TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH KHOA NÔNG LÂM NGƯ ------ NGUYỄN BÁ CHÍNH “ ĐÁNH GIÁ HIỆU QUẢ KINH TẾ CỦA MỘT SỐ GIỐNG LÚA TIẾN BỘ KỸ THUẬT ĐANG ĐƯỢC SỬ DỤNG TRONG SẢN XUẤT HIỆN NAY Ở HUYỆN QU
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH KHOA NÔNG LÂM NGƯ
- -
NGUYỄN BÁ CHÍNH
“ ĐÁNH GIÁ HIỆU QUẢ KINH TẾ CỦA MỘT SỐ GIỐNG LÚA TIẾN BỘ KỸ THUẬT ĐANG ĐƯỢC SỬ DỤNG TRONG SẢN XUẤT
HIỆN NAY Ở HUYỆN QUỲNH LƯU, TỈNH NGHỆ AN”
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP
KỸ SƯ NGÀNH KHUYẾN NÔNG & PTNT
Vinh – 5/2009 TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH
Trang 2KHOA NÔNG LÂM NGƯ
- -
“ĐÁNH GIÁ HIỆU QUẢ KINH TẾ CỦA MỘT SỐ GIỐNG LÚA TẾN
BỘ KỸ THUẬT ĐANG ĐƯỢC SỬ DỤNG TRONG SẢN XUẤT HIỆN
NAY Ở HUYỆN QUỲNH LƯU, TỈNH NGHỆ AN”
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP
KỸ SƯ NGÀNH KHUYẾN NÔNG & PTNT
Người thực hiện: Nguyễn Bá Chính
Lớp: 46K-Khuyến nông &PTNT
Giáo viên hướng dẫn: Ks.Trần Xuân Minh
Vinh – 5/2009
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các nội dung nghiên cứu và kết quả nêu trong khoá luận là trung thực và chưa từng được công bố cho việc bảo vệ một khoá luận nào Tôi xin cam đoan những mục trích dẫn trong khoá luận đều được chỉ rõ nguồn gốc
Vinh, ngày 10 tháng 5 năm 2009
Tác giả khoá luận Nguyễn Bá Chính
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Để hoàn thành tốt đợt thực tập tốt nghiệp này, tôi đã nhận được sự giúp
đỡ tận tình của nhiều tập thể và cá nhân
Trước hết, tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành nhất tới Ban giám hiệu cùng các cơ quan phòng ban chức năng cùng toàn thể các thầy cô giáo, những người đã từng giảng dạy tôi nhất là các thầy cô giáo trong khoa Nông Lâm Ngư, trường Đại Học Vinh đã trang bị cho tôi những kiến thức quý báu trong những năm học vừa qua
Đặc biệt, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đối với thầy giáo Trần Xuân Minh, người đã trực tiếp hướng dẫn, chỉ bảo tận tình và tạo các điều kiện tốt nhất để tôi hoàn thành đợt thực tập này
Tôi xin chân thành cảm ơn sự giúp đỡ nhiệt tình của các chú, các bác, các anh chị trong phòng Nông nghiệp huyện Quỳnh Lưu; các cán bộ phòng ban của huyện; các chủ hộ trồng lúa; các chủ cửa hàng, đại lí trên địa bàn huyện đã sắp xếp thời gian và cung cấp những thông tin cần thiết để tôi hoàn thành đề tài tốt nghiệp của mình
Cuối cùng tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc nhất tới gia đình và bạn bè
đã luôn động viên giúp đỡ tôi trong quá trình học tập cũng như trong quá trình hoàn thành đề tài khoá luận tốt nghiệp của mình
Vinh, ngày 10 tháng 5 năm 2009
Sinh viên: Nguyễn Bá Chính
MỤC LỤC
Trang 5Phần I: MỞ ĐẦU
Trang 1.1.Lý do chọn đề tài 1
1.2 Mục tiêu của đề tài 3
Phần II: TỔNG QUAN TÀI LIỆU 2.1 Cơ sở lý luận của đề tài 4
2.1.1 Tầm quan trọng của giống lúa 4
2.1.2 Vai trò của tiến bộ kỹ thuật trong nông nghiệp 4
2.1.3 Hiệu quả kinh tế 5
2.1.3.1 Nội dung và bản chất của hiệu quả kinh tế 5
2.1.3.2 Phân loại hiệu quả kinh tế 6
2.1.3.3 Hệ thống chỉ tiêu đánh giá 6
2.2 Tình hình sản xuất và nghiên cứu lúa gạo trên thế giới và Việt Nam 11
2.2.1 Trên thế giới 11
2.2.1.1 Tình hình sản xuất 11
2.2.1.2 Tình hình nghiên cứu 12
2.2.2 Ở Việt Nam 14
2.2.2.1 Tình hình sản xuất 14
2.2.2.2 Triển vọng của nghề trồng lúa ở Việt Nam 16
2.2.2.3 Tình hình nghiên cứu giống lúa ở Việt Nam 17
Phần III: ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 3.1 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu 21
3.1.1 Đối tượng nghiên cứu 21
3.1.2 Phạm vi nghiên cứu 21
3.2 Nội dung nghiên cứu 21
3.3 Phương pháp nghiên cứu 21
3.3.1 Phương pháp chọn mẫu 21
3.3.2 Phương pháp thu thập số liệu 22
Trang 63.3.3 Một số chỉ tiêu đánh giá hiệu quả kinh tế 23
3.3.4 Phương pháp xử lý số liệu 23
3.3.5 Phương pháp phân tích số liệu 23
Phần IV: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 4.1 Điều kiên cơ bản của khu vực nghiên cứu 24
4.1.1 Điều kiện tự nhiên 24
4.1.1.1 Vị trí địa lý 24
4.1.1.2 Điều kiện tự nhiên 24
4.1.2 Điều kiện kinh tế - xã hội 26
4.2 Thực trạng và các yếu tố ảnh hưởng tới sản xuất lúa ở huyện Quỳnh Lưu 27
4.2.1 Độ tuổi của các chủ hộ trồng lúa 27
4.2.2 Trình độ học vấn của các chủ hộ trồng lúa 28
4.2.3 Tập huấn kỹ thuật và mức độ tiếp thu của người dân 29
4.2.4 Cơ cấu giống lúa 30
4.2.4.1 Nguồn gốc, đặc tính sinh học của một số giống lúa nghiên cứu 30
4.2.4.2 Cơ cấu diện tích trồng lúa 32
4.3 Hiệu quả kinh tế của một số giống lúa sản xuất trong năm 2008 34
4.3.1 Các loại chi phí……… 34
4.3.1.1 Chi phí giống lúa 34
4.3.1.2 Chi phí phân bón, thuốc BVTV 36
4.3.1.3 Chi phí thuê máy móc, nhân công 37
4.3.1.4 Chi phí lao động 38
4.3.2 Năng suất lúa 39
4.3.3 Giá bán và thị trường tiêu thụ lúa thương phẩm 42
4.3.3.1 Giá bán lúa thương phẩm 42
4.3.3.2 Thị trường tiêu thụ 43
4.3.4 Hiệu quả kinh tế 44
4.3.5 Hiệu quả về mặt xã hội 47
Trang 74.3.6 Hiệu quả về mặt môi trường 48
4.3.7 Những thuận lợi và khó khăn đối với sản xuất lúa hiện nay của huyện quỳnh Lưu 48
4.3.7.1 Thuận lợi 48
4.3.7.2 Khó khăn 49
4.3.8 Một số giải pháp chủ yếu nhằm nâng cao hiệu quả kinh tế trong sản xuất lúa ở huyện Quỳnh Lưu 51
4.3.8.1 Giải pháp về vốn 51
4.3.8.2 Giải pháp về kỹ thuật 51
4.3.8.3 Quy hoạch đất trồng lúa 52
Phần V: KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 5.1 Kết luận 53
5.2 Kiến nghị 54
DANH MỤC CÁC BẢNG SỐ LIỆU
Trang
Trang 8Bảng 2.1 Sản lượng lúa của các châu lục và toàn thế giới giai đoạn 2001- 2005 13
Bảng 2.2: Diện tích, năng suất và sản lượng lúa qua các năm
Bảng 4.2: Chi phí mua giống ở vụ Hè thu – Mùa 35
Báng 4.3: Lượng phân bón và giá phân bón trong vụ Xuân 36 Bảng 4.4: Phân bón và giá phân bón trong vụ Hè thu – Mùa 36 Bảng 4.5: Năng suất một số giống lúa được trồng ở huyện Quỳnh Lưu39
Bảng 4.6: Giá bán lúa sản phẩm của một số giống 42 Bảng 4.7: Thị trường tiêu thụ lúa thương phẩm 43 Bảng 4.8: Hiệu quả kinh tế của một số giống lúa TBKT sản xuất trong vụ xuân 2008 44 Bảng 4.9: Hiệu quả kinh tế của một số giống lúa TBKT sản xuất trong vụ
Hè thu - Mùa 2008 46 Bảng 4.10: Những khó khăn của trong sản xuất lúa hiện nay của huyện
Trang 9Quỳnh Lưu 49
DANH MỤC CÁC HÌNH VẼ, ĐỒ THỊ
Hình 4.1: Hiện trạng sử dụng đất của huyện Quỳnh Lưu năm 2007 24
Hình 4.2: Độ tuổi của các chủ hộ trồng lúa ở huyện Quỳnh Lưu 27
Hình 4.3: Trình độ học vấn của các chủ hộ trồng lúa 28
Hình 4.4: Mức độ tiếp thu kiến thức kỹ thuật của các hộ dân 29
Hình 4.5: Cơ cấu diện tích trồng lúa của vụ Xuân 33
Hình 4.6: Cơ cấu diện tích trồng lúa ở vụ Hè thu – Mùa 34
Hình 4.7: Năng suất thực tế và năng suất lý thuyết các giống lúa ở vụ Xuân 40 Hình 4.7: Năng suất thực tế và năng suất lý thuyết các giống lúa ở vụ Xuân 40 Hình 4.8: Năng suất thực tế và năng suất lý thuyết của một số giống lúa ở vụ Hè thu – Mùa 41
PHẦN I: MỞ ĐẦU
1.1.Lý do chọn đề tài
Lúa là cây lương thực lâu đời nhất, phổ biến nhất và có vai trò quan trọng nhất trong các cây trồng nông nghiệp Theo tổ chức Nông lương thế
giới (FAO) “Lúa là sự sống” Lúa là lương thực chính, là loại thực phẩm
Trang 10hạt quan trọng nhất trong bữa ăn hàng ngày của 17 nước Châu Á, 8 nước Châu Phi và 7 nước ở Châu Mỹ La Tinh, ảnh hưởng tới đời sống ít nhất 65% dân số thế gới Lúa gạo làm hàng hoá đem lại nguồn lợi lớn cho các nước xuất khẩu; lúa gạo làm nguyên liệu cho các ngành công nghiệp chế biến như thuốc chữa bệnh, mỹ phẩm, bia, rượu… Cây lúa còn là chủ nhân của hàng triệu việc làm, đã góp phần rất lớn vào thịnh suy của nhiều xã hội.[13]
Tuy cây lúa có vai trò to lớn như vậy nhưng hiện nay nó đang phải đối mặt với một thực tế là diện tích đất canh tác ngày càng bị thu hẹp do quá trình đô thị hoá, đất sử dụng không đúng mục đích gây ô nhiễm, thoái hoá… Trong khi đó, dân số thế giới không ngừng tăng lên, điều này làm cho tình hình an ninh lương thực ngày càng trầm trọng Theo TS Lampe - nguyên giám đốc Viện lúa Quốc tế IRRI trong vòng 3 năm tới dự đoán mỗi năm sẽ cần khoảng 780 triệu tấn thóc, tăng hơn 70% so với hiện nay.[11]
Việt Nam là một quốc gia nông nghiệp với dân số trên 80 triệu người Tốc độ tăng dân số từ 1,5 - 1,7 %/năm Diện tích đất trồng lúa đang
bị thu hẹp dần, mất 100.000 ha/năm cùng với đó là nhu cầu đa dạng về chất lượng, chủng loại lúa gạo của người dân ngày càng tăng Để giải quyết vấn
đề này, Đảng và Nhà nước ta đã hết sức quan tâm và đề ra nhiều chính sách nhằm phát triển nông nghiệp như chính sách về giống cây trồng, ứng dụng khoa học kỹ thuật vào sản xuất… và đặc biệt là ứng dụng các tiến bộ kỹ thuật giống lúa Nhờ vậy mà trong những năm qua Việt Nam không những đảm bảo an ninh lương thực quốc gia mà còn là nước xuất khẩu gạo đứng thứ 2 thế giới Năm 2007, Việt Nam xuất khẩu hơn 4,5 triệu tấn gạo, đạt kim ngạch 1,4 tỉ USD.[15]
Hiện nay, Việt Nam là thành viên thứ 150 của Tổ chức Thương Mại Thế Giới (WTO) Nông dân Việt Nam đã đang và sẽ đi chợ toàn cầu Nông nghiệp sẽ công nghiệp hoá, hiện đại hoá ngang tầm khu vực Nông thôn
Trang 11Việt Nam mới, văn minh mới sẽ được hình thành WTO tạo ra nhiều cơ hội nhưng cũng không ít những thách thức Từ đây hàng hoá lúa gạo Việt nam
sẽ phải cạnh tranh với nhiều nước để xuất khẩu cũng như tiêu dùng trong nước Vì vậy, giải pháp tăng sản lượng, chất lượng lúa gạo trên cơ sở áp dụng những giống lúa mới, chất lượng cao là điều bức thiết
Trong sản xuất lúa quá trình đánh giá và xác định cơ cấu giống lúa hợp lý đòi hỏi phải có những đánh giá chính xác, cụ thể với từng loại giống trên từng vùng, khu vực hay địa phương cụ thể Có được cơ sở đó thì việc xác định cơ cấu giống lúa như trồng giống lúa gì, trồng ở đâu sẽ mang lại hiệu quả cao nhất Cho đến nay, trên thế giới và ở Việt Nam các công trình nghiên cứu, chọn lọc, lai tạo, thử nghiệm đã được tiến hành rất đa dạng và phong phú, những nghiên cứu đó đã mang lại những thành tựu không nhỏ cho ngành sản xuất lúa, góp phần tăng nhanh năng suất cũng như chất lượng lúa gạo Tuy nhiên, những vấn đề nghiên cứu đó còn mang tính khái quát, chưa có nhiều những nghiên cứu, đánh giá cụ thể về mặt hiệu quả kinh tế của từng giống lúa, nhất là đối với từng địa phương cụ thể
Quỳnh Lưu là huyện nằm ở phía Bắc của tỉnh Nghệ An Nơi đây có nhiều điều kiện để sản xuất nông nghiệp phát triển, đặc biệt là cây lúa Được sự quan tâm của các cấp, chính quyền địa phương, trong những năm qua nhiều giống lúa mới có năng suất cao, phẩm chất tốt đã được đưa về khảo nghiệm và nhân ra diện rộng Nhờ vậy mà sản lượng lúa vẫn tăng đều
dù diện tích có giảm nhờ năng suất bình quân tăng, năm 2008 đạt 103,02 nghìn tấn tăng hơn 1,5 lần so với năm 1997…[11] Tuy đạt được những thành quả to lớn như vậy nhưng trong những năm qua vẫn chưa có các đề tài nghiên cứu, đánh giá cụ thể về hiệu quả kinh tế mà các giống lúa mới, giống lúa tiến bộ kỹ thuật mang lại nhằm xác định cơ cấu giống lúa phù hợp với các điều kiện sản xuất của huyện
Trang 12Với những lý do trên đây, được sự đồng ý của khoa Nông – Lâm –
Ngư và giáo viên hướng dẫn, chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài: “Đánh
giá hiệu quả kinh tế của một số giống lúa tiến bộ kỹ thuật đang được sử dụng trong sản xuất hiện nay ở huyện Quỳnh Lưu, tỉnh Nghệ An”
1.2 Mục tiêu của đề tài
Đánh giá hiệu quả kinh tế của các giống lúa kỹ thuật tiến bộ đang được trồng ở huyện Quỳnh Lưu, tỉnh Nghệ An Từ đó làm cơ sở đề xuất một số giải pháp bố trí cơ cấu giống hợp lý nhằm nâng cao năng suất, sản lượng lúa phù hợp với điều kiện sản xuất của địa phương
Phần II
TỔNG QUAN TÀI LIỆU
2.1 Cơ sở lý luận của đề tài
2.1.1 Tầm quan trọng của giống lúa
Trang 13Giống cây trồng nói chung, giống lúa nói riêng là một biện pháp rất quan trọng của sản xuất nông nghiệp Đã từ lâu, ông cha ta đã đúc kết được
nhiều kinh nghiệm "Nhất nước nhì phân tam cần tứ giống" đây là bốn
biện pháp vô cùng quan trọng Tuỳ thuộc vào trình độ sản xuất của từng vùng, từng địa phương mà nước, phân, cần, giống phải thay đổi cho phù hợp Một khi nước, phân bón, lao động được cải tiến thì giống cũng phải được cải tiến Thực tiễn đã chứng minh, trong sản xuất nông nghiệp các mặt thuỷ lợi, phân bón, lao động muốn thay đổi cần thời gian dài, còn giống thì yêu cầu của con người không bao giờ thoã mãn Vì vậy giống phải được triển khai không ngừng Trong điều kiện sản xuất nông nghiệp của nước ta hiện nay, giống đang được xem là quan trọng vì trong sản xuất dùng giống tốt là biện pháp rẻ tiền, hiệu quả nhanh và cao
2.1.2 Vai trò của tiến bộ kỹ thuật trong nông nghiệp
Ứng dụng TBKT hay nói một cách khác là áp dụng công nghệ mới vào sản xuất là một đòi hỏi hết sức quan trọng đối với sản xuất nông nghiệp hiện nay Mấy năm gấn đây trên thế giới cũng như ở Việt Nam sự bùng nổ của cách mạng khoa học kỹ thuật triển nhiều lĩnh vực cũng như trong nông nghiệp đã làm cho mức phát triển của nhiều nước tăng đáng kể Tiến bộ công nghệ đã trở thành tất yếu trong sản xuất nông nghiệp
Công nghệ là một tập hợp những kỹ thuật sẵn có hoặc trình độ kiến thức về mối quan hệ giữa các yếu tố đầu vào và sản lượng đầu ra bằng một lượng vật chất nhất định Còn đổi mới công nghệ là đổi mới trình độ kiến thức sao cho nâng cao được năng lực sản xuất để có thể làm ra nhiều sản phẩm hơn với số lượng đầu vào như cũ hoặc làm ra một lượng sản phẩm như cũ với khối lượng đầu vào ít hơn
2.1.3 Hiệu quả kinh tế
2.1.3.1 Nội dung và bản chất của hiệu quả kinh tế
Trang 14Sự phát triển của một nền kinh tế gắn liền với quá trình phát triển của KHKT và việc áp dụng chúng vào sản xuất Đối với nền sản xuất nông nghiệp cũng vậy, nhờ có những phát minh và áp dụng những thành tựu KHKT vào sản xuất mà không ngừng phát triển cả về chiều rộng lẫn chiều sâu
Bản thân những TBKT đã chứa đựng tính ưu việt nhưng nó chỉ phát huy được hiệu quả cao khi áp dụng chúng trong những điều kiện sản xuất thích hợp Khuynh hướng chung của thế giới ngày nay là phát triển kinh tế theo chiều sâu, một nền kinh tế với nguồn lực hữu hạn mà sản xuất ra một lượng hàng hoá có giá trị sử dụng cao nhất, với mức hao phí lao động xã hội ít nhất
Với một khối lượng dự trữ tài nguyên nhất định, tạo ra được khối lượng sản xuất lớn nhất là mục tiêu của các nhà sản xuất và quản lý Điều
đó cho thấy quá trình sản xuất là sự liên hệ mật thiết giữa các yếu tố đầu vào và đầu ra, là sự biểu hiện kết quả của các mối quan hệ thể hiện tính hiệu quả của sản xuất
Hiệu quả kinh tế được hiểu là mối tương quan so sánh giữa lượng kết quả đạt được và lượng chi phí bỏ ra Một phương án hay một giải pháp có hiệu quả là một phương án đạt được tương quan tối ưu qua kết quả mang lại
và chi phí bỏ ra Kết quả kinh tế ở đây được biểu hiện bằng giá trị tổng sản phẩm, tổng thu nhập, lợi nhuận và tỷ suất lợi nhuận
Phần lớn những TBKT áp dụng vào sản xuất đều tạo ra khả năng đạt được những mục tiêu kinh tế do xã hội đặt ra như năng suất cây con, năng suất lao động, sản phẩm nhiều hơn, chất lượng cao hơn, giá thành hạ hơn và tăng thu nhập cho người sản xuất đồng thời nó cũng tạo ra những hiệu quả
xã hội khác như thay đổi điều kiện làm việc, cải thiện điều kiện sống, tăng thêm việc làm, cải tạo môi sinh môi trường
Để đánh giá đúng HQKT cần phân biệt HQKT, hiệu quả xã hội cũng như hiệu quả kinh tế - xã hội Nếu như HQKT là mối tương quan so sánh
Trang 15giữa lượng kết quả đạt được và lượng chi phí bỏ ra thì hiệu quả xã hội là mối tương quan so sánh giữa kết quả xã hội và tổng chi phí bỏ ra HQKT và hiệu quả xã hội có mối quan hệ mật thiết với nhau, chúng là tiền đề của nhau và là phạm trù thống nhất Vì thế khi xét HQKT của các ứng dụng TBKT vào sản xuất nông nghiệp nói chung và đối với giống lúa nói riêng phải dựa trên quan điểm hiệu quả kinh tế - xã hội
Từ những vấn đề trình bày trên cho thấy rằng: Bản chất của phạm trù HQKT của TBKT là việc sản xuất ra một lượng của cải vật chất nhiều nhất bằng TBKT với một lượng chi phí lao động xã hội nhỏ nhất nhằm đáp ứng nhu cầu ngày càng tăng của xã hội.[2]
2.1.3.2 Phân loại hiệu quả kinh tế
Mọi hoạt động sản xuất của con người và quá trình ứng dụng kỹ thuật tiến bộ vào sản xuất đều có mục đích chủ yếu là kinh tế Tuy nhiên kết quả của các hoạt động đó không chỉ duy nhất đạt được về mặt kinh tế
mà đồng thời tạo ra nhiều kết quả liên quan đến đời sống kinh tế - xã hội của con người Những kết quả đó là: cải thiện điều kiện sống và làm việc, cải tạo môi trường, môi sinh, nâng cao đời sống văn hoá và tinh thần cho nhân dân…Tức là đạt hiệu quả xã hội
Mặt khác, xét trên phạm vi cá biệt, một hoạt động kinh tế hay một TBKT có thể mang lại hiệu quả cho một cá nhân, một đơn vị, nhưng xét trên phạm vi xã hội thì nó lại ảnh hưởng xấu đến lợi ích và hiệu quả chung Chính vì vậy khi đánh giá hiệu quả cần phải phân định hiệu quả và làm rõ mối liên hệ giữa chúng để có nhận xét chính xác
Nếu căn cứ vào nội dung người ta phân hiệu quả thành HQKT và các hiệu quả xã hội khác
Hiệu quả kinh tế là khâu trung tâm của tất cả các loại hiệu quả và có vai trò quyết định đối với các loại hiệu quả khác, các loại hiệu quả xã hội
Trang 16có liên quan chặt chẽ với HQKT và biểu hiện mục tiêu hoạt động kinh tế của con người
Căn cứ vào yêu cầu tổ chức và quản lý kinh tế theo các cấp, các ngành hiệu quả kinh tế phân thành
- HQKT quốc dân
- HQKT vùng, lãnh thổ
- HQKT của khu vực sản xuất vật chất và phi vật chất
Nếu căn cứ vào các yếu tố cơ bản của sản xuất và phương hướng tác động vào sản xuất thì HQKT gồm có
- Hiệu quả sử dụng lao động và các yếu tố tài nguyên như đất đai, nguyên liệu, năng lượng
- Hiệu quả sử dụng vốn máy móc thiết bị
- Hiệu quả của các biện pháp KHKT và quản lý.[2]
2.1.3.3 Hệ thống chỉ tiêu đánh giá
Hiệu quả là một phạm trù kinh tế hết sức phức tạp và được thể hiện rất đa dạng, phong phú HQKT của tiến bộ KHKT là một bộ phận của hiệu quả kinh tế - xã hội Vì vậy, ngoài những đặc điểm chung, việc đánh giá của tiến bộ KHKT còn có những nét riêng do đặc thù việc ứng dụng tiến bộ khoa học vào sản xuất
Do tính phức tạp của vấn đề hiệu quả trong nông nghiệp, nên khi đánh giá HQKT của một hiện tượng kinh tế, một quá trình sản xuất kinh doanh hay một tiến bộ KHKT được ứng dụng, đòi hởi phải có một hệ thống chỉ tiêu
Hệ thống chỉ tiêu đánh giá HQKT nói chung, hiệu quả của kỹ thuật tiến bộ nói riêng phải đáp ứng các yêu cầu sau
Đảm bảo tính thống nhất về nội dung với hệ thống chỉ tiêu kinh tế của nền kinh tế quốc dân và ngành nông nghiệp
Trang 17Đảm bảo tính toàn diện và hệ thống, tức là có cả chỉ tiêu tổng quát, chỉ tiêu bộ phận, chỉ tiêu chủ yếu, chỉ tiêu phụ …
Đảm bảo tính khoa học đơn giản và tính khả thi
Phải phù hợp với đặc điểm và trình độ phát triên nông nghiệp ở nước
ta, đồng thời có khả năng so sánh quốc tế trong quan hệ kinh tế đối ngoại, nhất là những sản phẩm có khả năng xuất khẩu
Kích thích được sản xuất phát triển và tăng cường mức độ ứng dụng
kỹ thuật tiến bộ vào sản xuất
Hệ thống chỉ tiêu HQKT được bắt nguồn từ bản chất của hiệu quả
Đó là mối quan hệ giữa các yếu tố đầy vào và đầu ra hay giữa chi phí và kết quả thu được từ chi phí đó
Hiệu quả = Kết quả thu được
Chi phí bỏ ra Chỉ tiêu tổng quát của HQKT được thể hiện trên cơ sở định lượng như sau:
H = Q
K → Max Trong đó:
K max là trị số tương đối của hiệu quả
Tỷ số K/Qmin, biểu thị tỷ trọng chi phí cần thiết để có được một đơn vị kết quả, hay còn gọi là suất tiêu hao, suất chi phí và được sử dụng rộng rãi trong thực tế
Trang 18Dạng cơ bản thứ hai của hiệu quả là:
H = Qt - Qo
Kt - Ko =
Q
K max Trong đó: Qt, Qo là lượng kết quả ở hai thời kỳ hay có nội dung kinh
tế khác nhau
Kt, Ko là lượng chi phí ở hai thời kỳ hay có nội dung kinh tế khác nhau
Q là mức gia tăng về kết quả
K là mức gia tăng chi phí để tạo ra mức gia tăng về kết quả Q
Dạng thứ hai này của hiệu quả có nội dung rất quan trọng đặc biệt để
sử dụng đánh giá HQKT của kỹ thuật tiến bộ và vốn đầu tư
Như vậy có thể thấy rằng nội dung chủ yếu trong hệ thống chỉ tiêu đánh giá HQKT liên quan đếh hai vấn đề cơ bản là xác định kết quả và chi phí
Do tính đa dạng của hệ thống chỉ tiêu này, việc sử dụng nội dung kết quả và chi phí hoàn toàn phụ thuộc vào yêu cầu của việc đánh giá hiệu quả quyết định
Việc đánh giá hiệu quả kỹ thuật tiến bộ đòi hỏi phải xác định được phần kết quả do tiến bộ kỹ thuật đưa lại và mức tăng về chi phí để đầu tư ứng dụng kỹ thuật tiến bộ đó Tuy nhiên do tính phức tạp của việc ứng dụng kỹ thuật tiến bộ trong nông nghiệp nên việc tách riêng sự tác động của nhiều yếu tố là rất khó khăn Vì vậy khi đánh giá HQKT của kỹ thuật tiến
bộ cần phải sử dụng nhiều chỉ tiêu trên cơ sở nội dung của kết quả và chi phí khác nhau Đối với ngành trồng lúa kết quả được biểu hiện qua nhiều chỉ tiêu như năng suất, sản lượng, giá trị của sản phẩm, lợi nhuận… còn chi phí là toàn bộ các chi phí cấu thành nên chi phí sản xuất và ứng dụng kỹ thuật tiến bộ như vật tư, lao động…
Trang 19Có thể phân loại do tác động của kỹ thuật tiến bộ về giống lúa theo các nhóm như sau
Các chỉ tiêu về kinh tế như năng suất, sản lượng, giá thành, lợi nhuận…
Các chỉ tiêu về chất lượng sản phẩm, mức độ đáp ứng thị hiếu người tiêu dùng và yêu cầu xuất khẩu
Các chỉ tiêu tác động khác như thây đổi mùa vụ, chế độ canh tác, điều kiện lao động, cải tạo đất, tăng vụ …
Trong điều kiện nền kinh tế thị trường hiện nay, HQKT là tiêu chuẩn đầu tiên để đáng giá một sản phẩm tạo ra có được thị trường chấp nhận hay không, không những chỉ biểu hiện ở nội dung chất lượng sản phẩm, mà còn thể hiện sản phẩm được bán ở mức giá nào
Hiệu quả kinh tế của TBKT là một bộ phận của hiệu quả kinh tế - xã hội Về mặt bản chất, nội dung, thành phần của chỉ tiêu HQKT của TBKT đều thống nhất với hệ thống hiệu quả chung Tuy nhiên, do phạm vi nghiên cứu hẹp hơn, cụ thể hơn về mặt kinh tế của TBKT nên chỉ tiêu sử dụng để đánh giá của đề tài có hạn chế Sau đây là một số chỉ tiêu dùng để đánh giá của đề tài
- Chi phí sản xuất: Là toàn bộ chi phí mà người sản xuất đầu tư vào để phục
vụ cho quá trình sản xuất trên một đơn vị diện tích trong một thời gian nhất định thường là một chu kỳ sản xuất Nó bao gồm chi phí vật chất và chi phí lao động
+ Chi phí vật chất: Bao gồm các nguyên vật liệu đầu vào như giống, phân bón, thuốc BVTV, các khoản thuế và các khoản đi thêu
+ Chi phí lao động: Là chi phí về thời gian, công sức mà người sản xuất bỏ ra trong quá trình sản xuất
- Giá trị sản lượng: Là toàn bộ của cải vật chất và dịch vụ tạo trong một chu kỳ sản xuất
Trang 20- Lợi nhuận: Là phần chênh lệch của phần thu lớn hơn phần chi
- Thu nhập = Lợi nhuận + Chi phí lao động
- Tỷ suất lợi nhuận = Lợi nhuận / Chi phí * 100%
2.2 Tình hình sản xuất và nghiên cứu lúa gạo trên thế giới và Việt Nam 2.2.1 Trên thế giới
vĩ Nam, từ vùng thấp đến vùng cao, từ những vùng nóng ẩm của
Ấn Độ đến vùng sa mạc có tưới ở Pakistan và ở độ cao 2500m so với mực nước biển Lúa có thể trồng trên nhiều loại đất khác nhau, từ phù sa màu
mỡ đến các loại đất cát, đất sét, đất bạc màu, đất trũng úng ngập, nghèo dinh dưỡng Điều đó chứng tỏ rằng cây lúa có khả năng thích ứng rất rộng
với những điều kiện sinh thái khác nhau trên toàn thế giới
Trong tổng số 114 nước trồng lúa trên thế giới thì Châu Phi chiếm tới 41 nước, tiếp đến là Châu Á có 30 nước, Bắc Trung Mỹ có 14 nước, Nam Mỹ có 13 nước, Châu Âu có 11 nước và Châu Đại Dương có 5 nước
Nước có diện tích trồng lúa lớn nhất là Ấn Độ với 44,790 triệu ha và nước có diện tích nhỏ nhất là Jamaica 24 ha
Năng suất lúa cao nhất là Australia 9,45 tấn/ha và thấp nhất là Iraq 0,9 tấn/ha
Tuy Trung Quốc có diện tích trồng lúa 35 triệu ha, thấp hơn Ấn Độ năng suất cũng mới đạt 6,2 tấn/ha, nhưng thành tựu sản xuất lúa của Trung Quốc mới thực sự đứng đầu thế giới Việc áp dụng rộng rãi công nghệ lúa lai đã giúp cho đất nước này với 16% diện tích canh tác cung cấp đủ lương thực cho 22% dân số thế giới
Trang 21Về sản lượng, theo số liệu của FAO, sản lượng lúa toàn thế giới đạt gần 620 triệu tấn (2005) trong đó nhiều nhất là châu Á (xấp xỉ 600 triệu tấn) và ít nhất là Châu Đại Dương (1,344 triệu tấn).[1]
Bảng 2.1 Sản lƣợng lúa của các châu lục và toàn thế giới giai
đoạn 2001- 2005 Đơn vị tính: Triệu tấn Thế Giới, Châu lục 2001 2002 2003 2004 2005
Toàn thế giới 597,981 569,035 584,272 606,268 618,441 Châu Á 544,630 515,255 530,736 546,919 559,349
Đầu những năm 60 của thế kỷ XX, cuộc CMX ở Ấn Độ đã thành công rực rỡ với giống lúa mì Tiếp sau đó là sự phát triển của lúa gạo với việc tạo ra giống lúa IR8 ở IRRI (Philippin), là kết quả tạp giao gữa giống lúa thấp cây Deo - Geo - Wogen của Đài Loan với giống cao cây Peta của Indonexia IR8 điều được gọi là giông lúa "thần kỳ" vì nó có đặc điểm thấp cây, dáng khoẻ, chịu phân, chống bệnh khá và nhất là cho năng suất cao ở vùng nhiệt đới, đạt 5 - 6 tấn vào mùa mưa và 7 - 9 tấn trong mùa khô
Trang 22Một sự đột phá mới, hơn cả việc tạo ra giống IR8 là Trung Quốc đã thành công trong việc sử dụng ưu thế lai với lúa Sau mấy năm nghiên cứu, năm 1973 giống lúa lai F1 bắt đầu được phổ biến ở Trung Quốc và được
mở rộng diện tích gieo trồng khá nhanh, năm 1973 mới có 373 ha thì đến năm 1993 đã tăng lên 19 triệu ha, chiếm 65% diện tích lúa của Trung Quốc Với ưu thế lai, lúa sinh trưởng mạnh, tích luỹ nhiều chất khô, chịu phân đạm, phản ứng tốt với thâm canh và cho năng suất cao hơn 20% so với các giống lúa tốt khác So với IR8 sản xuất trong cùng điều kiện, lúa lai cho năng suất cao hơn 1 tấn/ha [4]
Lúa lai có thể làm cho năng suất tăng lên từ 15 đến 20% so với các giống lúa thương mại hiện hành, nghĩa là trung bình từ 1 – 1,5 tấn/ha Cho nên nông dân có thêm lợi tức khi trồng lúa lai Hơn nữa, nhu cầu cần nhiều nhân công của ngành sản xuất hạt giống F1 đã tạo ra nhiều việc làm và lợi tức cho người dân nông thôn Sản xuất hạt giống lúa lai cần nhân công hơn 30% so với sản xuất bình thường, hay 100 ngày công nhiều hơn cho cách trong lúa lai (Virmani, 1994) [13]
Những năm 1980 - 1990: Ứng dụng công nghệ chuyển gen trong tạo giống thành công, so với phương pháp truyền thống không làm được VD như giống có gen Bt trừ cỏ, kháng bệnh… ra đời [3]
Đầu thế kỷ XXI này T.S Monty Jone đã tạo ra giống lúa Nerica có nhiều đặc điểm tốt như chịu hạn, năng suất cao, giàu protein phù hợp với điều kiện khô hạn ở Châu Phi, giống lúa mới này có thể mở ra một triển vọng nông nghiệp mới có thể cải thiện tình hình sản xuất lúa gạo ở Châu Phi [4]
2.2.2 Ở Việt Nam
2.2.2.1 Tình hình sản xuất
Trang 23Lúa là cây lương thực chiếm vị trí hàng đầu trong các cây lương thực nới riêng và cây trồng nông nghiệp nói chung, là nguồn lương thực chủ yếu nuôi sống người dân Việt Nam Mặc dù trong những n ăm qua dân
số nước ta không ngừng tăng lên từ 48 triệu người (1975) tăng lên 80 triệu người (2004) nhưng sản lượng lúa đã từ 10,3 triệu tấn (1974) tăng lên 35,86 triệu tấn (2004) nên nguồn lương thực của xã hội rất dồi dào, đảm bảo an toàn lương thực cho xã hội, còn làm thức ăn chăn nuôi và dư thừa
để xuất khẩu
Bảng 2.2: Diện tích, năng suất và sản lƣợng lúa qua các năm
Tuy nhiên tỷ lệ tăng và sự phân bố ở các vùng kinh tế khác nhau cũng có sự khác nhau
Bảng 2.3: Diện tích trồng lúa phân theo các vùng
Đơn vị tính: nghìn ha
Trang 24Đồng bằng Sông Cửu Long 3945,8 3792,0 3834,8 3785,8
Bảng 2.4: Năng suất lúa phân theo các vùng
Bảng 2.5: Sản lƣợng lúa phân theo các vùng
Đơn vị tính: nghìn tấn
Trang 25Đồng bằng Sông Cửu Long 16702,7 15997,5 11709,6 17524,1
Đồng bằng Sông Cửu Long có diện tích lớn nhất, chiếm tới 50% diện tích trồng lúa của cả nước và do đó cũng chiếm tới 50% sản lượng lúa của cả nước Vùng có diện tích thấp nhất là các vùng miền núi, nhất là 2 vùng Tây Bắc và Tây Nguyên có diện tích dưới 200.000 ha và sản lượng chỉ đạt 500.000 – 700.000 tấn Về năng suất, vùng có năng suất bình quân cao nhất là Đồng bằng Sông Hồng (54,8 tạ/ha) Vùng có năng suất thấp nhất là Tây Bắc (54,8 tạ/ha).[1]
2.2.2.2 Triển vọng của nghề trồng lúa ở Việt Nam
Việt Nam có khí hậu nhiệt đới gió mùa, nóng ẩm nên rất thuận lợi cho nghề trồng lúa Trước đây 90% dân số là nông dân, sản xuất nông nghiệp lạc hậu, chậm phát triển, là nước đứng vào hạng nghèo trên thế giới Trong giai đoạn đổi mới hiện nay, nông nghiệp đã được coi là một mặt trận hàng đầu Nhà nước đã có nhiều biện pháp, chính sách đúng đắn nhằm thúc đẩy sản xuất nông nghiệp nên tổng giá trị sản xuất nông nghiệp đã tăng lên
rõ rệt
Tuy nhiên nông nghiệp Việt Nam cũng đang đứng trước những thách thức lớn Sản lượng lương thực bình quân năm 2003 là 462,9 kg/người nhưng những vùng sâu, vùng xa, vùng đồng bào dân tộc ít người bình quân
Trang 26lương thực vẫn còn thấp dưới 100 kg/người Bởi vậy, trong tương lai gần sản xuất lương thực nhất là lúa ở nước ta cũng đang là một yêu cầu cần được quan tâm đúng mức.[1]
2.2.2.3 Tình hình nghiên cứu giống lúa ở Việt Nam
Việt Nam là nước tiếp thu cách mạng xanh (CMX) từ khá sớm Ngay
từ giữa năm 1966 ở miền Nam với các giống Thần Nông (IR8) và từ những năm 1968 ở miền Bắc với các giống NN5, NN8, NN20…Chính nhờ cuộc CMX mà sản xuất lúa ở Việt Nam phát triển một cách tốt đẹp, từ một nước thiếu lương thực, hơn 10 năm nay đã trở thành một nước xuất khẩu gạo Tính đến thời điểm năm 2004, sản lượng gạo xuất khẩu của Việt Nam đạt 4 triệu tấn, đứng thứ 2 thế giới sau Thái Lan
Sau cuộc CMX, Việt Nam lại chịu ảnh hưởng của việc Trung Quốc thành công trong lai tạo giống, đặc biệt là khu vực phía Bắc Năng suất lúa của nước ta năm 2004 đứng đầu trong các nước Đông Nam Á và đã đạt bình quân 48,2 tạ/ha Điều đáng chú ý là từ năm 1996 đến nay năng suất lúa của nước ta liên tục tăng lên Nếu năm 2000 năng suất bình quân mới đạt 42,4 tạ/ha, xếp sau Indonexia thì năm 2004 đã vươn lên tới 48,2 tạ/ha vượt lên trên Indonexia và xếp thứ 4/11 nước trồng lúa chính trên thế giới.[4]
Cùng với việc cải thiện hệ thống thuỷ lợi, phổ biến ứng dụng phân bón hoá học và thuốc BVTV thì các giống lúa mới đã đóng vai trò rất quan trọng để đạt được những thành tựu nói trên Ngành giống cây trồng đã cung cấp một bộ giống phong phú, bao gồm những giống thuấn và giống ưu thế lai ngắn ngày, có năng suất cao, chất lượng tốt, chống chịu sâu bệnh, có khả năng thích ứng rộng đưa vào sản xuất Những kết quả này đã tạo ra
điều kiện rất cơ bản để nước ta thực hiện thành công “cuộc cách mạng
mùa vụ”, cải thiện chất lượng và nâng cao sản lượng
Trong những năm qua đã có rất nhiều những nghiên cứu ứng dụng về cây lúa, đóng góp vào sự phát triển nông nghiệp Việt Nam, đó là nhờ có sự
Trang 27hợp tác giữa các nhà quản lý, các tổ chức nghiên cứu ứng dụng trong nước
và hợp tác Quốc tế Trong đó có một số kết quả nổi bật sau:
- Chọn tạo giống lúa lai hai dòng kháng bệnh bạc lá của Trường Đại học Nông nghiệp 1 Hà Nội với phương pháp lai giữa dòng bất dục 103s và dòng phục hồi chứa gen kháng bệnh bạc lá tạo ra các tổ hợp lai như Việt Lai 24, Việt Lai 27 kháng bệnh bạc lá, thời gian sinh trưởng 108 - 110 ngày, năng suất 7,2 - 7,6 tấn/ha
- Nghiên cứu chọn giống lúa chống chịu khô hạn của Viện cây lương thực thực phẩm với phương pháp thu thập nguồn vật liệu giống lúa cạn chịu hạn địa phương và các dòng lúa cải tiến nhập nội từ IRRI với phương pháp lai hữu tính kết hợp với gây đột biến để tạo ra các tổ hợp lai có khả năng chịu hạn khá và năng suất cao như CH2, CH3, CH 133, CH5 trồng rộng rãi
ở vùng Trung du miền núi phía Bắc, Trung bộ, Đông Nam bộ và Tây nguyên
- Nghiên cứu các giống lúa phẩm chất cao phục vụ đồng bằng sông Cửu Long của Viện nghiên cứu lúa đồng bằng sông Cửu Long với phương pháp ứng dụng công nghệ sinh học (marker phân tử, nuôi cấy túi phấn) kết hợp với khảo nghiệm đồng ruộng để chọn tạo giống lúa ngắn ngày, năng suất cao, chất lượng gạo tốt như OM1490, OM2517, OM3536, OM2717, OM2718, OM3405, OM4495, OM4498, OM2514 trồng rộng rãi ở vùng sản xuất ngập lũ Đồng bằng sông Cửu Long
- Tuyển chọn và phát triển giống lúa cạn cải tiến LC93-1 phục vụ sản xuất lượng thực ở vùng cao của Viện Bảo Vệ Thực Vật Từ Liêm, Hà Nội với phương pháp chọn lọc từ tập đoàn lúa cạn IRRI nhập nội năm 1993 đã chọn được giống LC93-1 có thời gian sinh trưởng 115-125 ngày, năng suất 3-4 tấn/ha, chịu hạn khá, chất lượng gạo tốt, thích hợp cho vùng đồng bào dân tộc nghèo ở vùng cao
Trang 28- Chọn giống lúa lai hai dòng Việt Lai 20 của Trường Đại học Nông nghiệp 1 Hà Nội với phương pháp cách ly toàn cá thể với nguồn gen dòng bất dục ĐH4 và dòng phục hồi từ các dòng nhập nội, dòng lai và các dòng phổ biến trong sản xuất đã chọn ra tổ hợp Việt Lai 20 có thời gian sinh trưởng 110-115 ngày, tiềm năng năng suất 8-10 tấn/ha, chất lượng dinh dưỡng cao, thích hợp cho hệ thống canh tác 3-4 vụ/năm ở các tỉnh phía Bắc.[16]
Ở nước ta hiện có 18 viện nghiên cứu và 6 trường Đại học đang tham gia vào lĩnh vực nghiên cứu và phát triển giống cây trồng trong đó có giống lúa Ngoài ra, một số doanh nghiệp cũng đầu tư đáng kể vào công tác này Hiện nay, Chính phủ đã phê duyệt Chương trình quốc gia về công nghệ sinh học đến năm 2020, đồng thời Chính phủ cũng đã ban hành Quyết định số 212/2005/QĐ-TTg ngày 26/8/2005 về quy chế quản lý an toàn sinh học đối với sinh vật biến đổi gen, sản phẩm hàng hoá có nguồn gốc từ sinh vật biến đổi gen; tuy nhiên hiện còn thiếu nguồn nhân lực chất lượng cao và các văn bản hướng dẫn, các quy trình quản lý cụ thể để thực hiện chương trình này
Nhìn chung, các phương pháp nghiên cứu và phát triển giống ở nước
ta chủ yếu vẫn tập trung vào các phương pháp truyền thống Việc phát triển các giống mới của nhiều loại cây trồng hàng hoá còn phụ thuộc nhiều vào nguồn giống nhập nội hoặc chọn lọc từ nguồn tự nhiên
Hệ thống sản xuất và kinh doanh giống chính quy ở Việt Nam có gần
260 đơn vị doanh nghiệp, bao gồm 2 công ty cấp quốc gia, 99 trung tâm, công ty giống cấp tỉnh, 92 doanh nghiệp tư nhân, 8 công ty nước ngoài hoặc liên doanh với nước ngoài và 5 công ty thuộc viện nghiên cứu Hệ thống sản xuất này đã sản xuất được 90 nghìn tấn giống lúa (năm 2006), đáp ứng 14% tổng nhu cầu giống lúa của cả nước
Trang 29Các hệ thống sản xuất giống nông hộ hay còn gọi là giống nhân dân rất quan trọng, nông dân thường sản xuất giống theo nhóm hoặc riêng lẻ sau đó trao đổi có tính chất thương mại hoặc phi thương mại cho nhau trong cộng đồng địa phương Xu hướng ngày càng phổ biến đó là việc sản xuất giống ở nông hộ đã gắn kết gần hơn với hệ thống giống chính quy như
là một nguồn cung cấp giống quan trọng Một số báo cáo không chính thống cho biết hệ thống này đã cung cấp khoảng từ 70 % tổng nhu cầu hạt giống lúa, tuy nhiên số liệu thu thập qua điều tra ở báo cáo này cho thấy hệ thống giống nông hộ đã cung cấp tới 80% nhu cầu giống lúa.[19]
Phần III
ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Trang 303.1 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu
3.1.1 Đối tượng nghiên cứu
Các hộ trồng lúa được chọn trên địa bàn huyện Quỳnh Lưu, tỉnh Nghệ An; các Trạm giống, Vật tư nông nghiệp; các cửa hàng đại lí phân bón, thu mua sản phẩm có liên quan
Đề tài được thực hiện từ ngày 16/2/2009 - 20/4/2009
3.2 Nội dung nghiên cứu
- Thực trạng và các yếu tố ảnh hưởng đến quá trình sản xuất lúa của huyện Quỳnh Lưu
- Đánh giá hiệu quả kinh tế của các giống lúa được sử dụng trong sản xuất của huyện Quỳnh Lưu năm 2008
- Tìm hiểu một số thuận lợi, khó khăn đối với nghề sản xuất lúa của huyện
- Bước đầu đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả trong sản xuất
ở huyện Quỳnh Lưu
3.3 Phương pháp nghiên cứu
Trang 31Quỳnh Hoa: Đại diện cho vùng có điều kiện sản xuất còn hạn chế
Trên cơ sở các xã đã được chọn, chúng tôi tiến hành điều tra ngẫu nhiên để thu thập số liệu viết đề tài
3.3.2 Phương pháp thu thập số liệu
- Số liệu thứ cấp: Bao gồm các thông tin về điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã
hội của huyện được thu thập từ các phòng ban, ngành có liên quan như Phòng NN & PTNT, Trạm Khuyến nông, Phòng Tài nguyên & môi trường, Trạm khí tượng thuỷ văn …
- Số liệu sơ cấp: Bao gồm các thông tin về thực trạng sản xuất lúa, kỹ thuật
áp dụng và các thông tin để đánh giá HQKT từ việc áp dụng các giống lúa tiến bộ kỹ thuật… được thu thập thông qua điều tra, phỏng vấn trực tiếp người dân và các thành phần khác có liên quan Mẫu phiếu điều tra (xem phần phụ lục) Số phiếu phỏng vấn 60 phiếu và được phân bố qua bảng 3.1
Bảng 3.1: Phân bố phiếu điều tra
3.3.3 Một số chỉ tiêu đánh giá hiệu quả kinh tế
Muốn đánh giá hiệu quả kinh tế của các giống lúa cần có các chỉ tiêu đánh giá Sau đây là các chỉ tiêu đánh giá của đề tài
Trang 32- Chi phí sản xuất
+ Vật chất: Vật chất = Số lượng * Đơn giá ( VD: số lượng Đạm bón cho 1 sào * giá mua Đạm…)
+ Lao động: Số ngày công * Đơn giá
- Giá trị sản lượng = Năng suất * Đơn giá
- Lợi nhuận = Giá trị sản lượng - Chi phí sản xuất
- Thu nhập = Lợi nhuận + Chi phí lao động
- Tỷ suất lợi nhuận = Lợi nhuận / Chi phí * 100%
3.3.5 Phương pháp phân tích số liệu
Sử dụng những kiến thức hiểu biết của mình cũng như các kiến thức
từ tài liệu thu thập được để có những nhận xét đánh giá về thực trạng sản xuất, cùng một số vấn đề khác
Dùng hệ thống các tiêu chí về HQKT phù hợp với đề tài để phân tích, đánh giá về HQKT của các giống lúa
Phần IV
KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN
4.1 Điều kiên cơ bản của khu vực nghiên cứu