Bằng quan tâm của các cấp uỷ Đảng, chính quyền, các tỉnh, thành phố, các quận huyện, ph-ờng xã Hội khuyến học Việt Nam đã phát triển mạnh mẽ, rộng khắp tạo nên một làn sóng về phong trà
Trang 1Bộ giáo dục & đào tạo
Tr-ờng đại học vinh
khoá luận tốt nghiệp đại học
chuyên ngành giáo dục chính trị
Vinh, tháng 5 năm 2009
Trang 2Bộ giáo dục & đào tạo Tr-ờng đại học vinh
khoá luận tốt nghiệp đại học
chuyên ngành giáo dục chính trị
Ng-ời h-ớng dẫn khoa học: Th.s Phan Quốc Huy
Vinh, tháng 5 năm 2009
Trang 3Lời cảm ơn
Đề tài này đ-ợc thực hiện có sự tạo điều kiện, giúp đỡ của nhiều tập thể
và cá nhân trong suốt quá trình s-u tầm và xác minh t- liệu Tác giả xin gửi lời cảm ơn đến các cán bộ quản lý Th- viện Tr-ờng Đại học Vinh, Th- viện Nghệ An, Đảng bộ huyện Hoằng Hoá, Th- viện huyện Hoằng Hoá, Hội khuyến học huyện Hoằng Hoá cùng các thầy cô giáo và bạn bè
Đặc biệt, xin đ-ợc bày tỏ lòng biết ơn chân thành tới thầy giáo, Th.s Phan Quốc Huy đã tận tình h-ớng dẫn, giúp đỡ, động viên bản thân tôi trong quá trình nghiên cứu và hoàn thành đề tài
Chắc rằng khoá luận sẽ còn nhiều thiếu sót, rất mong đ-ợc sự góp ý của Hội đồng khoa học, các thầy cô khoa Giáo dục Chính trị, Tr-ờng Đại học
Vinh và tập thể lớp 46A khoa Giáo dục Chính trị, niên khóa 2005 - 2009
Vinh, tháng 4 năm 2009
Tác giả
Mở đầu
Trang 41 Lý do chọn đề tài
Nhìn lại lịch sử, Việt Nam đã từng có nền giáo dục phát triển khá cao
so với các quốc gia khác trong khu vực và trên thế giới Chính nền giáo dục đó
đã sản sinh ra các bậc hiền tài, các anh hùng, dũng sĩ, các thế hệ ng-ời Việt Nam đã làm nên những kì tích lịch sử mà không phải quốc gia nào cũng làm
đ-ợc Cũng chính nền giáo dục đó đã xây dựng nên truyền thống hiếu học, truyền thống tôn s- trọng đạo của con ng-ời Việt Nam Nhiều giá trị đạo đức cao quý đã ăn sâu vào nền văn hoá dân tộc trở thành “gen di truyền xã hội”, tiềm ẩn trong mỗi con ng-ời Đó là những sự thật không ai có thể phủ nhận
đ-ợc Một nền giáo dục đã từng phát triển rực rỡ nh- vậy trong lịch sử thì nhất
định trong bản thân nó phải chứa đựng những yếu tố tích cực cho sự phát triển mới ở t-ơng lai
Có thể nói, không có lĩnh vực hoạt động nào lại chịu sự chi phối của môi tr-ờng xã hội mạnh mẽ nh- lĩnh vực giáo dục Chiến tranh đã đi qua, đất n-ớc, con ng-ời Việt Nam b-ớc vào một thời kỳ mới bắt đầu xây dựng lại đất nước đàng hoàng to đẹp hơn Trong bộn bề những công việc ấy thì “sự nghiệp trồng người” là công việc chưa bao giờ được phép lãng quên Vượt qua những khó khăn thử thách ban đầu, ngành GD - ĐT cùng với cả n-ớc đang tiếp b-ớc
đẩy nhanh sự nghiệp CNH, HĐH đất n-ớc Công nghiệp hoá đất n-ớc là quá
trình “chuyển đổi căn bản, toàn diện các hoạt động sản xuất kinh doanh, dịch
vụ và quản lý kinh tế xã hội từ sử dụng sức lao động thủ công là chính sang sử dụng một cách phổ biến sức lao động cùng với công nghệ, ph-ơng tiện và ph-ơng pháp tiên tiến hiện đại dựa trên sự phát triển của công nghệ và tiến bộ khoa học công nghệ tạo ra năng suất lao động xã hội cao” [24, 5]
Tại Đại hội lần thứ IX (4.2001) Đảng ta đã khẳng định “Đưa nước ta
thoát khỏi tình trạng kém phát triển, nâng cao rõ rệt đời sống vật chất và tinh
Trang 5thần của nhân dân, tạo nền tảng đến 2020 n-ớc ta cơ bản trở thành một n-ớc công nghiệp theo hướng hiện đại” [11, 102]
Để sự nghiệp CNH, HĐH nhanh chóng thực hiện thành công, đồng thời h-ớng đến 2020 n-ớc ta có thể trở thành một n-ớc công nghiệp hiện đại thì
một điều chắc chắn là chúng ta phải lấy “giáo dục đào tạo và khoa học công
nghệ làm quốc sách hàng đầu” [20, 108 -109] Để giáo dục đào tạo và khoa
học công nghệ trở thành quốc sách hàng đầu thì tr-ớc tiên chúng ta phải -u tiên, quan tâm phát triển phong trào KH - KT trên phạm vi cả n-ớc Chính vì
điều đó mà Bộ tr-ởng Bộ giáo dục - đào tạo Nguyễn Minh Hiển đã nhận định:
“Khi nhắc đến Hội khuyến học Việt Nam, quả thật tôi không biết nói gì hơn là nói lời cảm ơn Thành tựu của ngành giáo dục cũng chính là thành tựu của Hội khuyến học Việt Nam” [17, 3] Bằng quan tâm của các cấp uỷ Đảng,
chính quyền, các tỉnh, thành phố, các quận huyện, ph-ờng xã Hội khuyến học Việt Nam đã phát triển mạnh mẽ, rộng khắp tạo nên một làn sóng về phong trào KH - KT trên phạm vi cả n-ớc
Bản thân là một sinh viên ngành Giáo dục Chính trị, là một ng-ời con
của quê h-ơng huyện Hoằng Hoá - Thanh Hoá, tôi chọn đề tài “Đảng bộ huyện Hoằng Hoá lãnh đạo phong trào khuyến học - khuyến tài huyện nhà trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất n-ớc (1996 đến nay)” làm đề tài khoá luận tốt nghiệp của mình với mục đích:
Tôn vinh truyền thống hiếu học của dân tộc Việt Nam nói chung, quê h-ơng Hoằng Hoá nói riêng Làm rõ vai trò tích cực của Đảng bộ địa ph-ơng trong việc nắm bắt yêu cầu của thời cuộc, nhạy bén kịp thời trong việc thực
hiện chủ tr-ơng của Đảng Cộng sản Việt Nam coi “Giáo dục đào tạo và khoa
học công nghệ là quốc sách hàng đầu” Qua đó, huyện Hoằng Hóa nhằm
quảng bá, giới thiệu với các địa ph-ơng khác trong và ngoài tỉnh một mô hình
KH - KT: Sáng tạo, hiệu quả và mang đậm chất nhân văn của huyện nhà,
Trang 6khẳng định vai trò của phong trào KH - KT trong thời kỳ đẩy mạnh CNH, HĐH đất nước…
2 Tình hình nghiên cứu
Có thể nói, trong những năm qua phong trào KH - KT đã gây đ-ợc sự chú ý, quan tâm của nhiều ngành, nhiều lĩnh vực, đoàn thể xã hội và toàn thể nhân dân Bởi vậy đã có rất nhiều các Chỉ thị, Nghị quyết, công văn từ Trung -ơng đến địa ph-ơng, nhiều mô hình KH - KT sáng tạo, độc đáo trở thành
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
Khoá luận tập trung làm sáng tỏ các vấn đề cơ bản sau:
- Lý luận chung về phong trào KH - KT
- Tìm hiểu về chỉ đạo phong trào KH - KT của Đảng bộ huyện Hoằng Hoá (Thanh Hoá) trong thời kỳ đẩy mạnh CNH, HĐH đất n-ớc (1996 đến nay)
- Đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao chất l-ợng, hiệu quả lãnh
đạo phong trào KH - KT của Đảng bộ huyện Hoằng Hoá thời kỳ đẩy mạnh CNH, HĐH đất n-ớc
4 Đối t-ợng và phạm vi nghiên cứu
- Vấn đề nghiên cứu: Khuyến học - khuyến tài
- Đối t-ợng khảo sát: Huyện Hoằng Hoá - tỉnh Thanh Hoá
- Thời gian: Từ năm 1996 đến nay
Trang 75 Cơ sở lý luận và ph-ơng pháp nghiên cứu
- Cơ sở lý luận: Đề tài đ-ợc thực hiện trên cơ sở lý luận của chủ nghĩa
Mác Lênin - t- t-ởng Hồ Chí Minh và những quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam, những chủ tr-ơng, chính sách của Nhà n-ớc và Đảng bộ huyện Hoằng Hoá về KH - KT Ngoài ra, đề tài kế thừa có chọn lọc những tài liệu có liên quan
- Ph-ơng pháp nghiên cứu: Để thực hiện đề tài này trong quá trình
nghiên cứu chúng tôi đã sử dụng những ph-ơng pháp sau:
- Ph-ơng pháp điều tra, khảo sát thực tế
- Phương pháp phân tích, so sánh, tổng hợp…
6 ý nghĩa thực tiễn và đóng góp của đề tài
Đề tài h-ớng tới làm tài liệu tham khảo phục vụ cho việc học tập và nghiên cứu của sinh viên ngành Giáo dục Chính trị
Kết quả nghiên cứu có thể đ-ợc áp dụng vào thực tế ở huyện Hoằng Hoá và nhiều địa ph-ơng khác trong cả n-ớc về vấn đề KH - KT
7 Kết cấu của đề tài
Ngoài phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo đề tài có 3 ch-ơng: Ch-ơng 1: Phong trào khuyến học - khuyến tài và quan điểm chỉ đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam
Ch-ơng 2: Đảng bộ huyện Hoằng Hoá lãnh đạo phong trào khuyến học
- khuyến tài ở huyện nhà trong thời kỳ đẩy mạnh CNH, HĐH đất n-ớc (từ
1996 đến nay)
Ch-ơng 3: Những giải pháp cơ bản nâng cao chất l-ợng, hiệu quả phong trào KH - KT huyện Hoằng Hoá (Thanh Hoá) trong thời kỳ đẩy mạnh CNH, HĐH đất n-ớc
Trang 8nội dung
chỉ đạo của Đảng cộng sản việt nam
1.1 Lý luận chung về phong trào khuyến học, khuyến tài
Có thể nói: “Khuyến học”, “khuyến tài” là những khái niệm đã quá
quen trong đời sống văn hóa, xã hội của ng-ời Việt Nam Ngay từ thời phong kiến các triều đại phong kiến đã chủ trương “Chiêu tập hiền tài” (Bài ký đề danh tiến sĩ khoa Nhâm Tuất), “Dựng nước lấy việc học làm đầu, trị nước chọn nhân tài làm gốc” (Chiếu lập học - Quang Trung) và t- t-ởng này đã trở thành một nét đẹp văn hoá của ng-ời Việt Nam đến tận ngày nay
Hiện nay xung quanh khái niệm: “khuyến học”, “khuyến tài” có nhiều
ý kiến khác nhau, tiếp cận d-ới nhiều góc độ, song chúng tôi cho rằng cách
định nghĩa đầy đủ và dễ hiểu nhất là định nghĩa theo từ điển Tiếng Việt
Khuyến học: “ cổ vũ, nâng đỡ việc học tập”
Khuyến tài: “bồi dưỡng khuyến khích nhân tài” [25, 223]
Nói đến bồi d-ỡng, khuyến khích nhân tài là nói đến việc thực hiện ph-ơng châm giáo dục học sinh giỏi Nhìn chung có nhiều cách định nghĩa
khác nhau về học sinh giỏi Luật bang Georgia (Hoa Kỳ) định nghĩa: “Học
sinh giỏi là học sinh chứng minh đ-ợc trí tuệ ở trình độ cao và có khả năng sáng tạo thể hiện một động cơ học tập mãnh liệt hoặc và đạt xuất sắc trong lĩnh vực lý thuyết khoa học; ng-ời cần một sự giáo dục đặc biệt hoặc sự phục
vụ đặc biệt để đạt được trình độ tương ứng với năng lực của người đó” [22, số
3, 35]
Một định nghĩa khác: “Học sinh giỏi là những học sinh, những ng-ời trẻ
tuổi có dấu hiệu về khả năng hoàn thành xuất sắc công việc trong các lĩnh vực nh- trí tuệ, sự sáng tạo, nghệ thuật, khả năng lãnh đạo, hoặc trong lĩnh vực lý thuyết chuyên biệt Những ng-ời này đòi hỏi sự phục vụ vì các hoạt động
Trang 9không theo tr-ờng lớp thông th-ờng nhằm phát triển hết năng lực của họ”
(Clak 2002 - Mỹ) [22, số 3, 36].]
Tóm lại, “khuyến học”, “khuyến tài” là hoạt động cổ vũ, khuyến khích học tập, bồi d-ỡng và thu hút nhân tài nhằm xây dựng một xã hội học tập góp phần vào sự phát triển bền vững KT - XH đất n-ớc
1.2 Quá trình ra đời và phát triển phong trào khuyến học - khuyến tài ở n-ớc ta
KH - KT ở n-ớc ta có manh nha từ thời kỳ phong kiến Biểu t-ợng cho truyền thống văn hiến, hiếu học, truyền thống khoa cử đó chính là Văn miếu Văn miếu tức Khổng miếu là nơi thờ Khổng tử, nhà t- t-ởng, nhà giáo dục vĩ
đại ng-ời khai sáng ra học phái Nho gia - vị tổ của nền giáo dục Trung Hoa cổ
đại Miếu thờ Khổng tử không phải chỉ có ở Trung Quốc mà ở những n-ớc theo đạo nho Khổng tử, học nho học: Nhật Bản, Triều Tiên, Việt Nam … cũng
đều xây dựng miếu thờ Khổng Tử hay còn gọi là Văn Miếu
Theo Đại Việt sử ký toàn th- do Ngô Sỹ Liên biên soạn vào năm 1479
thì năm 1070 d-ới triều vua Lý Thánh Tông (1054 - 1072) triều đình cho xây văn miếu, đắp t-ợng Khổng tử, phụ thờ 4 học trò nổi tiếng của Khổng Tử cùng
72 học trò giỏi khác của ông, định ra nghi lễ 4 mùa cúng tế Bên cạnh đó là Quốc tử Giám nơi các Hoàng Thái Tử đến học tập
Triều Minh từ niên hiệu Vĩnh Lạc (1403 - 1424) trở đi gọi Khổng Miếu
là Văn Miếu Do vậy, từ thế kỷ thứ XV sách vở ở n-ớc ta đều ghi là Văn Miếu theo chế độ nhà Minh ở Việt Nam thế kỷ XV là thế kỷ Nho học phát triển thịnh v-ợng nên ngoài Văn Miếu Quốc Tử Giám ở Thăng Long (Hà
Nội), tại các lộ, phủ, trên toàn quốc đều có Văn Miếu thờ Khổng Tử Theo
Đại Việt sử ký toàn th- vào cuối thế kỷ XV, Văn Miếu thờ Khổng Tử tại các
lộ đ-ợc điều cấp phu quét dọn, cúng tế hàng năm Việc làm đó thể hiện rõ Nhà n-ớc phong kiến rất tôn sùng Nho học
Trang 10Trong bài ký đề danh Tiến sĩ khoa Nhâm Tuất, niên hiệu Đại Bảo thứ 3
(1442) viết “Ngay khi vũ công đại định, sửa sang văn đức, muốn chiêu tập
hiền tài, đổi mới chính trị, bèn xuống chiếu cho các nơi trong n-ớc dựng nhà học để đào tạo nhân tài Tại Kinh đô có Quốc Tử Giám, ở ngoài các phủ có trường học…” [26, 65] ở các phủ nơi có tr-ờng học th-ờng có Văn Miếu thờ
Khổng Tử và có bia đá ghi tên những ng-ời của địa ph-ơng đỗ Tiến sĩ qua các
đời Nh- vậy, Văn Miếu dù ở cấp quốc gia hay địa ph-ơng đều là biểu t-ợng cho truyền thống văn hiến, truyền thống hiếu học, truyền thống khoa cử rất
đáng tự hào
Năm 1788, cách đây hơn 2 thế kỷ tại núi Bân - Phú Xuân - Huế “vị tướng áo vải” Nguyễn Huệ đã làm lễ lên ngôi Hoàng Đế, lấy niên hiệu là
Quang Trung tuyên bố: “nhân nghĩa, trung nghĩa là đạo lớn của ng-ời, trẫm
nay cùng dân đổi mới” [16, 3] Với cải cách quân sự, kinh tế, chính trị… sau
chiến thắng mùa xuân năm Kỷ Dậu 1789, Quang Trung tiếp tục công cuộc canh tân đất n-ớc với những chủ tr-ơng: Chiêu hiền, đãi sĩ, khuyến học, khuyến tài Đặc biệt ông đã ban hành nhiều chiếu th- quan trọng nh-: Chiếu cầu lời nói thẳng, chiếu cầu hiền, chiếu lập học…
Gần 220 năm trôi qua, song tinh thần đổi mới và chính sách khuyến học, khuyến tài, chiêu hiền đãi sĩ của Quang Trung vẫn ý nghĩa vô cùng Giờ
đây trên quê hương vị Hoàng đế “áo vải cờ đào” đã sinh thành cũng như khắp nơi đất Việt lại tiếp nối truyền thống trọng nghĩa, trọng tài và hiếu học
Đến thời Nguyễn, vị trí của giáo dục đ-ợc các vua Nguyễn từ Gia Long, Minh Mệnh, Thiệu Trị đến Tự Đức hết sức coi trọng Ngay sau vài tháng lên ngôi vào tháng 9 năm 1802, vua Gia Long đã cùng bầy tôi họp bàn phép khoa
cử và ra chiếu dụ: “Khoa mục là con đ-ờng bằng phẳng của học trò, thực
không thiếu đ-ợc Phải nên giáo dục thành tài, rồi sau thi h-ơng, thi hội lần lượt được cử hành thì người tài sẽ nối nhau giúp việc” [14, 2] Để đặt cơ sở
vững vàng cho việc phát triển Nho học, việc làm đầu tiên của vua Gia Long là
Trang 11đặt chức Đốc học ở các trấn Bắc thành, tiếp đó là dựng nhà Đốc học ở Quốc
Tử Giám, định phép khảo, khóa học trò, lấy hai kỳ xuân, thu làm kỳ khảo khóa, miễn binh đao cho những ng-ời thông văn lý để khuyến khích
Để cho việc học trở nên quy củ, đúng phép tắc, vua ra lệnh ban học quý cho các thành, dinh, trấn, cấp l-ơng tháng cho các quan dạy học ở Quốc Tử Giám và cho các vị đốc học trợ giáo cho các trấn Bắc thành việc mở mang tr-ờng lớp để dạy dỗ, đào tạo nhân tài
Cùng với việc thành lập, tổ chức học đ-ờng nhà Nguyễn cũng thực hiện chính sách nhằm mở rộng hệ thống tr-ờng học tới các phủ huyện, khuyến khích các địa ph-ơng đào tạo nhân tài Nho học
Sang thời Tự Đức, vua còn khuyến khích các địa ph-ơng “để ruộng
công tư làm trường hương học để dạy cho con em trong làng” [14, 3] Việc
th-ởng phạt công minh đối với các tầng lớp tham gia đào tạo giáo dục cũng
đ-ợc nhà Nguyễn hết sức coi trọng Nhiều chính sách khuyến khích ng-ời quản lý ng-ời dạy và ng-ời học đ-ợc thực thi
Đối với những ng-ời thi đỗ Tiến sĩ, Nhà n-ớc có chính sách -u tiên
khen thưởng đặc biệt Bởi họ làm “vẻ vang cả làng xóm, rạng rỡ cả gia đình
Thật là phấn khởi cho sĩ phu, khuyến khích ng-ời hậu tiến” Cho nên, ngay
năm Định mệnh thứ 3 việc “Ân tứ vinh quy, ban thưởng rất hậu”, vua cho phép “ở quê 2 tháng để cho thiên hạ đều biết ơn nhà vua trọng Nho” Hay
“ai đỗ Tiến sĩ đệ nhất giáp thì th-ởng cho trâm bạc mã vàng, đệ nhị giáp, đệ tam giáp cũng thưởng trâm bạc” [14, 3]
Trong chính sách cất nhắc hiền tài các vua triều Nguyễn cũng không quá câu nệ Những ng-ời có đức hạnh, học rộng hiểu nhiều có thể giúp việc
đều đ-ợc đề cử xem xét cân nhắc Trong chiếu 1821 vua Gia Long dụ rằng:
“Phàm dùng người cũng như dùng vật, nên thu đ-ợc rộng rãi, sao lại cứ đòi hỏi cho trọn vẹn đầy đủ, vậy đặc chủng cho cả 11 hạt Bắc thành và 2 hạt
Trang 12Thanh - Nghệ có ng-ời nào học rộng văn hay am thuộc điện tích cho chí kẻ có một tài một nghệ khả dĩ giúp ích cho thực dụng thì đ-ợc đến hành tại" [14, 4]
Trong các chính sách và chủ tr-ơng khuyến khích đào tạo nhân tài Nho học, việc đề cao nghi thức cúng tế tại Văn Miếu cũng đ-ợc vua quan nhà Nguyễn coi trọng
Tất cả các biện pháp của Nhà n-ớc đối với văn Miếu không chỉ nhằm củng cố và nâng cao địa vị của Nho học mà còn củng cố vững chắc tôn ty trật
tự và sự ổn định của gia đình, xã hội và tr-ớc hết là một nhà n-ớc thịnh trị vững mạnh Có thể thấy, những chính sách khuyến khích giáo dục của Nhà Nguyễn thực sự đã động viên các sĩ tử trong cả n-ớc hăng hái theo con đ-ờng khoa hoạn Đồng thời, tạo điều kiện để các địa ph-ơng trong cả n-ớc đ-a ra nhiều hình thức khuyến học phù hợp với tình hình KT - XH của địa ph-ơng mình, góp phần làm chuyển biến mạnh mẽ việc đào tạo nhân tài cho xã hội
B-ớc sang thế kỷ XIX, phong trào KH - KT ở Việt Nam đã có những thay đổi to lớn Phục vụ các phong trào yêu n-ớc thời kỳ này, nội dung GD -
KH chuyển h-ớng thể hiện lòng yêu n-ớc, tự tôn dân tộc
Năm 1906, Phan Bội Châu và Phan Chu Trinh thăm quan Khánh ứng Nghĩa Thục tại Đông Kinh để cuối năm 1906, trong một cuộc họp trù bị tại Bắc Kinh hai ông đã quyết định thành lập tại Hà Nội “Đông Kinh Nghĩa Thục” Tháng 3 năm 1907 các sĩ phu yêu nước cùng chí hướng với Phan Bội Châu như Lương Văn Can, Nguyễn Quyền, Lê Đại… bắt đầu mở trường Đông Kinh Nghĩa Thục tại số 4 Hàng Đào - Hà Nội
Ban giáo dục của tr-ờng lo việc giảng dạy, học tập, chiêu sinh Tr-ờng
có các giáo viên dạy chữ Hán, chữ Quốc ngữ và chữ Pháp Học sinh của tr-ờng có lớp ban đêm, có lớp ban ngày phân thành 2 cấp Tiểu học và Trung học Học sinh đ-ợc cấp giấy bút sách vở Những học sinh quá nghèo đ-ợc nhà tr-ờng sắp xếp cho ăn ở ngay trong ký túc xá của Nghĩa Thục Về nội dung
Trang 13giáo dục, nhà tr-ờng tập trung thu hút hiền tài về học tập, chống t- t-ởng phong kiến thối nát, thực hiện cuộc cải cách t- t-ởng văn hóa xã hội
Việc đề cao chữ quốc ngữ và học những kiến thức mới cũng đ-ợc đẩy
mạnh Tác phẩm “Văn minh tân đọc sách” có đoạn viết: Ng-ời trong n-ớc đi
học nên lấy chữ Quốc ngữ làm ph-ơng tiện đầu tiên để trong một thời gian vài tháng đàn bà, trẻ em đều biết chữ và ng-ời ta có thể dùng chữ quốc ngữ ghi việc đời xưa, chép việc đời nay… đó thực là bước đầu tiên để mở mang trí khôn vậy” Các môn học mới đ-ợc đ-a vào giảng dạy Ph-ơng pháp s- phạm
cũng có nhiều thay đổi theo “Tây học”
Văn minh tân đọc sách ghi: "Lại hạ lệnh khắp n-ớc, hễ ai học đ-ợc kiểu mới thì cũng theo lối châu âu cấp cho bằng khen làm l-u chiểu, th-ởng cho phẩm hàm để khen ngợi họ, cấp l-ơng bổng để khen th-ởng họ, cho giữ quyền sáng tạo để hậu đãi họ Những ai giỏi về khoa cách trí, khí học, hóa học thì làm cho họ được vẻ vang, sang trọng hơn những người đỗ đại khoa”
Truyền thống lịch sử và lòng yêu n-ớc đ-ợc đặc biệt chú trọng
Trong chiến tranh thế giới thứ nhất, do chính sách chèn ép của thực dân Pháp mặc dù hệ thống tr-ờng học, cấp học, loại hình đào tạo đã phong phú hơn song phong trào KH - KT lại không có điều kiện đ-ợc phát huy
Sau khi Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời (3/2/1930) thì đến 25/5/1938 Hội truyền bá chữ quốc ngữ đ-ợc thành lập với vai trò truyền bá chữ quốc ngữ, xóa mù chữ, nâng cao dân trí cho nhân dân
Ngày 02/09/1945 Chủ tịch Hồ Chí Minh đọc bản Tuyên ngôn độc lập
khai sinh ra n-ớc Việt Nam Dân chủ Cộng hòa Chỉ một ngày sau, 3/9/1945, trong buổi họp đầu tiên của Hội đồng Chính phủ, Bác Hồ đã chỉ ra 6 điều cấp bách cần làm ngay, trong đó bác xếp chống nạn mù chữ là nhiệm vụ thứ hai
chỉ sau việc chống nạn đói và ra lời kêu gọi “toàn dân chống nạn thất học”,
từ đó phong trào Bình dân học vụ ra đời
Trang 14Từ phong trào Bình dân học vụ đến nâng cao dân trí, điển hình đ-ợc
đánh dấu bằng thập kỷ 1990 - 2000 cả n-ớc triển khai công cuộc xóa mù chữ, phổ cập giáo dục tiểu học, thực hiện mục tiêu thế giới b-ớc vào thế kỷ XXI không còn nạn mù chữ do UNESCO khuyến cáo ở thập kỷ này, một trong những sự kiện quan trọng đ-ợc đánh dấu trong lịch sử phong trào KH - KT n-ớc ta là sự kiện ra đời của Hội khuyến học Việt Nam (02/10/1996) Vì vậy,
ở n-ớc ta ngày 2 tháng 10 hàng năm trở thành ngày kỉ niệm của phong trào
- Tăng c-ờng giám định, phản biện xã hội về giáo dục trên cơ sở tập hợp ý kiến của đông đảo các nhà giáo dục, những ng-ời tâm huyết với sự nghiệp giáo dục, kiến nghị với Đảng, chính quyền, ngành giáo dục cũng đề ra các chủ tr-ơng, chính sách, biện pháp phát triển giáo dục, hình thành xã hội học tập
Từ khi ra đời đến nay, Hội khuyến học đã hoạt động tích cực, đạt đ-ợc nhiều thành tựu, làm cho nền giáo dục Việt Nam có nhiều khởi sắc, biến chuyển mạnh mẽ cùng với sự phát triển đi lên của đất n-ớc
Nh- vậy, từ truyền thống khoa cử trong xã hội phong kiến đến phong trào Truyền bá chữ quốc ngữ, phong trào Bình dân học vụ và Bổ túc văn hóa
đến sự ra đời của mô hình Hội khuyến học đ-a phong trào KH - KT Việt Nam thành phong trào Xã hội hóa học tập Là một b-ớc phát triển lớn lao cả về số l-ợng và chất l-ợng, bồi đắp thêm cho truyền thống hiếu học bao đời nay của
Trang 15dân tộc Việt Nam Là con đ-ờng đ-a n-ớc ta sánh vai với các c-ờng quốc năm châu trong thời kỳ hội nhập
1.3 Quan điểm chỉ đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam với phong trào khuyến học - khuyến tài ở n-ớc ta
lệnh số 17 “đặt ra một bình dân học vụ trong toàn cõi Việt Nam” để chiến
đấu với giặc dốt và nạn mù chữ; Sắc lệnh số 19 “Thiết lập cho nông dân và
thợ thuyền những lớp học bình dân buổi tối”; Và sắc lệnh số 20 “Việc học chữ quốc ngữ từ nay bắt buộc và không mất tiền cho tất cả mọi ng-ời"
Chủ tịch Hồ Chí Minh nói: “Một dân tộc dốt là một dân tộc yếu” vì
vậy, Ng-ời đề ra chủ tr-ơng mở một chiến dịch chống nạn mù chữ Những ng-ời đã biết chữ dạy cho ng-ời ch-a biết chữ, những ng-ời ch-a biết chữ gắng học cho biết chữ Nha bình dân học vụ đ-ợc thành lập để phụ trách việc chống nạn mù chữ, phong trào bình dân học vụ phát triển sôi nổi rộng khắp
Tháng 9/1945 nhân ngày khai tr-ờng đầu tiên của n-ớc Việt Nam Dân
chủ Cộng hòa, trong th- gửi các em học sinh Chủ tịch Hồ Chí Minh nói: "Nền
giáo dục của chúng ta là nền giáo dục của một n-ớc độc lập, một nền giáo dục sẽ đào tạo học sinh thành những công dân hữu ích của n-ớc Việt Nam Non sông Việt Nam có trở nên t-ơi đẹp đ-ợc hay không, dân tộc Việt Nam có b-ớc tới đài vinh quang để sánh vai với các c-ờng quốc năm châu đ-ợc hay không chính là nhờ phần lớn ở công học tập của các em"
Trang 16Trong thời kỳ xây dựng nền Dân chủ Cộng hòa, tháng 7 năm 1948, Hội nghị văn hóa toàn quốc lần thứ 2 đ-ợc triệu tập Tổng bí th- Đảng - Tr-ờng Chinh đã nêu rõ lập tr-ờng văn hóa macxit, tính chất của văn hóa dân tộc, dân chủ Trên cơ sở đó, Đảng ta cũng dành riêng sự quan tâm sát sao đối với sự nghiệp giáo dục Tháng 7 năm 1948, Bộ giáo dục đã triệu tập Hội nghị giáo dục toàn quốc, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã gửi th- cho Hội nghị, Ng-ời chỉ rõ:
"Muốn xây dựng một nền giáo dục cho hợp với yêu cầu kháng chiến, kiến
quốc phải biên soạn sách, sửa đổi cách dạy học, đào tạo cán bộ…" Từ sau
Hội nghị này ngành giáo dục đã có những chuyển biến về nội dung và ph-ơng pháp dạy học
Tháng 4/1950, Chính phủ đã quyết định cải cách giáo dục phổ thông thay hệ thống giáo dục cũ bằng hệ thống giáo dục phổ thông mới 9 năm, đ-a giáo dục phục vụ tích cực công cuộc kháng chiến kiến quốc, đặt nền móng cho nền giáo dục dân tộc, dân chủ dựa trên nguyên tắc: Dân tộc, khoa học, đại chúng
Từ 1951 đến 1953, sau chiến thắng Biên giới thu đông (1950), đ-ờng biên giới giữa n-ớc ta và Trung Quốc đ-ợc khai thông, Chính phủ đã cử hàng ngàn cán bộ và học sinh tốt nghiệp phổ thông đi học Đại học ở n-ớc ngoài dài hạn, nhằm chuẩn bị cho xây dựng đất n-ớc sau chiến tranh
Năm 1959 Hiến pháp n-ớc Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ra đời cũng đã
quy định: “Mọi công dân Việt Nam đều có quyền học tập, thực hiện từng b-ớc
chế độ giáo dục cưỡng bức, quyền nghiên cứu khoa học và sáng tạo”
Tiếp đó, tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ III của Đảng (9/1960)
trong “Chương trình hành động 10 điểm” đã chỉ rõ yêu cầu: “Xây dựng nền
văn hóa, giáo dục dân tộc dân chủ”
Sau thắng lợi mùa xuân 1975, Việt Nam thống nhất hoàn toàn, trăm sông thu về một mối, các Đại hội đại biểu toàn quốc của Đảng lần thứ IV, V
Trang 17đề ra các kế hoạch 5 năm (1976-1980; 1981-1985) bên cạnh nhiệm vụ khôi phục vết th-ơng chiến tranh Đảng ta luôn luôn đề cao các nhiệm vụ phát triển giáo dục, tăng c-ờng chính sách KH - KT
1.3.2 Thời kỳ 1996 trở lại đây
Trong hoạt động lãnh đạo của mình, Đảng ta luôn đề cao vị trí của GD
-ĐT là “Quốc sách hàng đầu” luôn coi trọng phong trào KH - KT, tạo cơ hội
học tập th-ờng xuyên cho mọi ng-ời, góp phần đào tạo, bồi d-ỡng nâng cao chất l-ợng nguồn nhân lực, đáp ứng yêu cầu phát triển đất n-ớc Văn kiện Đại
hội Đảng toàn quốc lần thứ IX (2001) xác định: "Đẩy mạnh phong trào học
tập trong nhân dân bằng những hình thức giáo dục chính quy và không chính quy, thực hiện giáo dục cho mọi ng-ời, cả n-ớc trở thành một xã hội học tập"
[11, 54] Đến Đại hội X (2006) Đảng ta đã chỉ rõ: "Chuyển dần mô hình giáo
dục hiện nay sang mô hình giáo dục mở - mô hình xã hội học tập với ph-ơng châm học suốt đời, đào tạo liên tục" [10, 73]
Cùng với không ngừng đầu t- toàn diện cho sự nghiệp GD - ĐT, đầu
năm 1996, Chính phủ có quyết định về việc thành lập “Hội khuyến khích và
phát triển giáo dục Việt Nam” gọi rút gọn là “Hội khuyến học Việt Nam”
Ngày 2/10/1996 tại Hà Nội, Hội khuyến học Việt Nam đã khai mạc Đại hội lần thứ nhất, mở đầu cho hoạt động của một tổ chức có vai trò nòng cốt liên kết phối hợp với các tổ chức, các lực l-ợng xã hội tham gia hoạt động khuyến học Từ đó đến nay, Hội khuyến học Việt Nam đã có sự phát triển nhanh chóng về tổ chức, nội dung và hiệu quả hoạt động, xứng đáng với ghi nhận của Ban Chấp hành Trung -ơng Đảng qua nội dung bức tr-ớng tặng Đại hội
lần III của Hội khuyến học Việt Nam (năm 2006): "Khuyến học, khuyến tài
xây dựng cả n-ớc trở thành một xã hội học tập" [5, 7]
Những năm gần đây, tổ chức và hoạt động của Hội khuyến học đã đ-ợc
sự quan tâm lãnh đạo của các cấp ủy Đảng, chính quyền, sự phối hợp của các
Trang 18tổ chức, đoàn thể ở Trung -ơng, ngày 13/4/2007 Bộ Chính trị đã ban hành
Chỉ thị 11CT/TW "Về tăng c-ờng sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác
khuyến học, khuyến tài, xây dựng xã hội học tập" Tiếp đó, ngày 8/1/2008,
Thủ t-ớng Chính phủ có chỉ thị số 02/2008/CT-TTg "Về đẩy mạnh phong trào
khuyến học, khuyến tài, xây dựng xã hội học tập" ở địa ph-ơng ngày
18/6/2007 Ban th-ờng vụ Tỉnh ủy cũng đã ban hành chỉ thị số 11CT/TU "Về
tăng c-ờng sự lãnh đạo của các cấp ủy Đảng đối với công tác khuyến học, khuyến tài, xây dựng xã hội học tập"
Xã hội học tập là một xu thế mới trong quá trình phát triển của xã hội
loài ng-ời Đó là đòi hỏi của cuộc cách mạng công nghệ và phát triển kinh tế,
đồng thời cũng là đòi hỏi của sự phát triển con ng-ời trong thế kỷ XXI Khái
niệm Xã hội học tập ngày nay gắn liền với khái niệm xã hội tri thức, xã hội
thông tin, đều đặt con ng-ời vào vị trí trung tâm tạo điều kiện cho con ng-ời phát triển bền vững và cũng là điều kiện cho phát triển KT - XH Nội dung cơ
bản của Xã hội học tập là "Giáo dục th-ờng xuyên, đào tạo liên tục, học tập
suốt đời" Giáo dục th-ờng xuyên liên tục gắn bó hữu cơ giữa giáo dục gia
đình với giáo dục nhà tr-ờng và xã hội
1.4 Một số thành tựu và hạn chế lịch sử về phong trào khuyến học - khuyến tài ở n-ớc ta
1.4.1 Thành tựu đạt đ-ợc
Có thể nói từ 1996 trở về tr-ớc, những thành tựu đạt đ-ợc trong chiến l-ợc phát triển KH - KT ở n-ớc ta đã có những dấu ấn để lại Từ thời phong kiến các chính sách khuyến khích học tập, -u chuộng hiền tài đã góp phần nhen nhóm truyền thống hiếu học của ng-ời Việt Nam
Từ sau năm 1945, phong trào KH - KT n-ớc ta đã đạt đ-ợc những thành tựu nổi bật Hơn 70 năm tr-ớc, ngày 8/9/1945 ngay sau Cách mạng Tháng Tám thành công, trong phiên họp đầu tiên của Chính phủ, Chủ tịch Hồ Chí
Trang 19Minh đã đề nghị: Mở chiến dịch chống nạn mù chữ, coi nạn thất học nh- một thứ giặc nguy hiểm Chỉ sau một năm thực hiện ch-ơng trình Bình dân học vụ, ngày 8/9/1946 cả n-ớc ta đã có gần 75 nghìn lớp học Bình dân học vụ, hơn 95.500 giáo viên và hai triệu r-ỡi ng-ời thoát nạn mù chữ (trong tổng số 22 triệu dân) Những lớp Bổ túc tiếp sau Bình dân học vụ xóa mù chữ đã đ-a 8 triệu ng-ời dân trong 9 năm kháng chiến (1946 - 1954) vừa lo chống giặc giữ n-ớc, vừa lo học tập, thoát nạn mù chữ và 5 năm sau (1959) tất cả các tỉnh, thành phố vùng đồng bằng trung du miền Bắc đều hoàn thành nhiệm vụ xóa
mù chữ cho nhân dân ở độ tuổi 12 - 50 Kết thúc kế hoạch 5 năm lần thứ nhất (1961 - 1965), các vùng thấp thuộc các tỉnh miền núi phía Bắc đã xóa xong nạn mù chữ cho nhân dân các dân tộc thiểu số Ba năm sau ngày giải phóng,
Bộ giáo dục n-ớc Việt Nam Dân chủ Cộng hoà đã chính thức công bố: "N-ớc
ta cơ bản hoàn thành xóa nạn mù chữ"
T- t-ởng này của Bác Hồ hoàn toàn đúng và càng đúng trong tình hình hiện nay khi giáo dục phải đón đầu nền kinh tế tri thức, phục vụ sự nghiệp CNH, HĐH đất n-ớc cùng đất n-ớc nhanh chóng hội nhập với thế giới đang phát triển với tốc độ nhanh
Sự nghiệp nâng cao dân trí của đất n-ớc đ-ợc đánh dấu bằng thập kỷ
1990 - 2000, cả n-ớc triển khai công cuộc xóa mù chữ - phổ cập giáo dục tiểu học, thực hiện mục tiêu thế giới b-ớc vào thế kỷ XXI không còn nạn mù chữ
do UNESCO khuyến cáo và Liên hợp quốc phát động Đến tháng 6/2000 cả n-ớc ta đạt chuẩn quốc gia xóa mù chữ, phổ cập giáo dục Tiểu học và nay
đang tiếp tục phổ cập Trung học cơ sở Suốt 60 năm qua, sự nghiệp xóa mù chữ, nâng cao dân trí luôn gắn liền với sự nghiệp dành độc lập dân tộc, bảo vệ
Tổ quốc, phát triển đất n-ớc gắn liền với tên tuổi Chủ tịch Hồ Chí Minh
Những năm gần đây, thực hiện quyết định số 112/2005/QĐ-TTg của
Thủ t-ớng Chính phủ phê duyệt đề án “Xây dựng Xã hội học tập giai đoạn
2005 - 2010” Ngành GD - ĐT tăng c-ờng củng cố tổ chức và hoạt động của
Trang 20các cơ sở giáo dục th-ờng xuyên gồm: Các Trung tâm học tập cộng đồng, Trung tâm GDTX, Trung tâm ngoại ngữ, tin học, giáo dục từ xa để các cơ sở này có khả năng thực hiện nhiều ch-ơng trình giáo dục đáp ứng nhu cầu học tập của nhân dân
Phát triển mạng l-ới giáo dục th-ờng xuyên, phấn đấu đến 2010 tất cả các tỉnh, thành phố trong cả n-ớc đạt tỷ lệ 100% số quận, huyện có Trung tâm GDTX, 80% số xã ph-ờng, thị trấn có Trung tâm học tập cộng đồng Chỉ đạo
và tạo điều kiện thuận lợi cho các cơ quan, tổ chức, cơ sở sản xuất dịch vụ, kinh doanh thuộc các thành phần kinh tế thành lập các cơ sở học tập, bồi d-ỡng th-ờng xuyên cho ng-ời lao động nhất là trong lĩnh vực nông nghiệp, những vùng có điều kiện kinh tế khó khăn và đặc biệt khó khăn Đa dạng hóa các hình thức học tập với thời gian học tập linh hoạt, thực hiện ph-ơng châm
đ-a lớp học về gần với ngành học, áp dụng các ph-ơng thức giáo dục từ xa, tăng nhanh khả năng cung ứng cơ hội học tập theo ph-ơng thức giáo dục từ xa với các vùng khó khăn và đặc biệt khó khăn Xây dựng, đào tạo và bồi d-ỡng
đội ngũ cán bộ giáo viên trong các cơ sở giáo dục từ xa, chú trọng đào tạo giảng viên tiếng dân tộc thiểu số làm nòng cốt đào tạo bồi d-ỡng đội ngũ cán
bộ cốt cán, giáo viên dạy tiếng dân tộc thiểu số cho các địa ph-ơng
Từ Bình dân học vụ đến Xã hội học tập là một b-ớc phát triển cả về l-ợng và chất Đó là kết quả nỗ lực không ngừng của các cấp ủy Đảng, chính quyền và toàn thể nhân dân
Những thành tựu của phong trào KH - KT đạt đ-ợc trong thời kì từ sau
1996 gắn liền với những thành tựu của Hội khuyến học Việt Nam
Trong thời kì thứ nhất (1996 - 1999), d-ới sự tác động mạnh mẽ và tích cực của các cấp ủy Đảng, Hội khuyến học Việt Nam đã thực hiện tốt những nhiệm vụ cơ bản đã đề ra, góp phần tích cực vào Xã hội hóa giáo dục, tham gia xóa mù chữ và phổ cập giáo dục Đến năm 1998, trong phong trào khuyến học đã xuất hiện một số mô hình điển hình tiên tiến ở 28 tỉnh, thành phố, thị
Trang 21xã đã có các tổ chức của hội với 100.000 hội viên, phong trào phát triển tốt ở Nam Định, Đà Nẵng, thành phố Hồ Chí Minh v.v… Hội nghị biểu dương điển hình tiên tiến trong phong trào khuyến học ở các tỉnh phía Bắc đ-ợc tổ chức ở Nam Định (10/1998) và các tỉnh phía Nam ở thành phố Hồ Chí Minh (18/12/1998) có ý nghĩa rất lớn Thành công của hai hội nghị đã tác động tích cực đến quá trình tổ chức và hoạt động phong trào khuyến học ở nhiều địa ph-ơng
Thời kỳ thứ 2 (1999 - 2005), Hội khuyến học Việt Nam đ-ợc tạo điều kiện để phát triển mạnh mẽ, tháng 8/1999 Bộ chính trị ra chỉ thị số 50CT-TW
về tăng c-ờng sự lãnh đạo của Đảng Năm 1999, Thủ t-ớng Chính phủ cho
phép thành lập Quỹ khuyến học Việt Nam (số 183/1999/QĐ-TTg) và phê duyệt bản điều lệ Hội khuyến học Việt Nam (số 123/1999/QĐ-TC) nhờ các chính sách -u tiên đầu t- phát triển, Ban th-ờng vụ và Trung -ơng hội đã tập trung chỉ đạo việc xây dựng tổ chức xuống các địa ph-ơng Trong năm 1999, hội đã triển khai nhiều mặt hoạt động sôi nổi, công tác liên kết với các ban ngành, đoàn thể ở nhiều địa ph-ơng, nhiều tổ chức quốc tế, nhiều đơn vị kinh
tế và các cá nhân đã hỗ trợ hàng nghìn suất học bổng cho học sinh nghèo và nhiều giải th-ởng cho học sinh giỏi
Năm 2000 tổ chức Hội đã đ-ợc thành lập ở 46 tỉnh, thành phố, 200 quận, huyện, thị xã với hàng triệu hội viên Quỹ khuyến học Việt Nam ở Trung -ơng ra mắt đầu năm 2000, còn quỹ khuyến học huyện, xã, ph-ờng, dòng họ thì đã có hàng chục tỷ đồng và có chiều h-ớng phát triển tốt Trong
phong trào thi đua toàn quốc “Vì sự nghiệp khuyến học” họp ngày 25/10/2000
ở Hà Nội nhiều tỉnh đã đ-ợc nhận bằng khen của Chính phủ, các xã, ph-ờng, dòng họ, cá nhân xuất sắc đ-ợc nhận cờ th-ởng, bằng khen của Trung -ơng Hội
Từ năm 2003 - 2005, Hội khuyến học Việt Nam đã đạt đ-ợc những thành tựu quan trọng: 61 tỉnh, thành phố đã tổ chức Đại hội thành lập hội khuyến học, 99% huyện, thị, gần 94% xã, ph-ờng có Hội khuyến học Hội đã
Trang 22xem “xây dựng cả nước thành một Xã hội học tập” là nhiệm vụ chính trị của toàn hội Hội đã phát động thành lập “Trung tâm học tập cộng đồng xã,
phường” nhằm tạo cho nhân dân cơ hội học tập tại cơ sở Số l-ợng Trung tâm
học tập cộng đồng tăng lên rất nhanh, từ 7 trung tâm năm 1999, đến nay đã có 76.000 trung tâm trong cả n-ớc Trung tâm học tập cộng đồng đã có tác dụng nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực, bồi d-ỡng nhân tài ở mỗi cộng đồng dân
c-, đồng thời tham gia vào công tác trật tự, an ninh xã hội Phong trào “Xây
dựng cả n-ớc thành một Xã hội học tập”, Hội khuyến học các cấp đã trở thành
chỗ dựa vững chắc phục vụ sự nghiệp chấn h-ng giáo dục, phát huy nguồn nhân lực trong nhân dân, tích cực tham gia xóa đói giảm nghèo, tạo sự công bằng về quyền lợi học tập trong nhân dân
Thời kỳ thứ 3 (2005 - 2008) và đến 2010 Hội khuyến học Việt Nam đã
họp Đại hội lần III ngày 2/10/2005 tại Hà Nội và đề ra nhiệm vụ: “Tiếp tục
phát triển các tổ chức của hội; động viên cao độ tâm huyết và năng lực t- duy sáng tạo của các hội viên đ-a hoạt động khuyến học, khuyến tài trở thành phong trào quần chúng sâu rộng, tích cực…” [5, 4] Trong thời kỳ này, những
thành tựu của Hội khuyến học Việt Nam tiếp tục đ-ợc nhân rộng và đạt nhiều kết quả mới, cả về số l-ợng và về chất l-ợng đều đ-ợc nâng cao Phong trào
KH - KT xây dựng Xã hội học tập ngày càng đ-ợc khẳng định
Trong thực tế, rất nhiều dòng họ đã xây dựng quỹ khuyến học, khuyến tài Ai đã từng về làng cổ Đ-ờng Lâm (Thành phố Sơn Tây) từng nghe câu
“Cờ họ Đỗ giỗ họ Giang” Ban liên lạc dòng họ Đỗ đã đ-a ra nhiều điều lệ về
tổ chức quỹ khuyến học, khuyến tài, cổ vũ con cháu các chi tộc họ Đỗ Việt Nam quan tâm tham gia phong trào khuyến học, khuyến tài bằng nhiều hình thức hoạt động có hiệu quả Biểu d-ơng khuyến khích những ng-ời họ Đỗ ở trong và ngoài n-ớc có thành tích xuất sắc trong học tập, nghiên cứu khoa học
kỹ thuật, thể thao…
Trang 23ở huyện vùng cao Kỳ Sơn - Nghệ An hàng năm vào ngày tết âm lịch
hay rằm tháng bảy, nhân dịp “Tháng khuyến học” Hội khuyến học dòng họ
“Mùa” tại bản Sơn Hà - Cà Tạ lại tổ chức gặp mặt các cháu đang học tập và
làm việc tại mọi miền Tổ quốc để động viên khích lệ kịp thời những thành tích
đã đạt đ-ợc trong năm và nêu g-ơng tốt để con cháu học tập
Do biến cố lịch sử - xã hội có một chi họ thuộc chi họ V-ơng triều nhà
Lý khởi vào năm Canh Tuất 1730 ở làng Ô Cách (nay thuộc ph-ờng Đức Giang quận Long Biên - Hà Nội) không mang danh lý tộc - chi Nguyễn Tất Thành đ-ợc gọi tắt là chi Nguyễn Tất Thành - 1730 (Ô Cách) ng-ời thuộc chi
họ ấy có thành tích học tập khá xuất sắc Chi họ Nguyễn Tất Thành - 1730 (Ô Cách) khích lệ khuyến học gia đình, khuyến học dòng họ kết hợp với khuyến học toàn xã hội Chi họ th-ờng xuyên trao đổi sáng tạo cách khuyến học có hiệu quả Những ng-ời thành đạt chủ động tài trợ giúp đỡ ng-ời khó khăn có
điều kiện học tập tốt Bên cạnh việc tôn vinh gia đình hiếu học, khen th-ởng
sinh viên xuất sắc, sinh viên giỏi chi họ còn đề ra danh hiệu “Gia đình trí tuệ”
để mọi ng-ời phấn đấu
Nh- vậy, phong trào KH - KT n-ớc ta d-ới sự lãnh đạo của Đảng đã đạt
đ-ợc nhiều thành tựu to lớn Phong trào KH - KT ngày càng lan rộng ăn sâu
vào mỗi ban ngành, tổ chức, gia đình và dòng họ đ-a cả n-ớc trở thành “Xã
hội học tập”
1.4.2 Hạn chế
- Bên cạnh những thành tựu đã đạt đ-ợc, phong trào KH - KT phát triển còn ch-a thật đồng đều ở một số cấp, ngành, nhất là ở một số địa ph-ơng trong cả n-ớc Nhận thức về vai trò, vị trí tầm quan trọng của phong trào KH -
KT xây dựng xã hội học tập ch-a thật sự đầy đủ nên phong trào phát triển ch-a thật vững chắc
- Đội ngũ cán bộ hội khuyến học hoạt động ch-a đều tay, ch-a làm tốt công tác tham m-u cho các cấp ủy Đảng, chính quyền cũng nh- phối hợp với
Trang 24các lực l-ợng xã hội ở một số ít cơ sở nhất là khối cơ quan, doanh nghiệp, hoạt động khuyến học còn đơn điệu, nghèo nàn và mang tính hình thức
- Việc xây dựng quỹ khuyến học có nơi hiệu quả còn thấp
- Công tác tuyên truyền, vận động nâng cao công tác khuyến học ở một
số địa bàn chưa mạnh mẽ Sự tài trợ của các mạnh thường quân… cho phong trào khuyến học diễn ra hàng năm, nh-ng ch-a nhiều và ch-a thành phong trào sôi nổi
Kết luận ch-ơng 1: Việt Nam là một quốc gia có truyền thống hiếu
học, truyền thống ấy ngày càng đ-ợc tô đậm thêm bởi tinh thần cổ vũ nâng đỡ việc học tập và bồi d-ỡng, trọng dụng nhân tài Sự kiện ra đời Hội khuyến học Việt Nam (2/10/1996) đánh dấu phong trào KH - KT từ một truyền thống tốt
đẹp trở thành một tổ chức mang tính quy mô và hệ thống trên phạm vi cả n-ớc Sự ra đời của Hội khuyến học Việt Nam là động lực lớn của phong trào
KH - KT và là sự đáp ứng kịp thời nhu cầu nâng cao dân trí cũng nh- bồi d-ỡng nhân tài cho đất n-ớc tiến sang thời kỳ đẩy mạnh CNH, HĐH Trong bối cảnh KH - KT trở thành một tổ chức rộng lớn và không ngừng phát triển thì tinh thần hiếu học của nhân dân Hoằng Hoá nh- đ-ợc tiếp thêm một luồng sinh khí mới, nảy nở, phát triển và đã đạt đ-ợc những thành tựu làm rạng danh lịch sử khoa bảng của huyện nhà, góp phần không nhỏ vào b-ớc tiến chung của phong trào KH - KT cả n-ớc
Trang 25Ch-ơng 2: Đảng bộ huyện Hoằng Hoá lãnh đạo phong trào Khuyến học - khuyến tài ở huyện nhà trong thời kỳ đẩy mạnh Công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất
n-ớc (từ 1996 - nay) 2.1 Điều kiện tự nhiên và lịch sử xã hội ở huyện Hoằng Hóa (Thanh Hóa)
2.1.1 Điều kiện tự nhiên
Hoằng Hóa là một huyện nằm ở phía Đông bắc Thanh Hóa, vùng đồng bằng ven biển: Phía Đông giáp biển, phía Tây giáp huyện Thiệu Hóa và Vĩnh Lộc, phía Bắc giáp Hậu Lộc, phía Nam giáp huyện Quảng X-ơng, thành phố Thanh Hóa và một phần huyện Đông Sơn Với diện tích đất tự nhiên là 22.208
ha, trong đó đất nông nghiệp là 12.973 ha, đất lâm nghiệp 398 ha, đất chuyên dùng 3.910 ha, còn lại là đất khác
Trừ phía Đông là biển, ba bề của Hoằng Hóa đều đ-ợc sông Mã bao bọc Đây là một vùng châu thổ đ-ợc bồi đắp bởi nền đất cũ do hiện t-ợng biển lùi và sự lắng đọng của phù sa sông Mã Nhìn chung, có thể chia mảnh đất Hoằng Hóa thành hai vùng:
- Vùng ven biển: Bờ biển Hoằng Hóa kéo dài từ cửa Lạch Tr-ờng (cửa sông Mã cũ) đến Lạch Trào (cửa sông Mã hiện tại) dài 12km Các xã ven biển gồm 7 xã: Hoằng Yến, Hoằng Tiến, Hoằng Hải, Hoằng Tr-ờng, Hoằng Ngọc, Hoằng Thanh, Hoằng Đông Đây là một dải đất cát rộng hẹp không đều, độ màu mỡ cũng không giống nhau, đ-ợc hình thành bởi các dòng hải l-u xuôi ngược dọc bờ biển bởi phù sa sông Mã, sông Chu… được các dãy cồn cát che chở Sự phát triển của các dãy cồn cát tạo nên cánh đồng ven biển và bờ biển Hoằng Hóa ổn định từ lâu
- Vùng đồng bằng: Bao gồm tất cả các xã còn lại (thuộc 7 tổng tr-ớc
đây: Từ Minh, Bãi Trạch, Thành Vĩnh, Bút Sơn, D-ơng Sơn, D-ơng Thủy, Lỗ H-ơng) Bộ mặt của địa hình ấy không chỉ do tự nhiên tạo ra mà phần lớn do
Trang 26cảnh quan, độ màu mỡ của đồng bằng Sự trù mật, sầm uất của làng xã ở địa bàn khá đông dân c- này đều mang dấu vết của bàn tay, trí não con ng-ời Hoằng Hóa trải qua bao thời kỳ chống chọi với thiên nhiên, tạo nên một quê h-ơng giàu đẹp và rất đỗi tự hào
Với điều kiện tự nhiên nh- trên, Hoằng Hóa là huyện có cả đ-ờng biển,
đ-ờng sông, đ-ờng bộ thuận tiện cho phát triển giao thông, giao l-u kinh tế - văn hóa với nhiều vùng xung quanh Đặc biệt, huyện Hoằng Hóa có các tuyến giao thông quan trọng nh-: Quốc lộ 1A, song song với đ-ờng sắt Bắc - Nam dài 9km từ Nghĩa Trang đến Hàm Rồng, hơn 30km đ-ờng sông
Tuy nhiên, điều kiện tự nhiên - vị trí địa lý cũng gây không ít khó khăn cho sản xuất và đời sống nhân dân trong huyện nh- lũ lụt, hạn hán, làm h- hỏng các công trình thủy lợi… khiến cho cư dân Hoằng Hóa luôn phải vật lộn với điều kiện tự nhiên khắc nghiệt để sinh tồn
2.1.2 Điều kiện lịch sử và xã hội
Về mặt địa danh: Từ thời Hùng V-ơng đến nay huyện Hoằng Hóa trải qua nhiều lần thay đổi đơn vị hành chính
ở thời Văn Lang - Âu Lạc, huyện Hoằng Hóa là đất thuộc bộ Cửu Chân, một trong 15 bộ của n-ớc ta lúc bấy giờ Sang thời Bắc Thuộc chính quyền đô hộ nhiều lần thay đổi tên gọi đơn vị hành chính: Thời thuộc Hán đất
đai huyện Hoằng Hóa thuộc quận T- phố, đời Tam Quốc L-ỡng tần là đất huyện Kiến sơ và Cao An, thời Nam - Bắc triều vẫn thế Sang thời Tùy đổi tên
là Long An Thời Thuộc Đ-ờng đổi Long An thành Sùng An (năm 712) sau
đổi thành Sùng Bình
Từ thế kỷ X - XV Thanh Hóa thuộc đảo Hải Tây, năm Quang Thuận
thứ X (năm 1469) đổi Thanh Hóa Thừa Tuyên thành tên “Thanh Hóa”, huyện
Cổ Đằng đổi thành huyện Hoằng Hóa, cái tên “Hoằng Hóa” chính thức bắt
đầu từ đây và tồn tại cho đến ngày nay
Trang 27Huyện Hoằng Hóa theo “Tên làng xã Việt Nam đầu thế kỷ XX” có “7
tổng, 161 xã, thôn, trang, sở, đến 1945 có 8 tổng, 169 xã, thôn” [15, 187]
Sau Cách mạng tháng Tám năm 1945, theo quyết định của Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, các phủ, huyện, châu đều gọi là huyện Các huyện chỉ điều chỉnh lại một số phần riêng, huyện Hoằng Hóa vẫn đủ 8 tổng
và nhập thêm một làng thuộc huyện Hậu Lộc là Trung Hóa (nay thuộc xã Hoằng Trinh), hiện nay Hoằng Hóa có 49 xã, thị trấn, huyện lỵ là Bút Sơn
Dấu vết c- trú của con ng-ời trên đất Hoằng Hóa đ-ợc các nhà khảo cổ học phát hiện ở di chỉ Quỳ Chữ (gồm 8 địa điểm gần nhau: Bãi Chùa (Mộ táng) và Đồng Cáo thuộc làng Quỹ Chữ (Hoằng Quỳ) có niên đại cách đây
3000 - 3500 năm… ở các di chỉ này, ng-ời ta đã tìm thấy đồ tùy táng bằng
đá, đồ gốm, đồ trang sức bằng đá ngọc, bằng x-ơng, răng động vật: Trâu, bò, chó, lợn, cá…
Các hiện vật trên đặc biệt là đồ gốm, đồ trang sức rất tinh xảo chứng tỏ chủ nhân ở đây đã có trình độ phát triển cao, trình độ thẩm mỹ và khả năng sáng tạo văn hóa khá, không những thế các di chỉ khảo cổ học Quỳ Chữ đã cho thấy dân Việt cổ ở huyện Hoằng Hóa liên tục sinh sống và phát triển qua các giai đoạn lịch sử: Từ Hậu kỳ thời đại đồng thau qua thời kỳ đồ sắt, đến Bắc thuộc, sang thời phong kiến và tồn tại cho đến tận ngày nay Điều đó đ-ợc biểu hiện ở tầng văn hóa rất dày (từ 1 - 1,6m) phát triển liên tiếp không có sự cắt đoạn nh- ở nhiều nơi khác
Trải qua hàng nghìn năm lịch sử, ng-ời dân huyện Hoằng Hóa đã phải
đ-ơng đầu với biết bao khó khăn, thử thách, chống chọi với tự nhiên, với kẻ thù xâm l-ợc để tồn tại và phát triển Chính vì vậy đã hun đúc nên con ng-ời Hoằng Hóa thông minh, sáng tạo với nhiều truyền thống tốt đẹp rất đỗi tự hào
Điều kiện tự nhiên và lịch sử xã hội, không những tạo nên một huyện Hoằng Hóa có lòng yêu n-ớc, chống giặc ngoại xâm, tinh thần đoàn kết chống c-ờng quyền áp bức, bóc lột trong xã hội Mà còn là một huyện Hoằng Hóa có
Trang 28bề dày văn hóa đáng tự hào với những thuần phong mỹ tục, các công trình kiến trúc và đáng kể nhất chính là truyền thống hiếu học, truyền thống ấy đã
làm cho huyện Hoằng Hóa xứng đáng tự hào là “vùng đất văn vật”
2.2 Thực trạng phong trào khuyến học - khuyến tài ở huyện Hoằng Hóa tr-ớc thời kỳ đẩy mạnh sự nghiệp CNH, HĐH đất n-ớc (tr-ớc 1996)
2.2.1 Truyền thống hiếu học ở huyện Hoằng Hóa
Thanh Hóa là một tỉnh có truyền thống hiếu học, trọng dụng nhân tài Hằng năm, số l-ợng con em Thanh Hóa thành đạt từ truyền thống hiếu học là
rất lớn Trong trào l-u chung đó huyện Hoằng Hóa nổi lên là một “điểm
sáng”
Trong kho tàng ca dao tục ngữ Thanh Hóa đã có câu vè: “Thi Hoằng
Hóa, khóa Đông Sơn” Sách “Lịch chiều hiến chương loại chí” của nhà sử học
phong kiến nổi tiếng Phan Huy Chú cũng đã ghi “Huyện Hoằng Hóa th-ờng
có nhiều văn nho đỗ đạt” [9, 10] Điều đó giải thích rằng Hoằng Hóa là mảnh
đất có truyền thống học giỏi đỗ cao
Quả thật từ x-a, thời nào cũng vậy mặc dù đời sống vật chất còn nhiều khó khăn nh-ng ông cha ta đã tự v-ơn lên bằng nhiều hình thức để mở mang dân trí cho con cháu ở nhiều gia đình, nhiều làng tổng đều có phong trào nuôi thầy dạy học, tr-ớc kia là thầy Đề dạy chữ Nho, sau là thầy giáo dạy chữ quốc ngữ
Bởi thế, ở huyện Hoằng Hóa hầu khắp các làng tổng d-ới thời phong kiến đều có rất nhiều ng-ời đạt trình độ học vấn cao Hàng trăm ng-ời thi đỗ
tú tài, cử nhân, hàng chục ng-ời đỗ tiến sĩ trở lên, trong đó có ng-ời là Hội nguyên, Đình nguyên, có ng-ời đạt tới Đệ nhất giáp tiến sĩ, Đệ nhất danh (Trạng Nguyên) nh- L-u Miễn ở Vĩnh Trị (xã Hoằng Quang) d-ới thời Trần
Có gia đình cả ba thế hệ nối liền nhau đỗ tiến sĩ d-ới thời Lê nh- L-ơng Đắc Bằng, L-ơng Hữu Khánh, L-ơng Khiêm Hanh… ở Hội triều (xã Hoằng
Trang 29Phong), có gia đình cả hai cha con Nguyễn Ngọc Hiền, Nguyễn Trọng Hoành, cùng đỗ tiến sĩ một khóa Có thôn nh- Nguyệt Viên - Vĩnh Trị (xã Hoằng Quang) đạt tới hơn 20 đại khoa Đặc biệt, ở Bột Thái và Bột Th-ợng (cùng xã Hoằng Lộc) với trên chục đại khoa thì có 2/3 là Đình nguyên hoằng giáp Ngoài ra, còn hàng chục làng xã khác rải rác trong huyện thuộc cả ba vùng: Phía Bắc, phía Nam, vùng biển, mỗi nơi cùng có ít nhất 1, 2 tiến sỹ [4, 5 - 6]
Một con số đáng tự hào là từ đầu đời Trần đến cuối thời Nguyễn huyện Hoằng Hóa có gần 50 ng-ời đỗ đại khoa Rực rỡ nhất là d-ới thời Lê, trong số
82 bia đá ghi tên hơn 1000 tiến sĩ dựng ở Văn Miếu Quốc Tử Giám kinh đô Thăng Long thì Hoằng Hóa chiếm tới 36 ng-ời Đó là niềm phấn khởi thật vô cùng to lớn của các thế hệ ng-ời dân Hoằng Hóa
Truyền thống hiếu học ở huyện Hoằng Hóa không những đã có tiếng vang ở nhiều vùng, nhiều thế hệ, nhiều thời kỳ lịch sử mà còn trải rộng ra nhiều tầng lớp nhân dân, nam có, nữ có Có thể nói, trong nền văn hiến của dân tộc, huyện Hoằng Hóa đã có những chặng đ-ờng và những con ng-ời rất
đáng tự hào
Huyện Hoằng Hóa đ-ợc coi là vùng đất khoa bảng từ xa x-a Ng-ời
mở đầu cho truyền thống khoa bảng ở huyện Hoằng Hóa và ở cả tỉnh Thanh Hóa là L-u Diễm (Vĩnh Trị) nay là xã Hoằng Quang Hết đời Lê, huyện
Hoằng Hóa có 37 ng-ời đỗ đại khoa mà theo “Liệt huyện đăng khoa bị khảo”
của Phan Huy Ôn, từ khi nhà Lý mở khoa thi đầu tiên đến hết thời Lê (1789) thì cả tỉnh Thanh Hóa chỉ có 187 ng-ời đỗ tiến sĩ và toàn cõi Việt Nam là 2.338 ng-ời
Một khoa thi tại một tr-ờng thi, sĩ tử huyện Hoằng Hóa trúng 1/3 số ng-ời đỗ cử nhân là chuyện bình th-ờng và có đến 6 khoa thi sĩ tử Hoằng Hóa
đã chiếm 1/2 số ng-ời đỗ cử nhân tại tr-ờng thi Thanh Hóa X-a kia, huyện
Hoằng Hóa đã đ-ợc các địa ph-ơng khác ca ngợi “Cơm Nông Cống, cá
Quảng Xương, văn chương Hoằng Hóa”
Trang 30Ng-ời Hoằng Hóa cũng lấy đó làm điều tự hào nên không ít làng xã đã
có Văn Từ, Văn Chỉ Nhiều Văn Từ, Văn Chỉ đã dựng bia để ca ngợi địa
ph-ơng mình là “Địa linh nhân kiệt” và khắc tên những ng-ời đỗ đạt nh- bia
từ chỉ ở làng Đại Khê do Nhữ Bá Sĩ soạn, bia từ chỉ ở làng Đồng Xá, bia từ chỉ thôn Tự Nhiên (xã Hoằng Trung), bia từ chỉ thôn Đô Du (xã Hoằng Ngọc) và bao quát nhất là bia từ chỉ hàng huyện đặt ở xã Hoằng Lộc do Nguyễn Huy Lịch soạn năm Tự Đức thứ 14 (1860) Nói chung Văn Từ, Văn Chỉ thờ Khổng
Tử ở Hoằng Hóa có khá nhiều, có Văn Từ, Văn Chỉ hàng huyện, có Văn Từ, Văn Chỉ làng tổng, xã, thôn Đó là một đàn xây th-ờng ở nơi cao ráo đầu làng,
có bệ thay cho h-ơng áng Bệ này có mái gọi là Văn Từ, lộ thiên gọi là Văn Chỉ Huyện Hoằng Hóa là đất học cho nên việc tề thánh rất nghiêm túc, Văn
Từ, Văn Chỉ là nơi tế thánh mỗi dịp mở khoa thi, ai đỗ đạt biên lễ tạ ơn các bậc chí thánh đã có lòng phù hộ
Chính bề dày truyền thống hiếu học đó đã tạo nên một phong tục, tập
quán đẹp ở làng xã Hoằng Hóa đó chính là “Cổ vũ việc học”
Đối với ng-ời đang đi học ở huyện Hoằng Hóa đ-ợc miễn phu phen, tạp dịch khi đến tuổi gánh vác việc làng, việc n-ớc Ng-ời đi học đ-ợc gọi
bằng anh học, anh nho, "Xuân thu nhị kỳ" đ-ợc dự lễ tế các bậc tiên hiền ở
Văn Miếu, Văn Chỉ Đến tuổi đi việc làng, việc xã đ-ợc ngồi chiếu trên và
đ-ợc h-ởng một phần hoa lợi của học điền để mua giấy bút và một phần phí tổn đi thi
Đối với những ng-ời đỗ đạt đ-ợc làng đón tiếp rất tử tế long trọng, không những thế khi họ qua đời còn đ-ợc khắc tên vào Văn Từ, Văn Chỉ của làng để thờ cúng [27, 61 - 62]
Tóm lại, đối với việc học ở làng, xã Hoằng Hóa có cơ chế cụ thể đ-ợc
nêu trong khoán -ớc hẳn hoi để cổ vũ con em dùi mài nghiên bút, cố công học tập, vừa vinh hiển cho bản thân, vừa đem lại tự hào cho làng xã Điều này
Trang 31không chỉ là việc học, thi đỗ hay làm quan mà đó là vấn đề văn hóa: “Văn hóa
học vấn, văn hóa đạo lý làm người”
2.2.2 Thực trạng phong trào khuyến học - khuyến tài ở huyện Hoằng Hóa tr-ớc thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất n-ớc (1996)
Xuất phát từ truyền thống hiếu học tồn tại từ lâu đời ở huyện Hoằng Hóa Trong mỗi thời kỳ lịch sử, ng-ời dân huyện Hoằng Hóa lại bồi đắp thêm cho truyền thống ấy ngày càng đẹp hơn Trong kháng chiến chống thực dân Pháp xâm l-ợc tuy phong trào KH - KT không có điều kiện để phát triển nh-ng huyện Hoằng Hóa vẫn luôn là một điểm sáng về phong trào Truyền bá chữ quốc ngữ, phong trào Bình dân học vụ… ở Thanh Hóa và rộng hơn là trong phạm vi cả n-ớc Trong cuộc kháng chiến chống Mỹ phong trào KH -
KT cũng đã đạt đ-ợc một số thành tựu nổi bật nh-:
1 Giải đồng đội cấp tỉnh
1970 - 1971 Giải nhất đồng đội Toán Cấp I và cấp II
1971 - 1972 Giải nhất đồng đội Văn Cấp II
1973 - 1974 Giải nhất đồng đội Văn Cấp II
Giải nhất đồng đội Toán Cấp II
1974 - 1975 Giải nhất đống đội Toán Cấp I
2 Giải cá nhân cấp tỉnh
1970 - 1971 Một giải nhất cá nhân Toán Cấp II
1971 - 1972 Một giải nhất cá nhân Văn Cấp II
1973 - 1974 Một giải nhất cá nhân Toán Cấp II
Một giải nhì cá nhân Toán Cấp II
Trang 32
3 Giải nhất cá nhân miền Bắc
1971 - 1972
Một giải nhất cá nhân Toán Cấp II Một giải nhì cá nhân Toán Cấp II Một giải t- cá nhân Văn Cấp II
1973 - 1974 Một giải nhì cá nhân Toán Cấp II
Một giải nhì cá nhân Toán Cấp II
Đ-ợc huy ch-ơng đồng
Nguồn: Hội Khuyến học huyện Hoằng Hóa
Sau ngày đất n-ớc đ-ợc giải phóng, một trong những nhiệm vụ đ-ợc
Đảng, Nhà n-ớc cũng nh- địa ph-ơng trong đó có huyện Hoằng Hóa quan tâm thực hiện là công tác GD - KH D-ới sự chỉ đạo của Huyện ủy, chính quyền đã kết hợp với các ban ngành, đoàn thể quần chúng đẩy mạnh công tác
GD - KH Huyện ủy và Đảng bộ các cấp đã tiếp nhận các Chỉ thị, Nghị quyết
về giáo dục của Nhà n-ớc, Tỉnh ủy Đặc biệt chỉ đạo thực hiện tốt Nghị quyết
14 của Bộ chính trị ngày 13/04/2006, về cải cách giáo dục, ngành giáo dục của huyện Hoằng Hóa, tính đến đầu 1980 đã có những chuyển biến mạnh mẽ Việc sắp xếp lại tổ chức, tr-ờng lớp và cơ sở vật chất, xây dựng các tr-ờng Phổ thông cơ sở từ lớp 1 đến lớp 8 (cấp I, II) và tr-ờng Phổ thông Trung học (cấp III cũ) đ-ợc xúc tiến kịp thời
Trang 33Cũng trong thời gian này ở huyện Hoằng Hóa, một phân hiệu của tr-ờng THPT (cấp III) Hoằng Hóa I đ-ợc lập ở xã Hoằng Thành (nay là THPT Hoằng Hóa IV) đáp ứng nhu cầu học tập của con em phía Nam huyện
Đội ngũ giáo viên các cấp th-ờng xuyên đ-ợc bồi d-ỡng theo ch-ơng trình cải cách giáo dục Năm 1983, toàn huyện có hơn 75 vạn học sinh phổ thông thì 1/3 trong số đó đ-ợc học theo ch-ơng trình cải cách Đội ngũ học sinh giỏi phát triển đồng đều ở các môn văn hóa cơ bản Trong 5 năm liền (1980 - 1985) toàn huyện đã đạt 50 giải cấp tỉnh và cấp quốc gia thuộc cả 3 cấp học
Tr-ờng mẫu giáo đi sâu vào phân loại độ tuổi giảng dạy thích hợp theo chế độ cải cách giáo dục, 100% số xã đã có cơ sở mẫu giáo khang trang sạch
đẹp Trên 90% số cháu đúng độ tuổi đã đ-ợc chuyển vào lớp 1 theo đúng yêu cầu của ngành Đội ngũ giáo viên mẫu giáo đ-ợc h-ởng thù lao theo tiêu chuẩn chung của nhà n-ớc thông qua sự đảm nhận của địa ph-ơng
Đối với tr-ờng bổ túc, ngoài tr-ờng bổ túc văn hóa đã sát nhập với tr-ờng văn hóa tập trung huyện, tại mỗi xã các lớp bổ túc văn hóa vẫn đ-ợc duy trì Cán bộ bổ túc văn hóa là giáo viên cấp II chuyên nghiệp, vừa vận động
tổ chức giảng dạy, vừa làm nhiệm vụ xóa tái mù chữ Hàng năm, tỷ lệ xóa mù chữ ở các địa ph-ơng đạt 60 - 70% so với tổng số mù chữ trở lại
B-ớc sang đầu thập kỷ 90, việc -u tiên đầu t- phát triển phong trào KH
- KT và chủ tr-ơng xã hội hóa giáo dục tiếp tục đ-ợc các cấp lãnh đạo Đảng
từ cơ sở đến huyện quan tâm Giáo dục văn hóa gắn liền với giáo dục đạo đức cách mạng, giáo dục truyền thống, giáo dục đời th-ờng, giáo dục h-ớng
nghiệp đ-ợc thực hiện nghiêm túc Ph-ơng châm “dạy chữ, dạy người, dạy
nghề” cho thiếu niên đ-ợc chú trọng
Với chủ tr-ơng xã hội hóa giáo dục, Đảng bộ huyện không ngừng chỉ
đạo, vận động quần chúng nhân dân đầu t- cho giáo dục Việc xây dựng kết cấu hạ tầng đ-ợc chăm lo thích đáng Tính đến 1995, toàn huyện đã tiến hành
Trang 34xây dựng 20 ngôi tr-ờng cao tầng thuộc 3 cấp Từ 1991 - 1995, công tác xã hội hóa giáo dục trở thành sự quan tâm th-ờng xuyên của các cấp ủy Đảng, chính quyền, các tầng lớp nhân dân trong cộng đồng dân c- Hoạt động giáo dục đã đi sâu vào nâng cao chất l-ợng toàn diện Năm 1995, toàn huyện đạt tiêu chuẩn phổ cập giáo dục tiểu học, chất l-ợng giáo dục đ-ợc nâng lên Việc bồi d-ỡng học sinh năng khiếu đ-ợc coi trọng đúng mức Tr-ờng năng khiếu
đ-ợc trang bị tốt về cơ sở vật chất, ph-ơng tiện dạy học và đội ngũ giáo viên Toàn huyện đạt hơn 20 giải trong các kỳ thi học sinh giỏi tỉnh và quốc gia
Nhìn chung, phong trào KH - KT ở huyện Hoằng Hóa d-ới sự lãnh đạo của Đảng trong thời kỳ tr-ớc 1996 đã có những thành tựu đáng kể, để lại dấu
ấn đậm nét trong lịch sử KH - KT huyện nhà Đây là những cơ sở hết sức quan trọng để huyện Hoằng Hóa tiếp tục phát triển phong trào KH - KT trong giai
đoạn sau, phục vụ sự nghiệp CNH, HĐH đất n-ớc
2.2.3 Một số tồn tại
Tuy đạt đ-ợc một số thành tựu nhất định nh-ng phong trào KH - KT huyện Hoằng Hóa tr-ớc năm 1996 vẫn tồn tại một số hạn chế cần khắc phục:
Phong trào KH - KT ch-a phát triển thành một hệ thống đồng bộ, thiếu
tổ chức chặt chẽ, ch-a có đ-ờng lối chính sách cụ thể mà chủ yếu phát triển theo h-ớng tự nhiên truyền thống
Việc xây dựng và phát triển quỹ khuyến học ch-a đ-ợc chú trọng đáng
kể, chủ yếu tập trung vào xây dựng cơ sở vật chất, ch-a dồn kinh phí cho việc khuyến khích học tập nh- học bổng cho học sinh giỏi, học sinh nghèo v-ợt khó
Do hoàn cảnh kinh tế khó khăn một bộ phận học sinh đến tuổi đi học vẫn ch-a đ-ợc đến lớp, nạn thất học ở một số xã đặc biệt là các xã vùng biển còn tồn tại
Trên đây là một số khó khăn mà phong trào KH - KT huyện Hoằng Hóa còn gặp phải trong giai đoạn tr-ớc 1996 Yêu cầu đặt ra cho Đảng bộ huyện,