Một số nghành nghề thủ công truyền thống ở Quỳnh L-u đã thực sự trở thành “trọng tâm” trong quá trình phát triển kinh tế của huyện và đã đạt đ-ợc những thành tựu to lớn đó là: nghề chế b
Trang 1Tr-ờng đại học vinh
Trang 2Lời cảm ơn
Để hoàn thành đề tài nghiên cứu này bản thân tôi luôn luôn nhận đ-ợc
sự giúp đỡ tận tình của cô giáo h-ớng dẫn Th.S Nguyễn Thị Hà cùng các thầy cô trong khoa lịch sử tr-ờng Đại học Vinh Với sự nỗ lực, cố gắng hết mình của bản thân và sự động viên khích lệ của gia đình, bạn bè đã giúp tôi hoàn thành khoá luận tốt nghiệp của mình
Qua đây tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến cô giáo h-ớng dẫn cùng các thầy cô giáo trong khoa lịch sử và xin gửi đến thầy cô lời cảm ơn chân thành nhất
Vì thời gian và nguồn t- liệu có hạn, vả lại bản thân còn là một sinh viên tập nghiên cứu khoa học, đây là công trình thử thách b-ớc đầu của mình nên chắc chắn đề tài còn nhiều thiếu sót, tác giả mong nhận đ-ợc các ý kiến
đóng góp của quý thầy, cô giáo và các bạn sinh viên
Một lần nữa tôi xin chân thành cảm ơn!
Vinh, tháng 5 năm 2009
Tác giả
Nguyễn Công Sơn
Trang 33 Đối t-ợng và phạm vi nghiên cứu đề tài 4
4 Nguồn tài liệu và ph-ơng pháp nghiên cứu 5
Ch-ơng 1: Khái quát điều kiện phát triển, đặc điểm và những nhân
1.1 Vị trí địa lý và tài nguyên thiên nhiên của Quỳnh L-u 6 1.2 Đặc điểm của làng nghề thủ công truyền thống 9 1.2.1 Lịch sử hình thành và phát triển 9 1.2.2 Đặc điểm của làng nghề thủ công truyền thống 10 1.3 Những nhân tố tác động tới sự phát triển của làng nghề thủ công
Ch-ơng 2: Quá trình ra đời và phát triển của một số làng nghề thủ
2.1 Nghề chế biến n-ớc mắm truyền thống ở làng Phú Lợi - xã Quỳnh
Trang 42.2.2 Một số công trình do ng-ời thợ làng nghề tu tạo và xây dựng 35
Ch-ơng 3: Giá trị và công tác bảo tồn, phát triển làng nghề thủ
3.1 Những giá trị của làng nghề thủ công truyền thống 52
3.2 Thực trạng và công tác bảo tồn, phát triển làng nghề thủ công
3.2.1 Thực trạng của làng nghề thủ công truyền thống ở Quỳnh L-u 56 3.2.2 Bảo tồn và phát triển làng nghề thủ công truyền thống: vấn đề thiết
Phụ lục
Trang 5Trải qua quá trình ra đời và phát triển, nghề thủ công đã đi vào tiềm thức của mỗi ng-ời dân Việt Nam, nó trở nên gần gũi thân quen, là một phần không thể thiếu trong cuộc sống đời th-ờng Hơn nữa khi nghiên cứu sự phát triển kinh tế - văn hoá - xã hội của một đất n-ớc, sự phát triển khoa học kỹ thuật chúng ta không thể không nghiên cứu đến nghề thủ công truyền thống ở mỗi làng quê Việt Nam
Trong xu thế quốc tế hoá toàn cầu nh- hiện nay, khi mà nền công nghiệp n-ớc ta ch-a phát triển cao thì những sản phẩm của các làng nghề thủ công truyền thống trở thành những mặt hàng có giá trị kinh tế cao Mặt khác các sản phẩm từ các làng nghề thủ công truyền thống còn là những mặt hàng
đại diện cho Việt Nam trong quá trình giao l-u, hội nhập với các n-ớc trong khu vực và trên thế giới Để phát huy những thế mạnh và tận dụng những nguồn nguyên liệu sẵn có trong tự nhiên nhằm đ-a nền kinh tế phát triển đòi hỏi chúng ta phải phát huy những ngành nghề thủ công ở các làng nghề truyền thống trên đất n-ớc ta
Nghị quyết Hội nghị Ban chấp hành trung -ơng Đảng lần thứ 7 (khoá
VII) đã nêu: “Phát triển các ngành nghề, làng nghề thủ công truyền thống của
từng vùng mở thêm những ngành nghề mới, phát triển công nghiệp nông thôn” [24,63]
Trang 6Tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VIII (6/1996) cũng nêu lên:
“Cần phải phát triển các ngành nghề, làng nghề thủ công và các nghề mới bao gồm: tiểu thủ công nghiệp, công nghiệp sản xuất hàng tiêu dùng, hàng xuất khẩu…” [25,87]
Quỳnh Lưu vốn là mảnh đất có đầy đủ cả 3 yếu tố “thiên thời, địa lợi, nhân hoà” nên đã nhanh chóng tiếp nhận và vận dụng một cách có hiệu quả những ngành nghề và làng nghề thủ công truyền thống Từ bao đời nay Quỳnh L-u vẫn là một trong những trung tâm sản xuất các mặt hàng thủ công truyền thống của tỉnh Nghệ An, do vậy mà Quỳnh L-u thực sự đóng vai trò quan trọng trong việc phát triển kinh tế chung của toàn tỉnh
Làng nghề thủ công truyền thống ở Quỳnh L-u cũng có những b-ớc thăng trầm nhất định, tuy nhiên cho đến hiện nay các làng nghề thủ công truyền thống ở Quỳnh L-u vẫn đ-ợc duy trì và ngày càng phát triển, góp phần không nhỏ vào sự phát triển của lịch sử Nghệ An nói riêng và lịch sử dân tộc nói chung Một số nghành nghề thủ công truyền thống ở Quỳnh L-u đã thực
sự trở thành “trọng tâm” trong quá trình phát triển kinh tế của huyện và đã đạt
đ-ợc những thành tựu to lớn đó là: nghề chế biến n-ớc mắm ở làng Phú Lợi - xã Quỳnh Dị, làng nghề mộc dân dụng và mỹ nghệ Phú Nghĩa - xã Quỳnh Nghĩa
Cho đến ngày nay, việc duy trì và phát triển các làng nghề thủ công truyền thống thực sự phù hợp với điều kiện của đất n-ớc cũng nh- xu thế phát triển của thời đại Điều này cũng nhằm mục đích để khẳng định giá trị đích thực của các làng nghề thủ công truyền thống
Với tấm lòng của một ng-ời con sinh ra và lớn lên trên mảnh đất Quỳnh L-u, tôi mong muốn góp thêm một phần bé nhỏ vào việc tìm hiểu nghiên cứu quá trình ra đời, phát triển và kỹ thuật sản xuất của một số làng nghề thủ công truyền thống ở Quỳnh L-u cũng nh- giá trị của nó đối với nền kinh tế - xã hội
địa ph-ơng
Trang 7Từ những lí do trên tôi mạnh dạn chọn đề tài: “Tìm hiểu một số làng nghề thủ công truyền thống ở Quỳnh L-u - Nghệ An” làm khoá luận tốt
nghiệp của mình
2 Lịch sử vấn đề
Nói về các làng nghề thủ công truyền thống ở n-ớc ta nói chung và ở Quỳnh L-u nói riêng là một vấn đề khó khăn, phức tạp bởi những nghề thủ công truyền thống cho đến nay có khi còn hoặc có khi đã mất đi, cộng thêm vào đó là do sự biến động của lịch sử đã tác động mạnh mẽ đến sự tồn tại, phát triển của các làng nghề thủ công truyền thống Tuy nhiên cũng có một số công trình nghiên cứu đề cập đến những ngành nghề thủ công truyền thống
Trong tạp chí nghiên cứu lịch sử, số 5/1999 có bài viết của Lê Thị Tuyết
Vân “Một số vấn đề về làng nghề thủ công ở nước ta hiện nay”, có nêu lên
đôi nét về lịch sử phát triển của làng nghề và sự đan xen giữa các làng nghề thủ công truyền thống với sự hình thành các làng nghề mới
Trong cuốn “Làng nghề thủ công truyền thống Việt Nam” (1998) của
Bùi Văn V-ợng, Nhà xuất bản Văn hoá dân tộc - Hà Nội, đã giới thiệu nhiều nhóm làng nghề trên mọi miền đất n-ớc trong đó có Nghệ An, đồng thời cũng nêu lên những yếu tố ảnh h-ởng đến sự phát triển của các làng nghề Qua đó, chúng ta thấy đ-ợc một cách khái quát về các ngành nghề thủ công ở các làng nghề truyền thống
Trong cuốn “Kỷ yếu hội thảo về các nghề thủ công truyền thống”, xuất bản 1995 và đặc biệt là cuộc hội thảo “Bảo tồn và phát triển làng nghề thủ
công truyền thống Việt Nam - tiến trình lịch sử và định hướng” (1998) Đây là
tập kỷ yếu hội thảo Quốc tế do Bộ công nghiệp và tổ chức UNIDO (Tổ chức phát triển công nghiệp Liên Hợp Quốc) phối hợp tổ chức Hội thảo tập trung
đi sâu nghiên cứu lợi thế để phát triển làng nghề và đ-a ra một số nhận xét mang tính dự báo về nghề thủ công truyền thống
Trang 8Trong cuốn “Tìm hiểu khoa học kỹ thuật trong lịch sử Việt Nam”
(1979), nhà xuất bản Khoa học xã hội - Hà Nội, có bài: “Vài nét về kỹ thuật thủ công cổ truyền của dân tộc” của Phạm Văn Kính, giới thiệu về kỹ thuật sản xuất một số nghề thủ công truyền thống cổ x-a của ng-ời Việt bao gồm
kỹ thuật chế biến l-ơng thực thực phẩm, kỹ thuật dệt, kỹ thuật sản xuất hàng tiêu dùng… Tuy nhiên, giữa các vùng miền vẫn có sự khác nhau đó chính là
sự khác nhau về tay nghề, trình độ và óc sáng tạo của nghệ nhân trong kỹ thuật sản xuất của làng nghề thủ công truyền thống
Trong cuốn: “Nghề, làng nghề thủ công truyền thống Nghệ An” của
Ninh Viết Giao (chủ biên), nhà xuất bản Nghệ An, đã giới thiệu quá trình ra
đời, phát triển nghề thủ công truyền thống ở Nghệ An và đề cập đến nhiều làng nghề nổi tiếng ở Nghệ An, trong đó có nhiều làng nghề thuộc Quỳnh L-u
Nhìn chung các cuốn sách và tài liệu nói trên mới nêu lên một cách khái quát về các ngành nghề và kỹ thuật sản xuất một số ngành nghề thủ công truyền thống ở n-ớc ta chứ ch-a đi sâu khai thác nét riêng, nét đặc sắc ở mỗi
địa ph-ơng tạo thành bí quyết làng nghề
3 Đối t-ợng, phạm vi nghiên cứu của đề tài
Nghiên cứu của đề tài là “Tìm hiểu một số làng nghề thủ công truyền
thống ở Quỳnh L-u - Nghệ An”, để thấy đ-ợc một số thành tựu về kinh tế,
khoa học kỹ thuật của n-ớc ta nói chung, của Quỳnh L-u nói riêng trong điều kiện lịch sử lúc bấy giờ Từ đó nhằm rút ra những giá trị đích thực của nghề thủ công truyền thống trên địa bàn huyện Quỳnh L-u
Với mục đích đó khoá luận tr-ớc tiên đề cập đến điều kiện phát triển và những yếu tố tác động đến ngành nghề thủ công ở Quỳnh L-u Trọng tâm nghiên cứu của khoá luận là quá trình ra đời và phát triển của một số làng nghề thủ công truyền thống ở Quỳnh L-u, từ đó thấy đ-ợc quy trình kỹ thuật sản xuất cũng nh- giá trị của nó đối với sự nghiệp xây dựng và phát triển sự
Trang 9nghiệp đất n-ớc Qua đó một lần nữa khẳng định những thành tựu và kỹ thuật sản xuất hàng hoá thủ công của nhân dân Quỳnh L-u là một b-ớc tiến bộ trong xu thế phát triển kinh tế ở n-ớc ta lúc bấy giờ
4 Nguồn tài liệu và ph-ơng pháp nghiên cứu
Để thực hiện đề tài này chúng tôi đã dựa trên một số nguồn tài liệu sau
đây:
Tài liệu thành văn bao gồm: Là các Nghị quyết của Đảng Cộng sản Việt Nam (tại các Đại hội VII, VIII), các Kỷ yếu hội thảo trong n-ớc và quốc tế, các cuốn sách viết về các ngành nghề thủ công truyền thống của dân tộc, các
kế hoạch - báo cáo phát triển kinh tế và các nguồn tài liệu liên quan khác
Tài liệu điền dã: Các cuộc trao đổi với những ng-ời cao niên, những nghệ nhân của làng nghề hiện nay còn sống hoặc hậu duệ của những nghệ nhân x-a hiện đang tiếp tục làm nghề
Để thực hiện đề tài này chúng tôi đã sử dụng các ph-ơng pháp chủ yếu: ph-ơng pháp lịch sử, ph-ơng pháp lôgic Ngoài ra chúng tôi còn sử dụng các ph-ơng pháp chuyên ngành nh- khái quát, so sánh, đối chiếu, phân tích, tổng hợp… kết hợp tài liệu thành văn với tư liệu điền dã để đảm bảo cơ sở khoa học trong đề tài nghiên cứu của mình
5 Bố cục của khoá luận
Ngoài phần Mở đầu, Kết luận và Tài liệu tham khảo, Phụ lục, Nội dung của khoá luận đ-ợc trình bày trong 3 ch-ơng:
Ch-ơng 1: Khái quát điều kiện phát triển, đặc điểm và những nhân tố tác động đến làng nghề thủ công truyền thống ở Quỳnh L-u
Ch-ơng 2: Quá trình ra đời và phát triển của một số làng nghề thủ công truyền thống ở Quỳnh L-u
Ch-ơng 3: Giá trị và công tác bảo tồn, phát triển làng nghề thủ công truyền thống ở Quỳnh L-u
Trang 10B- Nội dung Ch-ơng 1 Khái quát điều kiện phát triển, đặc điểm và những nhân tố tác động đến nghề thủ công truyền thống ở
Quỳnh L-u 1.1 Vị trí địa lý và tài nguyên thiên nhiên của Quỳnh L-u
Quỳnh L-u nằm ở phía Bắc tỉnh Nghệ An Tuy là huyện đồng bằng nh-ng có rừng núi, có biển Diện tích đất tự nhiên là 60.706 ha, trong đó diện tích đất dùng vào nông nghiệp là 15.427,64 ha Dân số tính đến năm 2007 là 360.000 ng-ời Quỳnh L-u là một huyện đồng bằng t-ơng đối rộng, có tọa độ
địa lý: Cực Bắc 19022'12" vĩ độ bắc, cực Nam: 1900'15" vĩ độ Bắc, cực Tây:
1605'15" đông kinh tuyến, cực Đông: 105047'50" đông kinh tuyến Quỳnh L-u
có đ-ờng biên giới dài 122 km, trong đó đ-ờng biên giới đất liền 88 km và 34
km đ-ờng bờ biển Khoảng cách từ huyện lỵ là Thị trấn Cầu Giát đến Tỉnh lỵ
là Thành phố Vinh khoảng 60 km Phía Bắc huyện Quỳnh L-u giáp huyện Tỉnh Gia (Thanh Hóa), có chung địa giới khoảng 24 km với ranh giới tự nhiên
là khe n-ớc lạnh Phía nam và tây nam Quỳnh L-u giáp với huyện Diễn Châu
và huyện Yên Thành với ranh giới khoảng 31 km Vùng phía nam của huyện Quỳnh L-u có chung khu vực đồng bằng với huyện Diễn Châu và Yên Thành Phía tây huyện Quỳnh L-u giáp huyện Nghĩa Đàn với ranh giới khoảng 33 km
đ-ợc hình thành một cách tự nhiên bằng các dãy núi kéo dài liên tục mà giữa chúng có những đèo thấp tạo ra những con đ-ờng nối liền 2 huyện với nhau Phía đông huyện Quỳnh L-u giáp biển đông
Mặc dù không đ-ợc -u đãi về mặt đất đai, song thiên nhiên đã phú cho Quỳnh L-u có sơn thủy hữu tình Khách bộ hành đi trên đ-ờng thiên lý bắc nam, dù ngoài vào hay trong ra, qua đất Quỳnh L-u, sẽ thấy phía tây và phía bắc núi non trùng điệp, hòn thấp hòn cao, khi ẩn khi hiện trong làn mây trắng
Trang 11Ngắm cảnh phía Đông sẽ thấy những ngọn núi đá nhỏ đứng chơ vơ giữa đồng ruộng, điểm xuyết cho cảnh chí Quỳnh L-u thêm khối hình, màu sắc Quỳnh L-u có nhiều ngọn núi: Núi Trụ Hải, núi Bào Đột, núi Tùng Lĩnh bên cạnh
đó thì Quỳnh L-u còn có nhiều sông, cửa biển là điều kiện thuận lợi cho giao thông đ-ờng thủy phát triển, với các sông nh-: Sông Thai, sông Hoàng Mai
Đặc biệt Quỳnh L-u nằm ở khu vực nhiệt đới, nh-ng lại ở miền biển nên th-ờng nhận đ-ợc 3 luồng gió: Gió mùa Đông Bắc nằm sâu trong lục địa lạnh lẽo của vùng Sibia và Mông Cổ, từng đợt thổi qua Trung Quốc và vịnh Bắc Bộ tràn về, bà con gọi là gió Bắc Gió mùa Tây Nam ở tận vịnh Bănggan tràn qua lục địa, luồn qua các dãy Tr-ờng Sơn, thổi sang mà nhân dân th-ờng gọi là gió Lào, nh-ng chính là gió Tây khô nóng Gió mùa Đông Nam mát mẻ
từ biển đông thổi vào nhân dân gọi là gió nồm
Nhìn chung khí hậu Quỳnh L-u chia làm 2 mùa rõ rệt, mùa nóng từ tháng 5 đến tháng 10 d-ơng lịch, mùa lạnh từ tháng 11 năm tr-ớc đến tháng 4 d-ơng lịch năm sau Về mùa nóng, nhiệt độ trung bình 300c, có ngày lên tới
400c; về mùa lạnh th-ờng có gió mùa Đông Bắc, ít m-a Với một điều kiện địa
lý tự nhiên nh- vậy thì chúng ta có thể thấy rằng Quỳnh L-u là mảnh đất không đ-ợc thiên nhiên -u đãi nh- các huyện khác trong tỉnh Chính điều đó
đã tác động không nhỏ đến quá trình phát triển của các làng nghề thủ công truyền thống trong huyện
Vùng ven biển bao gồm các xã từ Quỳnh Lộc đến Quỳnh Thọ gồm có
13 xã Phần lớn các xã đều nằm lọt giữa kênh Dâu với biển Đông Kênh Dâu chảy theo chiều Bắc Nam gần nh- song song với bờ biển nối sông Hoàng Mai với sông Ngọc Để Các xã nằm bên kênh này và kề mép n-ớc, nhân dân Quỳnh L-u gọi là vùng Bãi Ngang Vùng ven biển Quỳnh L-u nh- vừa nói trên là do cát, đất bồn và vỏ các loài nhuyễn thể, nói chung là trầm tích của biển bồi tụ, nên độ màu mỡ có bị hạn chế Tuy là vùng nhỏ hẹp, song địa hình cũng khá phức tạp, thấp dần về phía đông, độ chênh từ tây xuống đông trung
Trang 12bình 4 m, có chỗ 6 m so với mặt n-ớc biển Với độ chênh ấy lại đất cát, nên
đồng ruộng dễ bị xói mòn, làm cho việc cải tạo đất và canh tác gặp nhiều khó khăn Đất ở đây, thành phần đạm lân, kali đều kém, l-ợng mùn nghèo Tuy thế đất ở đây vẫn có 2 loại, đất cát pha và đất sét Đất cát pha phần lớn ở các xã Bãi Ngang, ở đây nhân dân trồng lúa lốc vào mùa vụ, ngoài ra trồng khoai ngô, kê, đậu, lạc, vừng Nơi đất sét nhân dân trồng lúa
Vùng đồng bằng bao gồm 18 xã, bắt đầu từ xã Mai Hùng kéo tới xã Quỳnh Diễn Đây là vùng đất bằng phẳng, khá màu mỡ do sự bồi tụ của các loại trầm tích biển và do sự cải tạo th-ờng xuyên của con ng-ời Chính vì thế
mà vùng này trở thành vựa thóc của cả huyện Quỳnh L-u Ngoài lúa là chủ yếu, nhân dân còn trồng khoai, ngô, đậu, lạc, vừng Từ ngày có n-ớc sông Nông Giang từ Đô L-ơng chảy về và các đập kênh t-ới tiêu, năng suất cây trồng ở vùng này đã nâng cao trông thấy Đây là vùng trung tâm kinh tế, văn hóa, chính trị của huyện
Vùng đồi núi, vùng này không chỉ bao gồm các xã phía tây mà còn một
số xã phía bắc huyện Quỳnh L-u Đây là vùng đất thuận lợi cho trồng các loại cây công nghiệp nh- chè, mía ngoài ra còn trồng các loại cây có hạt nh- Trẩu, Sở Do đồi núi và địa hình bị chia cắt mạnh, song vùng này có khả năng
mở rộng diện tích canh tác, phát triển mạnh chăn nuôi, điều hòa dân số và phát triển cả về nông nghiệp
Nh- vậy với sự đa dạng của đặc điểm tự nhiên đã tạo cho Quỳnh L-u một nền kinh tế đa dạng, phù hợp với tính chất của c- dân ph-ơng Đông Trong đó nông nghiệp trồng lúa n-ớc vẫn đóng vai trò chủ đạo Tuy nhiên bên cạnh đó thì còn có những làng nghề thủ công nghiệp đ-ợc hình thành và ngày càng phát triển, bổ sung vào nguồn thu nhập và nâng cao chất l-ợng cuộc sống cho ng-ời dân Bởi vậy cho nên, các làng nghề thủ công truyền thống ở Quỳnh L-u luôn đ-ợc các cấp chính quyền quan tâm, đ-ợc l-u truyền và bảo tồn cũng nh- phát huy từ nơi này đến nơi khác, từ đời này sang đời khác
Trang 131.2 Đặc điểm của các làng nghề thủ công truyền thống ở Quỳnh L-u
1.2.1 Lịch sử hình thành và phát triển
Các làng nghề thủ công truyền thống vốn xuất hiện sớm trong lịch sử dân tộc ta nói chung và trong lịch sử Quỳnh L-u nói riêng Trong số những làng nghề thủ công đang hiện diện, nhiều làng nghề đã hình thành từ x-a,
đ-ợc truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác và th-ờng đ-ợc gọi là những làng nghề thủ công truyền thống Cùng với sự phát triển của nền văn minh nông nghiệp từ hàng ngàn năm tr-ớc đây, nhiều nghề thủ công đã ra đời tại các vùng nông thôn Việt Nam, việc hình thành các làng nghề bắt đầu từ những nghề ban đầu đ-ợc c- dân tranh thủ làm lúc nông nhàn, những lúc không phải
là mùa vụ chính
Bởi lẽ tr-ớc đây kinh tế của ng-ời Việt Cổ chủ yếu sống dựa vào việc trồng lúa n-ớc mà nghề trồng lúa không phải lúc nào cũng có việc Thông th-ờng chỉ những ngày đầu vụ hay những ngày cuối vụ thì ng-ời nông dân mới có việc làm nhiều, vất vả nh-: Cày bừa, cấy, làm cỏ, cho đến gặt lúa, phơi khô còn những ngày còn lại thì nhà nông rất nhàn hạ, rất ít việc để làm Từ
đó nhiều ng-ời đã bắt đầu tìm kiếm thêm công việc phụ để làm nhằm mục
đích ban đầu là cải thiện bữa ăn và những nhu cầu thiết yếu hàng ngày, về sau
là tăng thêm thu nhập cho gia đình
Theo thời gian, nhiều nghề phụ ban đầu đã thể hiện vai trò to lớn của
nó, mang lại lợi ích thiết thực cho c- dân Nh- việc làm ra các đồ dùng bằng mây, tre phục vụ sinh hoạt hay đồ đồng, đồ sắt phục vụ sản xuất Nghề phụ từ chỗ chỉ phục vụ nhu cầu riêng đã trở thành hàng hóa để trao đổi, đã mang lại lợi ích kinh tế to lớn cho ng-ời dân vốn tr-ớc đây chỉ trông chờ vào các vụ lúa Từ chỗ chỉ một vài nhà trong làng làm, nhiều gia đình khác cũng học làm theo, nghề từ đó mà lan rộng ra phát triển trong cả làng, hay nhiều làng gần nhau Và cũng chính nhờ những lợi ích khác nhau do các nghề thủ công đem lại mà trong mỗi làng bắt đầu có sự phân hóa Nghề đem lại lợi ích nhiều thì
Trang 14phát triển mạnh dần, ng-ợc lại những nghề mà hiệu quả thấp hay không phù hợp với làng thì dần bị mai một Từ đó bắt đầu hình thành nên những làng nghề chuyên sâu vào một nghề duy nhất nào đó nh-: Làng mây tre đan, làng mộc
ở Quỳnh L-u, các làng nghề truyền thống mặc dù có quá trình hình thành và phát triển giống nhau, tuy nhiên do nhiều nguyên nhân khác nhau mà các làng nghề truyền thống này có sự biến động theo thời gian, để rồi từ đó mà các làng nghề ở Quỳnh L-u khẳng định đ-ợc vị trí của mình trong đời sống cũng nh- trong xã hội
1.2.2 Đặc điểm của làng nghề thủ công truyền thống
Quỳnh L-u là một huyện đồng bằng t-ơng đối rộng, trên địa bàn Quỳnh L-u hiện nay có tới hơn mấy chục làng nghề thủ công truyền thống Trong đó có nhiều làng nghề nổi tiếng không chỉ ở trong vùng mà còn nổi tiếng ra các huyện và các tỉnh lân cận: Nghề chế biến n-ớc mắm ở Quỳnh Dị, mộc dân dụng và mỹ nghệ ở Phú Nghĩa Chính nhờ những làng nghề này và sản phẩm của nó đã góp phần tô thêm vẻ đẹp cũng nh- nét riêng cho huyện Quỳnh L-u
Trải qua những b-ớc thăng trầm của lịch sử, sự biến động của xã hội, không ít làng nghề ở Quỳnh L-u đã dần dần mai một, rồi mất đi nh-ng hệ quả của nó là sự ra đời của các làng nghề khác ở Quỳnh L-u bên cạnh những làng nghề có tuổi nghề mấy năm lại đây thì vẫn đang còn tồn tại nhiều làng nghề có tuổi nghề hàng trăm năm nh- nghề mộc dân dụng và mỹ nghệ Phú Nghĩa, nghề chế biến n-ớc mắm Quỳnh Dị Những làng nghề này trong quá trình tồn tại và phát triển của mình đã tạo ra đ-ợc những giá trị về kinh tế, xã hội, văn hóa vô cùng quan trọng góp phần thúc đẩy kinh tế Quỳnh L-u ngày một phát triển đi lên Những sản phẩm tạo ra từ các làng nghề thủ công truyền thống ở Quỳnh L-u nó đã chứng tỏ đ-ợc khả năng sáng tạo trình độ kỹ thuật
Trang 15Một đặc điểm nữa của các làng nghề thủ công truyền thống ở Quỳnh L-u nói riêng và cả n-ớc nói chung đó là tạo đ-ợc việc làm ngay cho cả ng-ời lao động có trình độ thấp, nâng cao thu nhập cho ng-ời dân, góp phần quan trọng vào quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông thôn thúc đẩy việc chuyển dịch cơ cấu lao động theo xu h-ớng tích cực, giảm dần lao động trong nông nghiệp, tăng số lao động tham gia làm việc trong các làng nghề tiểu thủ công nghiệp
Hiện nay, đ-ợc sự quan tâm chỉ đạo của các cấp chính quyền, các làng nghề thủ công truyền thống ở Quỳnh L-u có điều kiện để phát triển hơn Bên cạnh đó thì một số làng nghề còn vấp phải những khó khăn trong quá trình sản xuất cũng nh- tiêu thụ sản phẩm Tuy nhiên những khó khăn này sẽ dần dần
đ-ợc khắc phục trong thời gian tới để đ-a quê h-ơng Quỳnh L-u phát triển sánh ngang với các huyện khác trong tỉnh
1.3 Những nhân tố tác động tới sự phát triển của các làng nghề thủ công truyền thống ở Quỳnh L-u
Nghề thủ công truyền thống gắn liền với nhu cầu của con ng-ời, bởi vậy còn sự tồn tại của con ng-ời là còn nghề thủ công hoạt động Do đó nó chịu sự tác động của những nhân tố sau đây:
Tr-ớc hết đó là nhu cầu của con ng-ời về hàng thủ công truyền thống Nhu cầu này rất lớn và hết sức đa dạng, thời nào cũng có, không bao giờ chấm dứt bởi vì nó gắn liền với cuộc sống của mỗi con ng-ời, không chỉ đó là đời sống sinh hoạt nh- ăn, mặc, ở mà đó cũng là nhu cầu tâm linh Đây là nhu cầu thiết yếu xuyên suốt chiều dài lịch sử
Mặt khác, sự phát triển mạnh mẽ của khoa học kỹ thuật đã tác động sâu sắc tới quá trình phục hồi và phát triển của những nghề thủ công truyền thống Tuy vậy các nghề thủ công truyền thống vừa phải tiếp cận với những tiến bộ khoa học kỹ thuật vừa phải tạo ra sự tinh tế trong kỹ thuật và kinh nghiệm truyền thống Chính vì vậy mà các sản phẩm của các nghề thủ công truyền
Trang 16thống luôn giữ đ-ợc chỗ đứng trong lòng ng-ời tiêu dùng và ngày càng đ-ợc
sử dụng rộng rãi trong xã hội
Nh- vậy có nhu cầu về hàng thủ công, tất phải có sản xuất hàng thủ công truyền thống Nhu cầu càng lớn, càng bền vững thì việc sản xuất ở các làng nghề càng ổn định, càng phát triển lâu dài Ng-ợc lại một khi những mặt hàng thủ công không còn ng-ời tiêu dùng -a chuộng, mến
mộ nếu không kịp thời thay đổi sản phẩm thì nghề thủ công đó khó có thể tồn tại và đứng vững trong xã hội đ-ợc
Trình độ của nghệ nhân và đội ngũ thợ lành nghề cũng là một trong những nhân tố ảnh h-ởng tới nghề thủ công truyền thống Cần phải thấy đ-ợc rằng, vai trò của nghệ nhân và những thợ lành nghề có vai trò rất quan trọng
đối với sự tồn tại và phát triển của các làng nghề thủ công truyền thống Không có nghệ nhân thì không có nghề, hoặc ít nhất là không có th-ơng hiệu lớn trong xã hội Chính tài năng của các nghệ nhân với “đôi tay vàng” của họ
đã tạo nên những sản phẩm quý giá và độc đáo, tạo ra những sản phẩm không chỉ có giá trị về mặt vật chất mà còn có giá trị về mặt văn hóa, sống mãi với thời gian góp phần làm vẻ vang cho quê h-ơng đất n-ớc, tạo nên nét riêng, nét
độc đáo và truyền thống cho quê h-ơng Chính nghệ nhân, ng-ời thợ cả là nhân tố hàng đầu cho sự tồn tại của các nghề thủ công truyền thống, đã tạo ra những nhóm thợ mà tr-ớc hết là con cháu họ, những ng-ời trong gia đình, rồi những ng-ời trong làng Cứ nh- vậy các nghệ nhân đã tạo ra một đội ngũ thợ lành nghề ngay tại làng xóm của mình Những nghệ nhân và đội ngũ thợ lành nghề họ có thể tiến hành công việc của mình từ khâu mua nguyên vật liệu, chế biến nguyên liệu và cuối cùng là tổ chức tiêu thụ các sản phẩm hàng hóa của mình Bởi vậy mà họ có vai trò hết sức quan trọng, to lớn đối với nghề thủ công truyền thống trong việc giữ gìn và phát huy những nghệ nhân và bí quyết nghề nghiệp Đồng thời chính họ còn là những ng-ời có kỹ thuật và kinh nghiệm lâu đời, đã tạo ra những sản phẩm độc đáo có kỹ thuật cao Vì thế cho
Trang 17nên nghệ nhân và đội ngũ thợ lành nghề là nhân tố quan trọng để nghề thủ công truyền thống tồn tại và phát triển Ng-ợc lại một khi không có đội ngũ thợ lành nghề thì nghề nghiệp cũng không còn nữa
Đặc biệt yếu tố địa lý - môi tr-ờng của làng nghề cũng có tác động rất lớn, có ý nghĩa quyết định tới sự hình thành và đảm bảo sự tồn tại, phát triển lâu dài đố với nghề thủ công truyền thống Thông th-ờng những nơi có nghề thủ công phát triển th-ờng tập trung ở các làng xã, chính vì thế mà nó rất thuận tiện về giao thông thủy bộ, gần nguồn nguyên liệu Quỳnh L-u là một huyện đồng bằng ven biển, đất đai bằng phẳng, hệ thống giao thông đ-ờng bộ
và đ-ờng thủy lại rất phát triển Chính điều đó đã tạo điều kiện thuận lợi cho các nghề thủ công truyền thống trong quá trình vận chuyển nguyên liệu buôn bán với các vùng khác Đặc biệt đó là sự quy tụ của các nghành nghề thủ công truyền thống
Ngoài những yếu tố trên thì một yếu tố khác nữa cũng có tác động đến nghề thủ công truyền thống đó chính là chính sách của Đảng và Nhà n-ớc ta
Đảng và Nhà n-ớc ta đã ban hành nhiều chính sách nhằm xây dựng và phát triển các nghề thủ công truyền thống Ngoài những chính sách của Đảng và Nhà n-ớc ta đối với các làng nghề thủ công truyền thống trên ph-ơng diện cả n-ớc thì do tính đặc thù của mỗi địa ph-ơng do đó mỗi địa ph-ơng đều có những chính sách riêng để nhằm xây dựng va phát triển làng nghề Nghị quyết
06 - NQ/TƯ ngày 8/8/2001 của Ban chấp hành tỉnh Đảng bộ về việc phát triển ngành tiểu thủ công nghiệp và xây dựng làng nghề tỉnh Nghệ An giai đoạn
2001 - 2005 có tính đến năm 2010 và quyết định số 3465 QĐ - UB ngày 23/9/2002 của Uỷ ban nhân dân tỉnh Nghệ An về việc phê duyệt đề án thực hiện nghị quyết 06/NQTƯ của Ban chấp hành Đảng bộ tỉnh Thực hiện nghị quyết số 07 của Ban chấp hành huyện ủy Quỳnh L-u khóa 24 Thực hiện đề
án của ủy ban nhân dân huyện về phát triển công nghiệp - tiểu thủ công nghiệp giai đoạn 2003 - 2005 có tính đến 2010
Trang 18Riêng làng nghề mộc dân dụng và mỹ nghệ Phú Nghĩa - xã Quỳnh Nghĩa, nhờ những chính sách hỗ trợ làng nghề của nhà n-ớc và địa ph-ơng mà làng nghề đã nhanh chóng đạt đ-ợc những thành quả cao
Các chính sách của Trung -ơng
Nghị quyết số 134/NĐ - CP ngày 9-6-2004 của chính phủ về khuyến khích phát triển công nghiệp nông thôn Thông t- liên tịch số 36/2005/TTLT - BTC - BCN của Bộ tài chính và Bộ công nghiệp ngày 16/5/2005 h-ớng dẫn việc quản lý và sử dụng kinh phí sự nghiệp kinh tế đối với hoạt động khuyến công Thông t- 03/0502005/TT - BCN của Bộ công nghiệp ngày 23/6/2005 h-ớng dẫn thực hiện một số nội dung của nghị định 134/2004 NĐ - CP ngày 9/6/2004 của Chính phủ về khuyến khích phát triển công nghiệp nông thôn Nghị định 66/2006/NĐ - CP của Chính phủ ngày 7/7/2006 về phát triển nghành nghề ở nông thôn
Chính sách của tỉnh Nghệ An
Quyết định số 82/2004/ QĐ - UBND ngày 2/8/2004 của Uỷ ban nhân dân tỉnh về việc ban hành quy định về chính sách khuyến nông phát triển tiểu thủ công nghiệp, nghề và làng nghề trên địa bàn tỉnh Quyết định số 109/2004/QĐ - UBND ngày 29/10/2004 của Uỷ ban nhân dân tỉnh về việc ban hành quy chế quản lí, sử dụng quỹ khuyến nông
Các chính sách của làng nghề đã đ-ợc h-ởng
Hỗ trợ 20.000.000 đồng làm đ-ờng cấp phối để xây dựng làng nghề, tặng th-ởng 30.000.000 đồng đạt danh hiệu làng nghề tiểu thủ công nghiệp
Đ-ợc hỗ trợ đào tạo nghề cho 75 lao động tham gia, hỗ trợ kinh phí xây dựng
đ-ờng nhựa làng nghề dài 2 km giá trị 1,2 tỷ đồng
Từ đó thấy rằng các chính sách của Nhà n-ớc cũng nh- của chính quyền
địa ph-ơng đã tạo cho làng nghề có một bộ mặt khởi sắc và tiếp tục đ-a làng nghề ngày càng phát triển cao hơn
Trang 19Nh- vậy, điều kiện địa lý tự nhiên cũng nh- môi tr-ờng thể chế - chính sách và pháp luật của Nhà n-ớc có ý nghĩa quyết định và trực tiếp tác động
đến sự phát triển bền vững đối với các làng nghề thủ công truyền thống Sự tác
động này đã ảnh h-ớng lớn đến sự phát triển h-ng thịnh hay suy yếu của làng nghề thủ công truyền thống
Trang 20Ch-ơng 2 Quá TRìNH RA ĐờI Và PHáT TRIểN CủA một số làng nghề
thủ công truyền thống ở quỳnh l-u 2.1 Nghề chế biến n-ớc nắm truyền thống ở làng Phú Lợi - Xã Quỳnh Dị
2.1.1 Nguồn gốc hình thành
Phú Lợi là một làng gồm hai xóm, xóm Phú Lợi 1 và xóm Phú Lợi 2, nằm dọc theo bờ sông Hoàng Mai, một mảnh đất vốn chật hẹp, đầy khó khăn, trở ngại mà điều kiện tự nhiên không mấy -u đãi cho vùng đất này Thế nh-ng
ở nơi ấy từ thời Bắc Thuộc, cách đây khoảng 200 năm, ng-ời dân nơi đây đã
tự lập cho mình một nghề - nghề làm n-ớc mắm, mà đến nay nó trở thành nguồn thu nhập chính cho đời sống của ng-ời dân làng Phú Lợi
Tr-ớc kia nơi đây vốn là một gò đất trống giáp biển, ng-ời dân ở khắp mọi nơi từ Diễn Châu (Diễn Ngọc, Diễn Vạn, Diễn Kim), Nghi Lộc, Thanh Hoá, hội tụ về đây định c- sinh sống tạo nên làng Phú Lợi ngày nay, họ sống chủ yếu dựa vào nghề đánh bắt hải sản gần bờ, với ph-ơng tiện hết sức thô sơ
Điều kiện tự nhiên đã ban tặng cho vùng đất này những thuận lợi to lớn, vốn là vùng giáp biển, vùng biển lắm sinh vật phù du, nhiều loại hải sản có giá trị kinh tế cao và giàu l-ợng đạm, nh- cá hố, cá thu, cá ngừ, cá chim, đặc biệt
là cá cơm, là các loại cá phù hợp nhất cho ng- dân trong làng làm nghề chế biến n-ớc mắm Bởi thế từ rất sớm ng-ời dân từ khắp mọi nơi đã hội tụ về đây lấy nghề đánh bắt hải sản làm nghề chính, mà tr-ớc đây ng-ời ta quen gọi là
“dân vạn chài” Cuộc sống của họ gắn bó với biển cả, với những phương tiện
đánh bắt thô sơ, đánh bắt gần bờ Ban đầu hải sản đánh bắt đ-ợc một phần
đem về phục vụ cho gia đình, một phần đem bán hoặc trao đổi trong làng trong xã lấy thực phẩm và hàng tiêu dùng cho gia đình, dần dần hải sản đánh bắt đ-ợc ngày càng nhiều đem dùng trong gia đình và tiêu thụ trong làng, trong xã không hết, họ đem phơi khô và muối phục vụ cho gia đình mình
Trang 21Ban đầu chỉ một, hai gia đình làm, với một vài vại nhỏ Cuộc sống nay
đây mai đó trên sông, trên biển quần quật quanh năm nh-ng vẫn không đủ sống, trong khi số hải sản mà họ đánh bắt đựơc lại d- thừa, tiêu thụ không hết Để khắc phục những khó khăn đó nhiều ng-ời dân trong làng đã đi khắp nơi đến các vùng ven biển học nghề làm n-ớc mắm, tiêu biểu nh- cụ Hoàng
Đức Phơn, cụ là ng-ời đầu tiên trong làng ra Cát Hải - Hải Phòng học nghề làm n-ớc mắm, về truyền lại cho con cháu và nhiều hộ gia đình trong làng
Biển khơi đã tặng cho ng-ời dân nơi đây nguồn hải sản phong phú đa dạng, cùng với cái khắt khe của gió tây nam, t-ởng chừng nh- đó là sự khắt khe của tự nhiên đối với làng quê Phú Lợi Thế nh-ng những ng-ời dân nơi
đây đã v-ợt lên mọi khó khăn, lợi dụng cái nắng, cái gió khắt khe đó để sống bằng nghề làm n-ớc mắm Có lẽ cũng chính vì cái khắt khe đó t-ởng chừng nh- đe doạ cuộc sống của con ng-ời nơi đây lại rèn luyện con ng-ời nơi đây cứng cỏi hơn và đây cũng chính là một trong những nguyên nhân quan trọng làm cho n-ớc mắm ở đây thơm ngon thậm chí còn ngon hơn cả những nơi mà
họ đã từng đến học nghề
2.1.2 Quá trình phát triển
Lịch sử có những b-ớc thăng trầm và nghề làm n-ớc mắm ở làng Phú Lợi cùng có những b-ớc thăng trầm nhất định:
Thời kỳ kháng chiến chống Pháp
Làng Phú Lợi là một gò đất nổi, nằm ven sông Hoàng Mai, ngay từ thời
kỳ này ng-ời dân ở khắp nơi hội tụ về đây sinh sống, chủ yếu dựa vào đánh bắt hải sản gần bờ, cuộc sống gắn bó với sông, biển, mà tr-ớc đây ng-ời ta thường gọi là những người dân “vạn chài” Hải sản đánh bắt được tiêu thụ không hết, để tận dụng sản phẩm d- thừa, họ đã đem muối làm n-ớc mắm Tuy nhiên thời kỳ này n-ớc mắm làm ra chủ yếu để phục vụ cho gia đình chỉ mới một số ít gia đình làm, n-ớc mắm ch-a phải là nghề chính nuôi sống gia
Trang 22đình, vì thế có thể xem đây là thời kỳ hình thành phôi thai của nghề làm n-ớc mắm ở làng Phú Lợi
Sống trên mảnh đất hẹp, không có điều kiện để mở rộng sản xuất, ng-ời dân nơi đây chủ yếu dựa vào đánh bắt hải sản ven bờ Từ thời Pháp thuộc nghề làm n-ớc mắm đã hình thành phôi thai, đến thời kỳ này nhiều ng- dân làng Phú Lợi đã đi khắp các nơi đến các vùng ven biển học nghề làm n-ớc mắm nh- ở Cát Hải - Hải Phòng, về làm n-ớc mắm, vì vậy đến thời kỳ này nghề làm n-ớc mắm mới thực sự hình thành ở làng Phú Lợi, ở thời kỳ này sản phẩm n-ớc mắm làm ra không chỉ để phục vụ cho gia đình mà còn đem trao đổi buôn bán trong làng xã, các hộ gia đình trong làng gây dựng tu bổ đ-ợc một
số cơ sở vật chất
Cuộc cách mạng tháng Tám giành đ-ợc thắng lợi ch-a đ-ợc bao lâu, thì Pháp quay trở lại xâm l-ợc n-ớc ta Chiến tranh đã tàn phá tất cả những cơ sở vật chất ban đầu của ng- dân Phú Lợi, lực l-ợng đánh bắt hải sản chủ yếu là thanh niên trai tráng ra chiến tr-ờng, bởi vậy nguồn nguyên liệu hải sản dùng
để làm n-ớc mắm thiếu trầm trọng, nghề làm n-ớc mắm ở đây không có điều kiện phát triển, mở rộng sản xuất
Trong hoàn cảnh đó Đảng, Nhà n-ớc ta đã đề ra nhiệm vụ cho cả hai miền Miền Bắc đã hoàn thành cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân tiến lên xây dựng xã hội chủ nghĩa và hậu ph-ơng vững chắc cho tiền tuyến lớn Miền Nam Còn ở Miền Nam do ch-a hoàn thành cách mạng dân tộc dân chủ nhân
Trang 23dân, nên phải tiếp tục thực hiện cuộc cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân hoàn thành sự nghiệp thống nhất n-ớc nhà là tiền tuyến lớn
Trong hoàn cảnh đó nhân dân Làng Phú Lợi cùng nhân dân cả n-ớc, vừa khôi phục kinh tế, hàn gắn vết th-ơng chiến tranh, vừa là hậu ph-ơng vững chắc cung cấp sức ng-ời của cho tiền tuyến ở Miền Nam Nhờ vậy mà
đánh bắt và chế biến hải sản, nhất là nghề làm n-ớc mắm truyền thống, dần dần đ-ợc khôi phục trở lại
Ngày 22/10/1958 mô hình Hợp tác xã khai thác hải sản thành lập ở làng Phú Lợi Đây là một mốc quan trọng, tạo điều kiện cho nghề làm n-ớc mắm ở
đây có điều kiện phát triển, mọi ng-ời trong làng cùng đánh bắt hải sản, cùng chế biến trong Hợp Tác Xã hăng hái, những tia hy vọng mới thể hiện rõ trên nét mặt của mỗi ng- dân làng Phú Lợi
D-ới sự lãnh đạo của Đảng, các ngành các cấp, ng- dân Phú Lợi vừa hăng hái đánh bắt và chế biến hải sản, nhờ vậy mà năm 1962 -1963 Phú Lợi
được công nhận là “lá cờ đầu” trong phong trào đánh cá ở Miền Bắc
Những ng-ời có tài có công nh-: Cụ Lục, Cụ Hà, Cụ Tấn, Cụ Th-ờng
là những ng-ời đi tiên phong trong nghề làm n-ớc mắm ở làng này Bị thất bại trong chiến l-ợc chiến tranh đơn ph-ơng, Mỹ tiếp tục đ-a ra các chiến l-ợc chiến tranh khác: Chiến tranh đặc biệt, chiến tranh cục bộ, chiến lựơc Việt Nam hoá chiến tranh Các chiến l-ợc chiến tranh đó, đặc biệt sự kiện ngày 5/8/1964 đế quốc Mỹ leo thang đánh phá Miền Bắc, trọng điểm đánh phá là: Sông Gianh, Cầu Long Biên, Cầu Hàm Rồng trong đó có Cảng Cờn gần làng Phú Lợi cũng là trọng điểm bị đánh phá ác liệt, bởi vậy làng Phú Lợi bị thiệt hại về ng-ời và tài sản nghiêm trọng
Trong hoàn cảnh khó khăn đó nhân dân làng Phú Lợi cùng nhân dân Miền Bắc và nhân dân cả n-ớc vừa tiếp tục sản xuất khôi phục kinh tế hàn gắn viết th-ơng chiến tranh, vừa chống chiến tranh phá hoại, vừa chi viện cho cách mạng Miền Nam Ng- dân Phú Lợi tiếp tục bám trụ lấy làng để đánh bắt và
Trang 24chế biến hải sản và nghề làm n-ớc mắm vẫn tiếp tục đ-ợc duy trì, với tinh thần cương quyết “một tấc không đi một li không rời”, góp phần cùng cả nước hoàn thành cuộc kháng chiến chống Mỹ
Từ năm 1975 đến nay
Sau khi cuộc kháng chiến chống Mỹ kết thúc cả n-ớc b-ớc vào thời kỳ thống nhất đất n-ớc, chống thù trong giặc ngoài, khôi phục kinh tế, hàn gắn vết th-ơng chiến tranh Nghề làm n-ớc mắm truyền thống ở làng Phú Lợi lại
có điều kiện khôi phục và phát triển trở lại Tuy nhiên sau khi chiếm toàn bộ những cơ sở vật chất: tàu, thuyền, chum, vại mà ng- dân làng Phú Lợi gây dựng, khôi phục đ-ợc từ thời kỳ đầu sau cuộc kháng chiến chống Pháp thành công hầu nh- không còn gì, nhiều ng-ời trong làng hy sinh trong chiến tr-ờng
Lúc này quân Mỹ rút khỏi Miền Nam nh-ng hai miền Nam Bắc vẫn hai chế độ chính trị khác nhau, bởi vậy nhiệm vụ lúc này là phải hoàn thành thống nhất đất n-ớc, lại phải tiếp tục đ-ơng đầu với các cuộc chiến tranh biên giới: Chiến tranh biên giới Tây Nam, chiến tranh biên giới Phía Bắc… và các thế lực phản động trong, ngoài n-ớc Vì thế ở thời kỳ đầu sau cuộc kháng chiến chống Mỹ nghề làm n-ớc mắm ở làng Phú Lợi không có điều kiện để tập trung phát triển Từ năm 1986 sau khi hoàn thành thống nhất đất n-ớc, các cuộc chiến tranh biên giới kết thúc thắng lợi, cả n-ớc đi lên Chủ nghĩa xã hội
Đảng, Nhà n-ớc đã đề ra đ-ờng lối đổi mới, kinh tế cá thể hộ gia đình đ-ợc khuyến khích và -u tiên phát triển Nếu nh- tr-ớc năm 1986 kinh tế cá thể không có điều kiện phát triển, kinh tế phát triển theo cơ chế bao cấp, thì nay kinh tế cá thể đ-ợc khuyến khích, có điều kiện phát triển, phù hợp với tâm lý nguyện vọng của nhân dân, mọi ng-ời phấn khởi tích cực lao động sản xuất
Năm 1999 một b-ớc đột phá về nghề nghiệp ở làng Phú Lợi, đó là nhiều
Đảng viên đã nhanh chóng mạnh dạn thay đổi cơ chế cũ, theo đ-ờng lối cơ chế mới Nhiều Đảng viên trong làng tr-ớc kia họ vốn là những chiến sĩ bộ đội
Trang 25giỏi ở chiến tr-ờng, thì nay khi chiến tranh kết thúc, đất n-ớc b-ớc vào thời kỳ
đổi mới, họ lại hoà vào cuộc sống đời th-ờng xây dựng phát triển kinh tế, tiêu biểu nh- ông Trần Đức Nghĩa, ông Nguyễn Viết Xân, ông Trần Văn Tiến
Từ năm 2001 căn cứ Quyết định của ủy Ban Nhân Dân huyện Quỳnh L-u phê duyệt kế hoạch phát triển kinh tế xã hội giai đoạn năm 2001 -2010 trên địa bàn xã Quỳnh Dị, căn cứ vào thực trạng khó khăn của làng Phú Lợi: Ph-ơng tiện đánh bắt hải sản thô sơ, lạc hậu, công suất nhỏ, cơ sở vật chất thiếu thốn, h- hỏng và tình trạng d- thừa lao động, đặc biệt là lao động nữ ủy Ban Nhân Dân xã, cùng đại diện làng nghề là ông Trần Văn Tiến, chủ dự án
đã soạn thảo bản “Đề nghị phê duỵêt dự án đầu tư” số 07/CN - UB
(30/12/2002), gửi ủy Ban Nhân Dân tỉnh Nghệ An, Hội đồng liên minh Hợp Tác Xã và doanh nghiệp ngoài quốc doanh, ủy Ban Nhân Dân huyện, Phòng công nghiệp và phát triển nông thôn
Ngày 15/02/2002 soạn tờ trình về việc phê duyệt dự án đầu t- xây dựng
và phát triển làng nghề chế biến hải sản và bản đề án xây dựng làng nghề Phú Lợi, gửi ủy Ban Nhân Dân tỉnh Nghệ An, hội đồng liên minh Hợp Tác Xã và doanh nghiệp ngoài quốc doanh, ủy Ban Nhân Dân huyện, Phòng công nghiệp và phát triển nông thôn
Nhờ những nổ lực của chính quyền các cấp và sự cần cù chịu khó của toàn thể nhân dân làng Phú Lợi, mà năm 2002 làng có 20 tàu v-ơn khơi có công suất từ 45/CV - 90/CV, sản l-ợng đánh bắt đạt từ 2500 đến 3000 tấn, trong đó cá cơm chiếm tới 80% là nguồn nguyên liệu phù hợp nhất cho làm n-ớc mắm Nhờ vậy mà trong thời gian này n-ớc mắm ở đây ngày càng đ-ợc mọi ng-ời -a chuộng, các hội dịch vụ phát triển mạnh, đã giải quyết đ-ợc tình trạng lao động d- thừa trong làng, đem lại nguồn lớn cho ng- dân Phú Lợi
Trang 26Năm 2002 làng có 349 hộ, trong đó hộ đang làm nghề là 97 hộ, có hai x-ởng sản xuất đá lạnh, còn lại là dụng cụ đựng nguyên liệu bằng thùng bê tông, xi măng và chum vại bằng sành, mỗi hộ có bể chứa từ 5 tấn trở lên
Năm 2004 tổng số lao động của làng là 582 lao động, giá trị sản xuất 24,487 triệu đồng, tổng thu nhập của làng nghề là 11.011 tỷ đồng, thu nhập bình quân chế biến đạt 19,8 triệu/ng-ời, thu nhập bình quân lao động 15,1 triệu/ng-ời Đặc biệt sản l-ợng n-ớc mắm đạt đ-ợc rất cao: N-ớc mắm loại 1
đạt 800 nghìn lít, loại 2 đạt 230 nghìn lít, loại 3 đạt 20 nghìn lít Sản l-ợng cá
đánh bắt đ-ợc 4000 tấn, trong đó chủ yếu là cá cơm, tại làng nghề đã có doanh nghiệp Minh Tuấn và 12 tổ hợp chuyên tiêu thụ sản phẩm của làng Ngoài ra có 7 - 8 ng-ời mang sản phẩm bán ra ngoài huyện, ngoài tỉnh và 12 cơ sở trực tiếp mua tàu ra biển để dịch vụ thu mua hải sản trên biển, đem về chế biến n-ớc mắm
Nhờ sự nỗ lực của chính quyền các cấp và toàn thể nhân dân làng Phú Lợi mà năm 2005 Uỷ ban nhân dân tỉnh công nhận 2 xóm Phú Lợi (1 + 2) đạt
danh hiệu “ Làng nghề tiểu thủ công chế biến thuỷ sản Phú Lợi - Quỳnh Dị -
Quỳnh L-u - Nghệ An”
Ngày 22 tháng 12 năm 2005, Uỷ ban nhân dân xã Quỳnh Dị đã tổ chức
lễ đón nhận bằng công nhận làng nghề chế biến hải sản làng Phú Lợi, cũng trong dịp này Uỷ ban nhân dân xã và làng Phú Lợi tổ chức nhiều hoạt động văn nghệ, đua thuyền, lễ cầu ng-, các trò chơi để đón bằng công nhận làng nghề
Sự kiện này đã đánh dấu một b-ớc ngoặt quan trọng đối với nghề làm n-ớc mắm ở đây Ng- dân đ-ợc vay vốn đóng mới, sữa chữa tàu thuyền, cơ sở vật chất, để mở rộng quy mô sản xuất, nâng cao chất l-ợng n-ớc mắm ở đây
Thực hiện kế hoạch 5 năm, 2005 - 2010 cùng với sự giúp đỡ của chính quyền các cấp, bà con ng- dân làng Phú Lợi đã tích cực hăng hái đánh bắt, chế biến hải sản Vì vậy mà n-ớc mắm ở đây không ngừng tăng lên cả về số
Trang 27l-ợng và chất l-ợng Tổng sản l-ợng đánh bắt đ-ợc là 355 tấn, chế biến n-ớc mắm 2100 tấn, cá nén 700 tấn, chế biến mắm ch-ợp 1400 tấn, tổng sản l-ợng n-ớc mắm các loại xuất ra thị tr-ờng là 1,3 - 1,5 triệu lít
Căn cứ quyết định của Uỷ ban nhân dân huyện Quỳnh L-u phê duyệt
kế hoạch phát triển kinh tế xã hội giai đoạn năm 2001 - 2010 trên địa bàn xã Quỳnh Dị, thực hiện nghị quyết đại hội Đảng bộ khoá XVIII nhiệm kỳ 2001 -
2010 Do đó việc xây dựng nhiệm vụ trọng tâm của làng Phú Lợi gắn kế hoạch chung của xã, huyện chuyển dịch cơ cấu kinh tế phù hợp với khả năng
và tình hình địa ph-ơng, phát triển kinh tế xã hội từng b-ớc nâng cao đời sống vật chất của nhân dân Uỷ ban nhân dân xã Quỳnh Dị đã lấy nhiệm vụ “đẩy mạnh các nghề thủ công nghiệp nh- chế biến n-ớc mắm, chế biến cá hấp, cá khô, các cơ sở sản xuất đá lạnh và các cơ sở sửa chữa tàu thuyền, nhằm phục
vụ đời sống dân sinh, phát triển các loại hình dịch vụ”.[13]
Nhờ thực hiện những nhiệm vụ trọng tâm đó mà năm 2006 nghề làm n-ớc mắm không ngừng phát triển và đạt đ-ợc những thành tựu đáng kể
Theo kết quả thống kê của xã năm 2006 làng Phú Lợi sản xuất trên 125.000 lít n-ớc mắm, trị giá khoảng 2 tỷ, cá phơi khô đạt 600 tấn giá trị khoảng 9 tỷ, đóng góp cho ngân sách nhà n-ớc 100% chỉ tiêu
Chỉ tính riêng 6 tháng đầu năm 2006 sản l-ợng khai thác của làng là 2.150 tấn, trong đó cá phơi khô 110 tấn, cá đông lạnh 94 tấn, cá bán ra thị tr-ờng 256 tấn, chế biến ch-ợp 1.300 tấn, mỗi ngày làng Phú Lợi xuất đực 2.000 lít n-ớc mắm ra thị tr-ờng
B-ớc sang năm 2007 tiếp tục căn cứ quyết định của Uỷ ban nhân dân huyện Quỳnh L-u phê duyệt kế hoạch phát triển kinh tế xã hội giai đoạn năm
2001 - 2010 trên địa bàn xã Quỳnh Dị, thực hiện nghị quyết đại hội Đảng bộ khoá XVIII nhiệm kỳ 2005 - 2010 và tiếp tục thực hiện những nhiệm vụ trọng tâm năm 2006, thực hiện ph-ơng h-ớng nhiệm vụ của Uỷ ban nhân dân huyện
Trang 28và Uỷ ban nhân dân xã Quỳnh Dị, nghề làm n-ớc mắm ở đây lại đạt đ-ợc những thành tựu đáng kể
Năm 2007 làng Phú Lợi có 42 tàu đánh bắt hải sản có công suất từ 45/CV - 90CV và 19 tàu dịch vụ thu mua nguyên liệu trên biển Theo tính toán của ng- dân 42 tàu khai thác muốn trẻ về bến để bán sản phẩm sẽ mất hơn 1.700lít dầu/chuyến, nh-ng nhờ có 19 tàu dịch vụ giảm đ-ợc chi phí, nhờ vậy mà l-ợng đánh bắt ngày một tăng, nguyên liệu cá phục vụ cho làm n-ớc mắm đ-ợc t-ơi hơn, nên chất l-ợng n-ớc mắm đảm bảo và ngon hơn
Riêng trong quý I năm 2007, sản l-ợng khai thác đạt 1.200 tấn, trị giá 3,4 tỷ, chế biến đ-ợc 1000 tấn ch-ợp làm n-ớc mắm hải sản, tiêu thụ đ-ợc 40.000 lít n-ớc mắm các loại
Tổng sản l-ợng khai thác năm 2007 đạt 36000 tấn tăng 26,3% so với năm 2006 ngoài các tàu đánh bắt xa khơi và tàu dịch vụ, làng còn có 37 thuyền vận chuyển và đánh bắt gần bờ, nhờ vậy mà nghề làm n-ớc mắm ở đây phát triển ngày một vững chắc
Nh- vậy kể từ khi nghề làm n-ớc mắm ở làng Phú Lợi hình thành manh nha đến nay, trải qua một thời kỳ khá dài trên 200 năm Cũng nh- các ngành nghề khác, nó có những b-ớc thăng trầm theo dòng lịch sử, có lúc phát triển rất chậm, có lúc lại phát triển mạnh Hiện nay Uỷ ban nhân dân xã Quỳnh Dị
và làng nghề Phú Lợi đang tiếp tục thực hiện kế hoạch 5 năm 2005 - 2010, tiếp tục lấy nghề làm n-ớc mắm truyền thống ở làng Phú Lợi là nghề chính trong quá trình phát triển kinh tế của làng Phú Lợi
2.1.3 Quy trình kỹ thuật chế biến n-ớc mắm truyền thống ở làng nghề Phú Lợi
Quy trình kỹ thuật chế biến:
Chế biến cá Trỏng (cá cơm)
Cá Trỏng là tên gọi của ng-ời dân địa ph-ơng nơi đây, thực chất nó th-ờng đ-ợc gọi là cá cơm Cá cơm là loại x-ơng nhỏ, mềm, nhiều thịt, giàu l-ợng đạm, phù hợp nhất cho làm n-ớc mắm Tuy nhiên cũng nh- các loại cá
Trang 29khác, tr-ớc khi đem chế biến nó cũng phải trải qua khâu chuẩn bị và xử lý nguyên liệu một cách cẩn thận
Xử lý nguyên liệu, chuẩn bị chế biến
B-ớc 1: Chuẩn bị đầy đủ các dụng cụ chế biến
Thùng đựng bằng sành, miệng rộng, d-ới đáy có lỗ thông ra để rút n-ớc mắm Thùng đựng nguyên liệu phải đặt ở nơi thông thoáng , không
bị che khuất bởi nhà cửa hoặc cây cối, để dễ tiếp nhận ánh sáng mặt trời mắm sẽ nhanh chín và thơm ngon; Vỉ gài nén, vỉ phải đ-ợc làm từ chất liệu tre đã ngâm n-ớc, tấm đậy thùng, nguyên liệu có tác dụng che m-a, s-ơng, dụng cụ dằn phải bằng đá núi
Tất cả các dụng cụ này tr-ớc khi đem dùng để chế biến n-ớc mắm phải
đ-ợc xử lý sạch sẽ
B-ớc 2: Chuẩn bị các phụ gia gồm vừng, đ-ờng, thính gạo, muối
Ng-ời dân ở đây cho biết bí quyết để làm n-ớc mắm ngoài các yếu tố khác thì việc trộn cá với phụ gia cũng hết sức quan trọng, giúp n-ớc mắm thơm ngon hơn Cứ 100kg cá thì phải chuẩn bị một l-ợng phụ gia vừa đủ là: 22kg muối hạt, muối phải trắng, sạch, để lâu năm 1,2kg thính gạo, thính gạo rang vàng, không đ-ợc quá cháy, nếu thính cháy thì n-ớc mắm sẽ chuyển màu sẫm, mất mùi vị đặc tr-ng 0,3 - 0,5kg vừng (mè), vừng cũng rang vàng, không bị cháy
B-ớc 3: Lựa chọn và xử lý cá
Cá sau khi đ-ợc đem từ bến về, tiến hành phân loại, lựa chọn Chọn những con cá t-ơi không bị -ớp đá (nếu cá bị -ớp đá n-ớc mắm sẽ có mùi tanh và chuyển sang màu xanh đen), loại bỏ những con cá -ơn, bể bụng, không đủ chất l-ợng, sau đó đem loại bỏ các tạp chất, rửa sạch, để ráo n-ớc và chuẩn bị chế biến
Ph-ơng pháp (cách thức) chế biến
Trang 30Sau khi đã chuẩn bị đầy đủ nguyên liệu, phụ gia, dụng cụ, đem trộn cá với phụ gia trên nền ni lông (trộn trên nền đ-ợc trải ni lông có tác dụng dễ đảo nguyên liệu và phụ gia không bị lãng phí ngấm ra ngoài, lại sạch sẽ, dễ thu dọn) Khi cá đã đ-ợc trộn đều với phụ gia, đổ vào đầy thùng, rải lên trên một lớp muối mỏng để chống ruồi nhặng, gài nén, bịt kín lại
7 ngày sau khi cá lên men thì rút n-ớc bổi lần 1, 2 ngày sau rút lần 2, rồi lần 3 Khi cá đã lên men nguyên liệu trong thùng sẽ xẹp xuống l-ng thùng,
ta lại tiếp tục đổ nguyên liệu cá đã đ-ợc chuẩn bị vào đầy thùng, rồi gài nén lại để cá lên men
N-ớc bổi đ-ợc rút ra đem phơi nắng, nếu ở nhiệt độ cao vào mùa hè thì phơi n-ớc bổi từ 10 - 15 ngày, rồi đổ n-ớc bổi vào thùng khi nó còn nóng, khi
ấy cũng là lúc cá lên men hoàn chỉnh tỏa mùi thơm
Sau khi cá đã lên men, hàng ngày phải mở ra phơi nắng tiếp nhiệt và
đậy lại kín khi chiều tối đến hoặc trời m-a, s-ơng muối Cứ nh- thế ngày nào cũng vậy, đ-ợc 1 năm thì mắm mới chín đạt tiêu chuẩn và bắt đầu tiến hành rút n-ớc mắm cốt
N-ớc mắm cốt đ-ợc rút hết, còn lại là bã 1, tiếp tục lấy n-ớc nổi của cá quậy đổ vào thùng bã 1, phơi nắng, tiếp nhiệt 7 ngày sau (nếu ở nhiệt độ cao mùa hè) thì có thể rút đ-ợc n-ớc mắm loại 1 và cứ nh- thế tiếp tục rút n-ớc 2, n-ớc 3 cho đến khi hết l-ợng đạm quy định, bã cuối cùng còn lại đem chế biến làm thức ăn cho gia súc hoặc làm phân bón
Trong tr-ờng hợp nếu không có cá quậy thì sau khi rút hết n-ớc cốt cá cơm ta tiến hành đun n-ớc sôi hòa với một l-ợng muối nhất định để nguội đổ vào thùng bã cá đó, đem phơi nắng tiếp nhiệt từ 7 - 10 ngày là có thể rút đ-ợc n-ớc mắm loại 1, và cứ chu trình nh- thế tiếp tục rút các n-ớc tiếp theo Hoặc
có thể cá quậy đ-ợc làm riêng, rút riêng rồi lại lấy n-ớc mắm của cá quậy đổ vào bã của cá cơm, rồi lại rút n-ớc mắm cho hết l-ợng đạm quy định
Chế biến cá quậy
Trang 31Cá quậy là tên gọi mà ng-ời dân ở đây th-ờng dùng để chỉ các loại cá hỗn hợp nh-: Cá Lạp, cá Trích, cá Sơn, cá Hố so với cá Cơm thì các loại cá này có đặc điểm nhiều x-ơng, hàm l-ợng đạm thấp hơn, và có mùi vị không thơm ngon bằng cá cơm, vì thế ng- dân ở đây đem chế biến riêng
Xử lý nguyên liệu, chuẩn bị chế biến
B-ớc 1: Chuẩn bị dụng cụ chế biến
Bao gồm: Thùng đựng nguyên liệu, đối với các loại cá này thùng đựng
có thể bằng sành càng tốt, nh-ng cũng có thể bằng bê tông, nó không đòi hỏi cầu kì nh- cá cơm, tuy nhiên thùng phải có miệng rộng, có lỗ thông ở d-ới, và
đặc biệt phải đ-ợc đặt ở nơi thông thoáng, dễ tiếp nhận năng l-ợng ánh sáng mặt trời, ngoài ra còn có các dụng cụ khác nh-: vỉ gài nén, đá dằn, nắp đậy cũng đ-ợc chọn chất liệu và cách thức nh- đối với cá cơm
B-ớc 2: Chuẩn bị phụ gia
Đối với các loại cá này việc chuẩn bị phụ gia cũng rất đơn giản, phụ gia chỉ có muối hạt, với tỷ lệ 22%, tuy nhiên muối trắng pha, sạch sẽ và đ-ợc để lâu năm
B-ớc 3: Lựa chọn và xử lý cá
Cũng nh- cá cơm, cá quậy sau khi đ-ợc lấy từ bến về phải đ-ợc phân loại, lựa chọn kỹ càng, chọn những con cá t-ơi, không bị -ớp đá, loại bỏ các loại cá -ơn, hỏng, kém chất l-ợng sau đó tiến hành phân loại Đối với những loại cá to, x-ơng cứng này phải đ-ợc cắt khúc nhỏ, loại bỏ các tạp chất, rửa sạch, để ráo và chuẩn bị đem chế biến
Ph-ơng pháp (cách thức) chế biến
Tất cả các khâu trên giống nh- chế biến cá cơm, có điều chu trình để hoàn thành lại ngắn hơn Nếu nh- đối với cá cơm phải sau 1 năm mới rút đ-ợc n-ớc mắm, thì đối với loại cá này từ 6 - 7 tháng là có thể rút đ-ợc n-ớc mắm N-ớc mắm cá quậy đ-ợc rút ra đem đổ vào bã cá cơm, phơi nắng từ 7 - 10 ngày (nếu ở nhiệt độ cao vào mùa hè), rồi tiến hành rút n-ớc mắm Cũng có
Trang 32thể khi mắm cá hơi chín ta trực tiếp múc n-ớc nổi (mắm đâm) đổ vào bả cá cơm rồi đem phơi nắng và tiến hành rút n-ớc mắm, cho tới khi hết l-ợng đạm quy định, bả còn lại nếu ch-a hết l-ợng đạm quy định ta tiến hành nấu phá bả, tức là lấy bả đổ vào xoong, cho n-ớc và muối đun cho sôi thật kỹ, rồi đổ lên rổ
có lót vải mỏng sẵn và đ-ợc kê thau ở d-ới rồi lọc n-ớc mắm
Ng- dân ở đây cho biết mùi vị n-ớc mắm của cá quậy không thơm ngon nh- cá cơm và l-ợng đạm thấp hơn, tuy vậy khi đ-ợc đổ vào bả cá cơm thì n-ớc mắm rút ra cũng có mùi thơm ngon, không còn mùi của cá quậy nữa
Có một điểm khác biệt hẳn so với ph-ơng pháp chế biến n-ớc mắm cải tiến và ph-ơng pháp chế biến n-ớc mắm ở các nơi khác, đó là trong suốt chu trình suốt 1 năm ng-ời ta không bao giờ náo đảo trong thùng n-ớc mắm, đây
là một trong những bí quyết khiến n-ớc mắm ở đây thơm ngon và ít khi bị h- hỏng N-ớc mắm ngon phải có màu vàng cánh dán, khi tráo từ bát ra vẫn còn sánh lại trên bát, nếm vào có bị bùi bùi, ngon ngọt
2.1.4 Giá trị sản xuất của nghề chế biến n-ớc mắm ở làng Phú Lợi
Thời kỳ chiến tranh, do phải tập trung cho chiến tranh, đồng thời chiến tranh đã tàn phá tất cả những cơ sở vật chất mà làng xây dựng đ-ợc ban đầu,vì thế không có điều kiện đ-ợc phát triển, mở rộng quy mô, nâng cao chất l-ợng n-ớc mắm, cho nên đời sống của nhân dân làng Phú Lợi luôn luôn gặp khó khăn Thời nay, đặc biệt năm 2005 với sự kiện 2 xóm Phú Lợi đ-ợc ủy ban nhân dân tỉnh công nhận làng nghề tiểu thủ công truyền thống, đã tạo nên một b-ớc ngoặt lớn trong quá trình phát triển của nghề làm n-ớc mắm ở làng Phú Lợi Nhờ vậy mà đời sống nhân dân làng Phú Lợi đ-ợc ổn định, loại bỏ hẳn tình trạng lao động d- thừa, đem lại mức thu nhập kinh tế lớn cho ng-ời dân nơi đây Với nhiều hộ làm ăn quy mô lớn, điển hình nh- hộ ông Nguyễn Văn
Kề - bà Trần Thị Ơng, trung bình mỗi năm thu mua trên 50 tấn ch-ợp, tiêu thụ trên 100 lít n-ớc mắm mỗi ngày, số vốn đầu t- cho nghề n-ớc mắm lên tới
300 triệu đồng Hay hộ bà Trần Thị Chính trung bình mỗi năm thu mua từ 400
Trang 33- 500 tấn cá để phục vụ cho phơi sấy và làm n-ớc mắm, hàng năm bán ra thị tr-ờng từ 9.000 - 10.000 lít n-ớc mắm loại 1, tạo công ăn việc làm cho 30 - 40 lao động, với mức thu nhập bình quân 900.000đ/ng-ời/tháng
Không chỉ làm ăn giỏi mà ng-ời dân làng Phú Lợi còn say mê làm việc thiện Ông Trần Đức Nghĩa ở xóm Phú Lợi 1, thời kỳ còn chiến tranh ông vốn
là một chiến sỹ từng tham gia chiến đấu trực tiếp trên chiến tr-ờng, sau khi chiến tranh kết thúc ông trở về quê sinh sống và bắt đầu sự nghiệp của mình bằng nghề làm n-ớc mắm, vừa nguồn thu nhập cho gia đình mình B-ớc đầu
do thiếu vốn nên mỗi năm ông chỉ thu mua 2 tấn ch-ợp làm n-ớc mắm, dần dần 5 tấn, rồi 7 tấn, 20 tấn/1năm Góp phần tiêu thụ nguồn nguyên liệu trong làng, ông còn làm từ thiện cho một số hộ vay vốn đ-ợc ng-ời dân nơi đây rất tin t-ởng, nể phục
Hầu hết các hộ dân nơi đây có truyền thống làm n-ớc mắm lâu đời, tiêu biểu nh- hộ gia đình anh C-ơng - chị Ngần, là gia đình có truyền thống 4 đời làm n-ớc mắm, sản phẩm làm ra đ-ợc nhiều ng-ời -a chuộng, mỗi năm gia
đình -ớp khoảng 30 tấn cá t-ơi, làm đ-ợc 7.000 - 9.000 lít n-ớc mắm Ngày
20 tháng 02 năm 2006 sản phẩm n-ớc mắm của cơ sở C-ơng Ngần tham gia tr-ng bày giới thiệu sản phẩm doanh nghiệp nữ tỉnh Nghệ An lần thứ nhất và
đ-ợc đánh giá chất l-ợng rất cao
Nhờ khai thác và chế biến hải sản, đặc biệt là nghề làm n-ớc mắm mà
bộ mặt của nhân dân làng Phú Lợi nói riêng và nhân dân xã Quỳnh Dị nói chung ngày một ổn định, kéo theo sự thay đổi các mặt khác Hiện tại làng có khoảng 265 xe gắn máy, hàng chục xe vận tải, 2 cơ sở đại lý xăng dầu, 4 cơ sở sản xuất đá lạnh, 75% số hộ có điện thoại di động và cố định, 100% hộ có nhà ngói, trong đó có nhiều hộ xây dựng đ-ợc nhà cao tầng, với đầy đủ tiện nghi sinh hoạt Làng Phú Lợi bây giờ không thiếu thốn và nghèo nàn nh- tr-ớc kia
mà nhộn nhịp nh- thành thị
Trang 34Không chỉ đời sống nhân dân làng Phú Lợi thay đổi mà nhờ nghề chế biến n-ớc mắm một phần nào đó đời sống nhân dân toàn xã cũng có những thay đổi và ổn định hơn: Năm 2007 tổng thu ngân sách toàn xã đạt 1.897.630.137 đồng bằng 77,1% kế hoạch; ngành công nghiệp - xây dựng đạt 15.053,8 triệu đồng, tăng 4,8% kế hoạch < tăng 13,5% so với năm 2006; ngành dịch vụ đạt 469.918 triệu đồng, tăng 19,4% kế hoạch, tăng 30,3% so với năm 2006 Có 1.073 gia đình văn hóa, chiếm 72,2%; 7/12 xóm đạt đơn vị văn hóa, trong đó có 2 đơn vị nhà tr-ờng đạt đơn vị văn hóa cấp tỉnh, huyện;
số học sinh thi đỗ Đại học 21 em, cao đẳng 24 em
Có đ-ợc những thành tựu đó một phần là nhờ khai thác và chế biến hải sản ở làng Phú Lợi mà mũi nhọn là nghề làm n-ớc mắm
Trong những năm qua, nhờ nghề làm n-ớc mắm mà đời sống nhân dân làng Phú Lợi ngày càng ổn định, đạt đ-ợc những thành tựu to lớn, tuy nhiên bên cạnh một số mặt tích cực nhờ nghề làm n-ớc mắm đem lại, thì vẫn còn nhiều tồn tại hạn chế đã kìm hãm sự phát triển của nghề làm n-ớc mắm truyền thống ở làng Phú Lợi nh-:
Đất đai quá chật hẹp nên ng- dân trong làng không có điều kiện để mở rộng quy mô sản xuất n-ớc mắm, trong khi đó chế biến hộ gia đình nên việc
xử lý chất thải gặp nhiều khó khăn gây ra ô nhiễm môi tr-ờng, khó kiểm soát, khó khăn trong nâng cao dây chuyền thiết bị sản xuất
Ph-ơng tiện đánh bắt chủ yếu là tàu thuyền có công suất thấp, vì thế ng- dân ở đây chủ yếu đánh bắt gần bờ và vùng lộng, không có điều kiện để
đánh bắt xa khơi lâu ngày trên biển, nên hiệu quả đánh bắt không cao, ng- dân không có đủ nguyên liệu cho việc mở rộng quy mô sản xuất nghề n-ớc mắm ở từng hộ gia đình
Trong những năm gần đây ng- dân làng Phú Lợi đã đ-ợc sự quan tâm của các ngành các cấp, đã tạo điều kiện cho ng- dân vay vốn phát triển kinh
tế, tuy nhiên việc thiếu vốn vẫn là vấn đề đặt ra bức thiết Do thiếu vốn nên
Trang 35ng- dân bị động, chuyển đổi tốc độ sản xuất, không có điều kiện để mở rộng sản xuất và tu bổ nâng cấp ph-ơng tiện đánh bắt, chế biến n-ớc mắm
Thời gian gần đây các cơn bão th-ờng xuyên đổ bộ vào vùng biển n-ớc
ta, làm ảnh h-ởng đến khai thác, đánh bắt hải sản, cũng nh- tính mạng của con ng-ời, trong khi đó nguồn tài nguyên biển ngày một vơi cạn dần
Nghề chế biến n-ớc mắm ở đây còn phát triển cầm chừng, một số hộ ch-a mạnh dạn đầu t- vì thế ch-a phát triển t-ơng xứng với tiềm năng của làng Nhân dân có truyền thống làm n-ớc mắm nh-ng vẫn là sản xuất thủ công lạc hậu, vì thế phần nào đó ảnh h-ởng đến chất l-ợng sản phẩm
Làng ch-a có một đội ngũ có trình độ khoa học kỹ thuật để h-ớng dẫn cho ng-ời dân
Cơ chế thị tr-ờng tạo động lực cho nghề làm n-ớc mắm ở đây phát triển, nhiều hộ gia đình đã tự gián nhãn hiệu cho sản phẩm của gia đình mình
để quảng bá chất l-ợng sản phẩm của gia đình mình Tuy nhiên sản phẩm n-ớc mắm ở đây vẫn ch-a có th-ơng hiệu, vì vậy rất khó khăn để đứng vững trên thị tr-ờng và cạnh tranh sản phẩm ở nơi khác, để tạo đ-ợc th-ơng hiệu cho sản phẩm n-ớc mắm ở nơi đây thì đòi hỏi phải có sự nỗ lực giúp đỡ của chính quyền các cấp, đặc biệt là toàn thể nhân dân làng Phú Lợi
Chính vì thế mà các cấp chính quyền cũng nh- làng nghề đã có những biện pháp nhằm duy trì và phát triển nghề làm n-ớc mắm ở làng Phú Lợi:
Với vị trí, điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội đã ban tặng cho làng Phú Lợi những tiềm năng để phát triển nghề làm n-ớc mắm, vì thế từ rất sớm ở
đây đã hình thành và phát triển nghề làm n-ớc mắm, tuy nhiên vẫn có nhiều khó khăn và hạn chế Vì vậy để duy trì và phát triển nghề làm n-ớc mắm truyền thống ở đây cần phải có những biện pháp nhất định, cụ thể là: Tiếp tục lục soát lại chính xác những ph-ơng tiện khai thác hải sản để đ-a vào quản lý theo đúng quy định, bố trí hợp lý trên từng ph-ơng tiện, quản lý tàu cũ có công suất nhỏ, tiêu tốn nhiêu liệu, tăng c-ờng đóng mới tàu có công suất lớn
Trang 36và tàu dịch vụ thu mua nguyên liệu trên biển, trang bị đầy đủ thiết bị khai thác, thiết bị hàng hải và các điề kiện đảm bảo an toàn để khai thác trên bờ, nâng cao giá trị sản phẩm khai thác, có nh- vậy ng- dân làng Phú Lợi mới có
điều kiện để mở rộng quy mô chế biến n-ớc mắm
Bố trí cơ cấu nghề hợp lý để khai thác hiệu quả cả 3 ng- tr-ờng: Vùng khơi, vùng lộng, và vùng gần bờ
Gắn khai thác với chế biến sản phẩm sau khai thác để nâng cao giá trị sản phẩm, kết hợp hài hòa giũa chủ tàu và hộ sản xuất n-ớc mắm giữa các khâu sản xuất tạo nguyên liệu và khâu chế biến, dịch vụ tiêu thụ sản phẩm
Tổ chức thành đội tàu khai thác theo quan hệ dòng họ, gia đình và tổ hợp, có sự hổ trợ của chính quyền địa ph-ơng để bảo đảm khai thác hiệu quả hơn và giúp đỡ nhau khi trắc trở trên biển
Phải đ-ợc bổ sung nguồn lao động có kỹ thuật, trình độ bằng cách gửi
đi tiếp xúc học hỏi kinh nghiệm ở nơi khác và tạo điều kiện cho họ tiếp cận với công nghệ hiện đại
Gấp rút xây dựng các cơ sở chế biến và hoàn thiện kết cấu hạ tầng để phục vụ cho nghề làm n-ớc mắm
Cần có sự hỗ trợ về vốn, để mở rộng quy mô sản xuất, giải quyết việc làm cho nhân dân trong làng và trong xã nói chung
Tăng c-ờng đầu t- nghề làm n-ớc mắm, tiếp tục tuyên truyền cho nhân dân quản lý bảo quản sản phẩm, cũng nh- tiếp cận với công nghệ hiện đại hơn trong việc bảo vệ môi tr-ờng, bảo vệ các công trình kết cấu hạ tầng, tăng c-ờng kiểm tra xử lý các tr-ờng hợp vi phạm vệ sinh an toàn thực phẩm Rút ngắn thời gian quy trình làm n-ớc mắm để nâng cao số l-ợng và chất l-ợng sản phẩm và sử dụng đ-ợc tối đa nguồn nguyên liệu sẵn có trong làng và các xã ven biển lân cận Đồng thời phải có gắng nâng cao chất l-ợng sản phẩm để tạo th-ơng hiệu cho sản phẩm, có nh- vậy n-ớc mắm Phú Lợi mới có thể đứng vững trên thị tr-ờng hiện nay
Trang 37Nh- vậy với điều kiện tự nhiên thuận lợi, từ rất sớm ng-ời dân nơi đây
đã khai thác và chế biến hải sản, trải qua hai cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ, cùng với nhân dân cả n-ớc, nhân dân làng Phú Lợi đã gặp không ít khó khăn và trở ngại, nh-ng với sự nỗ lực cần cù chịu khó và sự hỗ trợ của chính quyền các cấp, để rồi năm 2005 ủy Ban nhân dân tỉnh Nghệ An đã công nhận 2 xóm Phú lợi 1 + 2 là làng nghề chế biến hải sản Phú Lợi
Từ khi thành lập cho đến nay đời sống của nhân dân làng Phú Lợi ngày một ổn định, về làng phú Lợi hôm nay đi đến đâu ta cũng bắt gặp h-ơng vị của biển, mùi vị đặc tr-ng của n-ớc mắm, khiến cho mỗi con ng-ời khi đến nơi đây hẳn ai cũng không thể quên đ-ợc nghề làm n-ớc mắm truyền thống ở làng Phú Lợi Lịch sử vẫn không ngừng đi lên, con ng-ời vẫn không ngừng phát triển và làng Phú Lợi vẫn không ngừng đổi thay Măc dù còn nhiều khó khăn trắc trở đối với nghề làm n-ớc mắm truyền thống ở nơi đây, nh-ng tôi nghĩ rằng với bản chất cần cù chịu khó của ng-ời dân xứ Nghệ, sự giúp đỡ của các cấp chính quyền thì nghề làm n-ớc mắm ở Quỳnh Dị vẫn sẽ đ-ợc duy trì
Khoảng một ngàn năm tr-ớc vào đời cố Lê, khi những c- dân đầu tiên
đến đây khai dân lập ấp, hẳn các vị tiền nhân đã chọn được vùng “địa linh nhân kiệt” nên quả phúc lộc truyền lưu muôn đời hậu thế
H-ơng -ớc của làng đã khẳng định: “làng ta là làng Nghĩa Lộ xã Hoàn
Hậu trời ban cho đất ở chung đúc linh thiêng, cao khoa hiển hoạn thời nào cũng có, đất nhờ người mà nổi tiếng nhờ người đức mà thịnh vượng”
Trang 38Trong quá trình hình thành và phát triển, trải qua bao đời “lấn biển, chấn sông” mà làng đã qua nhiều tên gọi khác nhau, đến giữa thế kỷ 17 thì mang tên làng Phú Nghĩa và chính cái tên đó đã gắn liền với một làng nghề truyền thống “làng nghề mộc dân dụng và mỹ nghệ Phú Nghĩa” Các cụ túc nho x-a đã khái quát quê h-ơng bằng hai câu thơ một cách tài tình, đầy tính nhân văn nh- sau:
“Đằng đầu nhất khẩu chữ tiền Thảo đầu vương ngã là miền quê ta”
Trong chữ Hán câu trên ghép lại thành chữ “Phú” nghĩa là giàu có, câu dưới ghép lại thành chữ “Nghĩa” tức giàu nhân nghĩa ân tình Cả hai câu có nghĩa: Quê h-ơng ta là Phú - Nghĩa vừa giàu có vừa thắm đ-ợm nhân nghĩa ân tình
Với một vùng đất khoảng 7 km2 nh- một dải lụa trải dài dọc bờ biển,
đ-ợc ngăn với vùng trung tâm huyện bởi dòng Mai Giang uốn l-ợn, bao đời nay ng-ời dân nơi đây luôn phải trải qua bao gian lao vất vả, hết hạn hán lại
đến lũ lụt, hết c-ớp biển lại đến giặc ngoại xâm
Song thời nào ng-ời dân nơi đây vẫn bám đất, giữ làng xây dựng quê h-ơng ngày càng ấm no, hạnh phúc
Ngoài nghề làm ruộng, ng-ời dân nơi đây còn có nghề đánh cá biển, nghề sản xuất muối, trồng dâu dệt vải, đặc biệt là nghề mộc dân dụng và mỹ nghệ, một nghề có thu nhập ổn định đã làm cho đất và ng-ời nơi đây nổi tiếng
Trong “Bản tích tàng quy kỳ phúc chúc ước văn” của làng được soạn vào thế kỷ XVI đã nói rõ: