Nếu đem quan điểm trên đây để xem xét tình hình quốc tế nói chung và khu vực châu á - Thái Bình D-ơng thời kỳ sau Chiến tranh lạnh nói riêng thì có thể thấy rằng, tất cả các n-ớc đều đứn
Trang 1Bộ GIáO DụC Và ĐOà TạO TR-ờng đại học vinh
Nguyễn văn tuấn
Sự điều chỉnh trong chính sách đối
Luận văn thạc sỹ khoa học lịch sử
Trang 2A mở đầU
1 Lý do chọn đề tài
“ở mỗi giai đoạn giao thời của lịch sử, đều xuất hiện những cơ hội cũng nh- thách thức đối với mọi dân tộc; có những dân tộc này mạnh lên, đồng thời lại có dân tộc khác yếu đi nếu họ đi ng-ợc lại với xu thế của lịch sử hoặc bỏ lỡ thời cơ chốc lát cũng đã bị tụt hậu rồi Đồng thời cũng cần thấy rằng, bản sắc mỗi dân tộc chỉ có thể đ-ợc bộc lộ đầy đủ tr-ớc mỗi b-ớc ngoặt của lịch sử; mỗi quốc gia chỉ có thể phát triển lên từ bản sắc của mình trong xu thế chung
của thời đ³i” [6; 32]
Nếu đem quan điểm trên đây để xem xét tình hình quốc tế nói chung và khu vực châu á - Thái Bình D-ơng thời kỳ sau Chiến tranh lạnh nói riêng thì
có thể thấy rằng, tất cả các n-ớc đều đứng tr-ớc những cơ hội cũng nh- thách thức về cơ bản là t-ơng tự nhau: Thời đại toàn cầu hoá - khu vực hoá của nền kinh tế thế giới; thay đổi chiến l-ợc quốc gia cho phù hợp với tình hình mới; nâng cao vị thế của mình trên tr-ờng quốc tế… Có thể nói, Chiến lạnh kết thúc
đã tạo ra một diện mạo mới cho các quan hệ quốc tế, ở đó tồn tại nhiều xu h-ớng mang tính đa dạng, phụ thuộc lẫn nhau, bổ sung cho nhau, thậm chí đối lập và loại trừ nhau Đặc biệt, các xu h-ớng đó đ-ợc thể hiện trong các quan
hệ song ph-ơng và đa ph-ơng về kinh tế, chính trị và an ninh quốc tế Tuy nhiên, cơ sở của các xu h-ớng này không phải là tình trạng căng thẳng nảy sinh từ sự đối đầu của hai hệ thống nh- thời kỳ tr-ớc những năm 90 Nói cách
khác, chính sự chuyển dịch của thế giới “hai cực“ đối lập sang một thế giới
đa cực mang tính cạnh tranh và hợp tác đã tạo ra một môi tr-ờng quốc tế mới
ẩn chứa nhiều những cơ hội và cũng không ít những thách thức
Trong lĩnh vực an ninh, ng-ời ta cảm thấy tin cậy hơn, yên tâm hơn vì nguy cơ bùng nổ chiến tranh hạt nhân đã bị đẩy lùi và các quốc gia đều đang
Trang 3h-ớng tới sự liên kết chặt chẽ hơn trong các diễn đàn an ninh Đó là cơ hội cho đối thoại và hợp tác; các n-ớc lớn nh- Nhật Bản, Hoa Kỳ, Trung Quốc… ngày càng có và muốn có một vị thế lớn hơn trên diễn đàn quốc tế Bên cạnh
đó, những bất ổn trong lĩnh vực an ninh khu vực vẫn tồn tại và nhiều lúc nổi cộm, trở thành mối quan tâm của nhiều quốc gia; Tình hình an ninh của khu vực Đông á sau Chiến tranh lạnh đã thu hút sự chú ý của nhiều n-ớc, trong đó
có Nhật Bản
Trong lĩnh vực kinh tế, cuộc đua tranh để giành giật lợi thế đang diễn ra gay gắt trên cả phạm vi khu vực và toàn cầu ở đó, các c-ờng quốc kinh tế
đang phát huy mọi khả năng để thúc đẩy tự do hóa th-ơng mại và đầu t- quốc
tế Trong cuộc đua tranh đó, n-ớc nào có nội lực mạnh và thực thi một chiến l-ợc đối ngoại thích hợp thì họ sẽ tận dụng đ-ợc thời cơ và đối phó một cách
có hiệu quả với những rủi ro vốn luôn tồn tại song hành
Đứng tr-ớc những thách thức cũng nh- cơ hội ấy, trong giai đoạn giao
thời này của lịch sử, quả thật đã có những dân tộc "yếu đi" nh- Liên Xô và một số n-ớc Đông Âu, nh-ng cũng có những dân tộc "mạnh lên" nh- Nhật
Bản Quả vậy, mặc dù từ khoảng những năm cuối thập niên 80 trở lại đây, nhịp độ phát triển kinh tế của Nhật Bản tuy không đạt mức tăng tr-ởng cao nh- những thập kỷ 1960 - 1970, nh-ng đất n-ớc này vẫn là một trong những c-ờng quốc hàng đầu về kinh tế Năm 1997 thu nhập bình quân đầu ng-ời của Nhật Bản là 33.090 USD, tức chỉ đứng thứ hai sau Thụy Sĩ (37.050 USD) và v-ợt trên Xingapo (30.500 USD), Mỹ (28.480 USD), Hồng Kông (24.455 USD), Pháp (24.040 USD), Anh (20.860 USD) Vào thời điểm kết thúc Chiến tranh lạnh, Nhật Bản là n-ớc có dự trữ ngoại tệ lớn nhất thế giới (224,4 tỷ USD), v-ợt xa n-ớc đứng thứ hai là Trung Quốc (130 tỷ USD) và gấp 4 lần so với Mỹ (56,1 tỷ USD) Tuy nhiên, b-ớc sang thập niên 90 Nhật Bản cũng phải
đối mặt với nhiều vấn đề quốc nội gay gắt trong các lĩnh vực kinh tế, chính trị,
Trang 4xã hội mà hậu quả của nó không dễ gì khắc phục đ-ợc và sẽ là gánh nặng khi Nhật Bản b-ớc vào thiên niên kỷ mới
Tất cả những thách thức nói trên, đã buộc Nhật Bản phải có những điều chỉnh trong chính sách đối ngoại bên cạnh những cải cách kinh tế, chính trị, xã hội trong n-ớc Thực tế đã có nhiều công trình nghiên cứu khá sâu sắc những biến đổi của Nhật Bản thời kỳ này, nhất là trong lĩnh vực kinh tế Tuy nhiên, các công trình nghiên cứu về lĩnh vực đối ngoại của Nhật Bản ch-a
đ-ợc đề cập nhiều ở Việt Nam, đặc biệt là ch-a có công trình nào nghiên cứu
về sự điều chỉnh trong chính sách đối ngoại của Nhật Bản thời kỳ này Một số công trình đã đề cập đến chính sách đối ngoại của Nhật Bản thời kỳ sau Chiến
tranh lạnh, nh-ng ch-a tập trung đi sâu nghiên cứu về “sự điều chỉnh“ của
nó
Những biến động ở Nhật Bản đã và đang thu hút sự quan tâm của nhiều học giả, các nhà quản lý kinh tế, giới lãnh đạo chính trị trên thế giới Tuy phạm vi chuyên môn, mục đích nghiên cứu, ph-ơng pháp tiếp cận của các nhà khoa học khác nhau, nh-ng nhiều kết quả thu đ-ợc thực sự là những đóng góp
có giá trị trong việc nâng cao nhận thức về con ng-ời và xã hội Nhật Bản, cũng nh- về mô hình Nhật Bản Khi nghiên cứu về Nhật Bản, ng-ời ta dễ nhận thấy một đặc điểm nổi trội là: Nhật Bản là n-ớc rất thức thời, rất nhanh nhạy tr-ớc những biến đổi của thời cuộc Điều này đ-ợc thể hiện rõ nét trong chiến
l-ợc đối ngoại của "đất n-ớc mặt trời mọc" này
Sau Chiến tranh lạnh, vị thế của Nhật Bản không ngừng đ-ợc nâng lên trên tr-ờng quốc tế Vậy phải lý giải điều này nh- thế nào? Phải chăng Nhật Bản luôn biết tìm kiếm một chiến l-ợc đối ngoại đúng đắn, phù hợp với xu thế thời đại? Ng-ời ta có thể học đ-ợc những điểm gì từ chính sách đối ngoại của Nhật Bản? Cần phải thấy rằng, Nhật Bản là một trong số không nhiều các quốc gia thực hiện nhanh chóng và có hiệu quả những điều chỉnh trong chính sách đối ngoại của mình và những điều chỉnh đó đã tỏ ra thích nghi với sự
Trang 5biến đổi của tình hình quốc tế sau Chiến tranh lạnh Nhật Bản đang dần lấy lại
vị thế của mình đã bị đánh mất trong Chiến tranh thế giới thứ hai Để làm rõ
những vấn đề này, chúng tôi chọn đề tài: “Sự điều chỉnh trong chính sách đối ngoại của Nhật Bản từ 1991 - 2006“
Hiện nay Việt Nam đang trong quá trình hội nhập và liên kết với thế giới, bởi vậy việc nhận thức đầy đủ về những điều chỉnh trong chính sách đối ngoại của các n-ớc lớn, trong đó có Nhật Bản là điều hết sức cần thiết Sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa của chúng ta đang còn cần nhiều nguồn vốn và công nghệ cao của những n-ớc tiên tiến nh- Nhật Bản Hơn nữa, trong những năm gần đây, Nhật Bản luôn là n-ớc đứng đầu về tài trợ ODA cho Việt Nam và mối quan hệ Việt - Nhật đang ngày càng phát triển tốt đẹp Vì vậy, việc nhận thức về những điều chỉnh trong chính sách đối ngoại của Nhật Bản không chỉ có ý nghĩa khoa học mà nó còn mang giá trị thực tiễn cao Những
điều chỉnh trong chính sách đối ngoại của Nhật Bản với Hoa Kỳ, Trung Quốc, với các n-ớc ASEAN trên các lĩnh vực an ninh, kinh tế và các quan hệ song ph-ơng khác là điều rất đáng quan tâm Bởi đó là những mối quan hệ tác động mang tính đa chiều đối với tình hình thế giới và khu vực, trong đó có Việt Nam Nhận thức đ-ợc những h-ớng điều chỉnh quan trọng đó, Việt Nam sẽ có những đối sách kịp thời và đúng đắn trong quan hệ quốc tế nói chung, với Nhật Bản nói riêng, làm cho mối quan hệ giữa hai n-ớc ngày càng phát triển lên tầm cao mới t-ơng xứng với tiềm năng và lòng mong đợi của nhân dân hai n-ớc Đó là dấu hiệu chứng tỏ với Nhật Bản và cộng đồng quốc tế về khả năng thích ứng của Việt Nam với môi tr-ờng quốc tế đầy biến động sau Chiến tranh lạnh Việt Nam có thể hội nhập, Việt Nam sẵn sàng đối mặt với những thách thức trong một t- thế chủ động
2 Lịch sử vấn đề
Trang 6Nhật Bản từ lâu là đối t-ợng quan tâm nghiên cứu của nhiều học giả trên thế giới nói chung và ở Việt Nam nói riêng Từ đầu thế kỷ XVII, để phục vụ cho công việc truyền giáo, nhiều giáo sĩ châu Âu đã bắt đầu tìm hiểu về Nhật
Bản Năm 1603, cuốn "Từ điển Bồ - Nhật" đầu tiên đã đ-ợc xuất bản ở
Nagasaki Trong các thế kỷ sau đó, ng-ời châu Âu đã viết về Nhật Bản nh- một thị tr-ờng hấp dẫn và ngày càng đi sâu nghiên cứu về Nhật Bản nhiều hơn Cải cách Minh Trị diễn ra làm cho xã hội Nhật Bản thay đổi nhanh chóng Những thành tựu to lớn mà Nhật Bản đạt đ-ợc từ cuộc chuyển biến này
đã thu hút tâm lực của đông đảo giới nghiên cứu cả trong và ngoài n-ớc Nhật Phần lớn các công trình nghiên cứu về giai đoạn này th-ờng tập trung theo khuynh h-ớng ca ngợi công cuộc cải cách Khuynh h-ớng đó nổi bật lên vào
những năm 1960 - 1970, khi Nhật Bản "cất cánh" sau Chiến tranh thế giới thứ
hai (1939 - 1945)
Việt Nam có nhiều điểm gần gũi với Nhật Bản, là hai n-ớc trong khu vực châu á, lại có nhiều điểm t-ơng đồng về mặt văn hoá Nhật Bản từ lâu là đối t-ợng nghiên cứu của nhiều học giả ở n-ớc ta Với cải cách Minh Trị thành
công, đặc biệt từ khi Nhật B°n “cất cánh”, trở th¯nh “hiện t-ợng thần kỳ” sau
Chiến tranh thế giới thứ hai, nghiên cứu về Nhật Bản đã trở thành hiện t-ợng phổ biến
Từ năm 1991 đến nay, trong xu thế toàn cầu hoá - khu vực hoá, các quốc gia nói chung, Nhật Bản nói riêng đều muốn tìm kiếm vị thế mới của mình trên tr-ờng quốc tế thông qua việc mở rộng mối quan hệ với các n-ớc, nhất là trong quan hệ kinh tế Với một nội lực mạnh, cùng với sự điều chỉnh nhanh chóng và có hiệu quả trong chính sách đối ngoại, Nhật Bản ngày càng khẳng định đ-ợc vị thế của mình trên tr-ờng quốc tế Trong tình hình đó, đã có nhiều công trình nghiên cứu về chính sách đối ngoại của Nhật Bản từ năm 1991
đến nay ở Nhật Bản cũng nh- trên thế giới đã có nhiều công trình nghiên cứu
về vấn đề này, nh-ng do trình độ ngoại ngữ, chúng tôi chỉ mới biết đến một số
Trang 7công trình đ± được dịch sang tiếng Việt như cuốn “Chính sách quốc phòng của Nhật Bản thời kỳ sau Chiến tranh lạnh” của Biler Sing do Bộ Tổng tham mưu Quân đội nhân dân Việt Nam dịch v¯ xuất b°n năm 1992, hay cuốn “Chiến l-ợc quốc gia của Nhật Bản trong thế kỷ XXI” của t²c gi° người Nhật Iaxuhico
Nakasone, do Đào Nhật Thành dịch (NXB Thông tấn, 2001) ở Việt Nam tác
gi° Vi Quang Thọ có cuốn “Quan hệ Nhật - Trung sau chiến tranh thế giới thứ hai đến nay” (NXB Chính trị quốc gia H¯ Nội, 2002) hay cuốn “Quan hệ Mỹ - Nhật sau Chiến tranh lạnh” của t²c gi° Ngô Xuân Bình (NXB Khoa học xã hội, 1995) Đặc biệt đ± có một cuộc hội th°o khoa học với chủ đề “Tìm hiểu chính sách đối ngoại của Nhật Bản sau Chiến tranh lạnh” do Trung tâm
nghiên cứu Nhật Bản chủ trì Trong các công trình nói trên đều đề cập đến chính sách đối ngoại của Nhật Bản sau Chiến tranh lạnh Tuy nhiên các công trình đó chỉ mới đề cập đến chính sách đối ngoại của Nhật Bản với một số n-ớc lớn hoặc chính sách đối ngoại của Nhật Bản thời kỳ sau Chiến tranh lạnh nói
chung, m¯ chưa đi sâu tìm hiểu về “Sự điều chỉnh” của nó
Từ những kết quả nghiên cứu trong và ngoài n-ớc (đã đ-ợc dịch), chúng
tôi chọn vấn đề: "Sự điều chỉnh trong chính sách đối ngoại của Nhật Bản từ
1991 - 2006" Vấn đề tuy không hoàn toàn mới, nh-ng việc tìm hiểu những sự
điều chỉnh cụ thể của chính sách đối ngoại giai đoạn từ 1991 - 2006, đặc biệt là những tác động của sự điều chỉnh đó, thì ch-a đ-ợc làm rõ
3 Đối t-ợng và phạm vi nghiên cứu của đề tài
Qua phần lý do chọn đề tài, đối t-ợng nghiên cứu của đề tài là "Sự điều chỉnh trong chính sách đối ngoại của Nhật Bản từ 1991 - 2006" Về chính sách
đối ngoại của Nhật Bản từ năm 1991 - 2006 có nhiều vấn đề, nh-ng ở đây
chúng tôi chỉ nhấn mạnh những nội dung của "Sự điều chỉnh" đó mà thôi
Về thời gian, chúng tôi chỉ đề cập đến giai đoạn từ 1991 - 2006, tức là từ sau khi kết thúc Chiến tranh lạnh, đến khi Thủ t-ớng Koizumi mãn nhiệm Tuy
Trang 8nhiên, để làm rõ "Sự điều chỉnh trong chính sách đối ngoại của Nhật Bản từ
1991 - 2006", chúng tôi cũng đề cập đến chính sách đối ngoại của Nhật Bản
Luận văn đ-ợc thực hiện dựa trên những nguồn tài liệu chủ yếu sau:
* Các tài liệu gốc: Bao gồm những bài phát biểu, sắc lệnh, tuyên bố của các nguyên thủ quốc gia Nhật Bản nh-: Thủ t-ớng, Bộ tr-ởng Ngoại giao mà chúng tôi tiếp cận đ-ợc từ nguồn tài liệu của Liên Hợp Quốc, cũng nh- của Đại
sứ quán Nhật Bản tại Việt Nam
* Các công trình nghiên cứu về chính sách đối ngoại của Nhật Bản tr-ớc
và sau Chiến tranh lạnh của các tác giả trong và ngoài n-ớc (đã đ-ợc dịch), mà chúng tôi tiếp xúc đ-ợc từ Trung tâm nghiên cứu Nhật Bản, Trung tâm nghiên cứu Đông Bắc á và các th- viện lớn của quốc gia
4.2 Ph-ơng pháp nghiên cứu
Với đối t-ợng và phạm vi đ-ợc xác định nh- trên, để giải quyết những yêu cầu của đề tài, về mặt ph-ơng pháp luận, chúng tôi dựa vào quan điểm chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử Sự kiện đ-ợc trình bày trung thực, xem xét sự vận động của lịch sử trong mối liên quan chặt chẽ với nhau, từ đó rút ra các nhận xét, đánh giá
Về ph-ơng pháp cụ thể, trong luận văn chúng tôi chủ yếu sử dụng ph-ơng pháp lịch sử, lôgic lịch sử, ph-ơng pháp đối chiếu so sánh và các
ph-ơng pháp liên ngành để làm nổi bật bức tranh tổng thể về “Sự điều chỉnh trong chính sách đối ngoại của Nhật Bản từ 1991 - 2006 và giải quyết những
vấn đề khác do đề tài đặt ra
Trang 9
đến tình hình kinh tế, chính trị, xã hội của Nhật Bản mà còn tác động đến khu vực châu á nói chung và Việt Nam nói riêng
- Nội dung và t- liệu của luận văn sẽ đóng góp vào việc tham khảo, phục
vụ cho công tác học tập, nghiên cứu về Nhật Bản
5 Bố cục của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo và phần phụ lục, nội dung chính của luận văn gồm 3 ch-ơng sau:
Chương 1: Những nhõn tố chi phối sự điều chỉnh chớnh sỏch đối ngoại
của Nhật Bản từ 1991 - 2006
Chương 2: Những nội dung cơ bản của sự điều chỉnh trong chớnh sỏch
đối ngoại của Nhật Bản từ 1991 - 2006
Chương 3: Tỏc động của sự điều chỉnh trong chớnh sỏch đối ngoại của
Nhật Bản từ 1991 - 2006
*
Trang 101.1 Khái quát chính sách đối ngoại của Nhật Bản tr-ớc năm 1991
Chiến tranh thế giới thứ hai kết thúc, Nhật Bản là n-ớc bại trận tr-ớc quân Đồng minh, theo sự thoả thuận của Hội nghị Ianta (2-1945), Nhật Bản không đ-ợc có quân đội riêng và phải chịu cho quân đội Đồng minh đóng trên
đất Nhật Là n-ớc bại trận, nền kinh tế bị kiệt quệ, lại phải chịu nhiều điều khoản ràng buộc mang tính quốc tế, Nhật Bản buộc phải tuân theo chiếc gậy chỉ huy của Mỹ, nhất là trong chính sách đối ngoại và quan hệ quốc tế Điều này mở ra một thời kỳ mới trong chính sách đối ngoại của Nhật Bản Thời kỳ
đối ngoại của Nhật Bản là sự "theo đuôi" của Mỹ, là cái bóng của Mỹ Kết qủa
đó vừa là sự phản ánh thực trạng của Nhật và Mỹ sau Chiến tranh thế giới thứ hai, vừa là sự lựa chọn của hai n-ớc này
Sau Chiến tranh thế giới thứ hai, Nhật Bản buộc phải chọn Liên Xô hoặc chọn Mỹ làm đồng minh chiến l-ợc của mình Sự lựa chọn thứ nhất là không thực tế, bởi vì sự chiếm đóng sau chiến tranh, sự giúp đỡ toàn diện của Mỹ để phục hồi n-ớc Nhật đã đặt dấu chấm hết cho sự lựa chọn này Mặc dù trong suốt thập niên đầu sau chiến tranh, tâm lý thù hận đối với việc Mỹ ném hai quả bom nguyên tử vẫn còn sôi sục trong các tầng lớp xã hội ng-ời Nhật Tất nhiên khi chọn làm đồng minh của Mỹ, giới lãnh đạo Nhật Bản phải tìm mọi cách để làm mềm hoá quan hệ với nhiều n-ớc xhcn, nhất là đối với Liên Xô
và Trung Quốc Sự gần gũi về địa lý với hai c-ờng quốc này luôn nhắc nhở
Trang 11các nhà hoạch định chính sách đối ngoại của Nhật Bản cần phải có đối sách hợp lí trong quan hệ quốc tế
Giống nh- Mỹ và cùng với Mỹ, Nhật Bản nhận thức đ-ợc rằng Liên Xô
và Trung Quốc là hai c-ờng quốc lớn mạnh và là kẻ thù của mình, sự đe doạ của hai n-ớc cộng sản này tới an ninh của n-ớc Nhật là vừa trực tiếp, vừa lâu dài Nguy cơ này càng lớn hơn và nguy hiểm hơn khi cả hai n-ớc đều có vũ khí nguyên tử trong tay Đây cũng là một trong những lý do chủ yếu để một mặt Mỹ thuyết phục Nhật Bản về sự cần thiết phải có mặt của quân Mỹ tại Nhật Bản và mặt khác để cho ng-ời Nhật tự lý giải và chấp nhận sự đảm bảo
về an ninh của Mỹ đối với Nhật nhằm đề phòng nguy cơ "xâm l-ợc" của Liên
Xô và Trung Quốc Cách lý giải này vẫn đ-ợc duy trì cho đến tận ngày nay, nói chính xác hơn là nó vẫn còn nguyên giá trị cho đến tr-ớc ngày CNXH ở Liên Xô sụp đỗ và di sản của nó vẫn còn l-u lại đến ngày nay trong sự nhận thức của một số ng-ời, bởi những ng-ời này chỉ thừa nhận cuộc Chiến tranh lạnh chỉ mới kết thúc ở châu Âu và nó vẫn còn ở châu á
Trong gần năm thập niên qua, Nhật Bản luôn luôn xác định đồng minh chiến l-ợc chủ yếu là Mỹ Nhật coi quan hệ với Mỹ là hòn đá tảng trong chính sách đối ngoại của mình Quan hệ Nhật - Mỹ chi phối tất cả các quan hệ của Nhật với các n-ớc khác Chính nhờ cái ô của Mỹ, Nhật Bản có điều kiện để có thể khôi phục vị trí của mình trên tr-ờng quốc tế
Do xác định là một trong những đồng minh quan trọng nhất với Mỹ, Nhật Bản đã giành nhiều -u tiên trong chính sách đối ngoại cho quan hệ này Trên các diễn đàn quốc tế, Nhật Bản không bao giờ làm trái với quan điểm của Mỹ, mặc dù đôi khi điều đó làm ph-ơng hại đến lợi ích của Nhật Bản
Nh- mọi ng-ời điều biết, chính sách mở cửa của Nhật Bản đ-ợc bắt đầu
từ kỷ nguyên Minh Trị, nh-ng sự ảnh h-ởng có hiệu quả nhất của chính sách này tới sự phát triển nhiều mặt của Nhật Bản phải kể đến thời kỳ sau Chiến tranh thế giới thứ hai, gắn liền với sự lan toả của nền văn minh kinh doanh
Trang 12Hoa Kỳ Cho đến tận ngày nay, ng-ời Nhật đã hình thành cho mình một quan niệm là "học cách kinh doanh của Hoa Kỳ và làm kinh doanh ở Nhật Bản" Quan niệm này đ-ợc các thế hệ cha mẹ truyền lại cho con cháu và đ-ợc lớp trẻ chấp nhận một cách tự giác Mặc dù trong hơn một thập niên gần đây nhiều công ty của Nhật đã đuổi kịp và v-ợt các công ty của Mỹ trong một số lĩnh vực công nghệ ứng dụng nh-ng những quan niệm đó vẫn không bị xét lại, phần đông ng-ời Nhật coi trọng ph-ơng thức kinh doanh kiểu Hoa Kỳ và luôn khiêm tốn tự xếp mình đứng sau ng-ời Mỹ Hàng năm, số sinh viên Nhật Bản
đến học tập và tốt nghiệp ở Mỹ tăng lên rất nhanh Sự nhận thức đó vừa là kết
quả của chính sách mở cửa, kết quả của nền "ngoại giao nhân dân", vừa là kết
quả của chính sách đối ngoại của Nhật Bản đối với Hoa Kỳ trong nhiều thập niên qua
Do nhận thức đ-ợc sự đảm bảo an ninh của Mỹ, Nhật Bản giành mọi sự -u tiên cho phát triển kinh tế Cơ chế chính trị pháp quyền của Nhật Bản sau chiến tranh đ-ợc rập khuôn theo kiểu Hoa Kỳ, nhất là cơ cấu quốc hội và chính phủ, tất nhiên yếu tố Nhật Bản vẫn đ-ợc duy trì và đan xen Nh-ng vua chỉ là t-ợng tr-ng, thể hiện sự kế thừa, ghi nhận sự đóng góp về mặt truyền thống của các bậc tiền bối và điều này đ-ợc nhân dân thừa nhận và hiến pháp quy định Chính cơ chế chính trị pháp quyền tự nó đã gạt bỏ ra khỏi cơ thể của
nó các yếu tố trì trệ và cản trở sự phát triển của đất n-ớc mà một số nhà nghiên cứu gọi đây là mô hình nhà n-ớc mạnh và thông minh, để từ đó xây dựng một hệ thống chính sách, trên cơ sở luật hoỏ chúng, tác động vào sự phát triển kinh tế Đây chính là một nhân tố khiến cho nền kinh tế Nhật Bản đã đạt
đ-ợc nhiều b-ớc tiến đáng kinh ngạc vào những năm cuối thập kỉ 60, đầu thập
70 của thế kỉ XX
Chính sự vững mạnh về kinh tế đã tạo cơ sở cho Nhật Bản ngày càng độc lập t-ơng đối trong chính sách đối ngoại Điều này đ-ợc thể hiện rõ thời kỳ sau Chiến tranh lạnh Từ năm 1972, tiếp sau sự khai thông về ngoại giao của
Trang 13Níchxơn với Bắc Kinh, Nhật Bản cũng xúc tiến bình th-ờng hoá quan hệ với Trung Quốc Cuộc gặp gỡ đ-ợc ghi nhận nh- một cái mốc lịch sử quan trọng trong quan hệ ngoại giao Nhật Bản và Trung Quốc là giữa Thủ t-ớng Tanake với Mao Trạch Đông và Chu Ân Lai ở Bắc Kinh vào tháng 9 - 1972 Kể từ cuộc gặp đó, quan hệ giữa Nhật Bản và Trung Quốc đã đ-ợc bình th-ờng hoá Có thể nói, nếu Mỹ dùng con bài Trung Quốc nhằm mục đích vừa tạo ra đối trọng trong quan hệ với Liên Xô, vừa tạo ra sự cân bằng quyền lực giữa các c-ờng quốc trên thế giới, trong đó có Nhật Bản, thì Nhật Bản cũng biết tìm ra giải pháp tạo thế cân bằng chiến l-ợc theo kiểu riêng của mình Cuộc gặp gỡ tháng
9 - 1972 nói trên đã xác định ảnh h-ởng của Nhật Bản đối với n-ớc lớn nhất lục
địa châu á, mở ra một tiềm năng lớn cho thị tr-ờng tiêu dùng hàng hoá Nhật Bản Chính thị tr-ờng Trung Quốc đã tạo cho Nhật Bản tìm kiếm một sự cân bằng mới mà tr-ớc đó duy nhất chỉ có thị tr-ờng Mỹ Tất nhiên, cho đến những năm đầu thập niên 90, thị tr-ờng Trung Quốc vẫn không thay thế đ-ợc thị tr-ờng Mỹ Sự phụ thuộc của Nhật Bản vào thị tr-ờng Mỹ là một trong những nhân tố chủ yếu tạo ra b-ớc phát triển thần kỳ của Nhật Bản trong nhiều năm qua và khó có thể thay thế
Trở lại với vấn đề Nhật Bản ngày càng độc lập hơn trong chính sách đối ngoại của mình, đây là một xu h-ớng tất yếu, diễn ra từng b-ớc phù hợp với sự lớn mạnh về kinh tế của chính Nhật Bản và những đòi hỏi của tình hình mới sau Chiến tranh lạnh
Nh- vậy, sau Chiến tranh thế giới thứ hai, do chính nhu cầu của cả Mỹ và
Nhật mà hai n-ớc này đã trở thành "đồng minh chiến l-ợc" của nhau Nh-ng do
vị thế của mình lúc bấy giờ, Nhật Bản phải núp sau cái ô của Mỹ và trong chính sách đối ngoại, họ đã không thoát ra khỏi cái bóng của Mỹ Có thể nói chính sách đối ngoại của Nhật Bản thời kỳ tr-ớc năm 1991 không có gì là nổi bật, có chăng chỉ là sự phụ thuộc nặng nề vào Mỹ, làm theo Mỹ Đó là nét chính trong chính sách đối ngoại của Nhật Bản trong thời kỳ Chiến tranh lạnh Nh-ng điều
Trang 14này đã có sự thay đổi khi Chiến tranh lạnh kết thúc Lúc này Nhật Bản đã v-ơn lên thành một siêu c-ờng kinh tế lớn thứ hai thế giới và tình hình quốc tế, khu vực cũng đã thay đổi Đây chính là thời cơ để Nhật Bản v-ơn lên tìm kiếm vị thế mới trên tr-ờng quốc tế
1.2 Sự thay đổi của tình hình quốc tế và khu vực
Vào đầu thập niờn 90 của thế kỷ XX, Liên Xô tan ró và kéo theo đó là sự sụp đỗ của hệ thống XHCN ở các n-ớc Đông Âu Đây là một biến động bất ngờ, làm đảo lộn cả cục diện thế giới vốn từng tồn tại nhiều thập kỷ tr-ớc đó
Có lẽ ít ai có thể ngờ tới sự thay đổi lại nhanh chóng đến nh- vậy, Liên Xô - một c-ờng quốc XHCN từng là đối thủ ngang sức ngang tài với Mỹ đã tan rã sau biến cố năm 1991 Sự tan rã của Liên Xô và phe xhcn đã chấm dứt một thời kỳ đối đầu căng thẳng và báo hiệu kết thúc Chiến tranh lạnh Kể từ đây, cục diện thế giới đã thay đổi và b-ớc sang một thời kỳ mới
Sau Chiến tranh lạnh, thế giới từ chỗ đối đầu về quân sự chuyển sang cạnh tranh kinh tế là chính, thế giới đang tiến nhanh tới một nền kinh tế không biên giới và điều đó đã khiến cho sự phụ thuộc lẫn nhau giữa các n-ớc ngày càng nhiều hơn Trong tiến trình toàn cầu hoá các hoạt động kinh tế này, Nhật Bản đang phát triển quan hệ hữu cơ với các quốc gia trên thế giới thông qua các hoạt động kinh tế đối ngoại: buôn bán, đầu t- trực tiếp, chế tạo ở n-ớc ngoài và sự dịch chuyển của các dòng vốn quốc tế Xu h-ớng tch và kvh vừa tạo ra những thuận lợi vừa là một trở ngại đối với Nhật Bản khi cạnh tranh kinh tế ngày càng trở nên quyết liệt Sự cọ xát về lợi ích và nhu cầu của Nhật Bản với các đối tác trong bối cảnh quốc tế mới đã thay đổi Đó là những yếu
tố quan trọng buộc Nhật Bản phải quan tâm khi hoạch định chính sách đối ngoại
Trang 151.2.1 Xu h-ớng toàn cầu hoá - khu vực hoá
Cuộc cách mạng khoa học - kỹ thuật (còn gọi là cách mạng kỹ thuật lần thứ hai) sau Chiến tranh thế giới thứ hai đã tạo ra quá trình tch - kvh Nh-ng quá trình này trở thành một xu thế phát triển nổi bật, một đặc điểm quan trọng của nền kinh tế thế giới, tác động sâu sắc đến mọi mặt của đời sống con ng-ời trở nên rõ nét sau khi Chiến tranh lạnh kết thúc Khi phân tích những đặc điểm chung của tch - kvh, ng-ời ta nêu một số đặc điểm đáng chú ý sau:
Thứ nhất, tăng c-ờng giao l-u kinh tế, nhất là tăng c-ờng tốc độ chu chuyển th-ơng mại và vốn Sau Chiến tranh lạnh, hầu hết các n-ớc đều có sự
điều chỉnh về chiến l-ợc kinh tế, trong đó mở cửa, hội nhập trở thành một xu thế tất yếu không thể đảo ng-ợc Nếu nh- tr-ớc đây, trao đổi th-ơng mại chỉ chú trọng mở rộng trong nội bộ khối, khu vực thì ngày nay gần nh- toàn thế giới đã là một thị tr-ờng thống nhất do đòi hỏi của tự do hoá, tch Trao đổi th-ơng mại giữa các n-ớc, các khu vực không ngừng tăng lên
Cùng với việc mở rộng thị tr-ờng mậu dịch quốc tế, chu chuyển vốn (t- bản) ngày càng tăng nhanh Nguồn cung cấp vốn vẫn là các n-ớc công nghiệp phát triển hàng đầu Các n-ớc đang phát triển là khu vực tiếp nhận khối l-ợng vốn đầu t- Sự chu chuyển vốn đ-ợc gia tăng bởi quá trình tự do hoá và tch kinh tế Theo đánh giá của Quỹ tiền tệ quốc tế (IMF), trong giai đoạn từ 1990
- 1996, mỗi năm các n-ớc đang phát triển nhận trung bình 150 tỷ USD vốn
đầu t- từ n-ớc ngoài Theo số liệu của Ngân hàng thế giới (WB), trong 129,4
tỷ USD vốn đầu t- t- nhân vào các n-ớc đang phát triển hàng năm (giai đoạn
1990 - 1996), vốn đầu t- trực tiếp chiếm 44,7%, vốn gián tiếp chiếm 55,3% Không chỉ gia tăng về khối l-ợng mà cả địa bàn thu hút vốn đầu t- cũng khá rộng Châu á và Mỹ La tinh là nơi tiếp nhận vốn đầu t- nhiều nhất Nét nổi bật của việc di chuyển dòng vốn thời kỳ này là đầu t- và rút vốn khá nhanh
Trang 16chóng, thậm chí còn gây đột ngột vào cuối thập niờn 90 (chỉ riêng năm 1998, vốn đầu t- t- nhân rút khỏi khu vực này là 92,6 tỷ USD, cao nhất từ tr-ớc đến nay và cao gấp 3 năm 1997) [15; 27 - 28]
Sự bất ổn của dòng vốn này cũng là một nguyên nhân làm cho khủng hoảng tài chính tiền tệ châu á ngày càng trở nên trầm trọng hơn và gây ra những hậu quả tồi tệ không chỉ riêng khu vực mà cả hệ thống tài chính thế giới
Dù có sự bất ổn định, song phải nói rằng, tự do hoá, tch trong thập niờn
90 của thế kỷ XX đã tạo ra sự thông thoáng cả về cơ chế lẫn ph-ơng thức chu chuyển hàng hoá và vốn Do vậy, không gian thị tr-ờng trở nên rộng mở hơn, cho phép tạo ra năng suất và hiệu quả kinh tế cao hơn Xét ở khía cạnh đó, tự
do hoá, tch đã thúc đẩy sự phát triển của kinh tế thế giới và suy rộng ra là của loài ng-ời
Thứ hai, mức độ tự do hoá, tch không đồng đều Nh- đã phân tích ở trên, tự do hoá, tch đã đ-a lại những kết quả to lớn, xét ở ph-ơng diện chung
là có lợi cho toàn cầu Song, đây cũng là một quá trình phức tạp, đan xen các mâu thuẫn, các mối quan hệ tác động nhiều chiều Bên cạnh xu h-ớng tch mạnh mẽ đã xuất hiện nhiều nhân tố chống lại nó Đấu tranh chống lại quá trình đó không chỉ giới hạn ở một số quốc gia, một bộ phận dân c- mà đó còn
là một xu thế, đặc biệt sức mạnh của kvh Vì thế, nhìn lại những năm trong thập kỷ 90 của thế kỷ XX có thể cho ta một nhận xét tổng quát rằng: mức độ
và quy mô tự do hoá, tch diễn ra không đồng đều, biểu hiện ở một số điểm sau:
* Tình trạng bất ổn của thị tr-ờng:
Trên thực tế, những năm của thập kỷ 90 là thời kỳ của việc chuyển giao thời cuộc Do vậy, với một cục diện chính trị quốc tế ch-a rõ ràng thì khó có thể có đ-ợc một thị tr-ờng chung ổn định và phát triển đồng đều Tham gia
Trang 17vào quá trình tự do hoá, tch không chỉ là những n-ớc có nền kinh tế thị tr-ờng phát triển mà còn rất nhiều n-ớc (đặc biệt là các n-ớc XHCN) chập chững b-ớc trên con đ-ờng này Hơn nữa, bản thân nhiều n-ớc (có thể nhận rõ qua cuộc khủng hoảng tài chính - tiền tệ ở châu á cuối những năm 90 của thế
kỷ XX) vốn bị cuốn hút vào dòng chảy kinh tế thị tr-ờng mà không tạo lập và duy trì đ-ợc cơ sở bền vững cho việc tăng tốc độ theo cơ chế đó Do vậy, sự đỗ
vỡ, nhất là trong lĩnh vực tài chính - tiền tệ là kết quả của sự yếu kém và ch-a
đủ nội lực t-ơng thích với quá trình tự do hoá, tch Cùng với những kết quả khả quan về lợi ích của tự do hoá, tch sẽ xuất hiện không ít bất lợi Trên thực
tế, các n-ớc có trình độ phát triển khác nhau nên khi đối diện với quá trình này cũng sẽ ở các mức độ khụng giống nhau Đây vẫn còn là những thách thức to lớn không chỉ ở hiện tại mà cả trong t-ơng lai của thế giới cũng nh- các khu vực và các n-ớc
Biểu hiện rất rõ sự bất ổn trong thời kỳ này của quá trình tự do hoá, tch
là mức độ xâm nhập khác nhau vào các n-ớc, các khu vực Biểu hiện này đ-ợc xác định bởi các nhân tố khách quan và chủ quan Về nhân tố khách quan có thể thấy đây là quá trình mà nhiều quốc gia ch-a có sự chuẩn bị để tiếp nhận
và điều chỉnh một cách thấu đáo phù hợp với điều kiện n-ớc mình Các tiền
đề, các điều kiện vật chất cần thiết và cả cơ chế ch-a có sự t-ơng xứng để khai thác lợi thế cũng nh- hạn chế những tác động bất lợi của tự do hoá, tch
Về góc độ chủ quan, quá trình tự do hoá, tch đối với một số n-ớc lại coi là ngoài mong đợi Một nền kinh tế, một thị tr-ờng đ-ợc chính phủ kiểm soát và bảo hộ vốn đ-a lại sự thành công về kinh tế, sự ổn định xã hội, rõ ràng không
dễ gì tiếp nhận một xu thế mới mà kết quả của nó khó đoán tr-ớc đ-ợc Đó là ch-a nói tới năng lực của các chính phủ, giới kinh doanh trong việc khai thác những mặt có lợi, hạn chế những bất lợi của quá trình tự do hoá, tch Vì
Trang 18nhập của tự do hoá, tch vốn đan xen nhiều mâu thuẫn lại càng phức tạp hơn
và làm cho tính không đồng đều ngày một nổi trội hơn
Thứ ba, cạnh tranh quyết liệt và sự lựa chọn chiến l-ợc mới của các quốc gia, khu vực Có thể nói tiến trình tự do hoá, tch diễn ra trong sự cạnh tranh quyết liệt để tìm một cơ chế mới phù hợp với các quan hệ quốc tế, tr-ớc hết là quan hệ kinh tế Tham gia vào quá trình tch bao gồm nhiều chủ thể khác nhau nh- công ty, tập đoàn, chính phủ, các tổ chức quốc tế và dân chúng Hơn nữa, nó không chỉ đơn thuần về kinh tế mà còn tác động và xâm nhập vào nhiều lĩnh vực khác nhau của cuộc sống nh- chính trị, văn hoá, xã hội Vì vậy quá trình tự do hoá, tch không làm mất đi tính cạnh tranh mà ng-ợc lại càng làm cho cuộc đụng độ này ngày càng trở nên quyết liệt hơn Trên thực tế, việc phân chia thị tr-ờng, kiểm soát khu vực không đủ sức chống lại tch Vì vậy
đã có không ít công ty, tập đoàn bị thua lỗ tạo nên làn sóng sát nhập các công
ty không chỉ ở một n-ớc mà cả trên thế giới
Chống lại quá trình tch còn thể hiện ở việc ra đời nhiều liên minh kinh
tế, tập đoàn hoá, đa nguyên hoá và khu vực hoá Điều này phản ánh cuộc đấu tranh để bảo vệ lợi ích quốc gia, khu vực tr-ớc xu thế toàn cầu hoá Cuộc đấu tranh sẽ vẫn tiếp tục, tuy nhiên, xét ở góc độ khác thì đây lại chính là động lực của sự phát triển
Những cơ hội và cả thách thức của quá trình tự do hoá, tch đã tác động mạnh mẽ đến các quốc gia nói chung và Nhật Bản nói riêng Tự do hoá th-ơng mại và mở cửa thị tr-ờng đã tạo điều kiện cho Nhật Bản tiếp tục duy trì thị tr-ờng Bắc Mỹ và châu Âu, chúng sẽ phục vụ tốt cho quá trình đa dạng hoá các sản phẩm xuất khẩu của Nhật Bản Đối với các n-ớc châu á, chính sách của các n-ớc này là rất đa dạng Nhìn chung, tất cả các n-ớc thành công trong phát triển kinh tế đều là những n-ớc có chính sách h-ớng ngoại cao Với kinh nghiệm của các n-ớc NIE và một số n-ớc ASEAN đi tr-ớc, các n-ớc
Trang 19đang phát triển còn lại ở châu á nh- Trung Quốc, Việt Nam đều nhận thấy tầm quan trọng của nền kinh tế mở cửa đối với sự phát triển của đất n-ớc Do
đó, khu vực châu á - Thái Bình D-ơng vẫn là nơi hấp dẫn nhất đối với Nhật Bản cả về th-ơng mại lẫn đầu t- Nhu cầu về vốn ở đây rất lớn do việc thực hiện chính sách công nghiệp hoá h-ớng vào xuất khẩu và do lợi nhuận đầu t-
ở đây khá cao, đồng thời lại có xu h-ớng tăng lên Tuy nhiên, sau Chiến tranh lạnh không chỉ có Nhật Bản mà cả các công ty lớn của châu Âu, của Mỹ đã ào
ạt nhảy vào thị tr-ờng châu á T- bản Mỹ và EU ngày càng quan tâm hơn đến thị tr-ờng châu á - Thái Bình D-ơng, dòng vốn đầu t- từ các n-ớc phát triển chảy vào thị tr-ờng này ngày càng mạnh, tạo nên sự cạnh tranh sôi động của hoạt động đầu t- phát triển Trong điều kiện phát triển nh- vũ bão của cuộc cách mạng khoa học công nghệ, các n-ớc phát triển Âu, Mỹ và cả Nhật Bản
đều có nhu cầu đổi mới cơ cấu Các ngành truyền thống ở các quốc gia phát triển này đều có nhu cầu đổi mới công nghệ, cần tìm miền đất mới để đầu t- phát triển Trong những năm 1989 - 1992 đầu t- trực tiếp của Mỹ vào khu vực
Đông á tăng 60%, chiếm gần 1/3 tổng đầu t- trực tiếp ra n-ớc ngoài của Mỹ
Đây là một yếu tố mà Nhật Bản cần phải xem xét để điều chỉnh chính sách đối ngoại của mình cho phù hợp khi cạnh tranh kinh tế đã trở nên quyết liệt hơn Hơn nữa trong bản thân xu h-ớng tự do hoá, toàn cầu hoá và mở cửa lại chứa
đựng những yếu tố gây ra những tác động ng-ợc chiều với lợi ích của quốc gia
do sự khác biệt về tiềm năng phát triển kinh tế của mỗi n-ớc Khi chuyển từ GATT sang WTO, nét khác biệt căn bản của WTO so với GATT là những quy chế nhằm thúc đẩy hơn nữa quát trình tự do hoá mậu dịch và bình đẳng trong th-ơng mại quốc tế Yêu cầu này không giống nhau đối với mọi n-ớc Nó nhằm mục tiêu trực tiếp là đòi mọi n-ớc Đông á, tr-ớc hết là Nhật Bản mở cửa hơn nữa thị tr-ờng sản phẩm và thị tr-ờng tài chính của mình Còn Mỹ và Tây Âu vốn đã mở cửa khá thông thoáng thì bây giờ để bình đẳng với Nhật
Trang 20Bản có thể "đóng bớt" cánh cửa nhập khẩu Bên cạnh đó các khối liên kết kinh
tế EU, NAFTA, ASEAN đang phát triển mạnh mẽ cả về chiều sâu lẫn chiều rộng Sự xuất hiện và phát triển của các tổ chức kinh tế khu vực cũng đặt ra không ít vấn đề đối với các quốc gia đứng ngoài khối Nếu tr-ớc đây Nhật Bản chỉ quan hệ với từng n-ớc thì nay phải có thêm mối quan hệ với cả khối và chịu sức ép không chỉ của từng n-ớc mà với cả khối kinh tế to lớn Tuy vậy, sự xuất hiện của các tổ chức kinh tế khu vực đã và đang thúc đẩy các quan hệ kinh tế quốc tế phát triển mạnh mẽ hơn, cả phạm vi trong và ngoài khu vực
Đồng thời với xu h-ớng kvh, xu h-ớng kvh cũng đ-ợc đẩy mạnh Thế giới trong những năm gần đây đang đ-ợc chứng kiến sự lớn mạnh của các khối liên kết khu vực nh- EU, NAFTA, APEC, ASEAN và cả các tổ chức liên kết khác ở châu Phi và Mỹ latinh
Cần phải l-u ý rằng, chiến l-ợc mở rộng ASEAN thành 10 n-ớc và sự ra
đời của Khu vực mậu dịch tự do ASEAN (AFTA), đã biến Đông Nam á thành thị tr-ờng rộng lớn Theo nhiều nhà dự báo, việc hợp tác phát triển kinh tế với khu vực ASEAN sẽ không có bất lợi nào đối với buôn bán và đầu t- của Nhật Bản, mà ng-ợc lại sự hợp tác này còn có những tác động tích cực Nếu các n-ớc ASEAN hợp tác trong các ngành công nghiệp, có các dự án liên doanh thì sẽ đẩy nhanh đ-ợc tốc độ tăng tr-ởng công nghiệp của ASEAN, tạo ra một khu vực kinh tế thống nhất có chung những chính sách phát triển công nghiệp
sẽ làm cho quan hệ th-ơng mại giữa Nhật Bản và ASEAN thuận lợi hơn Bên cạnh đó, Nhật Bản và các n-ớc châu á - Thái Bình D-ơng cũng đang tích cực tìm kiếm con đ-ờng xây dựng tổ chức liên kết kinh tế khu vực do sự phụ thuộc lẫn nhau ngày càng gia tăng: sự gần gũi về địa lý, sự t-ơng đồng về văn hoá và
xu h-ớng tự do hoá về th-ơng mại mà APEC là một thử nghiệm của sự liên kết đó Hơn nữa, EU nay đã là một khối kinh tế lớn nhất thế giới và đang gây
ra những lo ngại về sự t-ơng hợp của nó với hệ thống toàn cầu Nếu NAFTA
mở rộng thành khối buôn bán độc quyền ở Bắc Mỹ thì sẽ đẩy nhanh khuynh
Trang 21h-ớng kvh và điều này sẽ tạo ra lý do để các nhóm tiểu khu vực ở châu á theo đuổi các biện pháp hạn chế đầu t- và buôn bán
Nh- vậy, vẫn còn nhiều nhân tố không ổn định đối với t-ơng lai của chế
độ buôn bán toàn cầu và các n-ớc trên thế giới Nhật Bản đứng tr-ớc lựa chọn: Tiếp tục duy trì sự can thiệp của nhà n-ớc hay là mở cửa thị tr-ờng nhiều hơn Trong bối cảnh mới, nhiều công ty của Nhật Bản có điều kiện thuận lợi để mở rộng không gian hoạt động của mình Song, họ cũng gặp không ít thách thức
và để trở thành ng-ời thắng cuộc trong cuộc chạy đua quyết liệt đó, buộc họ phải tìm kiếm cơ chế thích ứng và hiệu quả Điều đó buộc các xí nghiệp phải cải tổ và cũng là áp lực để nhà n-ớc phải điều chỉnh chính sách của mình, nhất
là chính sách đối ngoại Cùng với nó, mô hình kinh tế Nhật Bản tr-ớc đây
đ-ợc coi là độc đáo thì nay đang bộc lộ những bất cập và phải đối mặt với nhiều vấn đề nan giải: nạn thất nghiệp, tiền l-ơng Sự suy thoái kinh tế trong những năm 90 đòi hỏi Nhật Bản cần phải có chiến l-ợc phát triển mới Nhật Bản cần phải điều chỉnh chính sách của họ và hành động để đảm bảo quá trình nhất thể hoá kinh tế khu vực và tch phải t-ơng hợp với các quy chế của WTO và tiếp tục mở cửa cho các đối tác cạnh tranh
1.2.2 Tiềm lực kinh tế ngày càng khẳng định vị thế của các quốc gia trong quan hệ quốc tế
Sau Chiến tranh lạnh, cùng với việc hình thành cục diện thế giới mới, vai trò và vị thế của Nhật Bản trên tr-ờng quốc tế, đặc biệt ở khu vực châu á - Thái Bình D-ơng ngày càng đ-ợc tăng c-ờng và củng cố Nếu trong thời kỳ Chiến tranh lạnh, các quốc gia đều tập trung chủ yếu vào việc duy trì an ninh quân sự thì Nhật Bản lại chú trọng vào việc phát triển kinh tế Do đó, sau khi Chiến tranh lạnh kết thúc, sự đối đầu về quân sự không còn; Liên Xô tan rã, Liên bang Nga suy yếu; Mỹ giảm sự hiện diện quân sự, trong bối cảnh đó Nhật Bản đã nổi lên thành một c-ờng quốc kinh tế mới Khi những quan tâm
Trang 22thì Nhật Bản đã có nhiều ảnh h-ởng từ hàng thập kỷ tr-ớc đó đang phấn đấu v-ơn lên vị thế c-ờng quốc chính trị thế giới, t-ơng xứng với tiềm lực kinh tế - tài chính vốn có của mình Một trong những biện pháp nhằm tìm kiếm vị thế mới là Nhật Bản điều chỉnh, bổ sung những thiếu sót trong chính sách đối ngoại Thực sự trong một thế giới mà sự đối đầu về quân sự không còn thì quyền lực kinh tế sẽ ngày càng trở nên quan trọng và nó sẽ xác định địa vị của các quốc gia Trật tự thế giới mới sau Chiến tranh lạnh dù nh- thế nào thì Nhật Bản, với cơ sở kỹ thuật và kinh tế của mình, vẫn sẽ là một quốc gia có vai trò
to lớn trong trật tự mới đó Vì vậy, xác định rõ các lợi thế so sánh của Nhật Bản trong quan hệ với thế giới là mấu chốt quan trọng trong việc hoạch định chính sách đối ngoại và an ninh của n-ớc này
Những thay đổi của môi tr-ờng quốc tế tạo cơ hội cho Nhật Bản tiếp tục thực hiện chính sách theo đuổi các mục tiêu kinh tế và những mục tiêu có tính chính trị hơn Nhật Bản đang dùng quyền lực kinh tế của mình để gây ảnh h-ởng và để có vai trò lớn hơn Tác động quyền lực của Nhật Bản về kinh tế, chính trị, văn hoá với các n-ớc là rất đáng kể, mặc dù quy mô và tính hiệu quả của sự tác động này còn phụ thuộc vào những yếu tố nh-: sự tiếp giáp về địa
lý, hoàn cảnh lịch sử, tình hình kinh tế của các quốc gia và các chủ thể khác
ảnh h-ởng của Nhật Bản đối với các n-ớc châu á là rất mạnh, lại đ-ợc sự t-ơng đồng về văn hoá bổ sung Đây là yếu tố mà các đối tác ph-ơng Tây không có đ-ợc, sự chuyển đổi quan trọng từ quyền lực quân sự sang quyền lực kinh tế sau Chiến tranh lạnh là một lợi thế đối với Nhật Bản Th-ơng mại và
đầu t- đã giúp cho Nhật Bản có thể gây ảnh h-ởng, tác động đến cả các n-ớc phát triển và các n-ớc đang phát triển, nhất là các n-ớc ở châu á Ngày nay, hầu hết các n-ớc đang phát triển trong khu vực châu á - Thái Bình D-ơng đều rất chú trọng đến việc tiếp xúc với công nghệ hiện đại để phát triển kinh tế Trung Quốc, Nga và các n-ớc ASEAN đều rất cần vốn và công nghệ n-ớc ngoài để duy trì sự tăng tr-ởng kinh tế năng động và bền vững của mình Nhật
Trang 23Bản chính là n-ớc có khả năng về vốn và công nghệ để đáp ứng những yêu cầu đó Các n-ớc châu á, trong đó có cả Trung Quốc, coi Nhật Bản nh- một hình mẫu để phát triển kinh tế Sự thành công của Nhật Bản đã hấp dẫn các n-ớc này, tác động đến nhận thức của ng-ời dân và khiến họ ủng hộ mô hình kinh tế Nhật Bản Dựa trên sự thành công về kinh tế, Nhật Bản đã có tiếng nói ngày càng tăng trên tr-ờng quốc tế theo cách của mình dù đó là viện trợ, đầu t- hay vận hành một tổ chức, một công ty đa quốc gia
Khi xem xét tác động của sức mạnh kinh tế Nhật Bản, chúng ta cũng phải xem xét sự suy giảm t-ơng đối của các đối tác cạnh tranh chủ yếu của Nhật Bản là Mỹ và EU Trong thập kỷ 90, các n-ớc này đối phó ít có hiệu quả với
sự suy thoái kinh tế toàn cầu Tài trợ ODA của Mỹ, EU cho các n-ớc đang phát triển suy giảm Đặc biệt đối với Mỹ, trong thời kỳ Chiến tranh lạnh, Mỹ
là một c-ờng quốc với sức mạnh kinh tế và quân sự to lớn có ảnh h-ởng trên thế giới, nh-ng sau Chiến tranh lạnh, những ảnh h-ởng đó đã bị suy giảm t-ơng đối Kể từ khi kết thúc Chiến tranh lạnh, ngân sách của Mỹ giành cho trợ giúp bên ngoài đã giảm mạnh Chính trong bối cảnh nh- vậy, sức mạnh kinh tế của Nhật Bản đã và đang đ-ợc sử dụng làm động lực cho tăng tr-ởng kinh tế trong khu vực Qua đó, những ảnh h-ởng về an ninh và chính trị của Nhật Bản cũng đang gia tăng
Cần phải l-u ý rằng, Chiến tranh lạnh kết thúc, cùng với sự sụp đỗ của hệ thống các n-ớc XHCN và sự chuyển đổi sang cơ chế thị tr-ờng của các n-ớc này là sự xuất hiện một tình thế mới trong quan hệ quốc tế Chiến tranh lạnh kết thúc làm cho tính đối kháng và đối đầu trên thế giới phải nh-ờng chỗ cho
sự cạnh tranh và hợp tác kinh tế quốc tế Chiến tranh lạnh kết thúc đã cuốn đi cấu trúc t-ơng đối đơn giản là chỉ biết dựa vào Mỹ và nó còn làm tăng thêm khả năng lựa chọn của Nhật Bản Năm 1995, Ngoại tr-ởng Nhật Bản, ông Kono Yokei đã cho rằng: Việc kết thúc Chiến tranh lạnh đã làm tăng những cơ hội lựa chọn của n-ớc Nhật và Nhật không còn phải căn cứ vào những
Trang 24xung đột Đông - Tây từ Hoa Kỳ để đ-a ra những quyết định của mình Bên cạnh đó, sau biến cố mang tính lịch sử này, việc cân nhắc và lựa chọn các mục tiêu chiến l-ợc -u tiên của tất cả các n-ớc, đặc biệt là các c-ờng quốc cũng thay đổi Trong quan hệ của Mỹ và các n-ớc Đông á, nếu tr-ớc đây Mỹ giành
cho Hàn Quốc, Đài Loan và khối ASEAN với t- cách là những "lá chắn"
chiến l-ợc những -u đãi đặc biệt, cả về ph-ơng diện nguồn lực vật chất (vốn,
kỹ thuật, hàng hoá) lẫn về ph-ơng diện thể chế: mở cửa thị tr-ờng không hạn chế, -u đãi thuế quan thì ngày nay, khi đối đầu chấm dứt những -u tiên kiểu
đồng minh chiến l-ợc đó đã bị suy giảm đáng kể Chính những điều kiện đó
đã tạo cơ sở cho Nhật Bản tiếp tục mở rộng ảnh h-ởng kinh tế của mình với các đối tác châu á Và điều đó đã đòi hỏi Nhật Bản phải điều chỉnh chính sách đối ngoại của họ
1.2.3 Sự thay đổi trong chính sách đối ngoại của một số n-ớc lớn đối với Nhật Bản
Chiến tranh lạnh kết thúc kéo theo sự sụp đỗ của trật tự thế giới hai cực
đứng đầu là Mỹ và Liên Xô Môi tr-ờng an ninh quốc tế có nhiều biến đổi sâu sắc và rộng khắp từ Đông sang Tây, từ Bắc xuống Nam và ở mọi ph-ơng diện Thế giới đang trong quá trình chuyển tiếp sang trật tự thế giới đa cực, đa trung tâm và xu thế này đang là xu thế nổi trội
Phát triển kinh tế trở thành -u tiên hàng đầu trong chiến l-ợc của các quốc gia Cạnh tranh kinh tế đang ngày càng chiếm -u thế so với chạy đua vũ trang Sức mạnh kinh tế đã và đang quyết định sức mạnh của các quốc gia Quan hệ giữa các n-ớc lớn có những chuyển biến quan trọng, từ chỗ đối đầu hoặc liên minh, liên kết với n-ớc này chống lại n-ớc kia chuyển sang vừa hợp tác vừa đấu tranh trong xu thế hoà bình, xây dựng các quan hệ đối tác mang tính chiến l-ợc, tăng c-ờng đối thoại
Bên cạnh đó, các vấn đề mang tính toàn cầu đang diễn ra nh- sự phổ biến các loại vũ khí giết ng-ời hàng loạt, buôn bán ma tuý, khủng bố, tội ác có tổ
Trang 25chức, huỷ hoại môi tr-ờng, dịch bệnh đòi hỏi phải có sự phối hợp hành động của nhiều quốc gia trên thế giới mới có thể giải quyết đ-ợc
Tất cả những vấn đề đó buộc các n-ớc, nhất là các n-ớc lớn phải có sự
điều chỉnh chính sách cho phù hợp với tình hình quốc tế mới
Với Mỹ:
Nh- chúng ta biết, sau khi Chiến tranh lạnh kết thúc, Mỹ đ-a ra ý t-ởng
xây dựng "Cộng đồng Thái Bình D-ơng mới" theo cấu trúc hình nan quạt
Theo đó, Mỹ coi quan hệ Mỹ - Nhật làm hạt nhân, các quan hệ song ph-ơng giữa Mỹ với Hàn Quốc, Đài Loan, ASEAN, Ôxtraylia làm nan quạt Với mục
đích chủ yếu là đảm bảo quyền chủ đạo về kinh tế của Mỹ tại khu vực châu á
- Thái Bình D-ơng; tăng c-ờng quan hệ đồng minh Mỹ - Nhật; thúc đẩy khu vực châu á - Thái Bình D-ơng mở cửa hơn; đẩy mạnh dân chủ trong khu vực
Ng-ời ta có nói tới ba trụ cột chính trong "Cộng đồng Thái Bình D-ơng mới“:
trụ cột kinh tế lấy phát triển mậu dịch tự do làm hạt nhân; trụ cột chính trị lấy
đẩy mạnh dân chủ làm then chốt; trụ cột quân sự lấy xây dựng liên minh quân
sự có tính khu vực, hình thành cơ chế đối thoại an ninh khu vực châu á - Thái
Bình D-ơng làm cốt lõi Có thể nói quan điểm "Cộng đồng Thái Bình D-ơng mới" là tiêu chí quan trọng của việc Mỹ điều chỉnh chiến l-ợc toàn cầu của
mình trong bối cảnh mới Đó là sự cụ thể hoá chiến l-ợc hoá toàn cầu của Mỹ
ở khu vực châu á - Thái Bình D-ơng D-ờng nh- chiến l-ợc này đ-ợc xây dựng trên cơ sở lợi ích của bản thân Mỹ là chính nên không tránh khỏi mâu thuẫn và xung đột với các n-ớc khác Nếu trong thời kỳ Chiến tranh lạnh, Nhật Bản là n-ớc đồng minh ở châu á đ-ợc h-ởng nhiều -u đãi kinh tế của
Mỹ thì sau Chiến tranh lạnh, khi mà các lợi ích kinh tế nổi bật và trở nên quan trọng hơn thì quan hệ Mỹ - Nhật Bản trở thành quan hệ cạnh tranh về kinh tế, khiến cho Mỹ phải mở rộng quan hệ bạn hàng mới ở châu á để kiềm chế Nhật Bản Trung Quốc ngày càng có ý nghĩa chiến l-ợc quan trọng đối với Mỹ,
Trang 26Trung Quốc là n-ớc có thị tr-ờng rộng lớn, lại là một trong năm n-ớc có quyền phủ quyết tại Hội đồng Bảo an Liên hợp quốc, khi xử lý nhiều vấn đề quan trọng, Mỹ cần sự ủng hộ của Trung Quốc Mỹ cũng cần Trung Quốc hợp tác trong các vấn đề dân số, môi tr-ờng, năng l-ợng và các vấn đề quốc tế khác Tuy nhiên, xét về mặt kinh tế, sự xâm nhập và phụ thuộc lẫn nhau giữa
Mỹ và Nhật Bản đã ở mức khó có thể tách rời Mỹ là thị tr-ờng xuất khẩu và
là nơi đầu t- lớn nhất của Nhật Bản, cũng là nơi cung cấp kỹ thuật mới, sản phẩm kỹ thuật cao và thông tin nhiều nhất cho Nhật Bản Dù trong khu vực châu á - Thái Bình D-ơng hay trên phạm vi toàn cầu, Mỹ và Nhật Bản đều có lợi ích chung rộng rãi và nhu cầu hợp tác với nhau, điều này tạo cơ sở thiết lập mối quan hệ kinh tế lâu dài giữa hai n-ớc Trong tình hình hiện nay, vị trí của
Mỹ ở khu vực châu á - Thái Bình D-ơng đang bị Nhật Bản cạnh tranh, nhất là trong lĩnh vực kinh tế Bên cạnh đó, sự lớn mạnh của Trung Quốc cũng làm
Mỹ e ngại Tuy Trung Quốc ch-a phải là mối đe doạ trực tiếp đối với Mỹ, nh-ng Mỹ vẫn coi n-ớc này là đối thủ cạnh tranh tiềm tàng Cho nên, đồng thời với việc phát triển quan hệ song ph-ơng, Mỹ cũng muốn dùng Trung Quốc và Nhật Bản làm những lực l-ợng kiềm chế lẫn nhau
Có thể nói, chiến l-ợc ngoại giao của Mỹ thời kỳ sau Chiến tranh lạnh là: -u tiêu châu Âu, coi trọng châu á - Thái Bình D-ơng, tăng c-ờng thêm ba tuyến Trung Đông, Trung á và Nam á
Với Trung Quốc:
Ngoại giao Trung Quốc gồm hai nội dung lớn: quan hệ với các n-ớc và ngoại giao toàn ph-ơng vị nhằm thể hiện vai trò n-ớc lớn với cơ sở thực lực là
sự quật khởi và phát triển Trung Quốc tích cực chủ tr-ơng xây dựng trật tự quốc tế mới, chủ tr-ơng thế giới đa cực hoá, góp phần thúc đẩy quá trình hình thành mối quan hệ quốc tế kiểu mới giữa các n-ớc lớn Sau sự kiện Thiên An Môn (6/1989), Trung Quốc hầu nh- rơi vào tình trạng bị cô lập bởi chính sách bao vây kinh tế và ng-ng trao đổi nhân sự cấp cao do Mỹ phát động Sau
Trang 27Chiến tranh lạnh, Trung Quốc muốn trở thành một cực để cân bằng với Mỹ Song, vào thời điểm đó, ngoài vai trò là một c-ờng quốc đông dân nhất thế giới và là một trong năm Uỷ viên th-ờng trực của Liên hợp quốc ra thì Trung Quốc vẫn còn thua kém Mỹ về mọi mặt Để đạt đ-ợc mục tiêu trên, về đối nội, Trung Quốc đã thúc đẩy chính sách cải cách, mở cửa hơn nữa nhằm hiện
đại hoá kinh tế, quốc phòng Về đối ngoại, Trung Quốc tiến hành bình th-ờng
hoá quan hệ với các n-ớc bao gồm cả những n-ớc tr-ớc đây đ-ợc xem nh- "kẻ thù" và tích cực tham gia vào các tổ chức quốc tế và khu vực nhằm xoá đi hình
ảnh của sự kiện Thiên An Môn Trung Quốc đã coi Nhật Bản nh- đầu mối khai thông quan hệ chính trị với thế giới và là nguồn cung cấp vốn cho mình, vì vậy Trung Quốc đã tăng c-ờng thúc đẩy quan hệ với Nhật Bản Hơn nữa,
đến cuối năm 1989, Mỹ cũng đã có sự thay đổi chính sách đối với Trung Quốc Tháng 11/1989, cựu Tổng thống Mỹ Nixon đã sang thăm Trung Quốc, tháng 12 đặc phái viên của tổng thống tới Trung Quốc để thoả thuận quan hệ
và tuyên bố nối lại khoản vay vốn của ngân hàng xuất nhập khẩu Tiếp đó, tr-ớc khi Hội nghị cấp cao các n-ớc G7 tổ chức ở Hunton, phía Mỹ đã quyết
định kéo dài chế độ tối huệ quốc cho Trung Quốc
Tr-ớc thái độ của Mỹ nh- vậy, Nhật Bản cũng phải điều chỉnh chính sách của mình đối với Mỹ và Trung Quốc
Với Nga:
Chiến tranh lạnh kết thúc, n-ớc Nga phải đối đầu với hàng loạt khó khăn
Đó là sự suy thoái về kinh tế, sự hỗn loạn về chính trị, sự suy giảm về sức mạnh quân sự Cuộc khủng hoảng ngày càng sâu sắc và toàn diện gắn liền với
sự chuyển tiếp từ một chế độ xã hội này sang chế độ xã hội khác Trong xu thế toàn cầu hoá, khu vực hoá, Nga đề ra mục tiêu của chính sách đối ngoại là tạo
điều kiện quốc tế thuận lợi để thực hiện thành công cải cách kinh tế, ổn định chính trị và cải thiện, mở rộng quan hệ với các n-ớc trên thế giới, đ-a n-ớc Nga hoà nhập vào các thiết chế chính trị, kinh tế của châu á và thế giới
Trang 28Nhiệm vụ của chính sách đối ngoại là tạo dựng môi tr-ờng quốc tế thuận lợi để xây dựng một n-ớc Nga dân chủ hiện đại, có nền kinh tế phát triển theo nguyên tắc thị tr-ờng tự do, có vai trò và vị trí t-ơng xứng với tiềm năng của Nga trên tr-ờng quốc tế Cụ thể gồm ba nhiệm vụ:
- Khôi phục di sản Chiến tranh lạnh của thời kỳ đối đầu
- Xây dựng vành đai láng giềng thân thiện xung quanh n-ớc Nga, tạo
điều kiện để Nga gia nhập cộng đồng những quốc gia văn minh dân chủ
- Đảm bảo an ninh quốc gia và toàn vẹn lãnh thổ
Chính sách đối ngoại của Nga đ-ợc thực hiện theo ph-ơng châm chỉ đạo
là hợp tác với các quốc gia trên cơ sở cùng có lợi
Từ mục tiêu, ph-ơng châm chiến l-ợc và nhiệm vụ đã đề ra, Nga đã có sự
điều chỉnh chính sách đối ngoại với các n-ớc, nhất là với các n-ớc lớn, trong
đó có Nhật Bản, cho phù hợp với tình hình mới
Vì thế, bên cạnh việc tăng c-ờng quan hệ "đối tác chiến l-ợc" với Trung
Quốc, chú trọng xây dựng mối quan hệ với Mỹ, Nga rất quan tâm đến việc cải thiện và phát triển mối quan hệ với Nhật Bản, tiến tới ký kết hiệp -ớc hoà bình Nga - Nhật Về mặt khách quan, cả Nga và Nhật đều có nhu cầu hợp tác trong lĩnh vực kinh tế, th-ơng mại cũng nh- trong quan hệ hợp tác về an ninh quốc phòng
Nga có nhu cầu mở rộng quan hệ với Nhật để giữ vững sự ổn định vùng Viễn Đông, cửa ngõ để Nga thông ra châu á - Thái Bình D-ơng Hơn nữa, nguồn vốn phong phú, trình độ kỹ thuật và công nghệ hiện đại của Nhật Bản
là một trong những nguồn lực bên ngoài quan trọng mà Nga phải tranh thủ để phục vụ cải cách kinh tế, tr-ớc hết là để phát triển vùng lãnh thổ phía Đông Ng-ợc lại, thị tr-ờng rộng lớn của Nga đang có sức hấp dẫn các nhà đầu t- của Nhật Bản Và tăng c-ờng quan hệ với Nga cũng sẽ giúp Nhật Bản tăng thế chiến l-ợc của mình trong đời sống chính trị thế giới (Nhật Bản muốn tranh thủ các n-ớc lớn để trở thành Uỷ viên th-ờng trực của Hội đồng Bảo an Liên
Trang 29hợp quốc) Xuất phát từ những nhu cầu trên, trong những năm qua, Nga đã
đẩy mạnh quan hệ ngoại giao với Nhật Bản Nếu quan hệ song ph-ơng đ-ợc tăng c-ờng, Nhật sẽ quyết định viện trợ d-ới nhiều hình thức khác nhau để hỗ trợ cải cách kinh tế của Nga Tuy nhiên, quan hệ Nga - Nhật vẫn còn nhiều khó khăn trắc trở và là một vấn đề nan giải trong chính sách đối ngoại h-ớng
ra châu á - Thái Bình D-ơng của Nga Nh-ng trong bối cảnh hiện nay, hoà bình ổn định vẫn là xu thế chủ yếu trong quan hệ quốc tế; cùng với nó là chính
sách coi trọng quan hệ hợp tác với các n-ớc trong "vành đai láng giềng thân thiện" ở châu á của Nga, trong đó có Nhật Bản Đó là những nhân tố thúc đẩy
quan hệ Nga - Nhật ngày càng phỏt triển t-ơng xứng với nhu cầu và tiềm năng của mỗi n-ớc
Nh- vậy, trong quan hệ quốc tế thời kỳ sau Chiến tranh lạnh, các n-ớc
đều có sự thay đổi chính sách đối ngoại cho phù hợp với tình hình mới Đó cũng là một nhõn tố buộc Nhật Bản phải điều chỉnh chính sách đối ngoại của mình
1.3.1 Tình hình kinh tế
Trang 30B-ớc vào thập niên 90 của thế kỷ XX cũng là lúc nền kinh tế "bong bóng"
của Nhật Bản sụp đỗ, nền kinh tế của Nhật Bản rơi vào tình trạng đình trệ kéo dài Từ năm 1991 đến những năm gần đây, tốc độ tăng tr-ởng của Nhật Bản nhiều năm chỉ đạt d-ới 1% Tốc độ tăng tr-ởng kinh tế thực tế đã giảm 2,9% năm 1991 xuống còn 0,4% năm 1992 và 4 năm liền từ 1992 - 1995, mức tăng tr-ởng trung bình chỉ đạt 0,6% Mặc dù đã khôi phục đ-ợc mức 2,9% năm
1996, song đến năm 1997 đã là -0,5% Sau nhiều năm liên tục, tăng tr-ởng kinh
tế Nhật Bản bị đánh dấu bằng con số âm [53; 371]
1.3.1.1 Hậu quả từ sự đỗ vỡ của nền kinh tế bong bóng
Trong thời kỳ kinh tế bong bóng vào cuối những năm 80, các ngân hàng
đã cho vay quá nhiều mà mục tiêu chủ yếu là giúp các doanh nghiệp đầu cơ cổ phiếu, bất động sản, cũng nh- mở rộng sản xuất Sự sụp đỗ của nền kinh tế bong bóng vào đầu những năm 90 đã đẩy nền kinh tế Nhật Bản vào tình trạng suy thoái nghiêm trọng Ngành kinh tế bị tác động nghiêm trọng nhất là các công ty tài chính, tín dụng và các ngân hàng Hầu hết các công ty tài chính và các ngân hàng đều làm ăn kém hiệu quả hoặc thua lỗ, tình trạng cho vay sai mục đích và đối t-ợng khiến cho nợ khó đòi ngày càng chồng chất tới hàng trăm tỷ đô la Những năm cuối thập niên 80, ở Nhật Bản, bất động sản luôn là tài sản thế chấp của các công ty lớn nhỏ dùng để vay tiền của các ngân hàng
Do giá bất động sản tăng vọt đã khiến cho các ngân hàng sẵn sàng nhận thế chấp và thậm chí cho vay quá mức Đến đầu những năm 90, giá cổ phiếu và
đất đai bắt đầu giảm xuống rất nhanh, giá đất giảm xuống đột ngột đã khiến cho hàng loạt công ty bị phá sản không có tiền trả nợ ngân hàng, trong khi đó ngân hàng buộc phải ôm một đống văn tự thế chấp chẳng còn mấy giá trị Tình trạng này khiến cho các ngân hàng và các công ty tài chính Nhật Bản hết sức lao đao, hàng loạt các tổ chức tín dụng đã bị đỗ vỡ Ngân hàng Hyogo ở Kobe với các khoản vay không trả đ-ợc lên tới 8 tỷ đô la, Hiệp hội tín dụng Nhật Bản cũng rơi vào rối loạn Thậm chí 11 ngân hàng mạnh nhất của Nhật
Trang 31Bản và gần nh- mạnh nhất của thế giới, lần đầu tiên sau Chiến tranh thế giới thứ hai, đã phải giảm khả năng hoạt động xuống còn 90% vào các năm 1994
và 1995 Riêng ngân hàng Sumitomo, lớn nhất thế giới, tuyên bố lỗ 3 tỷ đô la vào năm 1995 Tình trạng này còn làm tăng độ rủi ro của các ngân hàng Nhật Bản và làm suy sụp lòng tin của giới đầu t- vốn trong và ngoài n-ớc vào thị tr-ờng tài chính Nhật Bản Cho đến năm 1995, do không cảm thấy sự hấp dẫn của thị tr-ờng Nhật Bản, nơi đang rối loạn về giá cổ phiếu, nhiều tổ chức tiền
tệ n-ớc ngoài đã rút khỏi Tokyo chuyển sang các khu vực khác của châu á
Đặc biệt do điều kiện tham gia vào thị tr-ờng cổ phiếu của Nhật Bản rất khắt khe, nên các công ty lớn của châu á cũng ngại không tham gia vào thị tr-ờng Nhật Bản mà chuyển sang Mỹ, Singapo và một số n-ớc châu á khác Bên cạnh đó, sự tăng giá của đồng Yên là một khó khăn rất lớn cho nền kinh tế ngoại th-ơng Nhật Bản, vốn rất nhạy cảm với mọi biến động trên thị tr-ờng quốc tế, đặc biệt là thị tr-ờng tài chính Trong 3 năm (1993 - 1995), đồng Yên tăng giá liên tục (năm 1993: 111,8 Yên/USD; năm 1994: 94,83 Yên/USD; riêng năm 1995: đồng Yên Nhật đạt mức tăng ch-a từng thấy trong 50 năm trước đú: 83,9 Yên/USD [35; 201] Do đồng Yên tăng giá liên tục làm cho hàng xuất khẩu của Nhật Bản tính theo đô la trở nên quá đắt đã làm giảm sức cạnh tranh trên thị tr-ờng thế giới, đồng thời gây cản trở cho các ngành công nghiệp xuất khẩu của Nhật Bản Đồng Yên tăng giá làm tổn hại đến lòng tin của các nhà đầu t- vào kinh doanh Tình trạng phá sản và đỗ vỡ kinh doanh diễn ra nhiều, nhất là các công ty vừa và nhỏ, đặc biệt các công ty có tỷ lệ xuất khẩu cao thì ảnh h-ởng càng rõ rệt Theo báo cáo ngày 14/4/1995 của một cơ quan điều tra ở Nhật về các vấn đề tài chính của các doanh nghiệp nhỏ, với khoản nợ từ 10 triệu Yên trở lên mà họ không đủ khả năng thanh toán dẫn tới phá sản đã diễn ra liên tục trong năm 1994 Theo báo cáo này, đã có 14.201 vụ phá sản, với tổng giá trị là 6.171,5 tỷ Yên
Trang 32Sự tặng giá liên tục của đồng Yên so với đồng đô la Mỹ cũng gây ảnh h-ởng đến nền kinh tế của các n-ớc trên thế giới, trong đó các n-ớc ở khu vực châu á láng giềng của Nhật Bản chịu ảnh h-ởng nhiều nhất Họ phải chi nhiều tiền lãi hơn để trả khoản tiền vay của Nhật Bản, hoặc để mua cùng một
số l-ợng hàng hoá Nhật Bản mặc dù giá hàng đó tính bằng đồng Yên nh- cũ Nhật Bản hiện là một trong những n-ớc cho vay lớn nhất thế giới, đồng Yên tăng giá liên tục đã làm cho các khoản nợ phải trả cũng tăng lên t-ơng ứng Chính những điều đó đã khiến cho n-ớc Nhật phải rất thận trọng trong khi giải quyết những quan hệ thanh toán với các n-ớc là con nợ của mình Hơn nữa, các công ty của Nhật Bản đã giảm chi phí sản xuất xuống mức thấp nhất hoặc chuyển sản xuất ra n-ớc ngoài, tăng nhập khẩu các sản phẩm công nghiệp từ n-ớc ngoài, nhất là các sản phẩm từ các cơ sở chế tạo của Nhật Bản ở n-ớc ngoài Chính những điều này đòi hỏi Nhật Bản phải có những điều chỉnh chính sách th-ơng mại, đầu t- quốc tế của mình để thích ứng với tình hình kinh tế trong n-ớc
Đầu t- t- nhân vào kinh doanh sản xuất trong n-ớc là một trong những cấu thành quan trọng của nhu cầu trong n-ớc và tr-ớc đây th-ờng có tác dụng thúc
đẩy mạnh mẽ quá trình phục hồi kinh tế Nhật Bản Nh-ng đến năm 1995 nhu cầu đầu t- t- nhân chỉ tăng hơn 1% Các xí nghiệp bất an về t-ơng lai và tình trạng hàng tồn kho vẫn đang ở mức cao nên không tích cực đầu t- Lợi nhuận của nhiều công ty tăng chậm hoặc giảm mạnh Khả năng sinh lợi của ngành công nghiệp suất khẩu giảm xuống, buộc các công ty phải giảm bớt hoạt động
Từ tháng 9/1995 lãi suất chiết khấu đã giảm xuống mức thấp kỷ lục là 0,5%, song các xí nghiệp vẫn rất thận trọng không giám đi vay để đầu t- Do đó nhu cầu trong n-ớc rất yếu Nếu từ năm 1986 - 1990 nhu cầu trong n-ớc tăng 5,4% hàng năm thì năm 1992 chỉ tăng 0,9%, năm 1994 tăng 1,6% và năm 1995 là 1,5% Bên cạnh đầu t- t- nhân tăng chậm, chi tiêu của ng-ời Nhật cũng tăng thấp, năm 1994 tăng 2,2% và năm 1995 là 1,2% Điều này đã ảnh h-ởng đến
Trang 33các ngành sản xuất công nghiệp, đặc biệt là ngành sản xuất công nghiệp ô tô, và ngành công nghiệp sản xuất hàng điện tử Thí dụ công ty Toyota Motor Croup chỉ số sản xuất ô tô con trong n-ớc giảm 13,4% so với năm 1992, còn chỉ số sản xuất xe tải và xe buýt giảm 11,4%; chỉ số xuất khẩu xe con giảm 23,2% đạt 78.108 đơn vị, còn chỉ số xuất khẩu xe tải và xe buýt giảm 17,8% đạt 30.454
đơn vị; tổng xuất khẩu xe của Toyota giảm 21,7% tức 108.562 đơn vị
Còn đối với công ty Nissan, tình hình còn tồi tệ hơn, tổng xuất khẩu của công ty giảm 39%, tức chỉ đạt 51.066 đơn vị Cụ thể, xuất khẩu xe con giảm 35,9% đạt 43.923 đơn vị; xuất khẩu tàu thủy dân dụng 52,7% đạt 7.143 đơn vị [5; 49]
Điều này vừa phản ánh việc ng-ời Nhật ch-a tin t-ởng vào quá trình phục hồi kinh tế, vừa do thu nhập của ng-ời Nhật tăng chậm Mặc dù năm 1995, giá cả tiêu dùng giảm 0,1%, song ng-ời Nhật vẫn không hăng hái chi tiêu lắm, vì
họ phải giành tiền cho những bất trắc về việc làm và thu nhập đang chờ họ phía tr-ớc Tình hình thu nhập và chi tiêu cá nhân cũng ảnh h-ởng đến doanh
số bán ra của các cửa hàng và siêu thị Theo Hiệp hội cửa hàng bán lẻ của Nhật Bản, 11 công ty thành viên của hội với 28 điểm bán lẻ đặt quanh Tokyo trong suốt 3 tháng đầu năm 1995, doanh số bán lẻ đạt 201 tỷ Yên, giảm 4% so với cùng kỳ năm tr-ớc Theo một cuộc thăm dò các hộ gia đình thì khuynh h-ớng tiêu dùng của phần lớn các gia đình sống bằng tiền l-ơng và tiền công làm theo thời vụ đã giảm 77% Ng-ời dân Nhật Bản với bản tính hay lo xa đã rất dè xẻn chi tiêu, nên sau khi thuế suất tiêu thụ tăng lên ngày 1/4/1997 và những số liệu thống kê kinh tế bi đát của Nhật Bản đ-ợc công bố thì nhu cầu nội địa giảm rất nghiêm trọng và phục hồi chậm Thực tế của chính sách này nhằm giảm bớt thiếu hụt ngân sách, nh-ng đã làm cho tiêu dùng cá nhân tăng không quá 1,6% năm 1997, thấp xa so với mức 2,8% năm 1996, đồng thời tiêu dùng công cộng chỉ tăng 1,8% Mặc dù đến năm 1998 chính phủ Nhật Bản đã
đề ra ch-ơng trình kích thích kinh tế, nh- cắt giảm thuế đến 310 USD/ng-ời
Trang 34với thời hạn 2 năm, song nhu cầu nội địa vẫn giảm Ng-ời Nhật lo rằng chế độ
sử dụng lao động suốt đời sẽ kết thúc, tỷ lệ thấp nghiệp sẽ tăng Cùng với đó
là gánh nặng nợ của chính phủ và thực trạng già hoá dân số sẽ không biết trong t-ơng lai có đ-ợc h-ởng l-ơng h-u hay không Đầu tháng 5/1998 theo
kết quả của cuộc điều tra "ý thức xã hội" của một cơ quan nhà n-ớc công bố
thì có tới 72,2% ng-ời Nhật cho rằng n-ớc Nhật đang đi theo chiều h-ớng xấu, trong khi đó tại cuộc điều tra năm tr-ớc số ng-ời có cùng suy nghĩ là 55,5% Nh- vậy, ngày càng có nhiều ng-ời Nhật bi quan tr-ớc thực trạng kinh
tế của Nhật Bản Ngày càng có nhiều ng-ời Nhật giảm chi tiêu để chờ đợi hàng giá rẻ hơn và đó cũng là một nhân tố khiến cầu nhu nội địa giảm Với tình trạng nh- vậy, Nhật Bản đã có những ch-ơng trình phá bỏ luật lệ, nhằm
mở rộng tự do hoá hơn nữa nền kinh tế, mở cửa thị tr-ờng Nhật Bản, thúc đẩy hơn nữa các nhu cầu trong n-ớc về hàng hoá và dịch vụ
1.3.1.2 Đồng Yên mất giá và ảnh h-ởng của cuộc khủng hoảng tài chính - tiền tệ
Nếu nh- đầu những năm 90 đồng Yên tăng giá đã làm ảnh h-ởng đến nền kinh tế Nhật Bản thì sang cuối những năm 90 lại diễn ra theo h-ớng ng-ợc lại và đã gây hậu quả nghiêm trọng đối với nền kinh tế Nhật Bản Trong
4 năm liên tục, từ 80 Yên/USD vào quý I và quý II năm 1995 xuống 141,66 Yên/USD vào quý III năm 1998 đã phản ánh tính không ổn định của đồng tiền Nhật Bản Cuộc khủng hoảng tài chính - tiền tệ (1997) là nguyên nhân trực tiếp làm đồng Yên Nhật mất giá, ng-ợc lại đồng Yên mất giá đã làm cho cuộc khủng hoảng càng trở nên trầm trọng hơn Toàn bộ hệ thống tài chính - ngân hàng Nhật Bản bị chao đảo mạnh, với hàng loạt định chế đứng tr-ớc nguy cơ
đỗ bể Lòng tin vào một cơ cấu tài chính vốn hùng mạnh bậc nhất thế giới bị xói mòn ch-a từng thấy Sự phá sản dồn dập của các tổ chức tiền tệ lớn vào tháng 11 và 12 năm 1997 cho thấy mức độ sâu sắc của tình hình, sự sụt giá của đồng Yên vốn là hệ quả của tình trạng kinh tế ốm yếu giờ đây đang kích
Trang 35thích mạnh tình trạng đó Về khách quan, đồng Yên mất giá kích thích Nhật Bản gia tăng việc xuất khẩu Ng-ời ta tính rằng nếu đồng tiền Nhật Bản giảm giá 1 Yên trong quan hệ tỷ giá thì hãng Sony mặc nhiên đ-ợc lợi 5 tỷ Yên, còn hãng Hitachi đ-ợc lợi 2 tỷ Yên trong buôn bán quốc tế Nh-ng trong hoàn cảnh Nhật Bản có khoản tiền khổng lồ ở hải ngoại, nên hễ đồng tiền Nhật Bản giảm giá 1 Yên so với đồng USD, thì GDP của Nhật tính bằng USD sẽ giảm
1000 tỷ Yên Hơn nữa, chi phí nhập khẩu tăng sẽ làm triệt tiêu lợi thế mà xuất khẩu có đ-ợc Đối với một quốc gia gần nh- lệ thuộc hoàn toàn vào việc nhập khẩu nguyên liệu và năng l-ợng nh- Nhật Bản, không thể không tính đến điều này Ngoài ra, phải kể đến một tình huống cực kỳ bất lợi khác đối với Nhật Bản khi gia tăng mức thặng d- mậu dịch sẽ làm tăng phản ứng tiêu cực từ nhiều n-ớc khác, nhất là Mỹ và các n-ớc láng giềng châu á là những bạn hàng nhập siêu lớn đang mong muốn tạo thế cân bằng mậu dịch với Nhật Bản Nh- vậy, tình trạng mất giá kéo dài của đồng Yên sẽ gây hậu quả chiến l-ợc lâu dài cả về ph-ơng diện cấu trúc nội tại của nền kinh tế Nhật Bản, lẫn ph-ơng diện quan hệ kinh tế đối ngoại của nó
Những khó khăn của nền kinh tế Nhật Bản cuối những năm 90 càng trầm trọng hơn do tác động của cuộc khủng hoảng tài chính - tiền tệ ở Đông á Cuộc khủng hoảng này đã tác động tiêu cực đến Nhật Bản nặng nề hơn so với
Mỹ và châu Âu Theo tính toán của Tổ chức hợp tác và phát triển kinh tế (OECD), ảnh h-ởng của khủng hoảng tài chính - tiền tệ ở châu á đã khiến cho GDP của châu Âu và Mỹ giảm 0,1 - 0,2% trong năm 1997 nh-ng với Nhật Bản là 0,4% Còn theo tính toán của Viện nghiên cứu Nikko (Nhật Bản) thì cuộc khủng hoảng này đã làm cho GDP của Nhật Bản giảm 0,75% Sở dĩ nh- vậy là do Nhật Bản có mối quan hệ hết sức chặt chẽ với các n-ớc trong khu vực Đông và Đông Nam á là thị tr-ờng xuất- nhập khẩu lớn nhất của Nhật Bản, chiếm 1/2 kim ngạch ngoại th-ơng và chiếm tới 1/3 tổng số vốn đầu t-
Trang 36n-ớc ngoài trong khu vực này của Nhật Bản Theo đánh giá của công ty Moody,s ở Mỹ, các n-ớc châu á nợ các ngân hàng của Nhật Bản khoảng 182
tỷ USD và mối rủi ro của các khoản nợ đó gấp 13 lần so với khoản lợi nhuận thu đ-ợc của các ngân hàng này Khi đồng tiền của các n-ớc Đông Nam á bị sụt giá so với đồng Yên thì các n-ớc này lại càng thêm gánh nặng nợ với Nhật Bản
Ngoài việc giải quyết những khó khăn tài chính trong n-ớc, Nhật Bản còn phải giúp đỡ các n-ớc chõu á trong cuộc khủng hoảng tài chính - tiền tệ Khôi phục kinh tế châu á là tiền đề để ổn định chính trị, xã hội của các quốc gia này Trong bối cảnh các nền kinh tế phụ thuộc lẫn nhau, sự hồi sinh kinh tế của Nhật Bản và các n-ớc châu á có tác động t-ơng hỗ cho nhau
Tóm lại, cuộc khủng hoảng tài chính - tiền tệ ở châu á đã buộc Nhật Bản phải đối diện với nhiều vấn đề nan giải nh-: Xuất khẩu suy giảm, tăng nợ khó thu hồi, tỷ giá hối đoái và giá cổ phiếu biến động mạnh và khó dự đoán khiến cho Nhật Bản phải có những điều chỉnh linh hoạt trong chính sách đối ngoại của mình bên cạnh những cải cách kinh tế trong n-ớc
1.3.2 Tình hình chính trị
Để đánh giá nhân tố chính trị ẩn d-ới sự kế tục và thay đổi trong chính sách đối ngoại của Nhật Bản, cần phải hiểu không chỉ do những áp lực bên ngoài mà còn là những thay đổi liên minh quyền lực trong n-ớc cũng đồng thời diễn ra Chỉ nh- vậy mới có thể đánh giá và hiểu đ-ợc những thay đổi thực tế đã diễn ra và những kế tục không thể bỏ đ-ợc trong chính sách đối ngoại của Nhật Bản Từ cuối những năm 80, cùng với những thay đổi về cơ cấu kinh tế, nền chính trị của Nhật Bản cũng đã có những xáo động lớn, mở
đầu bằng việc Đảng Dân chủ tự do Nhật Bản (LDP) bị trở thành đảng đối lập trong giai đoạn 1993 - 1996 Nếu 38 năm tr-ớc đó, xã hội Nhật Bản chịu sự
Trang 37thống trị của nguyên tắc một đảng - Đảng Dân chủ tự do (LDP) - thì từ tháng 7/1993 nguyên tắc đó đã bị thay đổi
Cần phải thấy rằng, Đảng Dân chủ tự do Nhật Bản là một đảng mạnh về
tổ chức và có ảnh h-ởng sâu rộng tới các tầng lớp xã hội ở Nhật Bản trong những thập niên gần đây Về mặt đối ngoại, chính sách của LDP là liên kết chặt chẽ với Mỹ, dựa vào sự đảm bảo an ninh của Mỹ để rảnh tay tập trung xây dựng kinh tế Về đối nội, đảng này thực hiện chính sách kinh tế, xã hội mang tính thực dụng cao Nhờ vậy nền kinh tế của Nhật Bản đã đạt đ-ợc sự
phát triển "thần kỳ", đ-a n-ớc Nhật từ đỗ nát sau chiến tranh lên hàng siêu
c-ờng thứ hai trên thế giới sau Mỹ Thành công đó gắn chặt với Đảng Dân chủ
tự do, và nó đã củng cố vị trí của đảng này trong việc nắm giữ quyền lực chính trị suốt 38 năm liên tục
Cho tới tháng 7/1993, trong cuộc bầu cử quốc hội, LDP đã bị thất bại, một liên minh 7 đảng của Hosokawa thắng lợi và đứng ra lập chính phủ mới Cuộc bầu cử này đánh dấu sự thất bại lớn nhất trong lịch sử gần 4 thập niên của Đảng Dân chủ tự do Nhật Bản Nguyên nhân của sự thất bại này có nhiều, song có hai loại nhân tố chính đẩy LDP vào sự thất bại đ-ợc nhiều nhà phân tích chính trị Nhật Bản thừa nhận là nạn tham nhũng của những người cầm quyền trong LDP và sự thay đổi về tư tưởng của cử tri Nhật
Tuy đã quay trở lại thành đảng cầm quyền (1996), nh-ng chắc chắn sức mạnh của LDP không còn đ-ợc nh- tr-ớc nữa Điều quan trọng là trong thời gian qua cách suy nghĩ của cử tri Nhật đối với chính trị có những thay đổi
đáng kể Tỷ lệ nhóm cử tri thụ động (bỏ phiếu trắng và dao động) đã chiếm gần nửa số cử tri Nhật Bản Đây là nhóm cử tri bất ổn định nhất và luôn bị tác
động bởi các nhân tố xúc cảm khác nhau Cách xử sự của họ trong các cuộc bầu cử rất khó dự đoán và do chiếm số đông nên họ có thể gây ảnh h-ởng to lớn đối với quá trình bầu cử Sự dễ dao động và không gắn bó với một đảng chính trị đã thay thế cho sự trung thành và mức độ gắn bó rất cao với các đảng
Trang 38chính trị tr-ớc kia Trong nhân dân, xu h-ớng "lớp vô đảng phái" ngày càng
tăng Quần chúng đã bất bình với những nhà lãnh đạo có những hành động không xứng đáng với chức năng và nhiệm vụ của mình và vì họ xa cách với cử tri Trong những năm đầu sau chiến tranh, Nhật Bản là một n-ớc kém quan trọng trên thế giới, phụ thuộc hoàn toàn về an ninh quân sự và không tham gia vào các công việc quốc tế Các nhà lãnh đạo lúc đó chỉ tập trung vào công việc trong n-ớc, đặc biệt là các khu vực bỏ phiếu của cá nhân mình Nh-ng khi tình hình quốc tế thay đổi, cùng với sự lớn mạnh về kinh tế, Nhật Bản phải
đóng góp phần của mình vào nền kinh tế thế giới
Đảng Dân chủ tự do có ba nguyên lý cơ bản: Nguyên lý về chủ nghĩa hoà bình; nguyên lý về chủ nghĩa kinh tế; nguyên lý về chủ nghĩa dân chủ Hiện nay, trong bản thân Đảng dân chủ tự do đang bị phân chia thành hai phe tả và hữu xoay quanh ba nguyên lý này Phe tả cho rằng Nhật Bản phải tham gia
đóng góp cho quốc tế, còn phe hữu lại muốn duy trì chủ nghĩa hoà bình vốn
có của mình Về kinh tế cũng tồn tại hai quan điểm: Một quan điểm muốn tự
do hoá hơn nữa về kinh tế; quan điểm khác ng-ợc lại cho rằng, kinh tế cần phải đ-ợc bảo hộ Trong tình hình đó, nền chính trị Nhật Bản phải lựa chọn đi theo h-ớng nào để vừa ổn định đ-ợc tình hình chính trị trong n-ớc, vừa phát huy vai trò quốc tế của mình Về kinh tế, làm sao để vừa nâng cao năng lực cạnh tranh quốc tế, vừa không làm mất cân bằng cán cân buôn bán với các n-ớc, đặc biệt là với Mỹ Về xã hội, giải quyết nh- thế nào vấn đề ng-ời già Hàng loạt vấn đề đặt ra cho đảng cầm quyền để làm sao có sự phù hợp chính sách đối nội, đối ngoại và chính sách về an ninh Do những điều kiện mới trong n-ớc và trên thế giới, Nhật Bản đang phải tiến hành cải cách hành chính theo h-ớng dân chủ hoá, quốc tế hoá và hiện đại hoá Ng-ợc lại, tình hình chính trị trong n-ớc cũng là một trong những yếu tố quan trọng tạo cơ sở cho việc điều chỉnh chính sách đối ngoại của Nhật Bản
Trang 391.3.3 Những vấn đề xã hội
Sự điều chỉnh trong chính sách đối ngoại của Nhật Bản trong những năm
1990 chịu tác động của nhiều nhân tố, trong đó những nhân tố xã hội cũng
đóng một vai trò quan trọng Trong những năm 90, xã hội Nhật Bản có nhiều thay đổi so với tr-ớc đó, nh-ng ở đây chúng ta chỉ tìm hiểu những vấn đề xã hội tác động đến sự điều chỉnh chính sách đối ngoại của Nhật Bản
Thứ nhất là vấn đề già hoá dân số Theo số liệu thống kê của Nhật Bản, tổng số dân năm 1990 là 123,6 triệu ng-ời, năm 1995 là 125,6 triệu ng-ời Số ng-ời già từ 65 tuổi trở lên là 18,6 triệu vào năm 1990, 19,8 triệu vào năm
1997 và dự tính đến năm 2021 tăng gần 2 lần, đạt 33,4 triệu ng-ời
Hiện nay, Nhật Bản là n-ớc có tuổi thọ trung bình cao nhất thế giới: Nam xấp xỉ 77 tuổi, nữ 83 tuổi Số ng-ời từ 65 tuổi trở lên chiếm 14,8% dân số Dân số Nhật Bản đang trở thành già nhất thế giới vào đầu thế kỷ mới Điều
đáng chú ý là tốc độ già hoá dân số Nhật Bản diễn ra khá nhanh chóng Ng-ời
ta tính rằng, thời gian tăng tốc từ 10 - 20% ở Nhật Bản mất 22 năm, trong khi
đó các n-ớc châu Âu nh- Thụy Điển, Đức quảng thời gian đó phải mất gấp 3 lần
Tỷ lệ ng-ời quá già (75 tuổi trở lên) cũng tăng nhanh: Từ 39,6% vào năm
1995 lên 39,9% năm 2000 và theo tính toán sẽ lên tới 56,6% năm 2025 và trở thành n-ớc có tỷ lệ ng-ời già v-ợt xa các n-ớc khác [15; 54 - 55]
Xu h-ớng già hoá dân số ở Nhật Bản đã và đang làm thay đổi cơ cấu và chất l-ợng lao động Tỷ lệ ng-ời già trong lực l-ợng lao động tăng hàng năm
Tỷ lệ ng-ời có việc làm ở tuổi 40 trở lên tăng từ 37,5% vào năm 1950 lên 42,6% năm 1970 và 58,7% năm 1995 Hơn nữa, do tỷ lệ sinh giảm, đã làm giảm tốc độ bổ sung lao động trẻ cho các lĩnh vực của nền kinh tế quốc dân Dân số ít đi và già hơn có nghĩa là hoạt động kinh doanh thu hẹp lại, lực l-ợng lao động ít hơn, giá cả sức lao động tăng cao, ảnh h-ởng đến đầu t- phát triển sản xuất, số tiền tiết kiệm và tiền đầu t- co lại nh-ờng chỗ cho các khoản chi
Trang 40phí phúc lợi, h-u trí và chăm sóc ng-ời già Dân số và lực l-ợng lao động già
đi cũng khiến cho chế độ làm việc suốt đời và tăng l-ơng theo thâm niên của các công ty Nhật Bản gặp khó khăn và cần phải sửa đổi, do các công ty không thể chịu đựng đ-ợc chi phí lao động ngày càng tăng Bên cạnh đó, do yêu cầu của cuộc cách mạng khoa học công nghệ mới cũng nh- môi tr-ờng kinh doanh có tính quốc tế và cạnh tranh hơn, đòi hỏi phải tuyển thêm và đãi ngộ tốt cho các lực l-ợng lao động trẻ, năng động và sáng tạo ngày càng nhiều
Đây là một trong những lý do thúc đẩy ngày càng nhiều công ty, xí nghiệp của Nhật Bản thu hẹp sản xuất trong n-ớc hoặc chuyển sản xuất kinh doanh ra n-ớc ngoài
Trên bình diện xã hội, do sự tăng lên của ng-ời già trong dân số cũng làm cho cơ cấu tiêu dùng của dân c- thay đổi, tiêu dùng cá nhân tăng chậm nh- đã phân tích ở trên Trong khi đó, chi phí cho phúc lợi xã hội không ngừng tăng lên ở Nhật Bản, chính phủ có trách nhiệm cung cấp dịch vụ chăm sóc y tế, những chi phí cho dịch vụ chăm sóc này th-ờng đòi hỏi nguồn tài chính lớn Ng-ời Nhật đã tính đ-ợc rằng, nếu một ng-ời sống đến tuổi già thì 90% tiền chi phí y tế ng-ời đó tiêu dùng trong cả cuộc đời dồn vào 6 tháng tr-ớc khi mất Do vậy, việc tạo lập nguồn tài chính đảm bảo nhu cầu cuộc sống của ng-ời già đang là vấn đề lớn đối với Nhật Bản ngày nay
Thứ hai là nạn thấp nghiệp B-ớc sang những năm 90, tỷ lệ thất nghiệp ngày càng gia tăng ở Nhật Bản Đó là do sự sụp đỗ của nền kinh tế bong bóng
và đồng Yên mất giá Tỷ lệ thất nghiệp năm 1995 ở Nhật Bản là 3,1% Từ tháng 10/1997, tỷ lệ này lên tới 3,5% và đến tháng 3/1998 đạt mức kỷ lục là 3,9% So với các quốc gia công nghiệp khác thì đây là một tỷ lệ nhỏ, song đối với Nhật Bản, một đất n-ớc từng tự hào là có chế độ đảm bảo làm việc suốt
đời cho nhân công thì đây là một cú sốc mạnh, một sự tồi tệ nhất từ 30 năm qua