1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Đánh giá hiệu quả kinh tế nuôi trồng thuỷ sản ở xã diễn đoài huyện diễn châu tỉnh nghệ an

93 8 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 93
Dung lượng 1,01 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Để có sự đánh giá đúng đắn về HQKT của các loại hình NTTS từ đó đưa ra một số giải pháp nâng cao hiệu quả kinh tế để phát triển NTTS chúng tôi đã tiến hành ngiên cứu đề tài: “Đánh giá hi

Trang 1

===  ===

TRẦN THỊ THU

ĐÁNH GIÁ HIỆU QUẢ KINH TẾ

NUÔI TRỒNG THỦY SẢN Ở XÃ DIỄN ĐOÀI HUYỆN DIỄN CHÂU - TỈNH NGHỆ AN

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP

KỸ SƢ NGÀNH KHUYẾN NÔNG VÀ PHÁT TRIỂN NÔNG

THÔN

VINH, 2009

Trang 2

===  ===

ĐÁNH GIÁ HIỆU QUẢ KINH TẾ NUÔI TRỒNG THỦY SẢN Ở XÃ DIỄN ĐOÀI HUYỆN DIỄN CHÂU - TỈNH NGHỆ AN

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP

KỸ SƢ NGÀNH KHUYẾN NÔNG VÀ PHÁT TRIỂN NÔNG

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan rằng trong quá trình làm luận văn tôi có sử dụng các thông tin tƣ nhiều nguồn dữ liệu khác nhau nhƣ các sách báo, các dự án, các báo cáo,…, các thông tin trích dẫn đƣợc sử dụng đều đã đƣợc tôi ghi rõ nguồn gốc xuất xứ

Tôi xin cam đoan rằng số liệu và kết quả nghiên cứu trong luận văn này là trung thực và chƣa hề đƣợc sử dụng để bảo vệ bất cứ học vị nào

Sinh viên

Trần Thị Thu

Trang 4

LỜI CẢM ƠN

Để hoàn thành khóa luận tốt nghiệp này, ngoài sự nỗ lực của bản thân, tôi

đã nhận được rất nhiều sự quan tâm giúp đỡ nhiệt tình của các cá nhân và tập thể trong và ngoài trường

Trước hết tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc nhất đến cô giáo Th.s Nguyễn Thị Thúy Vinh - người đã dành nhiều thời gian trực tiếp chỉ bảo, huớng dẫn tôi hoàn thành luận văn tốt nghiệp này

Tôi xin chân thành cảm ơn toàn thể các thầy cô trong trường Đại học Vinh, nhất là các thầy cô trong khoa Nông - Lâm - Ngư đã dạy dỗ, giúp đỡ tôi trong quá trình học tại trường và làm khóa luận tốt nghiệp

Tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành tới các cán bộ và nhân dân xã Diễn Đoài

- huyện Diễn Châu - tỉnh Nghệ An đã giúp đỡ tạo mọi điều kiện thuận lợi cho tôi trong suốt quá trình nghiên cứu và hoàn thành đề tài của mình

Tôi xin cảm ơn các bác, các anh chị trong trạm khuyến nông, phòng nông nghiệp huyện Diễn Châu - tỉnh Nghệ An nơi tôi thực tập đã tạo điều kiện, hướng dẫn giúp đỡ tôi trong suốt quá trình tôi thực tập

Cuối cùng tôi xin chân thành cảm ơn gia đình, người thân, bạn bè đã giúp

đỡ, động viên tôi trong suốt thời gian vừa qua

Tôi xin chân thành cảm ơn!

Vinh, tháng 5 năm 2009

Sinh viên Trần Thị Thu

Trang 5

MỤC LỤC

Danh mục các từ viết tắt vi

Danh mục các bảng biểu vii

Danh mục các hình viii

MỞ ĐẦU 1

1 Tính cấp thiết của đề tài 1

2 Mục tiêu nghiên cứu 2

CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU NGHIÊN CỨU 3

1.1 Cơ sở lí luận của đề tài nghiên cứu 3

1.1.1 Cơ sở lí luận về hiệu quả kinh tế 3

1.1.1.1 Khái niệm, phân loại hiệu quả kinh tế 3

1.1.1.2 Nội dung bản chất của hiệu quả kinh tế 5

1.1.1.3 Các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả kinh tế 5

1.1.1.4 Các nhân tố ảnh hưởng đến hiệu quả kinh tế 6

1.1.2 Cơ sơ lí luận về nuôi trồng thuỷ sản 8

1.1.2.1 Khái niệm về nuôi trồng thuỷ sản 8

1.1.2.2 Vai trò của ngành nuôi trồng thuỷ sản trong nền kinh tế quốc dân 8

1.1.2.3 Đặc điểm ngành nuôi trồng thuỷ sản 9

1.1.2.4 Phân loại nuôi trồng thuỷ sản 12

1.1.2.5 Các nhân tố ảnh hưởng đến hiệu quả kinh tế nuôi trồng thuỷ sản 13

1.2 Cơ sở thực tiễn của đề tài nghiên cứu 16

1.2.1 Khái quát tình hình nuôi trồng thuỷ sản trên tế giới 16

1.2.2 Một số nét về tình hình nuôi trồng thuỷ sản ở Việt Nam 19

1.2.3 Một số nghiên cứu có liên quan 21

CHƯƠNG 2: NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 24

2.1 Nội dung nghiên cứu 24

2.2 Đối tượng, thời gian và địa điểm nghiên cứu 24

2.2.1 Đối tượng nghiên cứu 24

2.2.2 Thời gian nghiên cứu 24

Trang 6

2.2.3 Địa điểm nghiên cứu 24

2.3 Phương pháp nghiên cứu 24

2.3.1.Phương pháp chọn điểm nghiên cứu 24

2.3.2 Phương pháp thu thập số liệu 24

2.3.3 Phương pháp xử lý số liệu 25

2.3.4 Phương pháp phân tích số liệu 25

2.3.5 Hệ thống các chỉ tiêu nghiên cứu 25

2.4 Đặc điểm địa bàn nghiên cứu 26

2.4.1 Điều kiện tự nhiên 26

2.4.1.1 Vị trí địa lí, địa hình 26

2.4.1.2 Khí hậu, thủy văn, nguồn nước 27

2.4.2 Điều kiện kinh tế- xã hội 29

2.4.2.1 Đất đai và tình hình sử dụng đất đai 29

2.4.2.2 Tình hình dân số và lao động 31

2.4.2.3 Cơ sở hạ tầng- kinh tế xã hội 33

2.4.2.4 Tình hình nuôi trồng thuỷ sản của xã Diễn Đoài những năm vừa qua 35

CHƯƠNG 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 38

3.1 Thực trạng nuôi trồng thuỷ sản của các hộ ở xã Diễn Đoài 38

3.1.1 Thông tin chung về các nhóm hộ điều tra 38

3.1.2 Diện tích, năng suất, và sản lượng nuôi trồng thuỷ sản của các nhóm hộ điều tra 40

3.1.3 Kỹ thuật nuôi trồng thuỷ sản 42

3.2 Kết quả và hiệu quả kinh tế NTTS của các nhóm hộ điều tra ở xã Diễn Đoài 47

3.2.1 Chi phí bình quân cho 1 ha NTTS của các nhóm hộ điều tra 47

3.2.2 Doanh thu bình quân trên 1 ha NTTS của các nhóm hộ điều tra ở xã Diễn Đoài 51

3.2.3 Hiệu qủa kinh tế NTTS tính trên 1 ha của các nhóm hộ điều tra 52

3.2.4 So sánh hiệu quả kinh tế giữa các loại thủy sản nuôi trồng ở xã Diễn Đoài 56

Trang 7

3.2.5 Hiệu quả kinh tế NTTS bình quân trên hộ nuôi trồng ở xã Diễn Đoài 58

3.3 Tình hình tiêu thụ sản phẩm của các hộ NTTS ở xã Diễn Đoài 60

3.4 Một số yếu tố ảnh hưởng đến hiệu quả kinh tế NTTS của các hộ xã Diễn Đoài 62

3.4.1 Lao động và trình độ lao động 62

3.4.2 Vốn 63

3.4.3 Thị trường 64

3.4.4 Cơ sở hạ tầng 65

3.4.5 Các chính sách của Đảng, Nhà Nước và địa phương 65

3.5 Đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả kinh tế nuôi trồng thuỷsảncủa các hộ ở xã Diễn Đoài 67

3.5.1 Vốn 67

3.5.2 Đào tạo lao động và hỗ trợ kỹ thuật 67

3.5.3 Thị trường 68

3.5.4 Cơ sở hạ tầng 70

KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ 71

Kết luận 71

Khuyến nghị 71

TÀI LIỆU THAM KHẢO 73

Trang 9

DANH MỤC BẢNG BIỂU Tên bảng Trang

Bảng 1.1 Tình hình NTTS thế giới năm 2006 phân theo khu vực 17

Bảng 1.2 Sản lượng NTTS của 10 nước dẫn đầu thế giới giai đoạn 2004 – 2006 18

Bảng 2.1 Một số chỉ tiêu nhiệt độ của huyện Diễn Châu 27

Bảng 2.2 Tình hình phân bổ và sử dụng đất đai của xã Diễn Đoài qua 3 năm (2006 - 2008) 30

Bảng 2.3 Tình hình dân cư và lao động của xã Diễn đoài qua 3 năm 2006 – 2008 32

Bảng 2.4 Tình hình cơ sở vật chất của xã Diễn Đoài đến năm 2008 34

Bảng 2.5 Tình hình NTTS của xã Diễn Đoài trong 3 năm qua 36

Bảng 3.1 Tình hình chung các nhóm hộ điều tra 39

Bảng 3.2 Diện tích NTTS bình quân/hộ của các nhóm hộ điều tra 40

Bảng 3.3 Năng suất, sản lượng NTTS bình quân của các nhóm hộ điều tra 41

Bảng 3.4 Mật độ thả một số loại cá bột 43

Bảng 3.5 Lượng thức ăn một ngày cho một vạn cá 44

Bảng 3.6 Chi phí cho một ha nuôi cá giống 48

Bảng 3.7 Chi phí cho một ha nuôi cá lóc 49

Bảng 3.8 Chi phí cho một ha nuôi cá trê 50

Bảng 3.9 Doanh thu bình quân trên một ha NTTS 52

Bảng 3.10 Hiệu quả kinh tế tính cho một ha nuôi cá giống ở xã Diễn Đoài 53

Bảng 3.11 Hiệu quả kinh tế tính cho một ha nuôi cá lóc ở xã Diễn Đoài 55

Bảng 3.12 Hiệu quả kinh tế tính cho một ha nuôi cá trê ở xã Diễn Đoài 56

Bảng 3.13 So sánh HQKT tính trên 1 ha giữa các loại thuỷ sản nuôi trồng trên địa bàn xã Diễn Đoài 57

Bảng 3.14 Một số chỉ tiêu thể hiện hiệu quả kinh tế NTTS bình quân trên hộ nuôi trồng ở xã Diễn Đoài 59

Bảng 3.15 Tình hình tiêu thụ sản phẩm bình quân của các hộ NTTS ở xã Diễn Đoài 61

Trang 10

DANH MỤC CÁC HÌNH Tên hình Trang

Hình 3.1 Quy trình kỹ thuật NTTS 42 Hình 3.2 Trình độ học vấn các chủ hộ 62 Hình 3.3 Nguồn cung cấp kiến thức nuôi trồng 63

Trang 11

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Nông ngiệp là một trong 2 ngành sản xuất vật chất chủ yếu của nền kinh tế quốc dân; nó đóng vai trò quan trọng trong việc cung cấp lượng thực, thực phẩm đáp ứng nhu cầu thiết yếu của con người và gia súc Sự phát triển của nông nghiệp không những có ý nghĩa đối với nền kinh tế mà còn ảnh hưởng lớn đến sự

ổn định về chính trị, văn hóa và xã hội của mỗi quốc gia

Việt Nam có hơn 70% dân số sống ở nông thôn và chủ yếu làm trong lĩnh vực nông nghiệp, có tỷ trọng ngành nông nghiệp chiếm trên 50% trong nền kinh

tế quốc dân Vì vậy phát triển nông nghiệp nông thôn luôn là vấn đề được Đảng

và Nhà nước quan tâm.Từ sau nghị quyết 10 của bộ chính trị BCH TW Đảng khóa VI về việc đổi mới cơ chế quản lý nền kinh tế quốc dân nói chung, kinh tế nông nghiệp nông thôn nói riêng đã thúc đẩy kinh tế Việt Nam có những bước khởi sắc Tuy nhiên, hiện nay nền nông nghiệp Việt Nam vẫn đang gặp nhiều khó khăn và thách thức Hiệu quả của các ngành sản xuất nông nghiệp truyền thống còn thấp, tình trạng dư thừa lao động có xu hướng ngày càng tăng Điều đó đòi hỏi nền nông nghiệp Việt Nam cần tìm cho mình một hướng đi mới phù hợp với điều kiện của mỗi cơ sở địa phương nhằm khai thác triệt để lợi thế của mỗi vùng Từ đó từng bước hướng tới một nền nông nghiệp phát triển bền vững, góp phần vào tiến trình công nghiệp hoá, hiện đại hóa đất nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa mà Đảng đã đề ra

Với bờ biển trải dài hơn 3.260 km, 112 cửa lạch, hơn 30 vạn ha bãi triều, 50 vạn ha đầm phá, eo vịnh, khoảng 2.860 sông ngòi lớn nhỏ, Việt Nam có điều kiện thuận lợi để phát triển NTTS thành 1 ngành kinh tế mũi nhọn Thực hiện chính sách khuyến khích sản xuất, xuất khẩu của Đảng và Nhà nước; nhất là từ khi thực hiện quyết định số 224/1999/QĐ-TTg ngày 8/12/1999 của Thủ tướng chính phủ phê duyệt chương trình phát triển NTTS giai đoạn 1999 - 2010 nhằm mục tiêu đến năm 2010 đạt tổng sản lượng NTTS 2.000.000 tấn, giá trị kim ngạch xuất khẩu đạt trên 2.500 triệu USD, tạo việc làm và thu nhập cho khoảng 2

Trang 12

triệu người [6]; góp phần tích cực vào phát triển kinh tế - xã hội đất nước thì ngành NTTS nước ta đã có những bước phát triển mới, với tốc độ tăng trưởng nhanh và đạt được những thành quả đáng mừng Theo báo cáo về nghề cá và NTTS thế giới do FAO phát hành, dựa trên số liệu đến hết năm 2005 thì NTTS Việt Nam đứng thứ thứ 2 thế giới về tốc độ tăng trưởng (30,6%) [38] Tính đến hết năm 2007, diện tích NTTS nước ta đạt 1,05 triệu ha, tăng khoảng 10.000 ha

so với cuối năm 2006; sản lượng nuôi trồng đạt1,95 triệu tấn tăng 0,36 triệu tấn

so với năm 2006 (theo Vụ NTTS, Bộ NN&PTNT) [23]

Như vậy, lợi thế cạnh tranh, điều kiện tự nhiên thuận lợi, nguồn lao động dồi dào, cùng các chính sách của Đảng và Nhà nước đã thúc đẩy nghề NTTS phát triển Ngành thủy sản Việt Nam đã trở thành một trong những ngành kinh tế quan trọng, đưa Việt Nam hội nhập nhanh vào kinh tế khu vực và thế giới

Diễn Đoài là xã có truyền thống nuôi thủy sản nước ngọt từ lâu đời, tuy nhiên trước đây người dân nuôi cá chủ yếu để phục vụ cho nhu cầu ăn uống của gia đình nên diện tích nuôi trồng nhỏ và số lượng, chủng loại ít Những năm gần đây, người dân đã nhận thức được tầm quan trọng của NTTS, là loại hình kinh tế mang lại thu nhập cao, hơn nữa xã lại nằm trong vùng dự án phát triển NTTS của huyện Diễn Châu được quan tâm và đầu tư vốn nên nghề nuôi cá ở đây ngày càng phát triển Không chỉ tăng lên về diện tích nuôi trồng mà chủng loại nuôi cũng đa dạng hơn NTTS thực sự là một hướng đi đúng đắn để xóa đói giảm nghèo, phát triển kinh tế của người dân nơi đây

Để có sự đánh giá đúng đắn về HQKT của các loại hình NTTS từ đó đưa ra một số giải pháp nâng cao hiệu quả kinh tế để phát triển NTTS chúng tôi đã tiến

hành ngiên cứu đề tài: “Đánh giá hiệu quả kinh tế nuôi trồng thủy sản ở xã

Diễn Đoài-huyện Diễn Châu - tỉnh Nghệ An”

2 Mục tiêu nghiên cứu

Trên cơ sở đánh giá hiệu quả kinh tế NTTS và một số nhân tố ảnh hưởng đến nó ở xã Diễn Đoài- huyện Diễn Châu - tỉnh Nghệ An, từ đó đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả kinh tế NTTS trên địa bàn nghiên cứu

Trang 13

CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU NGHIÊN CỨU

1.1 Cơ sở lí luận của đề tài nghiên cứu

1.1.1 Cơ sở lí luận về hiệu quả kinh tế

1.1.1.1 Khái niệm, phân loại hiệu quả kinh tế

a) Khái niệm hiệu quả kinh tế:

Hiệu quả kinh tế là một phạm trù kinh tế phản ánh chất lượng của quá trình sản xuất Nó được xác định bằng việc so sánh kết quả sản xuất với chi phí bỏ ra (Nguyễn Hữu Ngoan, 2005) Khi bàn về hiệu quả kinh tế có 3 hệ thống quan điểm sau:

+ Quan điểm 1: Hiệu quả kinh tế = kết quả sản xuất/ chi phí bỏ ra

Công thức: H= Q/ C

Quan điểm này có ưu điểm là phản ánh được trình độ sử dụng các nguồn lực, xem 1 đơn vị nguồn lực đem lại bao nhiêu kết quả hay để có một đơn vị kết quả cần tiêu tốn bao nhiêu nguồn lực.Tuy nhiên quan điểm này không cho thấy được quy mô của hiệu quả kinh tế

+ Quan điểm 2: Hiệu quả kinh tế = kết quả sản xuất - chi phí bỏ ra

Công thức: H = Q - C

Đây là hiệu quả kinh tế trên quan điểm thị trường Phương pháp này cho ta thấy được quy mô của hiệu quả kinh tế nhưng không phản ánh được mức độ ảnh hưởng của các yếu tố đầu vào đến HQKT

+ Quan điểm 3: hiệu quả kinh tế = phần tăng thêm kết quả thu được/ phần tăng thêm chi phí bỏ ra

Hay: HQKT = phần tăng thêm kết quả thu được - phần tăng thêm chi phí bỏ

ra

Trên quan điểm của kinh tế học vi mô, các doanh nghiệp tham gia thị trường đều đặt mục tiêu tối đa hóa lợi nhuận Trong ngắn hạn, nguyên tắc chung

Trang 14

lựa chọn sản lượng tối ưu để đạt mục tiêu tối đa hóa lợi nhuận là MR= MC (trong đó: MR là doanh thu biên, MC là chi phí biên)

b) Phân loại hiệu quả kinh tế:

* Căn cứ vào yếu tố cấu thành, HQKT phân thành:

- Hiệu quả kỹ thuật: Là số lượng sản phẩm đạt được trên một đơn vị chi phí đầu vào hay nguồn lực sử dụng vào sản xuất trong những điều kiện cụ thể về kỹ thuật hay công nghệ áp dụng vào sản xuất

- Hiệu quả phân bổ: Là chỉ tiêu hiệu quả trong các yếu tố giá sản phẩm và giá đầu vào được tính để phản ánh giá trị sản phẩm thu thêm được trên một đồng chi phí thêm về đầu vào hay nguồn lực Như vậy hiệu quả phân bổ là hiệu qủa kỹ thuật

có tính đến giá cả đầu vào và đầu ra

- Hiệu quả kinh tế: Là phạm trù kinh tế mà ở đó sản xuất đạt cả hiệu quả kỹ thuật

và hiệu quả phân bổ

Mối quan hệ giữa chúng thể hiện: HQKT = Hiệu quả kỹ thuật * Hiệu quả phân bổ [2]

* Căn cứ vào mức độ khái quát, HQKT chia ra:

- Hiệu quả kinh tế: là so sánh giữa kết quả với chi phí bỏ ra để đạt được kết quả

đó

- Hiệu quả xã hội: Là kết quả các hoạt động kinh tế xét trên khía cạnh công ích, phục vụ lợi ích chung cho toàn xã hội như tạo việc làm, xóa đói giảm nghèo, giảm tệ nạn xã hội

- Hiệu quả môi trường: Thể hiện ở việc bảo vệ môi trường như giảm ô nhiễm đất, nước, không khí; tăng độ che phủ đất

* Căn cứ vào phạm vi HQKT chia ra:

- HQKT quốc dân: Xét trong phạm vi toàn bộ nền kinh tế quốc dân chỉ tiêu này giúp ta đánh giá được một cách toàn diện tình hình kinh tế mỗi nước

- HQKT ngành: Chỉ tiêu này tính riêng cho từng ngành như trồng trọt, chăn nuôi

- HQKT vùng: Tính cho từng vùng kinh tế hay vùng lãnh thổ

Trang 15

1.1.1.2 Nội dung, bản chất của hiệu quả kinh tế

* Nội dung của HQKT

Xác định HQKT bao gồm các nội dung:

+ Xác định các yếu tố đầu vào: hiệu qủa là một đại lượng để đánh giá kết quả hữu ích được tạo ra như thế nào, từ nguồn chi phí bao nhiêu, trong các điều kiện

cụ thể nào, có thể chấp nhận được hay không

+ Xác định các yếu tố đầu ra: là việc xác định mục tiêu đạt được, các kết quả đạt được như: giá trị sản xuất, khối lượng sản phẩm, giá trị sản phẩm, giá trị gia tăng, lợi nhuận

* Bản chất của HQKT

Bản chất của HQKT là mối quan hệ giữa các yếu tố đầu ra và các yếu tố đầu vào, là sự thõa mãn mục đích của các hoạt động sản xuất kinh doanh trong những điều kiện nhất định của đơn vị sản xuất Tùy theo từng hệ thống tính toán mà các chỉ tiêu về HQKT có thể khác nhau, nhưng có một điểm chung là đều bắt nguồn

từ mối quan hệ gữa đầu ra và đầu vào trong quá trình sản xuất

1.1.1.3 Các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả kinh tế

Công thức tổng quát: HQKT =Q/C

Q: là kết quả sản xuất

C: là chi phí bỏ ra

Từ đó ta có các chỉ tiêu tổng quát của HQKT:

+ Chỉ tiêu tương đối

- HQKT = Q/C  Max

- HQKT =(Q- C)/C  Max

- HQKT = C/Q  Min

+ Chỉ tiêu tuyệt đối: HQKT = Q- C

- Giá trị sản xuất GO (Gros output): là giá trị tính bằng tiền của các loại sản phẩm và dịch vụ được tạo ra trong một thời kỳ nhất định (một vụ, một chu kỳ sản xuất hoặc một năm trên một đơn vị diện tích)

Công thức: GO =tổng QiPi

Trang 16

- Chi phí trung gian IC (intermediate cost): Là toàn bộ chi phí thường xuyên bằng tiền mà chủ bỏ ra để mua và thuê các yếu tố đầu vào và chi phí dịch vụ trong thời

Công thức: MI = VA - (A + T + lao động thuê)

A: là khấu hao tài sản cố định

T: là thuế nông nghiệp

- Lợi nhuận Pr (Profist): Là phần lãi ròng trong thu nhập hỗn hợp

Công thức: Pr = MI - LPi

L: số công lao động đã sử dụng cho một đơn vị sản xuất

Pi: giá một ngày công lao động ở địa phương

- Tỷ suất giá trị sản xuất theo tổng chi phí: là tỷ số giữa giá trị xản xuất GO và chi phí trung gian (TC) Nó phản ánh giá trị sản xuất được từ một đơn vị chi phí

- Tỷ suất giá trị gia tăng theo chi phí: Là tỷ số giữa giá trị gia tăng (VA) và tổng chi phí (TC) Nó phản ánh hiệu quả sử dụng chi phí biên Khi sản xuất để cạnh tranh trên thị trường thì chỉ tiêu này quyết định sự thành bại của một sản phẩm

- Tỷ suất thu nhập hỗn hợp theo chi phí: Chỉ tiêu này phản ánh hiệu quả của việc đầu tư để đảm bảo cuộc sống và tích trữ của hộ

1.1.1.4 Các nhân tố ảnh hưởng đến hiệu quả kinh tế

Theo cách tính HQKT = Q/C có thể nhận thấy có 2 nhóm yếu tố ảnh hưởng đến hiệu quả kinh tế đó là: nhóm yếu tố cấu thành và ảnh hưởng đến giá trị sản phẩm thu được (Q) và nhóm yếu tố cấu thành và ảnh hưởng đến các nguồn lực đầu vào (C)

Trang 17

- Nhóm yếu tố cấu thành và ảnh hưởng đến mẫu số C:

Quá trình sản xuất là tập hợp tất cả các chi phí nguồn lực đầu vào và các yếu tố ảnh hưởng đến các nguồn lực đó Các chi phí cơ bản phục vụ sản xuất thường có: nguyên vật liệu, sức lao động, công nghệ và trang thiết bị Tuy nhiên chi phí cho mỗi nguồn lực lại chịu ảnh hưởng của nhiều yếu tố khác, cụ thể là: + Các yếu tố ảnh hưởng đến chi phí nguyên vật liệu như: giá mua,điều kiện tự nhiên của vùng thu mua, thời gian thu mua, đối tượng cung cấp, hình thức vận chuyển

+ Các yếu tố ảnh hưởng đến khấu hao tài sản cố định như: mức độ hiện đại của công nghệ, giá thành lắp đặt, thời gian sử dụng

+ Các yếu tố ảnh hưởng đến chi phí lao động phục vụ sản xuất như: sức lao động, trình độ lao động, chiến lược đào tạo và sử dụng lao động của các nhà sản xuất, thị trường lao động, giá lao động

+ Chi phí thuế sản xuất chịu ảnh hưởng bởi các yếu tố như: chính sách thuế của chính phủ, mặt hàng của doanh nghiệp, thị trường tiêu thụ sản phẩm của doanh nghiệp

- Nhóm các yếu tố ảnh hưởng đến giá trị sản phẩm thu được (tử số Q):

Giá trị sản phẩm thu được = giá bán sản phẩm * khối lượng sản phẩm

+ Các yếu tố ảnh hưởng đến giá bán như: thị phần của doanh nghiệp, chất lượng, mẫu mã của sản phẩm, kênh tiêu thụ, chiến lựơc marketing sản phẩm của nhà sản xuất, đối thủ cạnh tranh, các chính sách của nhà nước có liên quan đến sản phẩm

+ Các yếu tố ảnh hưởng đến khối lượng sản phẩm gồm: điều kiện tự nhiên (đặc biệt là với sản xuất nông nghiệp),quy mô sản xuất, những thuận lợi và rủi ro trong thu mua nguyên liệu, sản xuất,vận chuyển, bảo quản, chế biến và thị trường tiêu thụ

Như vậy có rất nhiều yếu tố thường xuyên chi phối và ảnh hưởng đến HQKT Mỗi yếu tố có mức độ tác động và ảnh hưởng khác nhau, vấn đề của nhà sản xuất là làm sao lựa chọn được phương án phù hợp nhất với điều kiện của

Trang 18

doanh nghiệp mình để hạn chế những rủi ro và đạt kết quả cao nhất trong hoạt động sản xuất

1.1.2 Cơ sơ lí luận về nuôi trồng thuỷ sản

1.1.2.1 Khái niệm về nuôi trồng thuỷ sản

Có nhiều định ngĩa khác nhau về NTTS:

Trong giáo trình kinh tế thuỷ sản: “NTTS là ngành sản xuất vật chất cơ bản cho xã hội, cung cấp sản phẩm thủy sản cho con người và nguyên liệu cho công nghiệp và là thị trường tiêu thụ sản phẩm sản xuất ra ở ngành khác” [4]

NTTS là mô hình sản xuất và có thể hiểu là sản xuất sản phẩm thủy sản hàng hóa để bán ra trên thị trường, có sự tập trung mặt nước - tư liệu sản xuất chính ở một địa bàn nhất định (Nguyễn Văn Hảo, 2002) [17]

Còn theo định nghĩa của FAO (1992) thì NTTS là các hoạt động canh tác trên đối tượng sinh vật thủy sinh như nhuyễn thể, giáp xác, thực vật thủy sinh Quá trình này bắt đầu từ thả giống, chăm sóc nuôi lớn cho tới khi thu hoạch xong Có thể nuôi từng cá thể hay cả quần thể với nhiều hình thức nuôi theo các mức độ thâm canh khác nhau như quảng canh, bán thâm canh và thâm canh Nói tóm lại, NTTS là hình thức canh tác các đối tượng sống ở nước bao gồm động vật và thực vật bậc thấp nhằm tạo ra sản phẩm thủy sản hàng hóa để bán ra thị trường

1.1.2.2 Vai trò của ngành nuôi trồng thuỷ sản trong nền kinh tế quốc dân

- NTTS cung cấp sản phẩm giàu chất đạm cho nhân dân

Hiện nay tiêu dùng thủy sản của người dân Việt Nam ước tính chiếm khoảng 50% sản phẩm chứa protein Riêng cá đã cung cấp 8kg/người/năm, trong

đó nguồn cá từ NTTS chiếm khoảng gần 40% [4]

- NTTS cung cấp thức ăn cho chăn nuôi

Sản phẩm phụ của ngành NTTS (các loại tôm, cá tạp), các phế phụ phẩm của các nhà máy chế biến thủy sản được sử dụng làm nguyên liệu cho các nhà máy chế biến thức ăn gia súc, gia cầm, tôm, cá ; hoặc làm thức ăn trực tiếp cho gia súc, gia cầm, cá

Trang 19

Việc tận dụng các phế phụ phẩm trong NTTS góp 1 phần tận dụng triệt để nguồn vốn đầu tư, nguồn nguyên liệu, giảm chi phí tăng thu nhập và hạ giá thành sản phẩm, đem lại hiệu quả kinh tế cao

- NTTS cung cấp nguyên liệu cho công nghiệp chế biến, công nghiệp thực phẩm, dược phẩm, mỹ nghệ

Các sản phẩm NTTS cung cấp nguyên liệu cho các nhà máy chế biến đông lạnh như: tôm, cá nhuyễn thể Cung cấp nguyên liệu cho các xí nghiệp dược phẩm như: rong mơ, rau câu, vỏ bào ngư, Sản phẩm nuôi của ngọc trai, đồi mồi là nguyên liệu để sản xuất hàng mỹ nghệ xuất khẩu đem lại HQKT cao

- NTTS tạo nguồn hàng xuất khẩu quan trọng tăng thu nhập ngoại tệ cho đất nước Hiện nay hàng thủy sản xuất khẩu của Việt Nam ngày càng được nhiều nước trên thế giới ưa chuộng Năm 1997 Việt Nam xuất khẩu thủy sản sang 46 nước trên thế giới, năm 1998 là 50 nước và hiện nay là 130 nước [4], [22]

Kim ngạch xuất khẩu vào các thị trường cũng ngày một tăng năm 2006 đạt 2,65 tỉ USD, năm 2007 đạt 3,75 tỉ USD tăng 1,1 tỉ USD [22]

- Phát triển NTTS góp phần phát triển kinh tế xã hội

Với đặc thù nông thôn mật độ dân số cao, trình độ dân trí thấp, hàng năm dân số tăng nhanh kéo theo sự gia tăng về dư thừa lao động Phát triển NTTS đã góp phần xóa đói giảm nghèo, làm chuyển đổi cơ cấu kinh tế nông thôn, tạo việc làm tăng thu nhập cải thiện mức sống cho nông dân góp phần xây dựng an ninh trật tự xã hội

1.1.2.3 Đặc điểm của ngành nuôi trồng thuỷ sản

Trang 20

tiết khí hậu khác nhau do đó khác nhau về đối tượng sản xuất, quy trình kỹ thuật, mùa vụ sản xuất

- Trong NTTS đất đai diện tích mặt nước vừa là tư liệu sản xuất chủ yếu, vừa là

tư liệu sản xuất đặc biệt không thể thay thế

Đất đai là tư liệu sản xuất Nhưng là tư liệu sản xuất đặc biệt, khác với các

tư liệu sản xuất khác ở chỗ: diện tích của chúng có giới hạn, vị trí cố định nhưng sức sản xuất của chúng là vô hạn nếu biết sử dụng hợp lý thì diện tích đất đai mặt nước không bị hao mòn đi mà còn tốt hơn (tức độ phì nhiêu tăng)

Đất đai diện tích mặt nước là tư liệu sản xuất không đồng nhất về mặt chất lượng Do cấu tạo thổ nhưỡng, địa hình, vị trí dẫn đến độ màu mỡ của đất đai diện tích mặt nước là khác nhau Chính vì vậy khi sử dụng chúng ta phải hết sức

riết kiệm và quản lý chúng trên 3 mặt: pháp chế - kinh tế - kỹ thuật

+ Về mặt pháp chế: phải quản lý chặt chẽ các loại đất đai diện tích mặt nước tiến

hành phân vùng, quy hoạch vùng đưa đối tượng nuôi trồng vào sản xuất theo hướng thâm canh và chuyên canh

+ Về mặt kỹ thuật: Phải xác định đúng và hợp lý các đối tượng nuôi trồng cho

phù hợp với từng vùng Đồng thời phải quan tâm tới việc sử dụng bồi dưỡng và nâng cao độ phì nhiêu của đất đai mặt nước

+ Về mặt kinh tế: Mọi biện pháp quản lý đều phải đưa đến kết quả là đất đai diện

tích mặt nước phải đem lại năng suất cao và không ngừng được cải tạo

- NTTS có tính thời vụ cao

Đối với mỗi đối tượng nuôi trồng các giai đoạn sinh trưởng và phát triển diễn ra trong khoảng thời gian khác nhau của mùa vụ sản xuất Do vậy đòi hỏi thời gian, hình thức và mức độ tác động trực tiếp chăm sóc của con người tới chúng cũng khác nhau Có thời gian cần chăm sóc nhiều có thời gian cần chăm sóc ít hơn

Và các đối tượng nuôi khác nhau có mùa vụ khác nhau (tôm từ tháng 2 đến tháng 9, cua từ tháng 9 đến tháng 1 năm sau)

Để giảm bớt tính thời vụ cần lưu ý:

Trang 21

+ Nghiên cứu đặc điểm địa hình, khí hậu, thời tiết từng vùng để bố trí sắp xếp các đối tượng nuôi trồng cho phù hợp nhằm sử dụng có hiệu quả đất đai diện tích mặt nước, lao động, cơ sở vật chất

+ Mở mang thêm ngành nghề tạo công ăn việc làm cho người lao động để thực hiện chuyên môn hóa đi đôi với việc phát triển tổng hợp các ngàn sản xuất trong NTTS + Vận dụng các thành tựu KHKT, đặc biệt là các thành tựu trong lĩnh vực sinh học như: tạo giống mới, kỹ thuật ghép tinh cho tôm mẹ để tăng thời gian sản xuất trong năm

- Đối tượng sản xuất của NTTS là những cơ thể sống

Các đối tượng nuôi trồng là những cơ thể sống sinh trưởng phát triển theo những quy luật sinh học nhất định Do đó mỗi thay đổi về khí hậu thời tiết, sự chăm sóc của con người đều tác động trực tiếp hoặc gián tiếp đến quá trình sinh trưởng phát triển của chúng và cuối cùng ảnh hưởng đến hiệu quả NTTS

- Một số sản phẩm thủy sản sản xuất ra được giữ lại để làm con giống, tham gia vào quá trình sản xuất sau

Trong NTTS một số sản phẩm như: đàn cá thịt, tôm thịt được lựa chọn làm bố mẹ để tái sản xuất trong quy trình tiếp theo

b) Đặc điểm của ngành nuôi trồng thuỷ sản Việt Nam

Ngoài những đặc điểm trên NTTS Việt Nam còn có những đặc điểm riêng như:

- Ngành NTTS Việt Nam có từ lâu đời song vẫn tồn tại trong tình trạng của một nền sản xuất nhỏ, phân tán, lao động chủ yếu là thủ công

Cơ sở vật chất kỹ thuật của nước ta còn thấp Trình độ văn hóa, KHHT và quản lý của cán bộ, nông ngư dân nhiều nơi nhất là vùng sâu vùng xa còn kém, người dân còn mang nặng tâm lý tiểu nông, sản xuất còn phân tán nhỏ lẻ với các phương thức lạc hậu

- Trong NTTS nước ta đất đai diện tích mặt nước phân bố không đều giữa các vùng cũng ảnh hưởng đến công tác quản lý các doanh nghiệp NTTS

Trang 22

Ở Việt Nam địa hình phức tạp, diện tích mặt nước chủ yếu phân bố ở những vùng trũng, vùng có sông suối chảy qua và vùng ven biển Do sự phân bố không đồng đều này nên công tác quản lý NTTS ở mỗi khu vực cũng khác nhau Các doanh nghiệp NTTS cần có kế hoạch khai thác sử dụng diện tích mặt nước một cách phù hợp Mặt khác cũng phải tiến hành cân đối lao động, bồi dưỡng nâng cao trình độ lao động nhất là những lao động ở những vùng sâu vùng xa

- Ngành NTTS Việt Nam chịu ảnh hưởng của khí hậu nhiệt đới ẩm có pha trộn ít khí hậu ôn đới

Điều đó vừa tạo điều kiện thuân lợi vừa gây khó khăn cho ngành NTTS

+ Thuận lợi: Có thể nuôi được các đối tượng có nguồn gốc từ vùng nhiệt đới và

cả những đối tượng có nguồn gốc ôn đới; có thể nuôi được nhiều vụ trong năm + Khó khăn: Bão lũ, gió mùa đông bắc, sương muối, thủy triều, sóng thần gây khó khăn cho NTTS, có khi làm thiệt hại lớn về kinh tế

Vì vậy các doanh nghiệp, các hộ NTTS cần xây dựng những phương án phòng chống thiên tai để đảm bảo việc nuôi trồng ổn định và cho năng suất sản lượng cao

1.1.2.4 Phân loại nuôi trồng thuỷ sản

Có nhiều cách để phân loại NTTS

* Phân loại theo đối tượng nuôi

Trang 23

* Phân loại theo năng suất và mức độ đầu tư (hoặc trình độ công nghệ và mức độ đầu tư)

- Quảng canh: + Quảng canh truyền thống

+ Quảng canh cải tiến

- Thâm canh: + Bán thâm canh

+ Thâm canh

+ Siêu thâm canh

* Phân loại theo tính chất thời vụ

- Nuôi chuyên canh

- Nuôi luân canh

- Nuôi xen canh

1.1.2.5 Các nhân tố ảnh hưởng đến hiệu quả kinh tế nuôi trồng thuỷ sản

Hiệu quả kinh tế của sản xuất hàng hóa luôn chịu ảnh hưởng của rất nhiều yếu tố như quy luật cung cầu, quy luật giá trị, điều kiện kinh tế - chính trị- xã hội của mỗi nước, khu vực và thế giới

Ngoài các yếu tố trên hiệu quả kinh tế của NTTS còn chịu ảnh hưởng của các yếu tố khác như điều kiện tự nhiên, đặc điểm sinh học của đối tượng nuôi, thị trường Cụ thể:

* Giống và chất lượng con giống: là yếu tố quan trọng hàng đầu trong NTTS

[12] Con giống tốt và phù hợp sẽ có khả năng kháng bệnh cao, nhanh lớn, tăng khả năng chống chịu với thay đổi của môi trường, giảm chi phí phòng bệnh

* Thức ăn: số lượng, chủng loại, chất lượng thức ăn ảnh hưởng trực tiếp đến đối tượng nuôi Các đối tượng nuôi khác nhau hay cùng một đối tượng nuôi nhưng trong các thời kỳ khác nhau sẽ sử dụng những loại thức ăn khác nhau với số lượng khác nhau Do đó cần lựa chọn thức ăn phù hợp để đạt kết quả tốt, tránh lãng phí và gây ảnh hưởng xấu đến môi trường

* Điều kiện tự nhiên: Đây là yếu tố ảnh hưởng lớn đến phát triển NTTS bởi vì đây là ngành đòi hỏi môi trường khắt khe Nguồn nước khí hậu, môi trường đột ngột thay đổi, mưa phùn sương mù nếu không có biện pháp xử lý kịp thời sẽ

Trang 24

ảnh hưởng xấu đến kết quả sản xuất, thậm chí mất trắng.Ngoài ra, thiên tai lũ lụt, hạn hán, sạt lở cũng ảnh hưởng xấu đến HQKT của NTTS

* Yếu tố kỹ thuật: Việc nắm bắt và hiểu rõ các đặc tính kỹ thuật của từng loại thủy sản là cần thiết để đem lại HQKT cao trong NTTS

- Nhiệt độ: các loài thủy sản khác nhau trong các giai đoạn khác nhau thích hợp với những nhiệt độ khác nhau Cần xác định các khoảng nhiệt độ phù hợp cho loài thủy sản sinh trưởng phát triển tốt để lựa chọn thời vụ nuôi cho hợp

- Hàm lượng các muối hòa tan: yếu tố này hình thành 3 đặc tính quan trọng của nước là độ cứng, độ kiềm, độ mặn cần duy trì ở mức thích hợp nếu không thủy sản dễ bị bệnh

+ Độ cứng: ảnh hưởng đến vai trò thẩm thấu và lượng Ca2+ trong máu

+ Độ kiềm: Giữ vai trò quan trọng trong việc duy trì hệ đệm của môi trường nước, nó chính là yếu tố quan trọng để giữ ổn định cho độ PH của nước giúp các loài nuôi ít bị sốc

+ Độ mặn: có ảnh hưởng trực tiếp đến việc điều hòa áp suất thẩm thấu, nếu độ mặn vượt ra ngoài giới hạn thích ứng sẽ dễ gây sốc, làm giảm khả năng đề kháng của loài

- Các chất khí hòa tan: O2 và CO2 ảnh hưởng trực tiếp đến quá trình hô hấp của đối tượng nuôi

+ Dưỡng khí O2: Hầu hết các loại thủy sản có thể tự điều chỉnh lượng khí O2 hòa tan trong nước qua kiểm soát của các hoocmon Trong trường hợp ít hoạt động hoặc nhu cầu dưỡng khí thấp chúng sẽ giảm lượng máu lên mang, giảm lượng nước chu chuyển qua mang thông qua sự điều chỉnh của các hoocmon Vì vậy khi O2 xuống quá mức chịu đựng sẽ ảnh hưởng đến sự sinh trưởng, phát triển của thủy sản

+ Khí CO2: là sản phẩm của quá trình hô hấp của các loài thủy sản Khi hàm lượng CO2 trong nước lớn hơn 20 mg/l sẽ gây sốc làm giảm khả năng hô hấp dẫn đến các loài thủy sản dễ bị chết

Trang 25

+ NH3: là sản phẩm của quá trình tiêu hóa protein Với nồng độ NH3 tự do là 0,06mg/l sẽ làm chậm mức tăng trưởng, lớp mô bên ngoài các loại thủy sản bị phá hủy làm rối loạn chức năng điều hòa áp suất thẩm thấu

+ Nitrat và nitric: được hình thành do sự oxi hóa NH3 Nếu hàm lượng của chúng trong nước là 0,006 mg/l sẽ gây sốc và làm mất khả năng vận chuyển oxi

+ H2S: Gây độc hại cho các loài thủy sản, nó tồn tại nhiều trong môi trường nước khi độ pH xuống dưới 6,5

* Điều kiện kinh tế xã hội:

+ Thị trường: là yếu tố quan trọng đối với bất kỳ loại sản phẩm hàng hóa nào, cần phải có thị trường đầu vào và đầu ra ổn định Trong những năm gần đây, thực phẩm chất lượng cao ngày càng được ưa chuộng nên thị trường của sản phẩm thủy sản được mở rộng Ở nước ta mấy năm trở lại đây, sản phẩm thủy sản

đã vượt ra ngoài biên giới quốc gia, đã xất khẩu đi được nhiều nước trên thế giới Thị trường được mở rộng sẽ thúc đẩy nghề NTTS phát triển

+ Lao động: bao gồm chất lượng và số lượng của lao động, là yếu tố quan trọng trong phát triển NTTS Nghề NTTS chịu nhiều rủi ro do giá cả thị trường bấp bênh, điều kiện tự nhiên không thuận lợi gây ra Để hạn chế thiệt hại, rủi ro thì yếu tố con người là quan trọng, thể hiện ở khả năng quản lý, áp dụng tiến bộ khoa học vào sản xuất để đạt kết quả cao nhất

+ Khoa học công nghệ và kỹ thuật chăm sóc: áp dụng các tiến bộ khoa học và các kỹ thuật chăm sóc là sự tác động của con người lên môi trường sống nhằm đạt năng suất cao Tuy nhiên việc áp dụng tiến bộ KHKT còn phụ thuộc vào cơ

sở hạ tầng, vốn đầu tư, kiến thức của người nuôi trồng Nếu áp duụng không đúng lúc, đúng cách thì sẽ không đem lại hiệu quả mong muốn, có khi còn gây ảnh hưởng đến môi trường nuôi, thiệt hại về kinh tế

+ Các chủ trương chính sách của Đảng và Nhà nước: Tất cả mọi hoạt động sản xuất đều dựa trên tình hình thực tế của thị trường Trong những năm gần đây ngành NTTS của nước ta có những bước khởi sắc, sản phẩm làm ra không chỉ phục vụ nhu cầu trong nước mà còn để xuất khẩu Điều đó đã góp phần tăng thu

Trang 26

nhập cho người dân, thu ngoại tệ về cho đất nước Đó chính là nhờ các chủ trương chính sách phù hợp kịp thời của Đảng và Nhà nước Hiện nay, nước ta rất cần những nhà hoạch định chính sách có kiến thức sâu rộng, nhạy bén với thị trường, am hiểu luật pháp trong nước và quốc tế để từ đó đưa ra những chính sách phù hợp đưa NTTS nước ta phát triển hơn nữa đáp ứng được yêu cầu của thị trường trong và ngoài nước

Như vậy, việc phát triển và nâng cao HQKT trong NTTS cần xem xét

sự ảnh hưởng của nhiều yếu tố bao gồm cả yếu tố tự nhiên, kỹ thuật và xã hội NTTS chỉ đạt hiệu quả cao khi vận dụng, kết hợp hài hòa được các yếu tố đó

1.2 Cơ sở thực tiễn của đề tài nghiên cứu

1.2.1 Khái quát tình hình nuôi trồng thuỷ sản trên thế giới

Theo số liệu thống kê của Tổ chức lương thực thế giới (FAO) tổng sản lượng thuỷ sản thế giới (bao gồm cả nuôi trồng và khai thác) đã tăng 324,29% từ 49,92 triệu tấn năm 1964 lên 161,87 triệu tấn năm 2004 [23] Mặc dù tỷ trọng sản lượng khai thác vẫn chiếm phần lớn trong tổng sản lượng thuỷ sản thế giới, nhưng trong những năm gần đây sản lượng NTTS cũng đã tăng đáng kể và ngày càng đóng vai trò quan trọng cho ngành thuỷ sản thế giới Trong những năm gần đây, cả nuôi trồng và khai thác thuỷ sản đều có xu hướng chững lại nhưng tốc độ tăng trưởng của nuôi trồng vẫn cao hơn của khai thác Từ năm 1970 đến nay, tỷ

lệ tăng trung bình hàng năm của NTTS là 8,9% trong khi đó tỷ lệ tăng của thuỷ sản khai thác là 1,4% [17] Nguyên nhân là ngành NTTS đang ngày càng được coi trọng, nó có thể sản xuất ra được nững sản phẩm có giá trị dinh dưỡng cao được ưa chuộng theo nhu cầu của thị trường đem lại hiệu quả kinh tế cao cho người sản xuất Mặt khác việc đánh bắt thuỷ sản một cách ồ ạt, bừa bãi từ trước tới nay đã khiến cho các loại thuỷ sản trên thế giới không những ngày càng cạn kiệt, giảm về số lượng, mà có những loài còn có nguy cơ tuyệt chủng Tăng dần tỷ trọng nuôi trồng thuỷ sản, giảm dần tỷ trọng khai thác thuỷ sản là một xu hướng tiến bộ của thế giới để đảm bảo vẫn tăng hiệu quả kinh tế của các nước nhưng đồng thời góp phần bảo vệ tài nguyên thiên nhiên, giảm sự cạn kiệt của tài nguyên

Trang 27

Theo thống kê của FAO, ở các nước đang phát triển sản xuất tới 91,2% sản lượng NTTS, đặc biệt trong thời gian từ 1970 đến nay sản lượng đó tăng nhanh hơn ở các nước phát triển tới 71 lần [17 ] Nếu tính về khu vực, số liệu thống kê của FAO (bảng 1.1) cho thấy: hiện nay, Châu Á là khu vực có diện tích ngập nước lớn nhất thế giới và có nhiều điều kiện thuận lợi nên sản lượng NTTS của Châu Á khá cao đạt 37,5 triệu tấn chiếm tới 89,46% sản lượng NTTS thế giới năm 2006 Tiếp sau Châu Á là Châu Âu với sản lượng đạt được là 2,95 triệu tấn năm 2006 tăng 8,6% so với năm 2005, với giá trị lên đến 65,7 triệu USD chiếm 7,04% sản lượng NTTS thế giới Tiếp theo là Châu Mỹ với sản lượng NTTS đạt gần 1,2 triệu tấn một năm với giá trị tương ứng rất cao là 3,4 tỷ USD Tiếp theo Châu Mỹ là Châu Phi với sản lượng NTTS năm 2006 đạt 0,27 triệu tấn với giá trị 0,22 tỷ USD chiếm 0,64% sản lượng NTTS thế giới Châu Đại Dương tuy 4 mặt giáp biển nhưng diện tích tự nhiên đa phần là sa mạc nên sản lượng NTTS được coi là ít nhất thế giới, năm 2006 sản lượng NTTS của Châu Lục này chỉ đạt 0,2 triệu tấn [21]

Bảng 1.1 Tình hình NTTS thế giới năm 2006 phân theo khu vực

Nguồn: thống kê của FAO

Có thể nói rằng NTTS đã và đang được coi là ngành kinh tế mũi nhọn của hầu hết các nước và khu vực trên thế giới, mang lại hiệu quả kinh tế khá cao cho các quốc gia Cũng theo thống kê của FAO thì 10 nước có sản lượng NTTS lớn nhất thế giới là: (bảng 1.2) Trung Quốc dẫn đầu thế giới với sản lượng NTTS năm 2004 hơn 21 triệu tấn, năm 2005 là hơn 22 triệu tấn tăng so với năm trước

Trang 28

4,09%, năm 2006 đạt gần 23 triệu tấn tăng so với năm trước 2,99%; Pêru đứng thứ 2 với sản lượng nuôi trồng 3 năm lần lượt là 4,0 triệu tấn,4,89 triệu tấn, 3,05 triệu tấn; Ấn Độ đứng thứ 3 trong danh sách với sản lượng 3 năm lần lượt là 2,95 triệu tấn, 2,96 triệu tấn, 2,95 triệu tấn Tiếp theo là các nước Indonesia, Mỹ, Nhật Bản, Chilê với sản lượng trên 2 triệu tấn trên năm; các nước Thái Lan, Việt Nam, NaUy là các nước có sản lượng trên 1 triệu tấn trên năm [20 ]

Bảng 1.2 Sản lượng NTTS của 10 nước dẫn đầu thế giới

giai đoạn 2004 - 2006

Tên

SL (Tr.tấn)

CC (%)

SL (Tr.tấn)

CC (%)

SL (Tr.tấn)

CC (%)

Trong những năm tới, NTTS vẫn sẽ là ngành kinh tế mũi nhọn được Đảng

và Chính phủ các nước quan tâm đầu tư, phát triển Đặc biệt Châu Á vẫn sẽ là khu vực có tiềm năng nhất trong nuôi trồng và khai thác thuỷ sản bởi với điều kiện tự nhiên thuận lợi cho phép các nước Châu Á phát triển ngành NTTS theo hướng chuyên môn hoá

Trang 29

1.2.2 Một số nét về tình hình nuôi trồng thuỷ sản ở Việt Nam

Trong khi các chuyên gia và các nhà nghiên cứu về lĩnh vực thuỷ sản cho rằng Việt Nam đang tiến dần đến ngưỡng giới hạn của sự tăng trưởng nguồn lợi

từ việc đánh bắt thuỷ sản thì với ưu thế về chiều dài bờ biển, lại nằm trong vùng khí hậu ôn hoà, ngành NTTS nước ta đang ngày một phát triển với tốc độ tăng trưởng hàng năm cao Trong những năm tới, với sự quan tâm đầu tư của Nhà nước và Chính phủ thì ngành NTTS của nước ta có khả năng phát triển hơn nữa Tại hội nghị tổng kết thực hiện chương trình phát triển NTTS giai đoạn 2001

- 2005 và bàn biện pháp thực hiện đến năm 2010 do Bộ Thuỷ sản tổ chức ngày 14/03/2003, đã đề ra kế hoạch là đến năm 2005 sẽ đưa diện tích NTTS lên 1,1 triệu

ha (tăng 4,76% so với năm 2004), trong đó diện tích nuôi mặn lợ là 630.000 ha, diện tích nuôi nước ngọt là 470.000 ha; đưa sản lượng NTTS và khai thác nội địa lên 1,5 triệu tấn tăng 10,53% so với năm 2004 và chiếm 50% tổng sản lượng thuỷ sản Và thực tế từ năm 2001 - 2005, tốc độ tăng trưởng về sản lượng NTTS tăng nhanh, kỹ thuật nuôi ngày càng tiến bộ, năm 2005 sản luợng NTTS đạt 1.437.000 tấn vượt 5,7% so với kế hoạch, gấp 3 lần so với năm 1999 [23]

Năm 2005, xuất khẩu thuỷ sản chịu nhiều tác động của thị trường, đặc biệt

là thị trường Mỹ nhưng kim ngạch xuất khẩu thuỷ sản của cả nước ước tính vẫn đạt khoảng 2,65 tỷ USD [23]

Năm 2006, tổng sản lượng thuỷ sản nước ta đạt 3,73 triệu tấn tăng so với năm trước là 11,7% trong đó sản lượng khai thác và đánh bắt đạt 2,13 triệu tấn tăng 7,1% so với năm trước và nuôi trồng đạt 1,60 triệu tấn tăng 11,12% so với năm 2005; tổng diện tích nuôi trồng là 1,1 triệu ha (tăng gần 100.000 ha so với năm 2005) Kim ngạch xuất khẩu đạt 3,29 tỷ USD [23]

Năm 2007, sản lượng thuỷ sản cả nước đạt 3,9 triệu tấn trong đó khai thác đạt 1,95 triệu tấn, nuôi trồng đạt 1,95 triệu tấn, đạt kim ngạch xuất khẩu 3,75 tỷ USD Năm 2007, việc Việt Nam gia nhập tổ chức thương mại thế giới (WTO) đã tạo điều kiện thuận lợi để xuất khẩu thuỷ sản đạt tốc độ tăng trưởng cao, các doanh nghiệp đã chủ động chuyển hướng thị trường, vừa giữ được thị trường

Trang 30

truyền thống vừa mở rộng phát triển sang các thị trường mới với khoảng 130 quốc gia và vùng lãnh thổ [22]

Dự kiến, năm 2008, tổng sản lượng thuỷ sản đạt 4,1 triệu tấn trong đó nuôi trồng đạt 2,15 triệu tấn khai thác đạt 1,95 triệu tấn Theo mục tiêu đề ra, kim ngạch xuất khẩu thuỷ sản đạt 4,25 tỷ USD tăng 13,3% so với năm 2007 [18] Tiếp tục duy trì tốc độ phát triển của ngành thuỷ sản hiện nay trên cơ sở tăng cường các yếu tố đảm bảo phát triển bền vững như tái tạo nguồn lợi, an toàn cho ngư dân, từng bước điều chỉnh cơ cấu nghề cá, giảm khai thác ven bờ, phát triển đánh bắt xa bờ

Từ đó ta thấy rằng NTTS nước ta đang không ngừng phát triển và đang đạt được tốc độ tăng trưởng khá cao Không những thế, theo con số thống kê của Bộ Thuỷ sản thì có sự gia tăng rất lớn về đầu tư cho ngành NTTS những giai đoạn khác nhau Cụ thể, trong giai đoạn từ 1986 - 1990, mức đầu tư trung bình hàng năm là 170 tỷ đồng; giai đoạn 1991 - 1995 tăng lên 565,5 tỷ đồng Đến giai đoạn

1996 - 2000 mức đầu tư trung bình lên đến 1.837,1 tỷ đồng tăng gấp 3 lần giai đoạn trước đó Và giai đoạn 2001 - 2005 mức đầu tư là 5.732,9 tỷ đồng [8] Như vậy, nhận thấy đựợcvai trò và hiệu quả của việc đầu tư vào NTTS Chính phủ ngày càng quan tâm đầu tư nhiều hơn cho ngành NTTS nhằm phát triển ngành NTTS theo hướng chuyên môn hoá, tăng tỷ trọng của ngành NTTS trong GDP của cả nước, làm giàu cho người dân và cho đất nước

Trong kế hoạch phát triển giai đoạn 2010 - 2020, Bộ Nông nghiệp và phát triển nông thôn đặt ra mục tiêu giá trị xuất khẩu của riêng thuỷ sản phải đạt tối thiểu 7 tỷ USD (gần gấp đôi năm 2007), đòi hỏi ngành thuỷ sản phải có những bước chuyển cơ bản trong tư duy phát triển kinh tế thuỷ sản bền vững [1]

Tuy nhiên, trong những năm qua phát triển NTTS nước ta cũng còn không

ít những hạn chế như việc quy hoạch vùng phát triển NTTS còn chậm, vốn đầu tư cho xây dựng cơ sở hạ tầng còn hạn chế, chất lượng môi trường nuôi chưa đảm bảo được như yêu cầu

Trang 31

Một khó khăn nữa cho ngành NTTS nước ta là tuy sản lượng đạt ngày càng cao nhưng chất lượng NTTS vẫn chưa cao đã ảnh hưởng không nhỏ đến lợi nhuận của người nuôi Hiện nay, sản phẩm thuỷ sản Việt Nam chủ yếu xuất khẩu vào các thị trường Mỹ, EU, Nhật Bản Việc gia nhập WTO sẽ tạo ra những cơ hội tốt hơn để giao lưu thương mại thế giới, kêu gọi đầu tư, mở rộng thị trường, tiếp cận khoa học - công nghệ tiên tiến… Tuy nhiên, các tiêu chuẩn của thị trường Mỹ, EU, Nhật Bản về chất lượng và an toàn vệ sinh thực phẩm có thể có những tác động đến việc xuất khẩu thuỷ sản Việt Nam Đây là một thách thức lớn cho ngành thuỷ sản nước ta trong tiến trình hội nhập với những đòi hỏi, yêu cầu rất khắt khe về chất lượng sản phẩm cũng như truy xuất nguồn gốc sản phẩm Do

đó, NTTS hữu cơ (nuôi sinh thái) để tạo ra sản phẩm sạch không gây ô nhiễm môi trường, đảm bảo sản phẩm thuỷ sản nuôi có chất lượng và an toàn vệ sinh thực phẩm cho tiêu dùng trong nước và xuất khẩu để đáp ứng đòi hỏi của thị trường trong xu thế hội nhập quốc tế là giải pháp để phát triển bền vững

Để tạo bước đột phá trong phát triển NTTS, trong thời gian tới cần đẩy mạnh việc quy hoạch các vùng NTTS, tăng sản lượng nuôi theo hướng tăng năng suất chất lượng, tăng các đối tượng có giá trị kinh tế cao, đồng thời xây dựng cơ

sở hạ tầng, đào tạo đội ngũ cán bộ có trình độ chuyên môn cao, phát triển nghiên cứu khoa học để ứng dụng trong NTTS, đảm bảo nguồn nước, môi trường nuôi, phấn đấu đến năm 2010 tổng sản lượng NTTS đạt 2,5 triệu tấn

1.2.3 Một số nghiên cứu có liên quan

Mặc dù ra đời và được chú trọng muộn hơn so với nhiều ngành khác nhưng NTTS đã nhanh chóng khẳng định vị trí của mình trong nền kinh tế quốc dân Đặc biệt trong nhữg năm gần đây ngành NTTS đã có những bước đột phá với tốc độ tăng trưởng mạnh mẽ đưa lại nguồn thu ngoại tệ lớn cho đất nước thông qua xuất khẩu Vì thế nó đã thu hút được sự quan tâm nghiên cứu của các cấp, các ngành, các cá nhân trong và ngoài nước với các hình thức và nội dung nghiên cứu phong phú và đa dạng

Trang 32

Trước hết phải nói đến “dự án TCP/VIE/2907” của bộ thuỷ sản nước ta năm

2005 Dự án đã phối hợp với các cơ quan ban ngành như Tổng cục thống kê, Tổ chức lương thực thế giới (FAO), Vụ nông-lâm-ngư nghiệp cùng với các sở nông nghiệp và phát triển nông thôn Dự án đã kể ra nguồn lợi của các loại thuỷ sản mang lại nhất là nguồn lợi do NTTS Không những thế dự án còn thống kê và miêu tả gần như đầy đủ các loại thuỷ sản nói riêng và các chủng loại sinh vật biển nói chung Đặc biệt dự án đã cho thấy hiệu quả kinh tế của các loại thuỷ sản nước ta nhất là các loại thuỷ sản được nuôi trồng [13]

Luận văn thạc sĩ của Vũ Thị Bích Hằng với đề tài “Hiệu quả kinh tế các

loại hình nuôi trồng thuỷ sản vùng ven biển huyện Quỳnh Lưu - tỉnh Nghệ An”

năm 2005 Đề tài tập trung đánh giá hiệu quả nuôi trồng của 2 loại thuỷ sản chủ yếu nơi đây là tôm và ngao với các hình thức nuôi trồng khác nhau Tác giả đã đánh giá hiệu quả kinh tế của nuôi tôm như sau: nếu đầu tư bình quân trên 1 ha thêm 1 đồng chi phí thì thu được 1,45 đồng giá trị sản xuất và thu thêm 0,45 đồng lợi nhuận; còn đối với nuôi ngao thì nếu bỏ ra một đồng chi phí thì thu đựoc 1,18 đồng giá trị sản xuất và thu nhập tăng thêm là 0,8 đồng Qua đề tài này ta cũng thấy được huyện Quỳnh Lưu là huyện có tiềm năng lớn để phát triển NTTS [17]

Đề tài “ Đánh giá hiệu quả kinh tế trong nuôi cá nước ngọt ở xã Diễn Yên

- huyện Diễn Châu - tỉnh Nghệ An” - luận văn tốt nghiệp đại học của Nguyễn

Lê Huyền (Đại học Nông Nghiệp I) cũng đánh giá hiệu quả kinh tế của NTTS Tác giả đã so sánh hai mô hình nuôi cá thịt ở địa phương là mô hình cá - lúa và

mô hình chuyên cá Và rút ra kết luận: mô hình cá - lúa phù hợp hơn, mức đầu

tư thấp hơn nhưng đem lại hiệu quả cao hơn, bình quân đạt 6665 ngàn đồng/sào với năng suất bình quân đạt 450kg/sào; còn mô hình chuyên cá chỉ đạt năng suất bình quân 350kg/sào với giá trị sản xuất đạt 4584 ngàn/sào [7]

Ngoài ra còn rất nhiều các đề tài khác nghiên cứu về hiệu quả kinh tế NTTS

ở các tỉnh thành trên đất nước ta như:

Trang 33

- Luận văn tốt nghiệp của Hoàng Trọng Xanh năm 2000 với đề tài “Đánh

giá kết quả và hiệu quả nuôi trồng thuỷ sản ở xã Nam Phú - huyện Tiền Hải - tỉnh Thái Bình”

- Luận văn tốt nghiệp của Đinh Thị Nguyệt năm 2008 với đề tài “Phân tích

hiệu quả kinh tế trong nuôi trồng thuỷ sản của các hộ gia đình ở xã Giao Thiện - huyện Giao Thuỷ - tỉnh Nam Định”

- Luận văn tốt nghiệp đại học của Nguyễn Hồng Việt năm 2007 với đề tài

“Đánh giá hiệu quả kinh tế nuôi trồng thuỷ sản của cac hộ gia đình ở xã Mai Phụ - huyện Thạch Hà - tỉnh Hà Tĩnh”

Bên cạnh các đề tài nghiên cứu về hiệu quả kinh tế còn có rất nhiều đề tài nghiên cứu về khía cạnh khác của nuôi trồng thuỷ sản nhƣ:

- Luận văn thạc sĩ của Nguyễn Hữu Thọ năm 2002 với đề tài “ Thực trạng

và giải pháp nâng cao hiệu quả kinh tế nuôi trồng hải sản ở vìng biển Giao Thuỷ- Nam Định”

- Luận văn của tác giả Nguyễn Thị Dịu với đề tài “Quản lý môi trường dựa

vào cộng đồng trong nuôi trồng thuỷ sản ở xã Quỳnh Bảng - huyện Quỳnh Lưu - tỉnh Nghệ An”

Và còn nhiều những nghiên cứu khác có liên quan Tuy nhiên theo nhƣ tôi tìm hiểu thì chƣa có đề tài nào nghiên cứu về NTTS trên địa bàn xã Diễn Đoài - huyện Diễn Châu Vì vậy chúng tôi tiến hành thực hiện đề tài này nhằm mục đích đánh giá hiệu quả kinh tế NTTS của các hộ gia đình trên địa bàn xã Diễn Đoài, từ đó đƣa ra một số giải pháp để nâng cao hiệu quả kinh tế và phát triển NTTS bền vững trong thời gian tới

Trang 34

CHƯƠNG 2 NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 2.1 Nội dung nghiên cứu

- Đánh giá hiệu quả kinh tế NTTS của các nhóm hộ theo 3 loại hình nuôi: cá lóc, cá trê, cá giống

- Một số yếu tố ảnh hưởng đến hiệu quả kinh tế NTTS của các hộ nuôi

- Từ đó đề xuất một số giải pháp nâng cao hiệu quả kinh tế NTTS trên địa bàn nghiên cứu

2.2 Đối tượng, thời gian và địa điểm nghiên cứu

2.2.1 Đối tượng nghiên cứu

Các hộ NTTS trên địa bàn xã Diễn Đoài

2.2.2 Thời gian nghiên cứu

- Từ 16/02/2009 đến 20/04/2009

2.2.3 Địa điểm nghiên cứu

Xã Diễn Đoài - huyện Diễn Châu - tỉnh Nghệ An

2.3 Phương pháp nghiên cứu

2.3.1 Phương pháp chọn điểm

Đề tài chọn xã Diễn Đoài – huyện Diễn Châu – tỉnh Nghệ An làm điểm nghiên cứu Diễn Đoài là xã có truyền thống NTTS nước ngọt từ lâu đời, là một trong những xã NTTS điển hình của huyện Diễn Châu, đóng góp gần 10% sản lượng NTTS toàn huỵện Mặt khác nó còn là xã nằm trong đề án phát triển NTTS của huyện giai đoạn 2005 - 2010 Trong những năm gần đây, NTTS đã góp phần xoá đói giảm nghèo nâng cao thu nhập cho người nuôi trồng nơi đây

2.3.2 Phương pháp thu thập số liệu

* Số liệu thứ cấp: thu thập từ các báo cáo, các số liệu niên giám thống kê của các cấp, các ngành, các cơ quan huyện, xã và từ sách báo, Internet

* Số liệu sơ cấp: Số liệu về tình hình đầu tư, chi phí, doanh thu thiêu thụ sản phẩm nuôi trồng thủy sản được thu thập thông qua điều tra trực tiếp các hộ nông dân NTTS trên địa bàn xã

Trang 35

- Chọn mẫu điều tra: Trên địa bàn xã hiện nay có 138 hộ NTTS trong đó có 120

hộ nuôi các loại cá trê, cá lóc, cá giống là những loại cho hiệu quả cao nhất Chúng tôi tiến hành chọn ngẫu nhiên 38 hộ trong 120 hộ để điều tra Trong kết quả chúng tôi phân thành 3 nhóm hộ:

+ Nhóm 1: 12 hộ giàu Trong đó có 4 hộ nuôi cá giống, 6 hộ nuôi cá lóc, 2 hộ nuôi cá trê

+ Nhóm 2: 20 hộ khá Trong đó có 13 hộ nuôi cá giống, 1 hộ nuôi cá lóc, 6 hộ nuôi cá trê

+ Nhóm 3: 6 hộ trung bình Trong đó có 2 hộ nuôi cá giống, 4 hộ nuôi cá trê

2.3.3 Phương pháp xử lý số liệu

- Toàn bộ số liệu thu thập được chúng tôi nhập vào máy tính và xử lý trên phần mềm Excel

2.3.4 Phương pháp phân tích số liệu

- Phương pháp phân tổ thống kê: để phân loại hộ theo tiêu thức cần thiết

Các nhóm hộ được phân theo chỉ tiêu kinh tế (giàu, nghèo ), chỉ tiêu này

do huyện phân loại

-Phương pháp so sánh: được dùng để so sánh điều kiện, tình hình, kết quả và

hiệu quả nuôi trồng giữa các loại hình, các nhóm hộ thông qua các chỉ tiêu được tính toán bằng số tương đối, số tuyệt đối, số bình quân

- Phương pháp thống kê mô tả: Được sử dụng để phân tích đánh giá các kết quả

nghiên cứu

- Phương pháp dự báo: Dựa trên cơ sở hiệu quả kinh tế của một số loại hình

NTTS và các nhân tố ảnh hưởng chúng tôi đề xuất một số giải pháp để nâng cao hiệu quả kinh tế trong NTTS

2.3.5 Hệ thống các chỉ tiêu nghiên cứu của đề tài

- Diện tích, năng suất, sản lượng NTTS bình quân của 1 hộ, từng nhóm hộ, từng loại hình nuôi

- Giá trị sản xuất (GO) bình quân: + trên 1 ha NTTS

+ trên hộ NTTS

+ của từng loại thủy sản

Trang 36

- Chi phí trung gian (IC) bình quân: + trên 1 ha NTTS

+ trên hộ NTTS

+ của từng loại thủy sản

- Giá trị gia tăng (VA) bình quân: + trên 1 ha NTTS

+ trên hộ NTTS

+ của từng loại thủy sản

- Tổng chi phí (TC) bình quân: + trên 1 ha NTTS

+ trên hộ NTTS

+ của từng loại thủy sản

- Thu nhập hỗn hợp (MI) bình quân: + trên 1 ha NTTS

+ trên hộ NTTS

+ của từng loại thủy sản

- Lợi nhuận (Pr) bình quân: + trên 1 ha NTTS

2.4 Đặc điểm địa bàn nghiên cứu

2.4.1 Điều kiện tự nhiên

2.4.1.1 Vị trí địa lí, địa hình

Diễn Đoài là một xã bán sơn địa nằm ở phía bắc huyện Diễn Châu, cách trung tâm huyện lỵ 17 km về phía bắc, là xã thuần túy về sản xuất nông nghiệp với tổng diện tích đất tự nhiên là 1275.27 ha, trong đó đất sản xuất nông nghiệp

là 1031.85 ha

Ranh giới địa lí của xã:

+ Phía Bắc giáp với xã Quỳnh Giang huyện Quỳnh Lưu

+ Phía Nam giáp với xã Diễn Yên huyện Diễn Châu

Trang 37

+ Phía Đông giáp với xã Diễn Trường huyện Diễn Châu

+ Phía Tây giáp với xã Diễn Lâm huyện Diễn Châu

2.4.1.2 Khí hậu, thủy văn

* Chế độ nhiệt:

Diễn Châu nằm trong khu vực nhiệt đới gió, nóng ẩm, quanh năm có gió mùa, nhận được nguồn năng lượng rất lớn từ mặt trời Cân bằng bức xạ quanh năm đạt đến 75 kcal/cm2/năm

- Tổng số giờ nắng: Số giờ nắng trong năm tương đối khác nhau, trung bình số giờ nắng/ngày là 4.4 giờ Mùa hè có số giờ nắng cao trên dưới 200 giờ/tháng Mùa đông số giờ nắng cũng không dưới 70 giờ/tháng Số giờ nắng liên quan đến từng giai đoạn sinh trưởng, phát triển của cá vì vậy nó ảnh hưởng đến năng suất cá nuôi

Bảng 2.1 Một số chỉ tiêu nhiệt độ của huyện Diễn Châu

(tháng 4 - 10)

Mùa lạnh (tháng 11 - 3)

Nguồn: Báo cáo quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế huyện Diễn Châu

- Nhiệt độ bình quân/năm từ 22 - 250C Phân thành 2 mùa rõ rệt:

+ Mùa nóng: Mùa nóng bắt đầu từ tháng 5 đến tháng 10 dương lịch Mùa này thời tiết nóng nực, nhiệt độ trung bình là 300C có khi lên tới 400C Gió phơn Lào mang theo hơi nóng và khô hanh làm cho nước trong ao, đầm nóng lên làm cho

cá sinh trưởng, phát triển kém, có thể gây chết cá

+ Mùa lạnh: bắt đầu từ tháng 11 đến tháng 4 dương lịch Mùa này thường có gió mùa đông bắc Nhiệt độ trung bình là 180C, nhiệt độ trung bình tối thấp là 12-

130C, trung bình tối cao là 200C Giá rét đã ảnh hưởng xấu tới sinh trưởng, phát

Trang 38

triển của cây trồng vật nuôi, đặc biệt đối vơí những giống cá chịu rét kém có thể

bị chết

* Chế độ mưa, lượng bốc hơi, độ ẩm không khí:

- Diễn Châu có lượng mưa bình quân 1.600 - 1.800 mm/năm nhưng phân bố không đều: Thời kỳ mưa ít từ tháng 11 đến tháng 3 năm sau chỉ chiếm khoảng 11% lương mưa cả năm

- Lượng bốc hơi bình quân của vùng 986 mm/năm

- Độ ẩm không khí bình quân cả năm 85%

* Chế độ gió, bão:

- Hứng chịu tác động của 2 hướng gió chủ đạo: gió mùa Đông Bắc và gió mùa Tây Nam Gió mùa Đông Bắc thịnh hành từ tháng 11 đến tháng 3 năm sau kèm theo nền nhiệt độ thấp gây rét lạnh Gió Tây Nam xuất hiện từ trung tuần tháng 4 tới đầu tháng 9 với tần suất 85% số năm, kèm theo khô nóng, độ ẩm không khí thấp, mỗi đợt kéo dài 10 - 15 ngày

- Là địa bàn thường chịu tác động của gió bão (bình quân 2-3 cơn bão/năm) Bão thường kèm theo mưa lớn và triều cường gây ngập úng, làm nhiễm mặn vùng diện tích ven các sông

* Tài nguyên nước:

Mạng lưới sông ngòi trên địa bàn huyện khá dày gồm sông Bùng, kênh Vách Bắc, kênh Vách Nam, kênh Nhà Lê, trong đó quan trọng nhất là sông Bùng Chế độ nước của các sông phụ thuộc vào lượng mưa hàng năm, mùa mưa nước các con sông lên cao gây ngập úng cục bộ các khu vực ven sông và mùa khô nước các con sông xuống thấp gây hiện tượng xâm nhập mặn khu vực cửa sông Qua phân tích như vậy cần bố trí lịch thời vụ một cách hợp lý, phù hợp để

cá sinh trưởng, phát triển tốt, tránh được thiệt hại do thời tiết gây ra

Trang 39

2.4.2 Điều kiện kinh tế- xã hội của xã Diễn Đoài

2.4.2.1 Tình hình phân bổ và sử dụng đất đai

Diễn Đoài có địa hình phong phú, đất đai đa dạng rất thích hợp với nhiều loại cây trồng và phát triển được cả nông - lâm - ngư nghiệp Trong những năm qua, cùng với việc chuyển đổi ruộng đất thành ô thửa nhỏ thành ô thửa lớn, việc quy hoạch phân bổ đất đai của xã có ít nhiều thay đổi (bảng 2.2)

Qua bảng 2.2 ta thấy tổng diện tích tự nhiên của xã là 1275,27 ha không đổi qua các năm với 16 xóm trong đó có 14 xóm có hộ NTTS Mặc dù trong những năm gần đây diện tích đất nông nghiệp liên tục giảm xuống (tuy tốc độ giảm không lớn 0,1%) nhưng vẫn là loại đất chiếm tỷ lệ lớn nhất trên địa bàn xã Năm 2006 diện tích đất nông nghiệp của xã là 1033,94 ha chiếm tỷ lệ 81,08%; đến năm 2007 tổng diện tích đất nông nghiệp là 1032,47 ha chiếm tỷ lệ 80,96 %, giảm 0,145 so với năm 2006; năm

2008 tổng diện tích tự nhiên của xã là 1031,85 chiếm tỷ lệ 80,91%, giảm 0,6% so với năm 2007 Nguyên nhân của việc giảm diện tích đất nông nghiệp là do dân số tăng lên một phần đất nông nghiệp đã được chuyển đổi để làm đất ở Trong tổng diện tích đất nông nghiệp thì đất lâm nghiệp có diện tích lớn nhất là 510,23 và không thay đổi qua

3 năm chiếm tỷ lệ tương ứng qua các năm là: 49,35% năm 2006; 49,42% năm 2007

và 49,45% năm 2008 Tiếp theo là đất sản xuất nông nghiệp với diện tích qua các năm là: 474,56 ha, 467,34 ha, 464,70 ha Ta thấy rằng đất sản xuất nông nghiệp đã giảm qua các năm, một phần do nguyên nhân chuyển sang đất ở như đã nói ở trên, một phần là do người dân thấy sản xuất nông nghiệp không đưa lại hiệu qủa kinh tế cao nên đã chuyển sang nuôi trồng thuỷ sản - một nghề tuy mới chỉ ít hộ nuôi -nhưng đã đem lại thu nhập cao cho người dân Cũng chính vì điều đó mà trong những năm gần đây diện tích NTTS của xã tăng khá nhanh với tốc độ bình quân 7,69%/năm Năm

2006 diện tích đất NTTS của xã là 49,15 ha chiếm tỷ lệ 4,75% trong tổng diện tích đất nông nghiệp Năm 2007 diện tích NTTS là 54,9 ha tăng 11,70% so với cùng kỳ năm

2006 Đến tháng 12 năm 2008 tăng lên 56,92 ha chiếm tỷ lệ 5,52% trong tổng diện tích đất nông nghiệp, tăng 3,68% so với năm 2007 Điều này chứng tỏ rằng NTTS đang ngày càng thu hút sự đầu tư sản xuất của người dân và của các cấp, các ngành

Trang 40

Bảng 2.2 Tình hình phân bổ và sử dụng đất đai của xã Diễn Đoài qua 3 năm (2006 - 2008)

SL (ha) CC (%) SL (ha) CC (%) SL (ha) CC (%) 07/06 08/07 BQ

Nguồn: ban thống kê xã Diễn Đoài

Ngày đăng: 21/10/2021, 23:21

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w