph-ơng Tây trên nhiều lĩnh vực đời sống xã hội Bởi vậy nhiệm vụ của công cuộc cải cách còn rất nhiều khó khăn lâu dài đặt lên vai vị vua kế nhiệm Chulalongcon (Rama V)
- Cải cách của Chulalongcon (Rama V): Năm 1868, vua Môngcút qua
đời Chulalongcon nối ngôi lấy hiệu Rama V Trong 42 năm cầm quyền của mình (1868-1910) ông vua này đã tiếp tục thực hiện một ch-ơng trình cải cách toàn diện giành thắng lợi đ-a Xiêm b-ớc sang một thời kỳ h-ng thịnh Năm 1871, Chulalongcon đã đề ra ch-ơng trình cải cách với những nội
dung cơ bản sau:
Về mặt xã hội:Trong dịp lễ đăng quang chính thức của mình, vào năm 1873 Rama V tuyên bố bỏ tục quỳ lạy tr-ớc nhà vua Tuyên bố này có ý nghĩa hết sức quan trọng, nó thể hiện t- t-ởng tiến bộ của nhà vua trong việc đoạn tuyệt với những tập tục lỗi thời và lạc hậu ở Xiêm Theo Chulalongcon việc thần phục trong điều kiện bắt buộc không có nghĩa là hạ mình
Trang 3433
Tiếp đó, Ramma V tuyên bố thủ tiêu chế độ nô lệ ở Xiêm Đến cuối thế kỷ XIX, nô lệ ở Xiêm vẫn chiếm tới 1/3 dân số và nó đã trở thành lực cản trên con đ-ờng phát triển kinh tế hàng hoá Mặt khác tr-ớc đó vua cha (Rama IV) đã có những biện pháp để hạn chế chế độ nô lệ nh-ng ch-a có hiệu quả triệt để Bởi vậy, năm 1874 Rama V công bố sắc lệnh giải phóng nô lệ với những nội dung sau: Tất cả con cái của những nô lệ vì nợ sinh ra sau ngày 1-10-1868 đến 21 tuổi sẽ đ-ợc tự do, cha mẹ không đ-ợc bán trẻ
em làm nô lệ d-ới 15 tuổi nếu chúng không đồng ý; quy định chế độ tiền chuộc các nô lệ (nam nô lệ 8 tuổi chuộc 32 bath, nữ nô lệ 8 tuổi chuộc 28 bath, nam nô lệ từ 18-20 tuổi chuộc 4 bath và nữ nô lệ 18-20 tuổi chuộc 3 bath); các nô lệ đến 60 đều đ-ợc tự do Đến 1887, Rama V ra tiếp một sắc lệnh ghi rõ: Chuyển số nông nô của các chủ nô đã chết cho nhà n-ớc quản
lý, nhà n-ớc sẽ tuyển nam nô lệ vào quân đội, họ sẽ nh- một ng-ời lính thực thụ Những nam nô lệ không vào quân đội sẽ nộp tiền quân dịch 6 bath một tháng thay cho nghĩa vụ công dân Cùng với việc thủ tiêu chế độ nô lệ Rama V còn bãi bỏ chế độ lao dịch c-ỡng bức đối với nông dân thay vào đó
là họ chỉ phải đóng một khoản thuế cho chính quyền địa ph-ơng
Với việc thủ tiêu chế độ nô lệ và bãi bỏ chế độ lao dịch c-ỡng bức nó
đã thể hiện tính tiến bộ, dân chủ trong xã hội phong kiến Xiêm lúc bấy giờ Mặt khác đã góp phần quan trọng giải phóng sức lao động trong xã hội, giải phóng lực l-ợng sản xuất tạo nền tảng động lực cho việc cải cách các lĩnh vực khác thắng lợi
Về mặt kinh tế: Sau khi thi hành một số cải cách giải phóng lực l-ợng lao động xã hội, Rama V đã đ-a ra nhiều chủ tr-ơng biện pháp để thúc đẩy kinh tế phát triển Đối với hoạt động nông nghiệp, ông đ-a ra nhiều chủ tr-ơng biện pháp đẩy mạnh xuất khẩu, chủ yếu là xuất khẩu gạo, đ-ờng Để phát triển kinh tế nông nghiệp theo h-ớng sản xuất hàng hoá, một mặt chính phủ tuyên bố xoá bỏ chế độ lao dịch, giảm nhẹ thuế, đối với nông dân khu vực miền Trung - nơi sản xuất ra tới 95% l-ợng gạo xuất khẩu nh-ng mặt khác cũng đẩy mạnh khai hoang mở rộng diện tích hình thành
Trang 3534
các vùng chuyên canh, đồng thời đầu t- phát triển công trình thuỷ lợi nâng cao năng suất cây trồng Nhờ những chính sách này nền kinh tế nông nghiệp Xiêm có những b-ớc phát triển đột phá Sản l-ợng gạo xuất khẩu tăng lên rõ rệt: Năm 1858 số l-ợng gạo chiếm 2,5% tổng sản l-ợng thì đến
1875 là 23% và 1895 là 60% tổng sản l-ợng nông nghiệp Số l-ợng gạo xuất khẩu tăng nhanh trong thập niên đầu thế kỷ XX, năm 1900 xuất khẩu
50 vạn tấn đến năm 1910 là 90 vạn tấn Ngoài ra, Xiêm còn hình thành
đ-ợc các vùng chuyên canh các loại cây xuất khẩu có giá trị nh-: Mía, hồ tiêu, ớt và các sản phẩm chăn nuôi khác
Trong lĩnh vực công nghiệp, nhà n-ớc Xiêm có nhiều chủ tr-ơng biện pháp thúc đẩy nghành kinh tế công nghiệp phát triển Nhận thức đ-ợc sự yếu kém lạc hậu của công nghiệp trong n-ớc nên Rama V đã có chính sách nh-ợng bộ với t- bản n-ớc ngoài nh- :Đảm bảo cho các nhà đầu t- có một
số lãi nhất định; nhà n-ớc chủ động bỏ vốn xây dựng cơ sở hạ tầng để thu hút đầu t-; cấp một số giấy phép cho các công ty n-ớc ngoài đầu t- xây dựng một số tuyến đ-ờng sắt Kết quả của những chính sách trên là đến năm 1912 ở Băng Cốc có 50 nhà máy xay xát gạo Và đầu thế kỷ XX ở Xiêm đã xuất hiện nhà máy đóng tàu, một số công ty tàu nhỏ chạy bằng hơi n-ớc đã đ-ợc thành lập Đến đầu năm 1909, Xiêm đã xây dựng đ-ợc 950
km đ-ờng sắt với các tuyến nh- Băng Cốc - Bắc Nam, Băng Cốc - Kò Rạt góp phần vào việc l-u thông hàng hoá và đi lại
Trong lĩnh vực tài chính: Nhận thấy sự yếu kém nhũng lạm phức tạp của nền tài chính Xiêm, Rama V đã thực hiện một số chính sách để chấn chỉnh lại nền tài chính n-ớc này Triều đình cho thay đổi phát triển Hội
đồng ngân khố quốc gia đ-ợc thành lập năm 1874, thành lập Bộ Tài chính năm 1892 Đồng thời xoá bỏ chế độ thầu thuế, khuyến khích t- nhân mở nhà băng và tiến hành cải cách tiền tệ phát hành tiền giấy Kết quả của những chính sách chấn chỉnh cải cách tài chính là ổn định đ-ợc nguồn vốn cho nhà n-ớc, tạo ra quá trình tích luỹ vốn của một số t- th-ơng, đặc biệt là t- sản ng-ời Hoa Từ năm 1904-1908 một số t- sản mại bản ng-ời Hoa
Trang 3635
thành lập đ-ợc bốn ngân hàng ở Băng Cốc M-ời năm sau cải cách thầu thuế (1892-1902), số thuế thu nhập của nhà n-ớc tăng từ 15 triệu bảng lên
40 triệu bảng
Trong lĩnh vực hành chính - t- pháp: Công cuộc cải cách hành chính
đ-ợc Rama V đẩy mạnh từ năm 1892 nhằm tìm cho Xiêm một kiểu nhà n-ớc phù hợp để quản lý đất n-ớc Sau khi tự mình khảo sát và cho nhiều
đoàn nghiên cứu kỹ các mô hình nhà n-ớc, Rama V quyết định chọn mô hình nhà n-ớc quân chủ lập lâp hiến Đức làm kiểu mẫu cho việc xây dựng mô hình nhà n-ớc Xiêm Theo đó, vua Xiêm vẫn là ng-ời có quyền lực tối cao đứng đầu nhà n-ớc nh-ng bên cạnh vua có thêm Hội đồng nhà n-ớc và Hội đồng t- vấn, đến năm 1895 vua còn cho thành lập Hội đồng lập pháp Hội đồng nhà n-ớc có số l-ợng từ 10 đến 20 thành viên do nhà vua lựa chọn và có chức năng chủ yếu là xem xét những vấn đề liên quan đến thuế khoá, còn Hội đồng t- vấn có số l-ợng không hạn chế có chức năng t- vấn cho nhà vua những vấn đề quan trọng của đất n-ớc Cơ quan hành pháp là một Hội đồng chính phủ gồm 12 bộ thuộc các lĩnh vực khác nhau Đứng
đầu mỗi bộ là một Bộ tr-ởng có quan hệ thân thích ng-ời hoàng gia và một
đến hai phó Bộ tr-ởng, một th- ký, các Vụ do Tổng giám đốc đứng đầu và những ng-ời giúp việc cho ông ta
Nh- vậy, ở chính quyền trung -ơng, cải cách của Rama V đã h-ớng tới xây dựng một nhà n-ớc theo mô hình ph-ơng Tây theo mô hình Đức song lại không muốn phá vỡ hoàn toàn cơ cấu nhà n-ớc phong kiến truyền thống
ở Xiêm
Bên cạnh việc cải tổ lại bộ máy chính quyền trung -ơng thì đến năm
1894 cải cách hành chính cũng đ-ợc lan rộng xuống các địa ph-ơng cả n-ớc Rama V chia đất n-ớc thành 14 vùng lớn, đứng đầu là các uỷ viên do vua cử ra cai quản, mỗi vùng lại chia thành nhiều tỉnh, mỗi tỉnh chia ra nhiều huyện và d-ới huyện là xã, d-ới xã là các thôn xóm Đồng thời Rama
V cũng bãi bỏ chế độ phụ thuộc của nông dân vào các thủ lĩnh (Nai) đ-ợc thiết lập từ lâu đời tr-ớc đó d-ới thời Rama Titbôđi Đệ nhất (1350-1369)
Trang 3736
Năm 1897 d-ới thời Chulalongcon, mỗi thôn xóm sẽ bầu cho mình một tr-ởng thôn do tỉnh tr-ởng duyệt Và điều này đồng nghĩa với việc ng-ời dân sẽ trực tiếp phụ thuộc vào nhà n-ớc chứ không qua các “Nai” như tr-ớc Nh- thế với cải hành chính ở địa ph-ơng, nhà n-ớc trung -ơng tập quyền đã với tay đến tận các làng xã, thôn xóm để trực tiếp tổ chức quản lý c- dân của mình
Năm 1902, Chulalongcon cho lập tr-ờng đào tạo chính trị và hành chính cho các thành viên của hoàng gia nhằm học theo cách quản lý và lãnh
đạo theo kiểu ph-ơng Tây Điều này có ý nghĩa hết sức quan trọng vì nó sẽ tạo ra một tầng lớp phong kiến quý tộc "Âu hoá" cầm quyền vừa trung thành với lý t-ởng Rama V, vừa có tác phong quản lý lãnh đạo năng động hiệu quả, hiện đại Các hoàng tử Devawongse (Bộ tr-ởng Ngoại giao), Damrong (Bộ tr-ởng Nội vụ) đều đ-ợc tr-ởng thành từ đây
Nh- vậy, công cuộc cải cách hành chính ở Xiêm đ-ợc thực hiện khá mạnh mẽ từ trung -ơng đến địa ph-ơng nh-ng về cơ bản vẫn giữ vững quyền lợi của giai cấp phong kiến quý tộc, không hề có sự nh-ợng bộ, chia
sẻ cho bất cứ một tầng lớp nào trong xã hội, kể cả th-ơng nhân t- sản Cải cách này đã thủ tiêu chế độ tự trị phong kiến vùng biên và củng cố thêm quyền lực của bộ máy hành chính tập quyền trung -ơng
Ngoài ra, để đảm bảo cho việc thực thi pháp luật có hiệu quả và đảm bảo công tác điều hành quản lý của nhà n-ớc, Rama V đã tiến hành hiện
đại hoá lực l-ợng cảnh sát, cải tổ pháp luật, toà án và thành lập Bộ t- pháp Năm 1897, lực l-ợng cảnh sát Xiêm đ-ợc thiết lập gồm hai bộ phận: Lực l-ợng cảnh sát quân sự (hiến binh) hoạt động trên toàn lãnh thổ, đứng đầu
là Tổng thanh tra thuộc Bộ Nội vụ và lực l-ợng cảnh sát đặc biệt của Băng Cốc, các tỉnh, Phùkệt Lực l-ợng cảnh sát ra đời đã trở thành công cụ đắc lực để điều hành quản lý nhà n-ớc có hiệu quả trên lãnh thổ cả n-ớc
Đông thời với xây dựng lực l-ợng cảnh sát thì Rama V cũng tiến hành cải tổ về luật pháp và toà án Năm 1892, sau khi cử các đoàn đại biểu sang ph-ơng Tây học tập, mời cố vấn n-ớc ngoài nh-: Đức, Pháp, Bỉ, Nhật t-
Trang 3837
vấn, Rama V bắt đầu thành lập hội đồng soạn thảo Bộ luật quốc gia Kết quả là đến năm 1908 bộ luật d-ới dạng hình sự đầu tiên ở Xiêm ra đời và các bộ luật dân sự, th-ơng mại mô phỏng theo những bộ luật t- sản tiên tiến
ở châu Âu tiếp tục đ-ợc soạn thảo Việc cải tổ, soạn thảo luật pháp đã giúp Xiêm dần dần giành lại quyền độc lập về mặt luật pháp và quản lý xã hội theo trật tự nhà n-ớc pháp quyền
Bên cạnh cải cách luật pháp thì lĩnh vực t- pháp cũng có một b-ớc cải
Đối với giáo dục: Xác định đ-ợc yêu cầu của công cuộc cải cách mở cửa và thực trạng nền giáo dục truyền thống, Chulalongcon đã chủ tr-ơng cải cách giáo dục nhằm nâng cao dân trí, tạo nhân lực h-ớng theo kiểu ph-ơng Tây Nhà vua đã ban hành một sắc lệnh về nền giáo dục bắt buộc cho con em các tầng lớp trong xã hội Năm 1871, tr-ờng học đầu tiên đ-ợc khai giảng trong hoàng cung để đào tạo con cháu hoàng tộc và quan lại cao cấp nhà n-ớc theo học Đến năm 1884, tr-ờng công đ-ợc mở ở Băng Cốc thu hút con em nhân dân vào học, điều này đánh dấu một b-ớc tiến quan trọng trong nền giáo dục Xiêm Cùng với nó là hệ thống giáo dục phổ thông
hệ 12 năm chia ra làm hai bậc sơ cấp và trung cấp đ-ợc hình thành theo kiểu Anh Đồng thời cấp đại học cũng cho ra đời nhiều tr-ờng nh-: Tr-ờng Lục quân (1887), tr-ờng Hải Quân (1907), tr-ờng Luật khai giảng năm 1897 Năm 1887, Bộ Giáo dục Xiêm đ-ợc thành lập có chức năng chuyên trách quản lý giáo dục của v-ơng quốc do hoàng thân Đamrông đứng đầu
Trang 39Đồng thời với việc tổ chức đào tạo trong n-ớc thì việc đào tào n-ớc ngoài cũng đ-ợc quan tâm Hầu nh- con cháu hoàng gia và con em quan lại cao cấp đ-ợc gửi ra n-ớc ngoài học tập về các lĩnh vực nh-: Học ngôn ngữ
ở Anh, Đức, Pháp; học về quân sự, lịch sử ở Anh, Đức, Nga; học về luật pháp ở Anh Từ năm 1897, nhà vua cấp chế độ học bổng cho sinh viên du học ngoại quốc
Nh- vậy, trong công cuộc cải cách giáo dục vua Rama V đã khéo léo kết hợp xây dựng một nền giáo dục khá hoàn chỉnh, trong đó kết hợp mô hình kiểu hiện đại ph-ơng Tây với phong cách truyền thống Xiêm Kết quả
là đã hình thành đ-ợc hệ thống tr-ờng học với đầy đủ các bậc và nhiều ph-ơng pháp đào tạo đa dạng gắn liền với thực tiễn nhu cầu của đất n-ớc Thắng lợi của cải cách này đã tạo nền tảng cho sự ra đời những thế hệ ng-ời Xiêm năng động, sáng tạo nhạy bén tr-ớc xu thế của lịch sử Tuy nhiên, trong giáo dục cũng còn những hạn chế nhất định, chủ yếu là đào tạo con em hoàng gia, quý tộc quan lại là chính và còn lại con em ng-ời nghèo, nô lệ, nông dân ch-a đ-ợc chú ý nhiều
Về tôn giáo: ở Xiêm ngày từ lâu đời đạo Phật đã phát triển mạnh mẽ
và tựa nh- quốc giáo D-ới thời vua Rama IV, Phật giáo tiếp tục đ-ợc củng
cố, là quốc giáo n-ớc này Đến thời vua Rama V, trên cơ sở những chính sách của vua cha, ông tiếp tục thi hành nhiều chính sách khoan dung đối với các tôn giáo, đặc biệt là đạo Phật Là ng-ời sùng đạo Phật, đồng thời cũng là vua của một n-ớc Phật giáo nên Rama V đã giành nhiều -u ái cho
Trang 4039
nhà chùa Năm 1888, vua cho V-ơng đệ Kim C-ơng Trí biên soạn hoàn chỉnh lại bộ Kinh Tam Tạng bằng tiếng Thái và cho phát hành đúng dịp lễ
đăng quang lần thứ 25 của nhà vua Cũng năm 1893, hàng ngàn bộ kinh
đ-ợc gửi cho các nhà chùa ở các địa ph-ơng, thậm chí gửi sang các n-ớc Phật giáo láng giềng Những sự kiện này có ý nghĩa quan trọng nó khẳng
định chỗ đứng của đạo Phật trở thành chuẩn mực t- t-ởng đạo đức xã hội ở Xiêm
Năm 1902, nhà vua ban hành đạo luật tổ chức hệ thống tăng s- nhằm thống nhất tổ chức Phật giáo trong cả n-ớc Ông cho lập Hội đồng cao tăng
để lãnh đạo tăng ni và truyền bá Phật pháp trong cả n-ớc Hội đồng cao tăng đ-ợc vua thành lập gồm 9 vị cao tăng có uy tín đứng đầu đại diện cho tăng s- ba miền Bắc - Trung - Nam và giáo phái Thămmgiutnikay Đồng thời vua còn mời bốn vị cao tăng có uy tín nhất tham gia trợ lý cho vua về vấn đề tôn giáo
Năm 1890, vua cho thành lập Học viện Đại xá lị ở chùa Đại xá lị Băng Cốc làm trung tâm nghiên cứu tiếng Pali Sau này đến năm 1947, Học viện này đổi tên thành Đại học Phật giáo Chulalongcon để ghi nhớ công lao của
ông Đến năm 1893, vua còn cho thành lập Học viện Hoàng Miện đặt ở chùa Bovaranives Đồng thời với việc thành lập các học viện vua Rama V còn giành nhiều -u ái cho nhà chùa và giới tăng ni
Bên cạnh việc chủ tr-ơng phát triển đạo Phật, Rama V cũng quan tâm
và có thái độ hoà hợp đối với các tôn giáo khác nh- Thiên chúa giáo, Hồi giáo Thậm chí ông còn bỏ tiền riêng của mình để xây dựng các đền thờ
đạo Hồi Các chức sắc tôn giáo đều đ-ợc đề cao và đ-ợc h-ởng -u đãi nh- quyền sở hữu đất đai, không phải đi lính
Nh- vậy, trong việc thực thi các chính sách về tôn giáo, Rama đã thể hiện tinh thần hoà hợp tôn giáo và phát huy tối đa vai trò của nó trong công cuộc cải cách đất n-ớc Sự h-ng thịnh của Phật giáo Xiêm lúc này đã góp phần quan trọng vào việc nâng cao uy tín địa vị của nhà vua đồng thời vai trò vị trí của đạo Phật lúc này trở thành chỗ dựa nền tảng tinh thần vững