Nghiên cứu cảng Bến Thủy trong chiến tranh phá hoại đồng thời làm sống dậy một giai đoạn lịch sử gay go và quyết liệt nh-ng hết sức vẻ vang của cảng Bến Thuỷ, nâng cao lòng tự tôn dân tộ
Trang 1Tr-ờng đại học vinh Khoa lịch sử -0o0 -
Trần thị hải vân
khoá luận tốt nghiệp
đề tài : cảng bến thuỷ trong chiến tranh
phá hoại của đế quốc mỹ(1965 - 1973)
Chuyên ngành lịch sử việt nam
Vinh - 2009
Trang 2Tr-ờng đại học vinh Khoa lịch sử -0o0 -
khoá luận tốt nghiệp
đề tài : cảng bến thuỷ trong chiến tranh
phá hoại của đế quốc mỹ(1965 - 1973)
Chuyên ngành lịch sử việt nam
Giáo viên h-ớng dẫn: Ths Nguyễn Khắc Thắng
Sinh viên thực hiện : Trần Thị Hải Vân
Lớp : 46B - Lịch sử
Vinh - 2009
Trang 33 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu……… 4 3
4 Nguồn tài liệu và phương pháp nghiên cứu……… 4 4
5 Đóng góp của khóa luận……… ……… 5 4
6 Bố cục của khóa luận……… 5 5
Ch-ơng 1 : Khái quát cảng Bến Thủy tr-ớc cuộc chiến tranh
phá hoại của đế quốc Mỹ………6 6 1.1 Khái quát điều kiện tự nhiên và đặc điểm
lịch sử – xã hội Nghệ An……… 66 1.1.1 Điều kiên tự nhiên……… 6 1.1.2 Đặc điểm lịch sử – xã hội……… 8 1.2 Quá trình hình thành và phát triển cảng Bến Thủy đến tr-ớc cuộc
chiến tranh phá hoại của đế quốc Mỹ (tr-ớc 1965) ……… 11
Ch-ơng 2 : Cảng Bến Thủy trong cuộc chiến tranh phá hoại lần thứ
nhất của để quốc Mỹ (1965 – 1968)…… ………… 22 2.1 Cuộc chiến tranh phá hoại bùng nổ, cảng Bến Thủy chuyển mọi
hoạt động vào thời chiến ……… ……… 22 2.2 Cảng Bến Thủy chiến đấu chống chiến tranh phá hoại lần thứ nhất
của đế quốc Mỹ (1965 – 1968) …… ………… 24 2.2.1 Cảng Bến Thủy tiếp nhận, bốc dỡ và chuyển tải hàng hóa 24
Trang 42.2.2 Cảng Bến Thủy đẩy mạnh phong trào sản xuất văn hóa vănnghệ
……… ………… 32
2.2.3 Quét bom mở đường, thông phà thông tuyến………… …… 34
Ch-ơng 3 : Cảng Bến Thủy khôi phục và phát triển, chiến đấu chống chiến tranh phá hoại lần thứ hai của đế quốc Mỹ (1969-1973) …… 38
3.1 Cảng Bến Thủy khôi phục và phát triển……… …… 38
3.2 Cảng Bến Thủy chiến đấu chống chiến tranh phá hoại lần thứ hai của đế quốc Mỹ (1969 – 1973) ………… ……… 42
3.2.1 Tình hình và nhiệm vụ……… 42
3.2.2 Cảng Bến Thủy tiếp nhận hàng hóa (4/1972 – 1/1973)… … 45
3.2.3 Hoạt động văn hóa văn nghệ phục vụ chiến đấu……… 50
3.2.4 Thông phà thông tuyến, ra sức chi viện cho chiến tr-ờng miền Nam đánh thắng giặc Mỹ… ……… 51
C Phần kết luận 53 55 D Tài liệu tham khảo 57 59 e Phần phụ lục 62
Trang 5
Lời cảm ơn
Em xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới thầy giáo – Thạc sĩ Nguyễn
Khắc Thắng đã tận tình h-ớng dẫn, giúp đỡ và động viên em trong quá trình
lựa chọn, thực hiện và hoàn thành đề tài này
Để hoàn thành đ-ợc đề tài này, em còn nhận đ-ợc sự động viên của
các thầy cô giáo, cán bộ quản lí th- viện tr-ờng đại học Vinh, th- viện tỉnh
Nghệ An, th- viện quân khu IV… cùng bạn bè và người thân
Tuy nhiên, để hoàn thành đ-ợc đề tài này, bản thân em gặp không ít
khó khăn: nguồn tài liệu không nhiều, t- liệu đ-ợc cung cấp nhiều khi không
t-ơng xứng, hơn nữa các tài liệu đ-ợc tiếp cận hầu hết đ-ợc viết hoặc dịch
sang tiếng Việt mà ch-a có điều kiện đ-ợc tiếp xúc với tiếng n-ớc ngoài
Và do hạn chế về thời gian, trình độ năng lực bản thân chắc chắn
khoá luận sẽ không tránh khỏi những thiếu sót Vậy kính mong các thầy cô
giáo cùng bạn đọc góp ý để luận văn đ-ợc hoàn chỉnh hơn
Em xin đ-ợc gửi lời cảm ơn chân thành nhất ! Sinh viên
Trần Thị Hải Vân
Trang 6
A PHần Mở Đầu
1 lý do chọn đề tài:
Trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu n-ớc vĩ đại của dân tộc ta, giao
thông vận tải nói chung, giao thông đ-ờng thuỷ nói riêng giữ một vị trí quan
trọng , là mạch máu nối liền hậu ph-ơng lớn miền Bắc với tiền tuyến lớn miền
Nam Cảng Bến Thuỷ (nay là cảng Nghệ Tĩnh) nằm ở hạ l-u Bến Thuỷ, cách
Cửa Hội 12km về phía Đông Bắc và cách trung tâm thành phố Vinh khoảng
5km, là bến cảng giữ vị trí mạch máu giao thông nh- thế
Thế nh-ng, tình trạng nghiên cứu về vai trò của hệ thống giao thông
đ-ờng thuỷ, cảng sông và cảng biển trong chiến tranh từ tr-ớc đến nay đặc biệt
là cảng Bến Thuỷ ch-a đ-ợc chú trọng
Bến Thuỷ có vị trí vô cùng quan trọng, nằm chắn ngang trên con
đ-ờng quốc lộ số 1, chạy từ Hà Nội cho tiếp giáp với biên giới Thái Lan và
cũng nằm trên đ-ờng huyết mạch của tỉnh Nghệ An Từ Bến Thuỷ xuôi dòng
sông Lam ra Cửa Hội để từ đó v-ợt Đại D-ơng đến các cảng biển trên thế giới
Từ Bến Thủy ng-ợc dòng sông Lam đến các huyện Nam Đàn, Thanh Ch-ơng,
Đô L-ơng, Anh Sơn, tiếp đến là các huyện miền Tây trù phú của hai tỉnh Nghệ
An, Hà Tĩnh và xa hơn nữa là các địa ph-ơng thuộc n-ớc bạn Lào Lịch sử đã
ghi nhận sự tồn tại của cảng Bến Thuỷ gắn với sự phát triển của Nghệ An nói
riêng và Bắc Trung Bộ nói chung
Đặc biệt là trong cuộc chiến tranh phá hoại của đế quốc Mỹ, cảng Bến
Thuỷ đóng vai trò quan trọng, là mạch máu giao thông mang mối tình hậu
ph-ơng đến với tiền tuyến không chỉ là từ hậu ph-ơng miền Bắc mà còn là hậu
ph-ơng từ n-ớc bạn nên trong hai cuộc chiến tranh phá hoại cảng Bến Thuỷ là
một chiến tr-ờng nóng bỏng Trên chiến tr-ờng ấy, cuộc chiến đấu giữa các
chiến sĩ bến cảng anh hùng và đế quốc Mỹ diễn ra rất quyết liệt Đánh phá bến
phà, cắt đứt sự chi viện của hậu ph-ơng cho tiền tuyến luôn là mục tiêu chiến
Trang 7l-ợc của không quân và hải quân Mỹ Vì thế suốt hai lần gây ra chiến tranh phá hoại, địch đã biến nơi đây thành “ chảo lửa” với một số lượng lớn máy bay, tàu chiến dội xuống một khối l-ợng bom đạn khổng lồ nhằm vào cảng Bến Thuỷ Tuy nhiên, d-ới hàng chục ngàn trận đánh phá của đủ các loại máy bay với đủ các cỡ đại bác của địch, phà ta vẫn thông, cầu ta vẫn nối nhịp, đ-ờng ta vẫn êm bánh xe bon, cảng ta vẫn mở rộng kho, kéo dài bến và hàng ta vẫn từng ngày, từng giờ mang mối tình hậu ph-ơng đến với tiền tuyến
Nghiên cứu cảng Bến Thuỷ trong hai cuộc chiến tranh phá hoại của đế quốc Mỹ để thấy rõ đ-ợc tinh thần kiên c-ờng bám trụ chiến đấu, lao động quên mình, dũng cảm, sáng tạo và m-u trí của các chiến sĩ cảng Bến Thuỷ để
đánh bại mọi vũ khí hiện đại của địch, đảm bảo giao thông thông suốt
Nghiên cứu cảng Bến Thủy trong chiến tranh phá hoại đồng thời làm sống dậy một giai đoạn lịch sử gay go và quyết liệt nh-ng hết sức vẻ vang của cảng Bến Thuỷ, nâng cao lòng tự tôn dân tộc, thấy rõ đ-ợc ý nghĩa to lớn của cuộc chiến đấu này đối với những chiến công chung trong phong trào cách mạng cả n-ớc, góp phần tổng kết chiến tranh nhân dân đánh thắng chiến tranh phá hoại trên mặt trận giao thông đ-ờng thuỷ ở cảng Bến Thuỷ nói riêng và cả n-ớc nói chung
Bằng việc nghiên cứu cảng Bến Thuỷ trong chiến tranh phá hoại của
đế quốc Mỹ từ 1965-1973 còn góp phần nghiên cứu lịch sử Vinh - Bến Thuỷ
Đây là một t- liệu quý giá để giúp chúng ta giáo dục cho học sinh về lịch sử địa ph-ơng một cách có hiệu quả
Xuất phát từ những lý do trên, tôi chọn đề tài:“Cảng Bến Thuỷ trong chiến tranh phá hoại của đế quốc Mỹ (1965-1973)” làm đề tài cho khoá luận tốt nghiệp
2 Lịch sử vấn đề:
Liên quan đến đề tài có một số tài liệu đề cập đến các khía cạnh của
đề tài, cụ thể là:
Trang 8Bộ t- lệnh quân khu IV viện lịch sử quân sự Việt Nam (2001), Mặt trận giao thông vận tải trên địa bàn quân khu IV trong kháng chiến chống Mỹ cứu n-ớc, NXB quân đội nhân dân, Hà Nội ấn hành Sách đã tập hợp nhiều bài viết của nhiều tác giả viết về vai trò của mặt trận giao thông vận tải quân khu
IV trong kháng chiến chống Mỹ, trong đó có bài viết của KS Nguyễn Hồng Tr-ờng (giám đốc Sở giao thông vận tải Nghệ An), Phà Bến Thuỷ - bến phà anh hùng thời đánh Mỹ, cùng một số bài viết của các tác giả khác về hoạt động giao thông vận tải trên tuyến sông, biển thời chống Mỹ song còn ở phạm vi khái quát
Thanh Phong (2000), Dặm dài đất nứơc, NXB văn hoá thông tin, Hà Nội cũng có bài viết về bến cảng Nghệ Tĩnh song ở d-ới góc độ một bài báo nên còn mang tính sơ l-ợc
Th-ờng vụ Tỉnh uỷ - Đảng uỷ, Bộ chỉ huy quân sự Tỉnh Nghệ An cũng đã xuất bản cuốn:“Nghệ An lịch sử kháng chiến chống Mỹ cứu n-ớc (1954-1975)” trong đó đề cập đến cảng Bến Thuỷ trong cuộc chiến đấu chung của nhân dân Nghệ An chống Mỹ
Bên cạnh đó, tôi còn kế thừa một số tác phẩm lịch sử địa ph-ơng có nội dung liên quan khi nghiên cứu đề tài nh-:
- Bùi Thiết, Vinh - Bến Thuỷ, NXB văn hoá Hà Nội, 1984
- Lịch sử Đảng bộ Nghệ An (tập 2)
Cùng một số khoá luận tốt nghiệp, luận văn thạch sĩ đề cập đến một số khía cạnh của đề tài
Nhìn chung, những tài liệu ấy nghiên cứu một cách chung chung ch-a
đi sâu vào vấn đề cụ thể
Trên cơ sở kế thừa kết quả tìm hiểu của ng-ời đi trứơc, tôi đi sâu vào nghiên cứu, phát triển lên thành đề tài:“Cảng Bến Thuỷ trong chiến tranh phá hoại của đế quốc Mỹ (1965-1973)”
3 Đối t-ợng và phạm vi nghiên cứu:
Trang 9Đề tài tập trung nghiên cứu về cảng Bến Thuỷ trong hai cuộc chiến tranh phá hoại của đế quốc Mỹ, làm sáng tỏ sự ác liệt của bến cảng d-ới m-a bom bão đạn của kẻ thù cũng nh- làm sống dậy tinh thần kiên c-ờng, bất khuất của các chiến sĩ ở cảng đang từng ngày từng giờ mang mối tình hậu ph-ơng
đến với tiền tuyến
4 Nguồn tài liệu và ph-ơng pháp nghiên cứu:
4.1 Nguồn tài liệu:
Để thực hiện đề tài này, tôi thu thập nhiều nguồi tài liệu khác nhau: Tài liệu thành văn: Kế thừa có chọn lọc, phát triển các công trình đi trứơc có liên quan đến đề tài nh-: sách, báo, báo cáo l-u tại th- viên tr-ờng Đại học Vinh, kho địa chí th- viện Nghệ An, tại văn phòng cảng Nghệ Tĩnh, tiểu ban nghiên cứu lịch sử Đảng tỉnh uỷ Nghệ An, một số luận văn tốt nghiệp đại học, cao học thạc sĩ …
Tài liệu điền giã: Gặp gỡ các nhân chứng lịch sử nguyên là cán bộ của cảng Bến Thuỷ, đã từng tham gia kháng chiến chống Mỹ để tìm hiểu cụ thể vấn
Đây là đề tài lịch sử nên nội dung đ-ợc thể hiện theo thời gian và không gian cụ thể, sử dụng ph-ơng pháp lịch sử, ph-ơng pháp logic, so sánh, tổng hợp kết hợp tham khảo ý kiến
5 Đóng góp của khoá luận:
Tìm hiểu về: “ Cảng Bến Thuỷ trong chiến tranh phá hoại của đế quốc
Mỹ (1965-1973)”, khoá luận có những đóng góp ở các ph-ơng diện sau:
Trang 10Thấy đ-ợc tinh thần chiến đấu, hy sinh anh dũng của quân và dân ta nói chung, quân và dân Nghệ An nói riêng trong cuộc kháng chiến chống chiến tranh phá hoại của đế quốc Mỹ
Hệ thống t- liệu có liên quan để thuận lợi trong việc tìm hiểu cuộc chiến đấu chống chiến tranh phá hoại của đế quốc Mỹ của cán bộ và chiến sỹ cảng Bến Thủy, nhân dân Nghệ An trong cuộc đấu tranh chống Mỹ của cả n-ớc
Giáo dục thế hệ trẻ trong việc nhận thúc lịch sử dân tộc, trân trọng những thành quả đạt đ-ợc của đất n-ớc
Tổng kết những kinh nghiệm đấu tranh của dân tộc trên lĩnh vực giao thông thuỷ nói riêng và giao thông vận tải nói chung
6 Bố cục của khoá luận:
Ngoài phần mở đầu, kết luận, phần phụ lục thì phần nội dung của khoá luận bao gồm ba ch-ơng:
Ch-ơng 1: Khái quát cảng Bến Thuỷ tr-ớc cuộc chiến tranh phá hoại của đế quốc Mỹ (tr-ớc năm 1965)
Ch-ơng 2: Cảng Bến Thuỷ trong cuộc chiến tranh phá hoại lần thứ nhất của đế quốc Mỹ (1965-1968)
Ch-ơng 3: Cảng Bến Thuỷ khôi phục và phát triển, chiến đấu chống chiến tranh phá hoại lần thứ hai của đế quốc Mỹ (1969-1973)
Trang 11B phần nội dung Ch-ơng 1:
Khái quát cảng Bến Thuỷ tr-ớc
cuộc chiến tranh phá hoại của đế quốc Mỹ
(tr-ớc 1965)
1.1.Khái quát điều kiện tự nhiên và điều kiện xã hội Nghệ An:
1.1.1.Điều kiện tự nhiên:
Nghệ An là tỉnh thuộc vùng Bắc Trung Bộ trải dài theo h-ớng Tây Bắc -
Đông Nam nh- một bức tranh nhiều màu sắc
Lãnh thổ Nghệ An nằm trong toạ độ từ 18035’ đến 20000’10’’ vĩ độ Bắc và từ
103050’25’’ đến 105040’30’’ kinh độ Đông; phía Bắc giáp tỉnh Thanh Hoá phía Nam giáp tỉnh Hà Tĩnh; phía Tây chung biên giới với Cộng hoà dân chủ nhân dân Lào thuộc phạm vi ba tỉnh: Xiêng Khoảng, Bôli khămxay và Hủa Phăn với chiều dài 368kilômet; phía Đông trông ra biển Đông với chiều dài đ-ờng bờ biển khoảng 82kilômet
Nghệ An nằm trên một số tuyến giao thông huyết mạch của đất n-ớc: Đ-ờng quốc lộ 1A, đ-ờng quốc lộ 7A, đ-ờng chiến l-ợc 15A… Nghệ An án ngự một vị trí chiến l-ợc quan trọng cả về chính trị, kinh tế và quốc phòng, nhiều lần giữ vai trò căn
cứ địa vững chắc trong lịch sử chiến tranh giải phóng và bảo vệ Tổ quốc
Trên một vùng đất rộng lớn nh- vậy, địa hình Nghệ An đa dạng , phần lớn lãnh thổ nằm trong hệ uốn nếp Tr-ờng Sơn Đồi núi và trung du là dạng địa hình chiếm phần lớn diện tích đất đai cả n-ớc
Biên giới Việt - Lào trên phần đất Nghệ An, s-ờn núi rất dốc, bình quân mỗi
độ cao giảm 200 – 250met Tuy vậy, vẫn có những đ-ờng eo cho đ-ờng giao thông đi qua Đ-ờng Vinh – Napê v-ợt đèo Keo N-a cao 754met, đ-ờng 7 dài 270kilômet, chỉ
Trang 12có d-ới 70kilômet đ-ờng phẳng và 200kilômet qua đèo núi với hàng trăm chiếc cầu qua sông, qua suối
Nghệ An có khá nhiều sông ngòi nh-ng lớn nhất và tập trung nhất, quan trọng nhất là hệ thống sông Cả (còn gọi là sông Lam) bao gồm 151 con sông lớn nhỏ, bắt nguồn từ dãy núi Phu Luôi thuộc n-ớc bạn Lào ở độ cao trên 2000met và chảy vào tỉnh Nghệ An theo h-ớng Tây Bắc - Đông Nam Sông dài 523kilômet, chảy qua Nghệ
An dài 375kilômet qua các huyện Kỳ Sơn, T-ơng D-ơng, Con Cuông, Anh Sơn, Đô L-ơng, Thanh Ch-ơng, Nam Đàn, H-ng Nguyên, Vinh rồi đổ ra Cửa Hội thuộc Thị xã Cửa Lò Sông Cả ngắn, dốc, có nhiều thác ghềnh Từ Phu Luôi đến Cửa Rào có 117 thác, từ Cửa Rào đến Đô L-ơng có 74 thác, sông có nhiều phụ l-u: phía tả ngạn có 47 phụ l-u, hữu ngạn có 39 phụ l-u Phụ l-u lớn nhất của sông Cả là sông Hiếu dài 27kilômet chiếm 18% toàn bộ hệ thống sông Cả và góp vào sông Cả 3,5 tỉ met khối n-ớc, chiếm 23% tổng l-ợng n-ớc Sông Hiếu có khoảng 25 khe suối lớn nhỏ Sông chảy qua vùng đất tơi xốp nên về mùa m-a bình quân mỗi năm đất màu trôi đi 120 tấn/km2 và toàn bộ l-u vực trôi đi 600.000 tấn đất màu L-u vực sông Cả rộng 28.550km2 trong đó phần lớn diện tích ở Nghệ An là 11.200km2 Sông Lam có giá trị lớn về giao thông, thuỷ lợi, thuỷ điện, cung cấp phù sa, nguồn thuỷ sản n-ớc ngọt quan trọng cho đời sống nhân dân
Ngoài ra còn phải kể đến, sông Hàu, sông Bùng, sông Cấm, kênh đào nhà Lê… Hệ thống sông ngòi ấy có giá trị lớn trong hoạt động dân sinh và quốc phòng Trong chiến đấu, mạng l-ới đ-ờng sông đã từng có vai trò quan trọng trong việc cơ
động lực l-ợng vận chuyển l-ơng thực, vũ khí, đạn d-ợc tới các vùng trong tỉnh, các
địa ph-ơng trong cả n-ớc và các chiến tr-ờng trên bán đảo Đông D-ơng
Biển là một -u thế của tỉnh Nghệ An Đ-ờng bờ biẻn dài 82km có 6 cửa sông: Cửa Tráp, Cửa Cờn, Lạch Quèn, Lạch Vạn, Cửa Lò, Cửa Hội có điều kiện thuận lợi hình thành các ngũ cảng, các đầu mối giao thông đ-ờng thuỷ, tạo mối liên hệ vùng và quốc tế Đáng chú ý trong vùng biển của Nghệ An có hai hòn đảo: Đảo Ng- và Đảo Mắt là chỗ dựa cho các tàu viễn d-ơng trứơc khi vào biển
Trang 13Về khi hậu thời tiết của Nghệ An có phần khắc nghiệt hơn các địa ph-ơng khác trong cả n-ớc Nằm trong vùng nhiệt đới gió mùa, NghệAn chịu ảnh h-ởng của nhiều hệ thống thời tiết Hằng năm, lãnh thổ Nghệ An nhận đ-ợc bức xạ mặt trời khá phong phú với tổng bức xạ là 131,8 kcal/cm2/năm và cán cân bức xạ là 87,3 kcal/năm Tổng nhiệt độ trong năm trên 8.5000C Số giờ nắng trung bình đạt 1.500
Mùa nóng th-ờng từ giữa tháng 4 đến hết tháng 10 Từ tháng 4 đến tháng 8 th-ờng có gió Tây Nam (còn gọi là gió Lào) khô và nóng Từ tháng 8 đến tháng 10 là mùa bão, mùa lũ gây nhiều thiệt hại về ng-ời và của cho nhân dân tỉnh nhà
Núi nhiều, nắng dữ, gió Lào khô nóng, bão lụt triền miên… thiên nhiên khắc nghiệt đã làm nên tinh thần chế ngự thiên nhiên, cải tạo thiên nhiên của cha ông để Nghệ An có một vùng đất giàu đẹp như ngày hôm nay: “ núi cao sông sâu, phong tục trọng hậu, cảnh t-ợng t-ơi sáng, gọi là đất có danh tiếng hơn cả Năm châu…” [8;55]
1.1.2 Đặc điểm lịch sử – xã hội:
Nghệ An là một vùng đất cổ trong n-ớc cổ Văn Lang, sau đó là n-ớc Âu Lạc Những khám phá của khảo cổ học cho biết một cách chắc chắn sự có mặt của con ng-ời trên vùng đất Nghệ An cổ Các nhà khảo cổ học đã khai quật đ-ợc ở thành phố Vinh gần rú Quyết những mảnh t-ớc, những l-ỡi rừu, l-ỡi búa bằng đá trau và những mảnh gốm thô sơ Họ còn đào đ-ợc ở đó những trống đồng có hoa văn và âm l-ợng ngang với trống đồng Ngọc Lũ Di chỉ khảo cổ Vinh nói trên thuộc nền văn hoá Đông Sơn, là nền văn hoá có niên đại vào khoảng 3000 năm đến 5000 năm cách ngày nay Nh- vậy có nghĩa là từ khi lịch sử loài ng-ời chuyển từ thời đại đồ Đá sang thời đại đồ
Đồng thì tổ tiên ta có mặt trên đất Vinh - Bến Thuỷ
Trang 14Cho đến gần hết thiên niên kỷ thứ Nhất sau Công nguyên, vùng đất Nghệ An cũng có hoàn cảnh giống nh- nhiều địa ph-ơng khác của n-ớc ta là hình thành các cụm c- dân rải rác ở các vùng miền núi, đồng bằng và miền biển Khi con ng-ời rời
bỏ dần con đ-ờng th-ợng đạo xuyên sơn trong việc thông th-ơng Bắc Nam mà chuyển xuống những nẻo đ-ờng duyên hải thì vị trí Nghệ An ngày một quan trọng thêm vì nó nằm trên con đ-ờng xuyên Việt trong quá trình khai phá của tổ tiên ta Miền đất Nghệ
An đã có những biến đổi về địa hình, giới hạn cũng nh- tên gọi Nghệ An qua các thời
đại
Từ khi lập quốc, Nghệ An có tên gọi là Văn Lang, Nghệ An là miền đất của
bộ Việt Th-ờng - một trong số 15 đơn vị hành chính của n-ớc Văn Lang Đến đời Hán lại thuộc t-ợng quận, nhà L-ơng lại đổi thành Đức Châu, nhà Tuỳ(581- 600) đổi là Hoan Châu và từ năm 605- 615 họ lại gọi la Nhật Nam, nhà Đ-ờng (627- 649) đổi làm Hoan Châu và Diễn Châu N-ớc ta đời Đinh, Lê là Châu Hoan Đời Lý năm Thuận Thiên thứ nhất (1010) lấy Châu Hoan làm trại, năm Thông Thụy thứ ba (1036) đổi là châu Nghệ An Tên Nghệ An bắt đầu từ đó [9;126,127]
Sang thời kì độc lập tự chủ, nhà Đinh và nhà Lê vẫn gọi là Hoan Châu; nhà
Lý lại đổi làm châu Nghệ An; nhà Trần gọi là trấn Lâm Giang Đến lúc Nghệ An bị lệ thuộc vào nhà Minh họ lại đổi làm phủ Nghệ An và phủ Diễn Châu Đến triều Gia Long (1802), đặt trấn Nghệ An bao gồm cả trấn của Th-ợng Lào và tỉnh Hà Tĩnh, đến
đời Minh Mạng năm thứ m-ời hai (1832) lại chia thành Nghệ An tỉnh và Hà Tĩnh tỉnh Cả hai đều thuộc Nghệ An kiêm hạt Qua các đời Thiệu Trị và Tự Đức vẫn gọi là hai tỉnh nh- tr-ớc, nh-ng giới hạn có sự thay đổi chút ít cho mãi tới đời vua Thành Thái mới giữ nguyên hai tỉnh với giới hạn nh- ngày nay
Do sự thay đổi về giới hạn và diện tích của Nghệ An từ x-a nh- vậy nên trấn trị Nghệ An cũng có sự thay đổi, lúc ở vùng Anh Sơn, lúc ở vùng núi Thành, lúc ở Sa Nam (Nam Đàn), lúc ở xã Vĩnh An thuộc Tổng Yên Tr-ờng (H-ng Nguyên) Năm 44 sau Công nguyên, lúc Ta Viên sang xâm l-ợc n-ớc ta, y chọn vùng Quyết sơn làm
Trang 15trấn biên ải quân đội Từ đó Bến Thủy mới trở thành một trấn nhỏ ở vùng cực Nam quận Cửu Chân d-ới thời Hán
Đến thời Lê sơ, lỵ sở đ-ợc đặt ở vùng núi Thành, vị trí đ-ợc chọn từ thời Lý Thái Tông là tồn tại lâu hơn cả Trải suốt các đời Trần, Hồ, trấn sở chính của Nghệ An vẫn đặt ở Lam Thành – là tỉnh thành xây dựng bên bờ sông Lam
Theo số liệu điều tra ngày 01 tháng 4 năm 1999, dân số của tỉnh Nghệ An là 2.858.265 ng-ời, là tỉnh có số dân đứng thứ ba cả n-ớc (sau thành phố Hồ Chí Minh là 5.037.155 ng-ời và Thanh Hoá là 3.467.609 ng-ời) trong đó ng-ời Kinh chiếm trên 90% dân số của cả tỉnh và sinh sống ở tất cả các huyện, thị Tuy nhiên, tập trung nhất
là ở thành phố Vinh và các huyện duyên hải Ngoài ra, trên lãnh thổ của tỉnh, bên cạnh ng-ời Kinh còn có một số các dân tộc thiểu số cùng sinh sống nh- ng-ời Thái, Thổ, H’Mông, Khơ Mú… trong đó người Thái là cư dân có số lượng lớn nhất trong cộng đồng các dân tộc thiểu số ở Nghệ An (khoảng 70%) Họ c- trú chủ yếu tại Quế Phong, Quỳ Châu, T-ơng D-ơng, Con Cuông… các dân tộc ở Nghệ An có truyền thống đùm bọc, t-ơng thân t-ơng ái lâu đời, cùng chung sống qua những năm tháng hoạn nạn, chung l-ng đấu cật theo những b-ớc thăng trầm của quê h-ơng, đất n-ớc
Do nằm ở vị trí địa lí quan trọng nên Nghệ An đã từng giữ vai trò trọng yếu trong các cuộc đấu tranh chống giặc ngoại xâm.Nhân dân Nghệ An đã nổi dậy tham gia, phối hợp đấu tranh giành độc lập, bảo vệ dân tộc, chống ngoại xâm, thực sự gắn
bó hữu cơ với sự thăng trầm của lịch sử n-ớc nhà Đó là cuộc nổi dậy đấu tranh của nông dân do Mai Thúc Loan lãnh đạo (năm 722), đánh đổ ách thống trị của nhà
Đ-ờng và bọn c-ờng hào tay sai; đó là chiến thắng vang dội trên sông Bạch Đằng d-ới
sự lãnh đạo của Ngô Quyền năm 938 đã chấm dứt hơn một ngàn năm Bắc Thuộc B-ớc sang thời kì độc lập tự chủ, nhân dân Nghệ An đã đứng lên phạt Chiêm, chống Nguyên, đánh Minh bảo vệ biên c-ơng của đất n-ớc; cùng góp sức vào đội quân hùng mạnh của Nguyễn Huệ tiến hành cuộc hành quân thần tốc ra Bắc đánh tan 29 vạn quân Thanh; đó là việc nhân dân Nghệ An đã cùng nhân dân Thanh Hóa và Hà Tĩnh
Trang 16trở thành hậu ph-ơng vững chắc trong suốt chín năm kháng chiến chống Pháp và hai m-ơi mốt năm kháng chiến chống đế quốc Mỹ bảo vệ độc lập dân tộc
Ng-ời dân Nghệ An đã đi lên góp sức với cả dân tộc bởi truyền thống cần
cù, chịu th-ơng chịu khó, quật c-ờng, trọng nghĩa tình, đạo lí, là nơi sản sinh ra những con ng-ời ham học, giàu óc sáng tạo Tuy nhiên, bên cạnh đó, ng-ời dân xứ Nghệ vẫn còn tính bảo thủ, trì trệ, tư tưởng “tiểu nông” vẫn cố hữu trong tâm thức mỗi người dân
Khí phách của con người Nghệ An đã được ghi lại một cách đậm nét: “có lòng yêu n-ớc thiết tha, có tình cảm quốc tế trong sáng đậm đà, cần cù chịu khó trong lao động, nghĩa tình trong cuộc sống, biết chịu đựng hi sinh, dũng cảm chiến đấu bảo
vệ Tổ quốc, kiên c-ờng v-ợt qua mọi thử thách hiểm nghèo trong cuộc sống đấu tranh chống lại sự hà khắc của thiên nhiên, chống lại sự bất công và áp bức trong xã hội” [22,52]
1.2 Quá trình hình thành và phát triển cảng Bến Thuỷ đến tr-ớc cuộc chiến tranh phá hoại của đế quốc Mỹ (tr-ớc 1965)
Nằm trên sông Lam, Bến Thuỷ đã có lịch sử từ lâu Lịch sử hình thành và phát triển của cảng Bến Thuỷ gắn liền với lịch sử hình thành và phát triển của Vinh - Bến Thuỷ
Cảng Bến Thuỷ (nay là cảng Nghệ Tĩnh) nằm ở hạ l-u cầu Bến Thuỷ, cách Cửa Hội khoảng 12kilômet về phía Đông Bắc và cách trung tâm thành phố Vinh khoảng 5km Bến Thuỷ là điểm giao nhau giữa quốc lộ số 1- đ-ờng Thiên Lý Bắc - Nam và dòng sông Lam Từ Bến Thuỷ, xuôi sông Lam ra Cửa Hội để từ đó v-ợt đại d-ơng đến với các cảng biển trên thế giới Không chỉ các địa ph-ơng n-ớc ta dễ dàng
đến với Bến Thuỷ bằng đ-ờng thuỷ, đ-ờng bộ thuận tiện mà n-ớc Cộng hoà dân chủ nhân dân Lào và một phần Đông Bắc Thái Lan đi ra biển thì con đ-ờng đi qua cảng Bến Thuỷ là con đ-ờng gần nhất (bởi từ Viêng Chăn theo quốc lộ 8 đến Bến Thuỷ khoảng hơn 500kilômet trong lúc đó đến Hải Phòng là 824kilômet và đến Cửa Việt là
Trang 17763kilômet theo quốc lộ số 9).Hoặc từ Luông Pha Băng theo quốc lộ 7 đến Bến Thủy
là 657kilômet, trong khi đó đến Đà Nẵng trên 1.490kilômet
Theo kết quả của một số công trình nghiên cứu về khảo cổ học, ngôn ngữ học… gần đây cho thấy rằng: có khả năng tên gọi “Bến Thuỷ” đã xuất hiện từ thời nhà Lý Lý Nhật Quang trong thời gian làm tri châu ở Nghệ An (từ năm 1039), ông đã cho xây dựng nhiều đồn trại, kho, sách để tích trử quân l-ơng phục vụ công việc trấn
ải phía Nam của v-ơng triều Lý Đây là một trong những địa điểm tập kết thuyền, bè của Lý Nhật Quang “Bến Thuỷ” là ba bến cảng quan trọng của nhà Lý ở Nghệ An [20;13]
Do điều kiện giao thông thuận lợi, nên từ xa x-a, vùng đất Nghệ An nói chung, vùng Vĩnh Doanh (trong đó bao gồm Bến Thuỷ, sông Lam, núi Quyết) nói riêng có vị trí hết sức quan trọng trong sự nghiệp dựng n-ớc và giữ n-ớc.Các triều đại phong kiến Việt Nam, sau khi nhận rõ vị trí quan trọng của vùng Vinh – Bến Thủy nói riêng, Nghệ An nói chung đều đã cử các t-ớng tài vào trấn giữ Đến giữa thế kỉ XV, d-ới thời Lê Lợi, vùng đất này mới thực sự đ-ợc coi trọng Nhờ lãnh thổ phía Nam
đ-ợc mở rộng, không phải là biên trấn nữa, song Nghệ An vẫn được coi là “châu”, là
“trọng trấn”, vẫn giữ một vị trí chiến lược quan trọng cả về mặt chính trị, quân sự lẫn kinh tế đối với cả n-ớc Trong cuộc chiến tranh Trịnh – Nguyễn (1627- 1672) đã có nhiều trận đánh kịch liệt diễn ra bên bờ sông Lam Tháng 3 năm 1665, quân Nguyễn
đã huy động cả thuỷ binh, bộ binh chiếm bảy huyện phía Nam sông Lam, đẩy quân Trịnh ra mãi bờ Bắc sông Lam Sông Lam bỗng trở thành chiến tuyến trong những năm 1655 – 1660 Nghệ An vừa là tiền tuyến, vừa là hậu ph-ơng trực tiếp trong cuộc t-ơng tàn Trịnh – Nguyễn
ở thế kỉ XVIII, vua Quang Trung đã từng chọn vùng đất Yên Tr-ờng để xây dựng đế đô của triều đại Tây Sơn Dấu tích của thành Ph-ợng Hoàng Trung Đô ở phía Nam núi Quyết, cách cảng Bến Thuỷ khoảng hơn 1km là chứng tích của ý t-ởng vĩ đại
ấy Cho đến năm 1802 khi Nguyễn ánh lên ngôi lấy hiệu là Gia Long, chia đất n-ớc
ta làm 29 doanh trấn; phá bỏ cơ đồ của triều đại Tây Sơn không th-ơng tiếc Tuy
Trang 18nhiên, ý nghĩa của việc chọn Yên Tr-ờng làm đất đóng đô của Quang Trung - Nguyễn Huệ khiến Gia Long không thể không quan tâm đến và Gia Long đã cho xây dựng thành Nghệ An, dời lỵ sở từ Lam Thành – Phù Thạch về Vĩnh Yên, Yên Tr-ờng thuộc huyện Chân Lộc (còn gọi là Vĩnh Doanh) Theo đó, Vĩnh Thị tức chợ Vinh ngày nay dần dần thay đổi tính chất: từ chỗ chỉ là một chợ làng bé nhỏ của tổng Ngô Tr-ờng trở thành chợ trấn của cả trấn Nghệ An Dân c- đến sống ở khu vực này ngày một đông, hình thành nên c- đân bản địa của thành phố sau này
Đô thị Vinh lớn về tầm, vì thế nó có Bến Thuỷ Bến Thuỷ là một cảng sông lấy tên gọi từ một đơn vị thuỷ quân gọi là Đồn Thuỷ d-ới thời Lê, là vị trí án ngự quân
địch khi chúng có thể từ biển Đông xâm nhập vào, là cửa ngõ cho đô thị nhìn ra hải ngoại
Vào thời gian đô thị Vinh - Bến Thuỷ hình thành, nền kinh tế th-ơng nghiệp
đã có những h-ớng phát triển đáng kể nhờ có cảng Bến Thuỷ Sự tiếp xúc Đông – Tây, quan hệ buôn bán với các n-ớc ph-ơng Tây vì thế có nhiều chuyển biến Thuyền bè các n-ớc cập bến ở Cửa Hội, Bến Thuỷ đi ng-ợc sông Lam lên buôn bán ở chợ Vinh Mặt khác, từ chợ Vinh, thuyền ghe ng-ợc dòng sông Lam lên Phù Thạch, Hà Trung hoặc Sa Nam, những thành phố hoặc lỵ sở cũ để buôn bán Đô thị Vinh – Bến Thuỷ luôn đ-ợc mệnh danh là thành phố th-ơng nghiệp
Thực dân Pháp, ngay từ khi đặt chân đến xâm l-ợc n-ớc ta, dù buổi đầu ch-a
ổn định đ-ợc nền đô hộ nh-ng chúng đã vội vã xúc tiến các ch-ơng trình khai thác thuộc địa Vinh – Bến Thuỷ đ-ợc xem là một tâm điểm đầu t- phục vụ mục đích thực dân của nhà cầm quyền D-ới con mắt của các nhà t- bản Pháp, Bến Thuỷ đ-ợc đánh giá: “là cảng của ba triệu dân, của một vùng bao la vô cùng giàu có về hàng xuất khẩu, là chìa kháo mở cửa của xứ Lào ”[26] Chính vì vậy, đến đầu thế kỷ XX, tại cảng Bến Thuỷ, ng-ời Pháp đã xây xong hai bến lấy tên là Lơ - No và Măng – Giơ và các tàu Sac - Lơ (năm 1908), tàu Bạch Thái B-ởi (1911), cầu tàu Rốc – Cơ, cầu tàu Nguyễn Hữu Thu (1916) và cầu tàu Đề Hợp (1923)… Đến năm 1924, lượng hàng
Trang 19thông qua cảng Bến Thuỷ là 49.813 tấn, trong đó hàng xuất khẩu là 39.637 tấn còn hàng nhập chỉ có 9.751 tấn…[10,8]
Công cuộc khai thác thuộc địa của thực dân Pháp đã đẩy hàng vạn dân cày n-ớc ta lâm vào tình cảnh bần cùng, kiệt quệ Tại Vinh, với việc xây dựng các nhà máy, công sở, trại lính…ng-ời Pháp và chủ t- bản ngoại kiều đã c-ớp đi hàng ngàn hec – ta đát ruộng của nhân dân các làng Yên Dũng hạ, Yên Dũng th-ợng và các vùng phụ cận Đội quân bần cùng vì s-u cao thuế nặng, thất nghiệp vì không có ruộng cày, ngày càng trở nên đông đảo trên các đ-ờng phố,các vùng nông thôn Đó là nguồn nhân công dồi dào để các chủ nhà mayd, hầm lò, xí nghiệp, nhà ga, bến cảng…tha hồ thuê m-ớn với giá rẻ mạt Tại cảng Bến Thuỷ, phu khuân vác chủ yếu là nhân dân của các làng Yên Dũng hạ, Yên Dũng th-ợng, bên cạnh những nổi khổ chung nh- mọi kiếp ng-ời lao động làm thuê, họ còn chịu nhiều nổi khổ khác nh- điều kiện làm việc tồi tệ, nguy hiểm, đồng l-ơng thấp kém, roi vọt…Ngay từ khi cảng Bến Thuỷ đi vào hoạt động đã xẩy ra nhiều cuộc đụng độ giữa phu cảng với chủ tàu, cai, ký Lịch sử của phong trào công nhân Vinh – Bến Thủy đã ghi nhận nhiều cuộc đấu tranh của công nhân bốc vác ở Bến Thủy khiến kẻ thù không thể xem th-ờng một lực l-ợng mà chúng vẫn cho là lao động tự do, thiếu tổ chức
Năm 1901, phu cảng đã liên kết với những ng-ời làm công trong th-ơng điếm của Giăng – duy – puy, phá hỏng một chiếc tàu hậu cần của thực dân Pháp đang đậu ở cảng Bến Thuỷ
Năm 1904, phu cảng Bến Thuỷ đã cùng nông dân hai làng Yên Dũng hạ và Yên Dũng th-ợng biểu tình buộc t- bản Pháp phải bồi th-ờng tiền 10ha đất mà chúng chiếm để xây dựng nhà máy xe lửa Tr-ờng Thi Chính sự lớn mạnh của phong trào công nhân đã tạo tiền đề dẫn tới sự ra đời của các tổ chức cộng sản ở ba kỳ Bắc – Trung – Nam, tạo nền móng cho sự ra đời của Đảng mở ra triển vọng t-ơi sáng cho phong trào công nhân nói riêng và phong trào cách mạng Việt Nam nói chung
Tháng 4 năm 1930, các chi bộ cộng sản ở Vinh – Bến Thuỷ lần l-ợt đ-ợc thành lập, trong đó có chi bộ khuân vác ở cảng Bến Thuỷ D-ới sự lãnh đạo của chi bộ
Trang 20Đảng, phong trào công nhân cảng Bến Thuỷ đã diễn ra hết sức sôi nổi và dần dần hoà nhập đ-ợc với phong trào cách mạng ở Vinh – Bến Thuỷ, góp phần nên cao trào 1930 – 1931 mà đỉnh cao là Xô viết Nghệ Tĩnh
Năm 1939, chiến tranh thế giới thứ hai bùng nổ Tháng 4 năm 1940, phát xít Nhật đổ bộ vào Đông D-ơng, chúng đã cho lập x-ởng c-a ATAK ở Bến Thuỷ, x-ởng
đóng tàu ở Cửa Hội và tăng c-ờng các chuyến tàu vào cảng Bến Thuỷ để chở thóc gạo,
đậu, quặng sắt và nhiều hàng hóa vơ vét đ-ợc ở Việt Nam và Đông D-ơng về n-ớc Giai cấp công nhân, nông dân và nhân dân lao động Nghệ An bấy lâu cùng cực bởi áp bức, đày đọa của thực dân Pháp giờ lại thêm điêu đứng bởi những tội ác tàn bạo của phát xít Nhật Căm thù bọn thực dân, đế quốc tàn bạo, phong trào kháng Nhật cứu n-ớc diễn ra rầm rộ trong tỉnh Phu cảng Bến Thuỷ đã bãi công không chịu bốc hàng xuống các tàu của Nhật; ngày 15 tháng 8 năm 1945, khi đ-ợc tin Nhật Hoàng đầu hàng đồng minh không điều kiện, phu cảng và nhiều ng-ời làm công tại cảng Bến Thủy đã nhất tề bỏ việc, mọi hoạt động ở cảng Bến Thủy hầu nh- bị tê liệt; ngày 17 tháng 8 năm 1945 phu cảng Bến Thuỷ đã nổi dậy c-ớp chính quyền cùng nhân dân Yên Dũng, Đệ Thập; ngày 21 tháng 8 năm 1945 họ sát cánh cùng công nhân, nông dân Vinh – Bến Thuỷ…Nổi dậy chiếm tỉnh đường Nghệ An, xoá bỏ chính quyền phong kiến tay sai, đ-a cuộc khởi nghĩa tháng Tám 1945 đến toàn thắng
Tuy nhiên, tội ác của thực dân Pháp lại thực thi lần nữa trên đất n-ớc ta, cả dân tộc lại vùng lên chiến đấu bảo vệ độc lập Thực hiện lời kêu gọi: “Tiêu thổ để kháng chiến”, quân dân Nghệ An nói chung, cảng Bến Thuỷ nói riêng đã tự nguyện
dỡ bỏ nhà cửa, tàu thuyền, cầu cống…Phục vụ sự nghiệp kháng chiến kiến quốc Sự
đóng góp lớn lao của công nhân cảng Bến Thuỷ đã góp phần đ-a cuộc kháng chiến chống Pháp đến thắng lợi rực rỡ
Sau ngày hoà bình lập lại, Đảng bộ và nhân dân Nghệ An đã phải đối mặt với những thử thách nặng nề của thiên tai Trận lũ khủng khiếp năm 1945 đã làm vỡ nhiều khúc đê 42 Nhiều làng xã dọc đôi bờ sông Lam chìm ngập trong n-ớc lũ
Trang 21Tại Thị xã Vinh, trên nhiều tuyến đ-ờng phố, thuyền bè có thể chèo chống,
đi lại nh- trên sông, trên hồ Mùa màng thất bát, tài sản của nhân dân bị h- hại nặng
nề Nhiều địa ph-ơng lâm vào nạ đói trầm trọng Tr-ớc khó khăn đó, chúng ta nhận
đ-ợc sự giúp đỡ của Liên Xô, Trung Quốc và các n-ớc Xã hội chủ nghĩa Hàng ngàn tấn hàng chủ yếu là thuốc chữa bệnh và gạo đ-ợc tàu thuỷ chở vào Nghệ An để cứu trợ cho vùng bị nạn [21,21]
Lúc bấy giờ cảng Bến Thuỷ ch-a đ-ợc khôi phục nên tàu phải neo đậu tại Hòn Ng-
Tr-ớc yêu cầu của hai nhiệm vụ vận chuyển hàng từ Ng- vào đất liền và đón tiếp cán bộ, chiến sỹ miền Nam tập kết ra Bắc, Trung -ơng đã cho thành lập ban tiếp vận B ở một số tỉnh trong đó có Nghệ An Sau một thời gian triển khai thực hiện nhiệm vụ, các đội viên của đội tiếp vận B góp phần giúp Nghệ An v-ợt qua hiểm hoạ của nạn đói và dịch bệnh
Tr-ớc yêu cầu cấp thiết: Nhiệm vụ xây dựng miền Bắc, phục vụ công cuộc
đấu tranh giải phóng miền Nam thống nhất đất n-ớc, đầu năm 1955 Bộ giao thông – Công chính n-ớc ta cho sở liên khu IV tiến hành khôi phục cảng Bến Thuỷ – Là một trong ba cảng biển của n-ớc Việt Nam dân chủ cộng hoà (Sau cảng Hải Phòng, cảng Hòn Gai – Cẩm Phả) Tiền thân của cảng Bến Thuỷ là tổ chức tiếp vận B tại Cửa Hội làm nhiệm vụ tập kết hai miền và tiếp nhận hàng viện trợ của các n-ớc Xã hội chủ nghĩa giúp đỡ Việt Nam nhằm phục vụ cho sự nghiệp giải phóng dân tộc
Sau hơn một năm, công cuộc tái thiết cảng Bến Thuỷ với bao khó khăn, thử thách đã đạt đ-ợc kết quả đáng kể Một cầu tàu bằng gỗ lim dài 150met, rộng 10met với cầu dẫn vào bờ, bốn nhà kho xây gạch, lợp ngói, mỗi kho rộng 400m2, có thể chứa
đ-ợc 800 tấn hàng đã đ-ợc xây xong Một bải chứa than, một âu chứa gỗ và các nhà làm việc, nhà ăn, nhà ở tập thể của cán bộ, công nhân viên cũng đ-ợc hoàn thành
Trong hoàn cảnh đất n-ớc vừa giành đ-ợc độc lập, lại phải trải qua chín năm kháng chiến ác liệt, để tạo lập đ-ợc bấy nhiêu công trình trong thời gian một năm là cả một kì tích lớn của những cán bộ và công nhân trên công tr-ờng cảng Bến Thủy.Đó
Trang 22là thành quả của tinh thần lao động, sáng tạo, của quyết tâm xây dựng miền Bắc và
đấu tranh thống nhất n-ớc nhà của quân và dân ta
Trên cơ sở thắng lợi của công cuộc cải tiến cảng Bến Thuỷ, ngày 13 tháng 10 năm 1955, Bộ giao thông công chính nước ta ra quyết định số 141: “ Tạm lập cơ quan quản lý cảng Bến Thuỷ” để tiếp tục điều hành công việc khôi phục cảng Bến Thuỷ và từng b-ớc đ-a cảng vào khai thác
Năm 1954, cảng Hải Phòng, cảng Hòn Gai – Cẩm Phả chỉ làm nhiệm vụ tiếp quản và đi vào khai thác thì cảng Bến Thuỷ phải xây dựng lại từ đầu Vì thế quyết
định số 141 không chỉ có ý nghĩa hồi sinh cảng Bến Thuỷ mà còn mở ra một thời kỳ phát triển và tr-ởng thành của cảng d-ới chế độ mới Bởi lẽ đó, ngày 13 tháng 10 năm
1955 đ-ợc coi là ngày truyền thống, ngày mở đầu cho một chặng đ-ờng 50 năm hoạt
động và tr-ởng thành của cảng Bến Thuỷ tr-ớc đây và cảng Nghệ Tĩnh ngày nay
Mặc dù đang trong thời kỳ xây dựng nh-ng năm 1956, l-ợng hàng thông qua cảng đạt 57.000 tấn, năm 1957 là 85.000 tấn, đón chiếc tàu lai do Liên Xô chế tạo Từ Bến Thuỷ, hàng xuất đi các địa ph-ơng trong và ngoài n-ớc, tỷ lệ hàng xuất đã chiếm tới 48% sản l-ợng hàng thông qua cảng mỗi năm [24,26] Điều đó chứng tỏ tốc độ phục hồi kinh tế khá nhanh của Nghệ An, Hà Tĩnh và các tĩnh khu IV trong những năm sau hoà bình
Tin t-ởng và phấn khởi tr-ớc b-ớc tr-ởng thành mau chóng của cảng Bến Thuỷ, ngày 09 tháng 9 năm 1957 Bộ giao thông và B-u điện n-ớc ta đã ban hành Nghị
định 271 NĐ - CP chính thức quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của cảng Bến Thuỷ Nội dung của Nghị định nêu rõ: “Cảng Bến Thủy là một xí nghiệp quốc doanh trực thuộc Cục vận tải đ-ờng thủy và chịu sự lãnh đạo của ủy ban hành chính tỉnh Nghệ An về chính trị”
Năm 1958, Trung -ơng Đảng và Chính phủ triển khai nhiệm vụ chính trị quan trọng là cải tạo thành phần kinh tế t- bản t- nhân theo kinh tế Xã hội chủ nghĩa trên toàn miền Bắc Cuộc vận động này kéo dài trong ba năm (1958 - 1960), và thu đ-ợc những thắng lợi to lớn Là một xí nghiệp quốc doanh, cảng Bến Thuỷ đã góp phần tạo
Trang 23những tiền đề vật chất đảm bảo cho công cuộc cải tạo các thành phần kinh tế khác đi
đến thắng lợi Để đáp ứng yêu cầu của tình hình cách mạng ở cả hai miền Nam – Bắc, cảng cần phải nhanh chóng nâng cấp cơ sở hạ tầng, nâng cao năng lực bốc dỡ và giải phóng hàng hoá Đối với cảng Bến Thuỷ bấy giờ đó cũng là một thử thách lớn khi cảng Bến Thuỷ thiếu thốn đủ bề: Từng đồng vốn, từng cân xi măng, từng thanh thép Thế nh-ng với tinh thần lao động cần cù và sáng tạo của anh em trong phòng vật t- –
kỷ thuật, sự đóng góp to lớn của cán bộ công nhân viên cảng Bến Thuỷ thì từ một chiếc cầu cảng vốn đ-ợc làm bằng gỗ bị hàu, hà ăn mòn đến năm 1960, một chiếc cầu cảng bằng bê tông cốt thép với chiều dài 150m, rộng 10m đ-ợc xây dựng xong Từ cầu chính, có hai cầu dẫn vào đ-ờng xe Đ-ờng phía Nam dài 50met, rộng 5m và
đ-ờng phía Bắc dài 40met, rộng 5met
Năm 1961, tàu Nam Hải của Trung Quốc – Chiếc tàu n-ớc ngoài đầu tiên cập cảng kể từ khi cảng đ-ợc phục hồi và đ-a vào khai thác với sức chở trên 3000 tấn, đã chở 1200m3 gỗ Sau Nam Hải, nhiều tàu hàng của Liên Xô, Trung Quốc, Ba Lan, Tiệp Khắc… đã thường xuyên vào nhập hàng tại cảng Bến Thuỷ Năm 1964, cảng Bến Thuỷ đón hàng trăm chuyến tàu từ 1000 đến 2000 tấn vào xuất và nhập hàng Trong
đó tàu Hoà Bình, Hữu Nghị có 131 chuyến, tàu Đoàn Kết và Thống Nhất có 140 chuyến, các loại xà lan B3, B4, B6, B7, B8 có 169 chuyến Hầu nh- không ngày nào cảng Bến Thuỷ vắng bóng những con tàu xuất và nhập hàng [21,30]
Cảng Bến Thuỷ dần đ-ợc hồi sinh sau những năm tháng bị tê liệt trong kháng chiến chống Pháp Từ một cảng luồng có độ sâu 1,28m (1929) “tàu có độ sâu mớn nước 3m khó ra vào” [21,30] d-ới thời thuộc Pháp thì sau 5 năm d-ới chế độ Việt Nam dân chủ cộng hoà luồng vào cảng đã đủ độ sâu cho tàu hơn nghìn tấn ra vào dễ dàng, luồng lạch đ-ợc khai thông, cầu tàu, bến cảng đ-ợc nâng cấp, sản l-ợng hàng hoá thông qua cảng ngày càng tăng:
Năm 1958: 112.000 tấn Năm 1959: 125.000 tấn Năm 1960:145.000 tấn
Trang 24Song song với quá trình xây dựnh và khai thác cảng Bến Thuỷ, lực l-ợng
tự vệ cảng không ngừng tr-ởng thành Từ một tiểu đội (năm 1958) đến cuối năm 1963 cảng Bến Thuỷ đã có một đại đội tự vệ trên 100 chiến sĩ trẻ, khoẻ, dũng cảm do đồng chí Võ Sĩ Luận làm đội tr-ởng Lãnh đạo Đảng uỷ, Ban giám đốc, th- kí công đoàn cảng luôn luôn quan tâm tới nội dung và chất l-ợng huấn luyện, trình độ nghiệp vụ của lực l-ợng tự vệ Hàng năm, ban chỉ huy thành đội Vinh đều cử cán bộ về h-ớng dẫn các khoa mục, tổ chức cho tự vệ cảng bắn đạn thật Ngoài thời gian huấn luyện, anh chị em tự vệ là lực l-ợng chủ lực trong các đơn vị sản xuất và thực hiện các nhiệm
vụ khó khăn gian khổ
Vừa hồi sinh trong cuộc kháng chiến chống Pháp, cảng Bến Thuỷ lại cùng nhân dân cả nước đấu tranh chống lại âm mưu “chiến tranh xâm lược kiểu mới” của đế quốc Mỹ
Tr-ớc những thất bại nặng nề tại v\chiến tr-ờng miền Nam, ngày 5 tháng
8 năm 1964, Mỹ đã cho mở rộng cuộc chiến tranh ra miền Bắc Việt Nam Máy bay, tàu chiến Mỹ đã ngang nhiên ném bom, nã đạn xuống nhiều nơi thuộc các tỉnh Quảng Bình, Nghệ An, Thanh Hoá, Hải Phòng, Quảng Ninh… Mở màn cho cuộc chiến tranh phá hoại bằng không quân và hải quân tan khốc nhất trong lịch sử nhân loại kéo dài gần m-ời năm đối với miền Bắc
Do đ-ợc chuẩn bị tốt về t- t-ởng và kỹ thuật tác chiến nên ngay sau những loạt bom từ máy bay Mỹ ném xuống Vinh-Bến Thuỷ, lực l-ợng tự vệ cảng đã
có mặt ở các vị trí chiến đấu Từ trên thành Cầu Trị, đồng chí Trần Cầu – Trung đội tr-ởng trung đội một và các chiến sỹ tự vệ Nguyễn Quang Chung, Nguyễn Quang
Trang 25Thống, Phan Văn Ngô…đã gi-ơng cao súng, trút những đ-ờng đạn nóng bỏng căm thù vào máy bay Mỹ
Đúng thời diểm đánh phá của máy bay, tàu chiến Mỹ xuống Vinh - Bến Thuỷ thì trên sông Lam, tàu Hữu Nghị và xà lan do đầu kéo VTB2 d-ới sự dẫn dắt của hoa tiêu Hồ Quang Hải vẫn cập cảng an toàn
Trong lúc bom đạn còn ngút trời thành Vinh, các chiến sỹ tự vệ của cảng Bến Thuỷ đã lao về kho xăng H-ng Hoà cách bến cảng khoảng 2km cùng với các lực l-ợng của thành phố dập lửa, cứu tài sản nhà n-ớc và những ng-ời bị nạn
Với những thành tích ấy, đầu năm 1965, tự vệ cảng Bến Thuỷ đã vinh dự
đ-ợc nhà n-ớc tặng th-ởng huân ch-ơng lao động hạng Ba
Từ một cảng lớn d-ới thời thuộc Pháp, sau công cuộc tiêu thổ kháng chiến, Bến Thuỷ chỉ còn lại một cái tên trên bản đồ và một vùng sông n-ớc hoang vắng Sau những năm tháng tái thiết, Bến Thuỷ đã dứng vị trí thứ hai trong số các cảng hiện có của miền Bắc Đó là kết quả của sự nỗ lực lớn lao của tập thể cán bộ công nhân viên cảng Bến Thuỷ Sự quan tâm giúp đỡ nhiệt tình của Bộ giao thông - B-u
điện, cục đ-ờng thuỷ, Tỉnh uỷ, Đảng bộ, nhân dân thành phố Vinh để cảng Bến Thuỷ hồi sinh và phát triển lớn mạnh
Trang 26đạn của giặc Mỹ
2.1.Cuộc chiến tranh phá hoại bùng nổ, cảng Bến Thuỷ chuyển mọi hoạt
động vào thời chiến
Đế quốc Mỹ xâm l-ợc miền Nam Việt Nam với ý đồ lấy miền Nam làm căn cứ tấn công miền Bắc Giữa năm 1965, bị thất bại trong “chiến tranh đặc biệt”, chúng càng bộc lộ rõ âm m-u chuẩn bị tấn công miền Bắc Xã hội chủ nghĩa Đó là việc chúng chuyển sang một chiến l-ợc chiến tranh mới – “chiến tranh cục bộ”, đem quân Mỹ và ch- hầu ồ ạt vào miền Nam để tăng c-ờng và đẩy mạnh chiến tranh đồng thời dùng không quân và hải quân tấn công ra miền Bắc n-ớc ta
Trung -ơng Đảng nhận định rằng đế quốc Mỹ có thể mở rộng chiến tranh
ra miền Bắc và chủ tr-ơng lãnh đạo toàn dân chuẩn bị lực l-ợng, sẵn sàng đánh trả mọi hành động phiêu l-u quân sự mới của chúng
Đúng nh- dự đoán của Trung -ơng, ngày 05 tháng 8 năm 1964, đế quốc
Mỹ gây chiến tranh phá hoại miền Bắc bằng không quân và hải quân Đảng ta đã khẳng định rằng cuộc chiến tranh này là sản phẩm của sự thất bại trên chiến tr-ờng miền Nam, ngay từ đầu đã mang tính chất bị động và thất bại về chiến l-ợc Để đánh bại cuộc chiến tranh tàn bạo này, Đảng ta đã đề ra ph-ơng châm chiến l-ợc đúng đắn
và sáng tạo là lãnh đạo nhân dân miền Bắc tiến hành một cuộc chiến tranh nhân dân
Trang 27rộng lớn và kỳ diệu: “Toàn dân đánh máy bay, toàn dân làm công tác phòng tránh, toàn dân làm công tác giao thông vận tải”[14,141] Đồng thời Đảng đã kịp thời đề ra chủ tr-ơng chuyển h-ớng về t- t-ởng, tổ chức, chuyển h-ớng xây dựng kinh tế, tăng c-ờng quốc phòng và lực l-ợng giao thông vận tải cho phù hợp với tình hình thời chiến
Thực hiện nghị quyết số 81 của Trung -ơng Đảng và chỉ thị số 08 của Tỉnh uỷ Nghệ An, từ sau ngày 05 tháng 8 năm 1964, mọi hoạt động của cảng Bến Thuỷ từng b-ớc chuyển dần sang thời chiến
Văn phòng cảng đ-ợc sơ tán vào xã H-ng Thuỷ, cách bến cảng khoảng
300 - 400met Địa điểm sơ tán là nơi có nhiều cây xanh che phủ, vừa an toàn, vừa tiện lợi cho việc chỉ đạo sản xuất Riêng lực l-ợng lao động trực tiếp bao gồm: công nhân bốc xếp, đội xe, thuỷ đội, đội công trình…vẫn bám sát bến cảng, cầu tàu để thực hiện nhiệm vụ tiếp nhận, bốc dỡ và chuyển tải hàng hoá Với những cơ sở sản xuất, kinh doanh khác, chiến tranh xảy ra thì sơ tán đến những địa diểm bí mật, an toàn để tiếp tục hoạt động, nh-ng với cảng Bến Thuỷ dù chiến sự ác liệt đến đâu, thì hiện tr-ờng sản xuất vẫn là mặt biển, dòng sông, bến cảng Đó là những mục tiêu “lộ thiên” th-ờng xuyên phải đối mặt với bom đạn từ máy bay và tàu chiến Mỹ Tất cả mọi phương án phòng, tránh, đánh địch, duy trì sản xuất…đều phải xây dựng trên cơ sở
đặc điểm ấy
Để đảm bảo an toàn cho công nhân, lãnh đạo cảng đã cho đào đắp hàng nghàn mét hào giao thông nối bến cảng với các thôn xóm của xã H-ng Thuỷ Đồng thời xây một số hầm bê tông kiên cố dọc bến cảng để cất dấu thiết bị sản xuất và làm chỗ trú ẩn cho công nhân khi bị máy bay địch oanh tạc, ở trên một địa bàn đất cát, hầm hào vừa đào xong đã bị sụt lở, vậy là phải đào đi đào lại nhiều lần Lực l-ợng tự
vệ cảng đã đóng góp hàng ngàn ngày công và biết bao mồ hôi, sức lực cho việc đào hào, đắp luỹ trong những ngày đầu chiến tranh và hàng trăm lần khác trên nhiều địa bàn trong suốt những năm chống chiến tranh phá hoại của đế quốc Mỹ
Trang 28Từ thời bình chuyển sang thời chiến một yêu cầu cấp bách đặt ra là phải nhanh chóng tổ chức chỉ huy và xây dựng lực l-ợng phù hợp với tình hình mới để chủ
động đánh địch và đánh thắng địch ngay từ giờ phút đầu Chình vì nhận rõ đ-ợc tầm quan trọng đó, lực l-ợng chủ lực đảm bảo giao thông cơ bản đ-ợc hình thành
Lực l-ợng này b-ớc đầu đã tỏ rõ quyết tâm sắt đá và sức mạnh của mình tr-ớc bom đạn của quân thù Trận chiến đấu ngày 22 tháng 4 năm 1965 của đơn vị công binh cảng Bến Thuỷ đã chứng minh diều đó một cách sinh động Trong khi phà chở xe sang bờ Nam bị máy bay địch đánh hỏng, năm xe trên phà bốc cháy, thuỷ thủ Trần Văn Tam hy sinh, thợ máy Nguyễn Văn Nghê bị th-ơng nặng, bốn thuỷ thủ khác bị hất tung ra khỏi phà nh-ng các thuỷ thủ lại bám lấy phà cùng đơn vị dập tắt ánh lửa, nhanh chóng thay thế phà khác tiếp tục đ-a xe sang sông Đơn vị lại tiếp tục lập công mới: Ngày 28 tháng 6 năm 1965, Nguyễn Trọng Tr-ờng và Nguyễn Hữu Lợi lái canô kèm phà vượt biển Với tinh thần dũng cảm, mưu trí “chẻ sóng theo trăng” cưỡi lên bom đạn đ-a phà đi hàng trăm cây số đến ứng cứu trọng diểm Hoàng Mai; Nguyễn Hữu Do cùng đồng đội lái phà với mái chèo bằng gỗ, v-ợt năm m-ơi cây số đ-ờng sông đến ứng cứu cầu Cấm Kết quả là đã khai thông đ-ợc hai trọng điểm nói trên
Nh- vậy, d-ới sự chỉ đạo của Đảng, cán bộ công nhân viên Cảng Bến Thuỷ đã nhanh chóng chuyển mọi hoạt động vào thời chiến, tích cực chuẩn bị sẵn sàng chiến đấu với đế quốc Mỹ trong cuộc chiến tranh phá hoại
2.2.Cảng Bến Thuỷ chiến đấu chống chiến tranh phá hoại lần thứ nhất của đế quốc Mỹ (1965-1968)
2.2.1.Cảng Bến Thuỷ tiếp nhận, bốc dỡ và chuyển tải hàng hoá
Tr-ớc những thất bại nặng nề tại chiến tr-ờng miền Nam, ngày 05 tháng
8 năm 1964, Mỹ đã cho mở rộng cuộc chiến tranh ra miền Bắc Việt Nam Máy bay, tàu chiến Mỹ đã ngang nhiên ném bom, nã đạn xuống nhiều nơi thuộc các tỉnh Quảng Bình, Nghệ An, Thanh Hóa, Hải Phòng, Quảng Ninh…mở màn cho cuộc chiến tranh phá hoại bằng không quân và hải quân đối với miền Bắc
Trang 29Nằm ở vị trí được đối phương ví là hình “cán xoong” nối liền hậu phương với tiền tuyến, khu IV và Nghệ An đã trở thành nơi địch đánh phá ác liệt nhất để cắt
đứt giao thông vận tải của ta Do vậy, việc đảm bảo giao thông vận tải trên địa bàn tỉnh Nghệ An, nhất là đoạn phà Bến Thuỷ v-ợt sông Lam, trở thành điểm tranh chấp quyết liệt giữa ta và địch, địch đã biến nơi đây thành “chảo lửa” với một khối lượng bom đạn khổng lồ
Ngày 4 tháng 6 năm 1965, máy bay Mỹ tiếp tục bắn phá cảng và khu vực Bến Thuỷ Và lần này bom Mỹ đã rơi trúng hầm đặt điện đài của cảng Anh Nguyễn Công
Bộ, điện báo viên đã hy sinh ngay trong khi làm nhiệm vụ liên lạc Và cũng bắt đầu từ
đây, văn phòng cảng Bến Thuỷ phải trải qua nhiều lần di chuyển địa điểm đầy khó khăn gian khổ Từ H-ng Thuỷ lên xã Nghi Phú Từ Nghi Phú qua H-ng Đông, từ H-ng Đông lại v-ợt qua sông Lam về đóng quân tại hợp tác xã nông nghiệp Hồng Phú (thuộc xã Xuân Hồng huyện Nghi Xuân tỉnh Hà Tĩnh) và sau đó lại chuyển xuống Nghi Hải, Cửa Hội, Nghi Thu…mỗi lần chuyển dời trụ sở, dù chỉ cách nhau ba, bốn cây số nh-ng đều phải đi vào ban đêm Bấy giờ, ph-ơng tiện cơ giới thiếu, nên số xe tải của cảng chỉ dành để chở các tài sản lớn của cơ quan Các vật dụng nhẹ và đồ dùng cá nhân, cán bộ công nhân viên cảng phải tự mình di chuyển bằng các ph-ơng tiện tự tạo Khó khăn, gian khổ, hiểm nguy không sao kể hết Nhiều chị em nữ công nhân chồng đi bộ đội, một mình nuôi con nhỏ, cứ mỗi lần di chuyển nơi làm việc là mỗi lần
họ phải đối mặt với bao khó khăn vất vả nh-ng trong suốt những tháng năm gian khổ của công cuộc đánh Mỹ, không một nữ công nhân viên nào ở cảng rời bỏ đội ngũ, thoái thác nhiệm vụ
Cuộc chiến tranh phá hoại của không quân và hải quân Mỹ ngày càng trở nên
ác liệt Năm 1966, l-ợng bom đạn địch đổ xuống Nghệ An gấp bốn lần năm 1965 Thành phố Vinh bị tàn phá nặng nề Khu vực Bến Thuỷ, nơi có cảng, có xí nghiệp phao phà, có nhà máy điện, có bộ đội cao xạ…đã bị máy bay, tàu chiến Mỹ đánh phá, chà đi xát lại đến hàng trăm lần Địa bàn tiếp nhận, bốc dỡ hàng hoá của cảng không
Trang 30thể tập trung tại Bến Thuỷ mà phân tán ra nhiều nơi từ bờ Bắc sông Lam sang bờ Nam; từ Chợ Củi (Xuân Lam) xuống Xuân Tiên, Xuân Hội và nhiều địa điểm khác
Để thích ứng với tình hình thời chiến, các đơn vị sản xuất của cảng đã đ-ợc bố trí lại theo mô hình quân sự hoá Lực l-ợng bốc xếp đ-ợc chia thành 2C (C: T-ơng đ-ơng với một đại đội) Buổi đầu, C1 do đồng chí Trần Bạch Mai làm xê tr-ởng, đồng chí Cao Đức Nùng làm xê phó Xê này chốt giữ ở bờ Bắc sông Lam, địa bàn trọng yếu và
ác liệt nhất trong những năm 1965 đến 1968 C2 do đồng chí Đề làm xê tr-ởng đồng chí Th-ờng làm xê phó, đóng quân ở xã H-ng Châu, địa bàn hoạt động từ Chợ Củi xuống Xuân Tiên, Xuân Hội Mỗi Xê đ-ợc biên chế thành ba "Bê"(Bê t-ơng đ-ơng trung đội) Để thực hiện công việc chuyển tải hàng hoá từ bến bãi đi các nơi, cảng đã cho thành lập đơn vị thuỷ đội… buổi đầu đội có 17 tàu, thuyền vận tải với gần 100 chiến sỹ do đồng chí Hồ Quang Hải làm đội tr-ởng, đồng chí Cao Tất Luận làm đội phó
Đội công trình do đồng chí Nguyễn Khắc Thảo làm đội tr-ởng cũng đ-ợc cơ cấu nh- một đại đội công binh Trong những năm chiến tranh, đội là lực l-ợng chủ công trong việc xây dựng các cầu cảng dã chiến, hầm trú ẩn, ụ giấu tàu và nhiều công trình phục vụ nhiệm vụ vhiến đấu của cảng
Nhiều đêm pháo sáng đèn dù thả rực trời nh-ng tàu thuyền và lực l-ợng bốc xếp, vận tải của cảng vẫn không ngừng công việc xếp dỡ và chuyển tải hàng hoá Nhiều lần, do yêu cầu cấp thiết, cảng đã huy động công nhân bốc dỡ và vận chuyển hàng từ tàu thuỷ lên bờ ngay trong những giờ đánh phá cao điểm của máy bay Mỹ Việc giải phóng tàu hàng quân sự Việt - Xô vào tr-a ngày 23 tháng 6 năm 1966 là một minh chứng về tinh thần quả cảm, năng động và sáng tạo của lãnh đạo và công nhân cảng Bến Thuỷ trong những năm khang chiến chống Mỹ cứu n-ớc
Có nhiều sáng kiến khác nh- dùng cầu ao thay cầu cảng cho thuyền nhỏ cập bến, đóng máng tuôn hàng từ ô tô xuống thuyền, dùng con lăn vận chuyển tôn tấm…
đã giúp cảng khắc phục khó khăn, đ-a lại hiệu quả kinh tế, phục vụ kịp thời nhiệm vụ tiếp nhận, bốc dỡ và chuyển tải hàng hoá trong mọi hoàn cảnh Từ trong phong trào
Trang 31"thi đua đánh thắng giặc Mỹ xâm l-ợc" đã xuất hiện nhiều điển hình tiên tiến nh- tập thể công nhân bốc xếp B1,B2,B3,B5,B6…các đơn vị này đã trụ vững đôi bờ Bắc Nam sông Lam, đ-a năng suất bốc dỡ hàng hoá từ 1.200kg lên 1.500kg/ng-ời/ca [21,40]
Tr-ớc những thất bại nặng nề trên cả hai miền Nam-Bắc Việt Nam, giặc Mỹ
đã leo thang đẩy mạnh cuộc chiến tranh phá hoại miền Bắc lên mức độ ác liệt ch-a từng thấy Theo các số liệu lịch sử để lại cho thấy trong hai năm 1966 và 1967, máy bay và tàu chiến Mỹ đã đánh 5.519 trận với 17.038 quả bom các loại xuống các trọng
điểm giao thông ở Nghệ An, trong đó hơn 60% bom đạn đổ xuống khu vực Bến Thuỷ
đến Cửa Hội [25] Ngoài bom phá, bom sát th-ơng, đại bác, rốc két…giặc Mỹ đã sử dụng rộng rãi thuỷ lôi, bom từ tr-ờng trên tất cả các tuyến giao thông thuỷ, bộ nhằm ngăn chặn sự chi viện của các n-ớc Xã hội chủ nghĩa đối với miền Bắc và sự chi viện
từ miền Bắc vào miền Nam
Không để cảng biển bị tê liệt, không để mạch máu giao thông đ-ờng thuỷ bị tắc nghẽn, quyết tâm của Đảng bộ và công nhân cảng Bến Thuỷ là "đánh địch mà đi,
mở đ-ờng mà tiến, đảm bảo cho tàu, thuyền cập bến trong mọi tình huống" Thực hiện quyết tâm đó trạm đảm bảo hàng hải số 5 và đội rà phá thuỷ lôi đ-ợc thành lập Đây là lực l-ợng: "đầu đội pháo sáng, chân đạp từ tr-ờng" [24,45] Đã có nhiều Đảng viên,
đoàn viên thanh niên lao động cảng Bến Thuỷ đã tự nguyện viết đơn xung phong xin gia nhập đội rà phá thuỷ lôi Đồng chí Võ Xích tự chích máu của mình viết đơn xin gia nhập đội để tỏ rõ quyết tâm sẵn sàng hi sinh để đảm bảo cho mạch máu giao thông thông suốt là minh chứng hùng hồn cho tinh thần đó Từ khi thành lập đến khi chấm dứt cuộc chiến tranh phá hoại của giặc Mỹ, đội đã tham gia 273 trận rà phá thuỷ lôi, kích nổ đ-ợc 1.040 quả, khai thông luồng Ng- - Cửa Hội, Cửa Hội - Bến Thuỷ và một
số vùng bến bãi khác như:Chợ Củi, Cầu Đước, Trung Lương, Linh Cảm…ngoài ra còn tham gia rà phá thuỷ lôi ở vùng phà Bến Thuỷ, kênh nhà Lê Thời kì đầu, việc rà phá thuỷ lôi đ-ợc thực hiện bằng ph-ơng pháp thủ công Về sau, các đội viên trạm 5 đã có sáng kiến dùng một dây thừng dài, trên đó treo nhiều viên nam châm thả dòng sát đáy sông, hai ng-ời nắm hai đầu dây kéo dần đi, đã kích nổ đ-ợc nhiều quả thuỷ lôi nằm
Trang 32sâu d-ới dòng sông mà không gây sát th-ơng cho ng-ời Tuy nhiên dù bằng ph-ơng pháp nào thì đây cũng là công việc đầy vất vả, gian khổ và không ít th-ơng vong với
sự hi sinh của các đồng chí: Nguyễn Tài Vân, Nguyễn Công Phu, Nguyễn Quốc Hợi, Nguyễn Đức Cẩn, Lê Minh Cận…đã nói lên tính phức tạp nguy hiểm của công việc rà phá thuỷ lôi Nh-ng bằng tinh thần dũng cảm, chiến đấu ngoan c-ờng của các chiến sĩ trên mặt trận này làm nên những chiến công oanh liệt trong cuộc chiến đấu với tử thần vì sự sống của những con tàu, bến cảng; tấm huân ch-ơng chiến công hạng Ba mà Nhà n-ớc trao tặng cho tập thể cán bộ, nhân viên trạm 5 đã khẳng định điều đó
Bằng tinh thần lao động quên mình của tập thể cán bộ, công nhân viên, cảng Bến Thuỷ đã đứng vững tr-ớc những thử thách nghiệt ngã của chiến tranh, hoàn thành thắng lợi nhiệm vụ đ-ợc giao, góp phần phục vụ nhu cầu sản xuất và chiến đấu của quân và dân hai miền Nam - Bắc
Năm 1965, cảng đã thực hiện đ-ợc 78.000 tấn, đạt 90% kế hoạch Năm 1966, máy bay, tàu chiến Mỹ tập trung đánh phá cảng, nh-ng l-ợng hàng thông qua cảng Bến Thuỷ và các bến bãi sơ tán vẫn đạt 31.390 tấn Năm 1967 là 57.632 tấn và năm
1968 là 49.405 tấn [24,53]
Trong những năm từ 1965 - 1968, hàng thông qua cảng Bến Thuỷ chủ yếu là hàng nhập, với các mặt hàng chiến lược như lương thực, thực phẩm, than đá…về l-ơng thực, năm 1966 nhập 20.000 tấn, năm 1967 nhập 53.000 tấn và năm 1968 là 34.690 tấn [24,55]
Sản l-ợng hàng hoá thông qua cảng Bến Thuỷ trong những năm 1965- 1968 thấp hơn so với thời bình và càng ít ỏi hơn so với những năm sau cuộc chiến tranh phá hoại của giặc Mỹ Nh-ng trong điều kiện "bom đầy trời, đạn đầy bãi" để trụ đ-ợc nơi
"đầu sóng ngọn gió", để đ-a đ-ợc những cân hàng vào đất liền an toàn là một chiến công, có lúc phải đánh đổi bằng x-ơng máu và tính mạng của chính mình Những cân gạo đến đ-ợc với nhân dân Nghệ An, với anh em bộ đội ở các mặt trận là những hạt gạo nghĩa tình bởi nó đã thấm máu của bao ng-ời trong đó có máu của nhiều anh chị
em công nhân cảng Bến Thuỷ Hai tấm huân ch-ơng lao động hạng Ba của chủ tịch
Trang 33n-ớc trao tặng cho đội bốc xếp C2 và tổ bốc xếp số 5 trong năm 1967 là sự ghi nhận những đóng góp hy sinh của cán bộ công nhân viên cảng Bến Thuỷ trong những năm
đầu chiến tranh phá hoại của đế quốc Mỹ
Song song với việc tổ chức lại sản xuất, lực l-ợng tự vệ cảng Bến Thuỷ cũng không ngừng đ-ợc tăng c-ờng, củng cố và đã thực sự đóng vai trò nòng cốt trong mọi hoạt động sản xuất, chiến đấu và phục vụ chiến đấu Từ một đại đội tr-ớc ngày Mỹ
mở rộng cuộc chiến tranh ra miền Bắc đến cuối năm 1965, lực l-ợng tự vệ của cảng Bến Thuỷ đã phát triển thành một tiểu đoàn Quân số buổi đầu tiên của tiểu đoàn tự vệ cảng có 412 chiến sỹ, đ-ợc trang bị 62 khẩu súng tr-ờng, 9 khẩu đại liên và 12 li 7 Toàn tiểu đoàn đ-ợc biên chế thành 9 trung đội theo từng đơn vị sản xuất Mỗi trung
đội lại chia thành 3 tiểu đội: Cứu tải th-ơng, đào bới nạn nhân sập hầm hào và th-ờng trực chiến đấu với cách bố trí lực l-ợng lấy vị trí sản xuất làm cơ sở đã đáp ứng đ-ợc cả hai nhiệm vụ sản xuất và chiến đấu Chỉ bằng những cây súng bộ binh, tự vệ cảng Bến Thuỷ đã tham gia 222 trận đánh nhau với máy bay, tàu chiến Mỹ
Cảng Bến Thuỷ là vị trí vô cùng quan trọng, là nơi địch ngày đêm điên cuồng bắn phá để chặt đứt mạch máu giao thông nơi đây
Tháng 8 năm 1966, một đơn vị tên lửa trên đ-ờng hành quân qua cảng Bến Thuỷ không may bệ phóng và ba xe xích bị lật chìm xuống sông Lam Sông sâu, n-ớc xiết, thiết bị nặng hàng trăm tấn, ph-ơng tiện trục vớt không có, cán bộ chiến sỹ đoàn tên lửa t-ởng phải bỏ mất khí tài Tr-ớc yêu cầu của quân đội với tất cả tinh thần vì tiền tuyến, cán bộ công nhân viên cảng Bến Thuỷ mà trực tiếp là đơn vị bốc vác C1 đã không ngại gian khổ, hiểm nguy, quyết tâm cứu bằng đ-ợc vũ khí, khí tài quân sự để phục vụ chiến tr-ờng Sau m-ời đêm vật lộn với sông sâu, n-ớc xiết, d-ới tầm bom
đạn của máy bay và tàu chiến Mỹ, anh em công nhân cảng cùng đơn vị bộ đội tên lửa
đã đ-a đ-ợc các thiết bị quân sự lên bờ Để hoàn thành đ-ợc nhiệm vụ nặng nề, khó khăn ấy cán bộ công nhân cảng Bến Thuỷ đã có sáng kiến dùng xà lan làm phao nâng, cho thợ lặn xuống tháo rời bệ phóng tên lửa khỏi xe xích, tiếp đó dùng tời của pháo cao xạ nâng và kéo dần từng thiết bị vào sát bến phà, từ đó dùng xe xích kéo từng khí
Trang 34tài vào bờ Chiến công hiển hách này thể hiện trí thông minh, lòng dũng cảm của cán
bộ công nhân viên cảng Bến Thuỷ trong đó nổi bật là các đồng chí Lê Trung L-ơng, Nguyễn Mạnh T-ờng và Cao Đức Nùng
Ngoài chiến công ấy, công nhân viên cảng Bến Thuỷ đã rất nhiều lần tham gia ứng cứu giao thông, cứu đồng chí, đồng bào bị nạn Đó là lần anh em trong đội vận tải thuỷ đã cứu 12 đồng chí bộ đội bị thuỷ lôi trên sông La, đó là lần cứu 42 đồng bào bị nạn trong trận máy bay oanh tạc vào 2 xã Xuân Giang, Xuân Phổ
Trong hai ngày mồng 5 tháng 8 và ngay 18 tháng 8 năm 1967, giặc Mỹ đã hàng chục lần cho máy bay ném bom xuống xã H-ng Thuỷ và trận địa pháo cao xạ gần bến cảng Anh chị em công nhận đội bốc xếp C1 và đội tự vệ cảng Bến Thuỷ đã dũng cảm băng mình d-ới làn bom đạn, tham gia tiếp đạn, tải th-ơng, chôn cất liệt sỹ
và cứu chữa hàng chục nhà dân bị cháy
Vào những phút cuối cùng của ngày lễ Nôen năm 1967, ca nô của đội vận tải thuỷ ch-a kịp về nơi sơ tán thì bị máy bay Mỹ đến thả bom Bảy thuỷ thủ cùng ca nô
bị chìm xuống sông Lam, tr-ớc tổn thất lớn lao ấy, lãnh đạo cảng đã huy động những thợ lặn giỏi vào công việc tìm kiếm các liệt sỹ Nh-ng d-ới độ sâu 6 - 7 mét, n-ớc lạnh buốt, các thợ lặn không còn đủ can đảm để tiếp xúc với xác của các nạn nhân Xúc động tr-ớc sự hy sinh quên mình của anh em đồng đội, cám cảnh tr-ớc nỗi đau của ng-ời vợ mất chồng, ng-ời con mất cha, đội tr-ởng đội bốc xếp Trần Bạch Mai đã dũng cảm xung phong lặn xuống dòng sông sâu, đ-a đ-ợc năm trong số bảy liệt sỹ vào bờ, mệt đến đứt hơi, nhiều lúc n-ớc lẫn máu của ng-ời chết xộc vào mồm, vào bụng nh-ng anh đã hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ vẻ vang và sâu đậm tình đồng chí
đồng đội Sau đó, xác anh Xay, anh T-ơng cũng lần l-ợt đ-ợc vớt lên riêng anh T-ơng, mãi chín ngày sau mới tìm thấy Không quản ngại khó khăn vất vả, tr-ởng phòng tổ chức lao động tiền l-ơng Trần Văn Thanh đã trực tiếp cùng anh em trong xí nghiệp khâm l-ợm và chôn cất những ng-ời đồng chí của mình.[21,46,47]
Giặc Mỹ càng leo thang bắn phá miền Bắc, chúng càng vấp phải sức chống trả ngoan c-ờng của quân và dân ta Tính đến cuối tháng 10 năm 1968, quân và dân
Trang 35miền Bắc đã bắn rơi 3.243 máy bay, bắn chìm và bị th-ơng 143 tàu chiến và tàu biệt kích Mỹ
Trong chiến công chung đó của dân tộc có sự đóng góp to lớn của Đảng bộ và công nhân viên cảng Bến Thuỷ
Qua bốn năm thực hiện cuộc chiến phá hoại miền Bắc(1965-1968), chỉ riêng cảng Bến Thuỷ giặc Mỹ đã đánh 872 trận với tổng số bôm đạn , thuỷ lôi ném xuống là 4.121 quả
Trong đó:
Năm 1965: 15 trận với 35 quả bom
Năm 1966: 47 trận với 105 quả bom
Năm 1967: 87 trận với 307 quả bom phá và 125 quả thuỷ lôi
Năm 1968: 123 trận với 471 quả bom phá, bom sát th-ơng và 3.078 quả thuỷ lôi
Bom đạn ác liệt là vậy nh-ng cảng Bến Thuỷ vẫn hoàn thành mọi chỉ tiêu kế hoạch đ-ợc giao, tiếp nhận 309.253 tấn hàng hoá, góp phần phục vụ công cuộc sản xuất và chiến đấu của quân và dân miền Bắc chi viện cho cuộc kháng chiến của đồng bào miền Nam Năng suất lao động bình quân từ 451kg/giờ công tăng lên 700kg/giờ công Thời gian giải phóng các ph-ơng tiện tàu vỏ sắt từ 12 tiếng rút xuống còn 5 tiếng và có lúc chỉ còn 2 tiếng Đặc biệt trong chiến dịch vận tải V.T5, dự kiến bốc hàng từ tàu Marianthi đậu ở Hòn Ng- khoảng ba ngày đã thự hiện xong trong vòng 52 giờ
Với những chiến công trong bốn năm chống chiến tranh phá hoại lần thứ nhất, cảng Bến Thuỷ xứng đáng đ-ợc nhà n-ớc tặng th-ởng các huân ch-ơng lao
động, huân ch-ơng chiến công và các danh hiệu cao quý khác
2.2.2 Cảng Bến Thuỷ đẩy mạnh phong trào sản xuất, văn hoá - văn nghệ:
Song song với công cuộc chiến đấu, bám bến bám phà hoàn thành nhiệm
vụ tiếp nhận, bốc dỡ và chuyển tải hàng hoá thì công tác ổn định và phát triển sản
Trang 36xuất, tích cực đẩy mạnh tham gia hoạt động văn hoá văn nghệ cũng là mặt trận không kém phần quan trọng trong cuộc đấu tranh chống chiến tranh phá hoại của đế quốc
Mỹ
Ngay trong năm đầu của cuộc chiến tranh phá hoại, ban đời sống của cảng Bến Thuỷ đã mở đ-ợc một trại sản xuất l-ơng thực và chăn nuôi dê, bò ở chân núi phía Nam dãy núi Hồng Lĩnh, trong bốn năm (1965 - 1968), trại đã sản xuất đ-ợc 15.000kg nông sản thực phẩm, nuôi đ-ợc 28 con trâu, bò, góp phần cải thiện đời sống cho công nhân viên chức Thời ấy chỉ có cảng Bến Thuỷ và một vài cơ quan xí nghiệp
ở Nghệ An lập đ-ợc trại tăng gia sản xuất l-ơng thực thực phẩm có hiệu quả Điều đó chứng tỏ tinh thần sáng tạo, ý thức tựk lực tự c-ờng của cán bộ công nhân viên cảng Bến Thuỷ, trong đó có công lao rất lớn của Ban chấp hành công đoàn xí nghiệp
Từ một bếp ăn tập thể, công đoàn cảng và ban đời sống đã tổ chức thành tám bếp theo tám đơn vị tác chiến Chiến tranh ác liệt, nguồn cung ứng l-ơng thực thực phẩm thiếu ổn định nh-ng các chị em cấp d-ỡng đã tìm mọi cách đảm bạo đủ
định l-ợng cho từng bữa ăn của công nhân Nhờ đó dù làm việc vất vả, khó nhọc nh-ng anh chị em công nhân cảng không mấy ng-ời phải nghỉ vì lý do ốm đau bệnh tật Việc làm của các chị em còn để lại ấn t-ợng tốt đẹp trong nhiều cán bộ, công nhân viên đã từng lao động và chiến đấu ở cảng Bến Thuỷ trong những năm ác liệt chiến tranh chống Mỹ
Cùng với việc biên chế lực l-ợng lao động, chiến đấu theo hình thức thời chiến, lãnh đạo cảng th-ờng xuyên thay đổi việc điều hành sản xuất, thích ứng linh hoạt, phản ứng kịp thời với thủ đoạn đánh phá của máy bay, tàu chiến Mỹ "Địch ném bom bắn phá ban ngày, cảng tổ chức sản xuất vào ban đêm Địch đánh đêm cảng chuyển sang làm ngày Địch đánh cả ngày lẫn đêm cảng cũng bố trí lao động làm việc cả đêm lẫn ngày"[21,39,40] Máy bay Mỹ ném bom xuống địa bàn sản xuất, anh em công nhân ẩn về các hầm hào ẩn tránh, lực l-ợng tự vệ lao vào vị trí chiến đấu Máy bay Mỹ rút chạy mọi ng-ời lại khẩn tr-ơng về vị trí sản xuất Không chỉ một ngày, hai