Trong công trình Lê Thánh Tông, vị hoàng đế anh minh, nhà văn hoá lỗi lạc, một văn hào dân tộc, Bùi Duy Tân cho rằng trong Thánh Tông di thảo, yếu tố h- cấu đóng vai trò chủ đạo và sự t
Trang 1Mở ĐầU
1 Lí do chọn đề tài
1.1 Phần lớn các nhà nghiên cứu đều cho rằng Thánh Tông di thảo mở
đầu cho truyện truyền kì Việt Nam, tuy nhiên, không phải tất cả các truyện trong đó mà chỉ có 10 hoặc 13 truyện là truyện truyền kì đích thực ý kiến về
Truyền kì mạn lục thống nhất hơn, ng-ời ta đều cho rằng đây là đỉnh cao của
truyện truyền kì Việt Nam Nghiên cứu đề tài này nhằm nhận thức sự tiến
triển từ Thánh Tông di thảo đến Truyền kì mạn lục ở ph-ơng diện nhân vật
1.2 Thánh Tông di thảo và Truyền kì mạn lục là hai tác phẩm thuộc thể
loại truyện truyền kì Giải quyết đề tài này nhằm góp phần minh định bản chất của thể loại này
1.3 Chất liệu chính để hai tác giả sáng tạo nên Thánh Tông di thảo và Truyền kì mạn lục là truyện dân gian Việt Nam và truyện truyền kì Trung Quốc
Giải quyết đề tài nhằm nhận thức ảnh h-ởng của truyện dân gian Việt Nam và truyện truyền kì Trung Quốc đối với hai tác phẩm ở ph-ơng diện nhân vật
1.4 Hiện nay, việc h-ớng dẫn dạy- học loại tác phẩm truyền kì còn nhiều hạn chế, chẳng hạn nh- thái độ máy móc siêu hình đối với cái siêu thực, hễ thấy
nó là xếp vào mê tín dị đoan, hoặc không phân biệt rõ truyện truyền kì và truyện dân gian… Nghiên cứu đề tài góp phần khắc phục những hạn chế đó
2 Mục đích, yêu cầu của việc giải quyết đề tài
2.1 Nhận thức đ-ợc sự tiến triển trong nghệ thuật xây dựng nhân vật
truyện truyền kì từ Thánh tông di thảo đến Truyền kì mạn lục
2.2 Qua việc đối sánh nhân vật trong Thánh Tông di thảo và Truyền kì mạn lục, làm rõ thêm đặc điểm của nhân vật truyện truyền kì
2.3 Nghiên cứu đề tài nhằm làm rõ ảnh h-ởng của truyện dân gian Việt Nam và truyện truyền kì Trung Quốc đối với hai tác phẩm ở ph-ơng diện nhân vật
3 Lịch sử nghiên cứu
Thánh Tông di thảo và Truyền kì mạn lục là hai tác phẩm văn xuôi
trung đại đ-ợc nhiều nhà nghiên cứu l-u tâm và viết nhiều công trình nghiên
Trang 2cứu ở đây, chúng tôi điểm qua một số ý kiến có liên quan đến đề tài nghiên cứu
Trong bài Thánh Tông di thảo- B-ớc đột khởi trong tiến trình phát triển của thể loại truyện ngắn Việt Nam trung cổ, PGS.TS Vũ Thanh đã viết: “ở Thánh Tông di thảo các vấn đề xã hội và số phận của con ng-ời đã bắt đầu hé
mở để đến Truyền kì mạn lục của Nguyễn Dữ chúng trở thành các vấn đề thời
sự nóng hổi” [17; 502]
Nguyễn Đăng Na trong Văn xuôi tự sự Việt Nam thời trung đại viết:
“Thánh Tông di thảo là tác phẩm đánh dấu sự chuyển biến đột khởi của văn
xuôi tự sự Việt Nam thời trung đại, có thể nói, lần đầu tiên văn xuôi tự sự lấy con ng-ời làm đối t-ợng phản ánh và con ng-ời với sức mạnh trí tuệ của mình
đã trở thành chủ thể của vũ trụ trong văn học” [12; 151] Tác giả khẳng định:
“Bằng Thánh Tông di thảo, đặc biệt là Truyền kì mạn lục, Lê Thánh Tông và
Nguyễn Dữ đã phóng thành công con tàu văn xuôi tự sự vào quỹ đạo nghệ thuật: văn học lấy con ng-ời làm đối tượng và trung tâm phản ánh… khi lấy con ng-ời và trung tâm phản ánh, Lê Thánh Tông và Nguyễn Dữ đã phát hiện
ra sức mạnh của con người” [12; 24] Và tác giả nhấn mạnh, nếu Lê Thánh Tông h-ớng văn học vào việc phản ánh con ng-ời, lấy con ng-ời làm đối t-ợng và trung tâm phản ánh thì Nguyễn Dữ đi xa hơn một b-ớc: phản ánh số phận con ng-ời chủ yếu là số phận mang tính chất bi kịch của ng-ời phụ nữ Nhờ đó mà Nguyễn Dữ mở đầu cho chủ nghĩa nhân văn trong văn học thời trung đại
Trong công trình Lê Thánh Tông, vị hoàng đế anh minh, nhà văn hoá lỗi lạc, một văn hào dân tộc, Bùi Duy Tân cho rằng trong Thánh Tông di thảo,
yếu tố h- cấu đóng vai trò chủ đạo và sự thể hiện con ng-ời trong tác phẩm
này càng giàu đặc tr-ng văn học nh- Truyền kì mạn lục Tác giả đã đánh giá cao nghệ thuật xây dựng nhân vật trong hai tác phẩm Thánh Tông di thảo và Truyền kì mạn lục Nhà nghiên cứu khẳng định đó là b-ớc tiến trong lịch sử
văn học nhằm góp phần giải phóng truyện truyền kì thoát khỏi ảnh h-ởng thụ
Trang 3động của văn xuôi lịch sử, các tác giả không còn ghi chép về t-ớc hiệu của các
chùa thì Thánh Tông di thảo và Truyền kì mạn lục đã phản ánh khá sâu sắc
những xung đột của xã hội, những cá nhân xã hội gần gũi đời thường” [22; 2]
Các công trình nghiên cứu riêng lẻ về Thánh Tông di thảo và đặc biệt
là Truyền kì mạn lục từ tr-ớc đến nay có nhiều Trong đó, các tác giả có nhắc
đến sự tiến triển ở ph-ơng diện nhân vật trong văn học trung đại từ Thánh Tông di thảo đến Truyền kì mạn lục nh-ng ch-a có công trình nghiên cứu nào thật sự có quy mô về nhân vật từ Thánh Tông di thảo đến Truyền kì mạn lục
Mặc dù vậy, kết quả của những công trình nghiên cứu trên là những gợi ý quan trọng cho chúng tôi thực hiện đề tài này
4 Ph-ơng pháp nghiên cứu
Ph-ơng pháp nghiên cứu chủ yếu của khoá luận này là ph-ơng pháp so sánh Bên cạnh đó, chúng tôi còn sử dụng các ph-ơng pháp nghiên cứu khác nh- ph-ơng pháp thống kê, ph-ơng pháp phân tích, tổng hợp…
5 Bố cục của khoá luận
Ngoài phần Mở đầu và phần Kết luận, Nội dung chính trình bày trong
ba ch-ơng:
Ch-ơng 1: Sự t-ơng đồng và khác biệt ở ph-ơng thức xây dựng nhân vật trong hai tác phẩm
Ch-ơng 2: Sự t-ơng đồng và khác biệt về chức năng nhân vật trong hai tác phẩm
Ch-ơng 3: Sự t-ơng đồng và khác biệt trong ảnh h-ởng truyện dân gian Việt Nam và truyện truyền kì Trung Quốc đối với nhân vật hai tác phẩm
Trang 4NộI DUNG CHíNH
Ch-ơng 1
Sự t-ơng đồng và khác biệt xét ở ph-ơng thức xây dựng nhân vật trong HAI TáC PHẩM
1.1 Giới thuyết về ph-ơng thức xây dựng nhân vật
Nhân vật văn học là con ng-ời đ-ợc miêu tả, đ-ợc thể hiện trong tác phẩm bằng ph-ơng tiện văn học Nhân vật văn học là hình t-ợng nghệ thuật mang tính -ớc lệ, đó không phải là sự sao chụp đầy đủ mọi chi tiết của con ng-ời với những đặc điểm nào đó Nhân vật văn học có thể là những con ng-ời đ-ợc miêu tả đầy đặn cả ngoại hình lẫn nội tâm, có tính cách, có tiểu sử nh- th-ờng thấy ở tác phẩm tự sự, kịch Đó có thể là những con ng-ời thiếu hẳn những nét đó nh-ng lại có tiếng nói, giọng điệu, cái nhìn nh- nhân vật trần thuật, hoặc chỉ có cảm xúc, nỗi niềm, ý nghĩ, cảm nhận nh- nhân vật trữ tình trong thơ trữ tình
Khái niệm nhân vật th-ờng đ-ợc quan niệm với một phạm vi rộng hơn nhiều, đó không chỉ là con ng-ời có tên hoặc không có tên, đ-ợc khắc họa sâu
đậm hoặc chỉ xuất hiện thoáng qua trong tác phẩm mà còn có thể có những nhân vật bao gồm cả quái vật, thần linh, ma quỷ ít nhiều mang bóng dáng, tính cách con ng-ời, đ-ợc dùng nh- những ph-ơng thức khác nhau để biểu hiện con ng-ời Qua nhân vật nhà văn thể hiện quan điểm nghệ thuật và lí t-ởng thẩm mĩ của mình về xã hội và con ng-ời Vì đ-ợc miêu tả qua các biến
cố, xung đột, mâu thuẫn và các chi tiết nên nhân vật luôn gắn liền với cốt truyện Nhân vật là một chỉnh thể hoàn chỉnh vận động có tính cách đ-ợc bộc
lộ dần trong không gian, thời gian và mang tính quá trình
Ph-ơng thức xây dựng nhân vật là một khái niệm dùng để chỉ con
đ-ờng, cách thức nhà văn tạo dựng nên nhân vật Có rất nhiều ph-ơng thức để xây dựng nhân vật, nhà văn có thể xây dựng nhân vật thông qua miêu tả ngoại hình, phẩm chất, tính cách nhân vật; có thể xây dựng nhân vật thông qua miêu
Trang 5tả nội tâm nhân vật hoặc thông qua việc tạo dựng tình huống để từ đó nhân vật bộc lộ phẩm chất, tính cách… Nhân vật là nhân tố quan trọng hàng đầu của tác phẩm văn học, không có nhân vật thì không có tác phẩm Vì vậy, nhà văn rất chú trọng xây dựng nhân vật trong tác phẩm Nhà văn xây dựng nhân vật bao giờ cũng nhằm thể hiện một ý đồ nghệ thuật nào đó Để xây dựng nhân vật nhà văn cũng phải tìm ph-ơng thức nghệ thuật thích hợp để cho nhân vật
có thể thực hiện đầy đủ chức năng của nó với mục đích là lột tả đ-ợc tất cả những ý nghĩa nghệ thuật mà nhà văn muốn chuyển tải
1.2 Những sự t-ơng đồng trong ph-ơng thức xây dựng nhân vật
1.2.1 Biểu hiện của sự t-ơng đồng
1.2.2.1 Xây dựng nhân vật thông qua miêu tả ngoại hình, phẩm chất và tính cách nhân vật
Nhân vật văn học xuất hiện qua sự trần thuật, sự miêu tả bằng ph-ơng tiện nghệ thuật Các ph-ơng thức xây dựng nhân vật đa dạng nh-ng xây dựng nhân vật thông qua miêu tả ngoại hình, phẩm chất, tính cách là cách xây dựng nhân vật điển hình Việc miêu tả nhân vật nh- vậy giúp cho độc giả hình dung
đ-ợc chân dung của nhân vật, đồng thời hé mở cho độc giả cánh cửa để đi vào
tìm hiểu về nhân vật Trong Thánh Tông di thảo và Truyền kì mạn lục, cả hai
tác giả đều rất có ý thức và công phu trong việc miêu tả ngoại hình, phẩm chất, tính cách của nhân vật
Khảo sát Thánh Tông di thảo chúng tôi thấy rằng, các nhân vật chính
đ-ợc tác giả miêu tả rất kĩ về ngoại hình, phẩm chất, tính cách Trong Truyện yêu nữ Châu Mai, nhân vật yêu nữ đ-ợc tác giả miêu tả chủ yếu về ngoại
hình: “đến năm Hồng Đức thứ sáu, nó lại hiện thành một cô gái đẹp tuyệt trần, trạc m-ời sáu tuổi, mắt long lanh nh- n-ớc mùa thu, môi đỏ nh- son vẽ, tóc mây mặt hoa, c-ời nói duyên dáng, làm cho mọi ng-ời phải động lòng” Hay
hai nhân vật nữ chính trong Truyện hai gái thần cũng đ-ợc tác giả miêu tả về
ngoại hình rất đẹp: “nhìn kĩ dung nhan thì thấy một ng-ời khoảng ngoài bốn m-ơi, tóc xanh đã điểm s-ơng trắng, mặt ngọc đã nhạt màu hồng, nh-ng cái
Trang 6vẻ ph-ơng phi thuỳ mị còn đủ làm cho thiên hạ xiêu lòng Còn cô gái trẻ thì
đ-ơng tuổi cập kê, mặt hoa da tuyết Thực là:
Triệu Yến cùng xe hờn kém sắc, Thôi Oanh đối diện thẹn thua xinh
Các nhân vật chính trong Thánh Tông di thảo đa phần đ-ợc tác giả rất
chú ý dụng công để khác hoạ ngoại hình nhằm làm nổi bật, gây sự chú ý đối với ng-ời đọc Bên cạnh đó, tác giả còn miêu tả kĩ về gia cảnh, phẩm chất, tính cách của nhân vật chính để từ đó có thể dễ dàng hơn trong việc tiếp cận
nhân vật Nhân vật Nho sinh trong Một dòng chữ lấy đ-ợc gái thần đ-ợc tác
giả miêu tả như sau: “làng Thần Khê có anh đồ kiết, cha mẹ mất sớm, anh trai không có, tuổi hai m-ơi bốn vẫn ch-a có vợ Nhà nghèo quá chỉ nhờ bút nghiên mà sống Ng-ời tính tình điềm tĩnh, ăn mặc xoàng xĩnh, trong một năm tiêu dùng không tốn mấy nên nhiều ng-ời mến” Còn ng-ời hành khất
trong Truyện ng-ời hành khất giàu lại được miêu tả: “ở Tam Thanh có một
ng-ời đàn bà goá trạc ba m-ơi tuổi, con cái không có, bố mẹ chồng mất cả, anh em cũng ít, một mình vò vọ, gửi thân d-ới rào giậu nhà ng-ời ta giặt thuê
nuôi thân ” ở những truyện có tính chất truyền kì trong Thánh Tông di thảo,
các nhân vật chính th-ờng hiện lên với đầy đủ diện mạo về ngoại hình, phẩm chất, tính cách và hoàn cảnh sống Đây là một đặc điểm rất dễ nhận thấy khi
ta tiếp cận với tác phẩm Và đó cũng chính là điểm t-ơng đồng với Truyền kì mạn lục của Nguyễn Dữ
Chuyện cây gạo là một trong những truyện hấp dẫn bạn đọc nhất không
chỉ bởi cốt truyện mà còn bởi nghệ thuật xây dựng nhân vật độc đáo Điểm
gặp gỡ giữa Thánh Tông di thảo và Truyền kì mạn lục trong ph-ơng thức xây
dựng nhân vật là miêu tả nhân vật về ngoại hình, gia cảnh, phẩm chất, tính
cách ngay từ đầu tác phẩm Nhân vật Trình Trung Ngộ trong Chuyện cây gạo
được miêu tả là “một chàng trai đẹp ở đất Bắc Hà, nhà rất giàu, thuê thuyền xuống dòng Nam buôn bán” Chỉ qua máy dòng chữ, người đọc có thể có
Trang 7những hiểu biết ban đầu về nhân vật Trình Trung Ngộ Về ngoại hình chàng
được giới thiệu là “một chàng trai đẹp”, về gia cảnh là “con nhà giàu”
Nếu nh- nhân vật Trình Trung Ngộ đ-ợc miêu tả chủ yếu về ngoại hình
và gia cảnh thì nhân vật Ngô Tử Văn trong Chuyện chức phán sự đền Tản Viên và Phạm Tử H- trong Chuyện Phạm Tử H- lên chơi Thiên Tào lại chủ
yếu được miêu tả về phẩm chất, tính cách Ngô Tư Văn “tên là Soạn, người vùng Yên Dũng, đất Lạng Giang Chàng vốn khảng khái, nóng nảy, thấy sự gian tà thì không thể chịu đ-ợc, vùng Bắc ng-ời ta vẫn khen là ng-ời c-ơng phương” Với tính cách nóng nảy, cương trực này chàng đã đốt ngôi đền của
kẻ gian tà mà cả làng cho là thiêng và ai cũng sợ hãi Còn Phạm Tử Hư “là ng-ời tuấn sảng hào mại không -a kiềm thúc Theo học nhà xử sĩ D-ơng Trạm D-ơng Trạm th-ờng răn Tử H- về tính hay kiêu căng Từ đấy chàng cố sức sửa đổi trở nên người có đức tính tốt” Cũng chính bởi đức tính tốt đẹp nên sau này chàng đ-ợc gặp lại thầy mình và đ-ợc lên chơi Thiên Tào Các nhân
vật Chu sinh (Duyên lạ n-ớc Hoa), ng-ời học trò (Ng-ời trần ở thuỷ phủ)… trong Thánh Tông di thảo và Đào Hàn Than (Chuyện nghiệp oan của Đào thị), Lệ N-ơng (Chuyện Lệ N-ơng), Thuý Tiêu (Chuyện Thuý Tiêu)… trong Truyền kì mạn lục đều đ-ợc Lê Thánh Tông và Nguyễn Dữ miêu tả về ngoại
hình, tính cách, phẩm chất ngay từ đầu tác phẩm
Nh- vậy, ph-ơng thức xây dựng nhân vật thông qua miêu tả ngoại hình, gia cảnh, phẩm chất và tính cách nhân vật là ph-ơng thức nghệ thuật phổ biến
đ-ợc các tác giả thời trung đại sử dụng Ngay từ đầu các tác phẩm, các nhân vật đã đ-ợc Lê Thánh Tông và Nguyễn Dữ khắc họa đầy đủ về ngoại hình, phẩm chất, tính cách, gia cảnh, từ đó giúp cho độc giả có cái nhìn bao quát nhất về nhân vật đó và đi vào tìm hiểu nhân vật một cách chính xác hơn
1.2.1.2 Xây dựng nhân vật thông qua miêu tả nội tâm nhân vật
Cùng với việc sử dụng ph-ơng thức xây dựng nhân vật thông qua miêu tả ngoại hình, phẩm chất tính cách thì ph-ơng thức xây dựng nhân vật thông qua miêu tả nội tâm nhân vật cũng là một điểm t-ơng đồng giữa Lê Thánh
Tông và Nguyễn Dữ khi xây dựng nhân vật trong Thánh Tông di thảo và
Trang 8Truyền kì mạn lục Một trong những ph-ơng diện thử thách tài năng nắm bắt
và lí giải đời sống, bộc lộ quan niệm về con ng-ời của nhà văn là miêu tả nội tâm nhân vật Đó là thế giới tâm lí và tinh thần của nhân vật, là những cảm giác, cảm xúc, suy nghĩ của nhân vật về thế giới, về con ng-ời và về bản thân Nhà văn có thể trực tiếp biểu hiện nội tâm nhân vật bằng ngôn ngữ của ng-ời
kể chuyện nh-ng biện pháp hay sử dụng nhất là biểu hiện bằng độc thoại nội tâm và đối thoại nội tâm của nhân vật Với Lê Thánh Tông và Nguyễn Dữ, nội tâm nhân vật đ-ợc biểu hiện chủ yếu bằng chính ngôn ngữ nhân vật Nhân vật
tự phơi bày những diễn biến trong tâm trạng của mình qua những cảm xúc, suy nghĩ cụ thể của mình
Lê Thánh Tông không chỉ là một vị vua anh minh mà còn là một nhà văn, nhà thơ tài năng Các nhân vật trong tác phẩm của ông đ-ợc thể hiện rất phong phú về nội tâm chủ yếu thông qua sự đối thoại với các nhân vật khác
Trong Truyện hai gái thần, nội tâm của hai nhân vật nữ chính đ-ợc bộc lộ
thông qua sự đối thoại của hai nhân vật này với nhà nho già Ng-ời đàn bà có tuổi nói: “tôi chính là cháu dâu Long V-ơng Năm x-a vì chồng tôi thích h-ơng sen trắng, bị chàng Kim Lân rủ rê cùng bơi đến hồ Dâm- đàm chơi, không ngờ gặp phải ngày V-ơng Thông đi xem đánh cá ở đó, bị nó bắt đ-ợc,
đem giết đi Con trai tôi xin Long V-ơng đi báo thù cha Bấy giờ c-ỡi ngựa không vẫy, rẽ n-ớc lên trần Khi con tôi dời thuỷ cung ra đi, tôi bảo nó rằng:
“con báo thù cha là con có hiếu Nh-ng mẹ đã già, khuya sớm thiếu ng-ời chăm nom, con phải hẹn cho đúng ngày về” Con tôi khóc mà thưa rằng: “con
đi chuyến này nếu báo đ-ợc thù cha thì đúng nửa giáp hoa sẽ về phụng d-ỡng
mẹ Nếu thù kia không trả đ-ợc thì con sẽ không có ngày về!” Từ đó đến nay
đã ba m-ơi sáu năm, tựa cửa chờ con, không nơi n-ơng tựa, tôi đành giả tiếng bói để tìm con” Ng-ời trẻ tuổi nói:
“Thiếp không phải là ng-ời quái dị mà là vợ sơn thần Đông Ngu Khi Hoàng Phúc làm quan trấn phủ, tính hay đào xẻ núi non, đã làm đoạn th-ơng long mạch núi Mẫu sơn Phu quân thiếp giận lắm, th-ờng sai ng-ời rình đợi xe Hoàng Phúc đi qua thì quăng đá cho gãy nát bánh xe để báo thù Phúc đoán
Trang 9biết việc ấy, không dám qua đó nữa Phu quân thiếp bèn c-ỡi hổ thần lên hầu quan Nam Tào, hỏi việc d-ới nhân gian toan m-u tính trả thù Tinh quan đem sách Thái ất ra tính và nói: rồi đây Hoàng Phúc về triều, V-ơng Thông ra trấn, nh-ng sau hơn m-ời năm nữa sẽ có ng-ời họ Lê tên Lợi khởi nghĩa ở Lam Sơn, Phúc sẽ cầm quân sang cứu viện đến ải Lê- quan thì bị Lê Lợi bắt sống
Từ đấy thiên hạ đại định” Phu quân thiếp mừng lắm, liền thác sinh vào nhà họ Bùi Lúc chia tay thiếp khóc xin theo: “vợ chồng hai ng-ời nh- một, lang quân liều chết vì mẫu thân, thiếp đem kim chỉ xin tòng quân” Phu quân thiếp ngoảnh lại bảo: “người xưa nói: “đàn bà ở trong quân, binh khí sợ không mạnh”, giang sơn này, thần dân này, khanh hãy ở lại một mình làm chủ Đợi
ba năm sau khi đại định, lại sẽ cùng nhau chăn gối nh- x-a Nay theo đi làm gì? ” Nói xong đi ngay Thiếp hằng ngày ở trong thạch động, bấm đốt tay,
đến nay đã hai m-ơi bốn năm Lòng những e chồng mắc mồi phú quý ở trần gian mà quên lời -ớc cũ, thiếp mới m-ợn cớ bói toán, ca hát, tìm khắp nơi nơi, may ra phu quân thiếp nghe thấy tiếng ca mà động lòng chăng Thế mà đã ba bốn tháng nay không dò được tung tích” Qua lời đối thoại giữa hai người ta thấy họ đều là những ng-ời mang nỗi buồn đau vì gia cảnh Một ng-ời là mẹ
đi tìm con, một ng-ời là vợ đi tìm chồng Ng-ời đàn bà lớn tuổi vì th-ơng nhớ con mà giả dạng làm bói toán để đi tìm tung tích con trai, ng-ời thiếu nữ trẻ tuổi vì nhớ chồng, sợ chồng quên lời -ớc hẹn cũ mà m-ợn cớ bói toán, ca hát
để tìm chồng Lời nói của họ chất chứa bao nỗi buồn đau
Ng-ời con gái trong Truyện chồng dê có nội tâm phức tạp hơn Cô còn
trẻ nh-ng vì phụng d-ỡng mẹ già nên không muốn lấy chồng, đến khi mẹ mất thì lại quyết để tang ba năm Trong ngày tết thanh minh, đã hết tang mẹ cô thầm nghĩ: “ngày tháng thoi đ-a, phút chốc mẹ đã khuất mặt vắng lời, chỉ thấy
cỏ xanh một nắm, không biết linh hồn n-ơng tựa vào đâu? Đau đớn biết nh-ờng nào! Lại nghĩ: năm nay mình đã hai mốt tuổi, con gái khó lòng ở một mình, v-ờn xuân rồi sẽ có chủ, thì ngày này năm sau, biết ai là ng-ời ra mộ cúng bái? Thương cảm biết bao! Lo buồn trăm ngả, thổn thức không nên lời” Lời độc thoại của cô gái cho ta biết đ-ợc tấm lòng hiếu thảo của cô đối với mẹ
Trang 10già Lúc mẹ còn sống thì cô ở vậy chăm nom, khi mẹ mất thì để tang khóc thảm thiết, nay hết tang lại lo nếu mình lấy chồng thì không ai h-ơng khói Thật là một tấm lòng hiếu thảo biết nh-ờng nào!
Các nhân vật trong Truyền kì mạn lục của Nguyễn Dữ cũng đ-ợc miêu
tả về nội tâm phong phú Có khi nội tâm của nhân vật đ-ợc biểu hiện thông qua độc thoại, nhân vật tự giãi bày cảm xúc với chính mình; có khi nội tâm
đ-ợc biểu hiện thông qua lời đối thoại với các nhân vật khác Nhân vật Nhị
Khanh trong Chuyện ng-ời nghĩa phụ ở Khoái Châu là ng-ời phụ nữ thuỷ
chung, tiết liệt Khi cha chồng nàng bị đẩy vào vùng Nghệ An chống giặc, chồng nàng có ý l-u luyến không muốn đi, nàng liền khuyên giải: “ngay nghiêm đ-ờng vì tính nói thẳng mà bị ng-ời ta ghen gét, không để ở lại nơi khu yếu, bề ngoài vờ tiến cử đến chốn hàng phiên, bên trong thực dồn đuổi vào chỗ tử địa Chả lẽ để cha ba đào muôn dặm, lam ch-ớng nghìn trùng, hiểm nghèo giữa đám kình nghê, cách trở trong vùng bò mán, sớm hôm săn sóc, không kẻ đỡ thay? Vậy chàng nên chịu khó đi theo Thiếp dám đâu mối khuê tình để lỗi bề hiếu đạo Mặc dầu cho phấn nhạt h-ơng phai, hồng rơi tía rụng, xin chàng đừng bận lòng đến chốn hương khuê” Vì yêu chồng, th-ơng chồng, muốn chồng giữ trọn đạo hiếu, nàng chấp nhận ở lại một mình, khuyên chồng theo hầu cha Lời nói của nhân vật toát lên tấm lòng hiếu thảo Cha mẹ mất, bị ng-ời ta ép gả, nàng một mực từ chối Khi vợ chồng gặp nhau đoàn tụ nào ngờ chồng cờ bạc đến nỗi phải gán vợ, nàng vỗ vào l-ng con, đau đớn vô cùng và nói:
“Cha con bạc tình, mẹ đau buồn lắm Biệt li là việc th-ờng thiên hạ, một cái chết với mẹ khó khăn gì? Nhưng mẹ nghĩ thương các con mà thôi” Câu nói cho thấy Nhị Khanh đang đau đớn đến tột cùng Nàng thà chấp nhận cái chết còn hơn phải bỏ chồng để ở cùng tên lái buôn Đỗ Tam tham lam, háo sắc kia
Nàng Nhị Khanh trong Chuyện cây gạo cũng có nội tâm phức tạp do
quan niệm sống rất đặc biệt Qua lời đối thoại giữa nàng với Trình Trung Ngộ, quan niệm sống của nàng đ-ợc bộc lộ rõ Nàng nói: “thân tàn một mảnh, cách
Trang 11với chết chẳng bao xa Ngày tháng quạnh hiu, không ng-ời săn sóc Nay dám mong quân tử quạt hơi d-ơng vào hang tối, thả khí nóng tới mầm khô, khiến cho tía rụng hồng rơi, đ-ợc trộm bén xuân quang đôi chút, đời sống của thiếp nh- thế sẽ không phải phàn nàn gì nữa” Hay một lần nàng nói: “ ng-ời ta sinh
ra ở đời, cốt đ-ợc thoả chí, chứ văn ch-ơng thời có làm gì, chẳng qua rồi cũng nắm đất vàng là hết chuyện Đời tr-ớc những ng-ời hay chữ nh- Ban Cơ, Sái Nữ nay còn gì đâu nữa Sao bằng ngay tr-ớc mắt, tìm thú vui say, để khỏi phụ xuân tươi tốt” Đoạn đối thoại này cho ta thấy rõ nội tâm của nhân vật Nhị Khanh Nguyễn Dữ đã xây dựng đ-ợc nhân vật nữ có nội tâm vô cùng phong phú, có sức sống mãnh liệt, có quan niệm sống táo bạo, khát vọng đ-ợc sống,
đ-ợc yêu, đ-ợc h-ởng hạnh phúc Triết lí sống của nàng thể hiện khát khao mãnh liệt về tình yêu Nó nh- là một sự thách thức đối với xã hội phong kiến khi mà trong xã hội đó ng-ời phụ nữ luôn bị trói buộc vào những c-ơng th-ờng khắt khe Và đó cũng phần nào thể hiện quan niệm của tác giả
Một ph-ơng diện quan trọng đ-ợc cả hai tác giả Lê Thánh Tông và Nguyễn Dữ sử dụng một cách nhuần nhuyễn, linh hoạt để biểu hiện nội tâm nhân vật đó chính là xen thơ, phú, từ, văn tế vào văn xuôi cốt để tâm trạng con ng-ời đ-ợc biểu hiện rõ nhất Có những lúc mà ngôn ngữ văn xuôi không thể biểu đạt đ-ợc hết, đ-ợc rõ nội tâm nhân vật thì thơ, từ, phú, văn tế lại phát huy
tác dụng Các nhân vật trong Thánh Tông di thảo và Truyền kì mạn lục đều rất
hay làm thơ, từ, phú, văn tế… và thông qua đó thế giới tinh thần của họ đ-ợc
bộc lộ rõ Trong truyện Truyện hai gái thần, hai nhân vật nữ chính, một ng-ời
đi tìm con, một ng-ời đi tìm chồng đã giả dạng bói toán để đi tìm ng-ời thân Hàng ngày họ đến chợ từ sớm, trải hai chiếc chiếu cói, trên đặt một bộ sách số
và một con rùa bề ngang độ một tấc, trên treo mảnh vải đỏ có viết chữ mực:
“Bói toán không thần- Ba đồng một quẻ” Bày xong hai người cùng ngồi xuống chiếu và cất tiếng hát Ng-ời nhiều tuổi hát rằng:
Ngựa không vẩy, ngựa không vẩy Con báo thù cha ai rằng không phải Thấm thoắt giáp hoa gần nửa đấy
Trang 12Mẹ vậy, mẹ vậy Gió cuốn không thể nhờ Cánh bay không thể cậy Mối hận kim lân dốc sông ngòi
Đêm ngày tóc bạc lo ngay ngáy Ngựa không vẩy, ngựa không vẩy
Cô gái trẻ hát:
Đông Ngu, Đông Ngu
Đã trải ba thu
Ba thu chữ “ độc ”nặng căm thù Núi có cây dâu, thiếp có hiền phu Thế nào ru, thế nào ru?
Khua ngọc chơi đế đô
Ch-a thể chừa cơn lên thiên cù Lên thiên cù cùng hoạn ngu Kìa kìa đỉnh núi t-ợng nàng Tô
Từ lời hát của hai nhân vật, ng-ời nghe có thể hiểu đ-ợc nỗi lòng của
họ Ng-ời nhiều tuổi đang mang nỗi đau mất con Bà có ng-ời con trai vì báo thù cha mà từ biệt mẹ ra đi đã qua “giáp hoa gần nửa” vẫn không về để cho bà: “đêm ngày tóc bạc lo ngay ngáy” Còn cô gái trẻ lại mang nỗi buồn xa chồng Chồng cô vì trả thù cho mẹ mà đầu quân vào nghĩa quân Lam Sơn, hẹn
ba năm sau sẽ trở về nh-ng đã hai m-ơi t- năm vẫn ch-a về để cô ngày đêm mong nhớ Trong lời hát của họ chứa đựng biết bao nỗi niềm, nỗi đau, nỗi buồn của ng-ời mẹ, ng-ời vợ đi tìm con, tìm chồng
Nhân vật Ngoạ Vân trong Truyện lạ nhà thuyền chài vì cứu gia đình
nhà chồng nên buộc phải để lộ thiên cơ và phải vĩnh viễn rời xa hạnh phúc của mình Tr-ớc khi từ biệt chồng nàng hát:
Từ ngày thay áo lạy cô ch-ơng Cách tháng về nhà chồng,
Trang 13Trăm năm ân ái, ngày còn tr-ờng
Bỗng đâu cơn bão táp, Biển cả sang điên cuồng Rào rạt mênh mang Thời ấy, thế ấy Không lấy thân đ-ơng Thì cô ch-ơng, thì hiền lang Chôn trong bụng cá rất bi th-ơng Thiên cơ đã lộ
Lại e cha mẹ mắc tai -ơng Làm sao giữ đ-ợc cảnh đồng sàng Trời một ph-ơng!
Ghi nhớ trong tâm tr-ờng:
Tr-ớc song chẳng quản trăng soi bang Nhắn nhủ hoa mai tự chủ tr-ơng
Ông xanh, ông xanh sao phủ phàng
Lời hát của nhân vật chất chứa nỗi đau vô hạn Vốn là một nữ học sĩ ở Long Cung, lấy chàng Thúc Ng- nh-ng tai -ơng bỗng từ đâu ập đến, Ngoạ Vân phải lộ thân phận để cứu gia đình chồng và phải vĩnh viễn lìa xa họ Ng-ời đọc cảm nhận đ-ợc nỗi đau đớn khôn cùng của nhân vật trong lời thơ
Đó là nỗi đau của một ng-ời sắp phải rời xa chồng, lìa xa hạnh phúc mà lâu nay mình đã đắp xây
Nội tâm nhân vật không chỉ đ-ợc thể hiện trong đoạn thơ, lời hát mà còn đ-ợc biểu hiện qua những bài phú, bài văn tế do nhân vật làm nh- bài phú
trong truyện Ng-ời trần ở thuỷ phủ, Gặp tiên ở hồ Lãng Bạc… Qua những bài
thơ, bài phú ng-ời đọc phần nào nắm bắt đ-ợc nội tâm của nhân vật trong tác phẩm
Cũng giống nh- Thánh Tông di thảo, các nhân vật trong Truyền kì mạn lục cũng hay làm thơ, từ, phú, văn tế… để thể hiện nội tâm của mình Trong
Trang 14những bài thơ, từ này ta thấy nội tâm nhân vật hiện lên vô cùng sống động mà
ngôn ngữ văn xuôi không có đ-ợc Nhân vật Trọng Quỳ trong Chuyện ng-ời nghĩa phụ ở Khoái Châu đã phạm phải nhiều lỗi lầm khiến vợ chàng phải tự
tử Đau đớn và hối hận, chàng đã làm một bài văn tế để bày tỏ nỗi lòng mình:
Hỡi ôi n-ơng tử Khuê nghi đáng bậc Hiền đức vẹn m-ời Tinh thần nhã đạm Dáng điệu xinh t-ơi Khi về với ta
Vợ chồng thân thiết
Ai biết giữa đ-ờng Phút nên li biệt Cha làm quan xa
Ta theo hầu hạ Trải sáu năm d- Bặt tin nhạ cá
Buồng xuân tr-ớng lạnh Hạc oán v-ợn sầu Than ôi đ-ờng tr-ớc Gieo neo đến đâu Bên giời góc bể Nệm khách lẻ loi Tin nhà chợt đến Ngựa về quất roi Sắt cầm dìu dặt Lại gắn keo loan Vừa vui sum họp Phút bỗng lìa tan
Trang 15Ta sao bạc quá
Nàng đáng th-ơng thay Nói năng gì nữa
Đã đến thế này Hoa bay tr-ớc viện Quế rụng giữa trời Phù dung ủ rũ D-ơng liễu tả tơi Phong cảnh còn đây Ng-ời đã xa chơi Lấy gì độ em?
Một lễ lên chùa Duyên sau đền bù Non mòn bể cạn Mối hận khôn khuây Hỡi ôi n-ơng tử Hâm h-ởng thế này
Lời lẽ trong bài văn tế thể hiện sự xót đau vô cùng của Trọng Quỳ Chàng vừa ca ngợi đức hạnh của vợ mình vừa biểu thị sự hối hận, sự ăn năn về tội lỗi
Trong Chuyện Thuý Tiêu, các nhân vật khi không thể nói bằng ngôn
ngữ bình th-ờng những suy nghĩ, những cảm xúc của mình, nỗi lòng của mình cũng đã dùng thơ để gửi dòng tâm sự tới ng-ời yêu Chàng D- Nhuận Chi viết:
Kiệu qua d-ới liễu hôm nào Vội vàng chẳng kịp đ-a trao một lời Trông ai n-ớc mắt thầm rơi
Tấc gang bỗng cách đôi nơi mịt mùng Cửa hầu sâu thẳm nghìn trùng
Trang 16Sớm hôm khách những riêng lòng ngẩn ngơ
Tình x-a kể đến bao giờ Cảm sầu mọi mối nh- tơ rối bời Thơ ngâm nhớ bữa tiệc mời Giọng ca lanh lảnh để ng-ời nh- say Cung đàn nào đã so dây
Giai nhân bỗng đ-ợc trao tay r-ớc về Tình sâu ch-a kịp giãi giề
Bắc nam vội đã chia lìa khá th-ơng Chim hồng buồn bã kêu s-ơng Mây tần thăm thẳm xa buông tối mù Ng-ời n-ơng tr-ớng gấm êm ru Ng-ời ôm một mảnh chăn cù giá đông Ham vui nệm tía màu hang
Biết chăng kẻ chốn th- phòng th-ơng đau M-a t-ờng dế vách hoạ nhau
Nhạn tan khóc sớm, địch sầu thổi khuya Lặng ngồi gấp sách ủ ê
Lòng này cảnh ấy khuây đi đ-ợc nào Côn Nô, Hứa Tuấn nơi nào
Tìm h-ơng trả bích còn ao -ớc gì
Mảnh tiên viết gửi trao đi
Đau th-ơng kể nỗi vân vi với ng-ời
Lời thơ chứa đựng nỗi buồn đau Buồn vì phải chia li với ng-ời mình yêu Nàng Thuý Tiêu khi bắt đ-ợc th- cũng đau xót vô cùng, nàng làm một bài thơ gửi lại trong đó chất chứa bao nỗi niềm:
Thiếp x-a con gái gái nhà nghèo Lớn lên ca x-ớng học theo bạn thầy Phong l-u quen thú Hà Tây
Trang 17Ch-a t-ờng án Mạnh ngang mày nh- ai Tiệc hoa một bữa khuyên mời
Mối manh duyên khéo an bài tự đau Tràng Khanh ch-a gảy ph-ợng cầu Mến tài Đỗ Mục bởi câu hoa đ-ờng Duyên kim phận cải xe v-ơng
Những mừng giây sắn đ-ợc n-ơng bóng tùng Thiên Thai một cuộc kì phùng
Thú vui lửa đ-ợm h-ơng nồng ch-a bao Ch-ơng Đài cành liễu nghiêng chao Biệt li mang nặng biết bao oán ssầu Duyên may hoá rủi ngờ đau
Ngậm hờn nuốt tủi chịu rầu cho xong
Bẽ bàng đổi khác t- dong Tóc xanh biếng chải, môi hồng biếng tô
Th-ơng xuân vách phấn đèn lu Trông g-ơng ngấn lệ mơ hồ ngại soi Tiện hồng th- mới tới nơi
Chia loan càng xót xa đời biệt li Liễu Hàn tạm bẻ vin đi
Nh-ng châu Hợp Phố phải về quận x-a Nỗi lòng trăm mối tơ vò
Th- dài đến mấy vẫn ch-a hết lời
D-ờng nh- nàng đang dốc cạn nỗi lòng cùng ng-ời yêu, mong muốn ng-ời yêu hiểu thấu nỗi lòng của mình, hiểu cho hoàn cảnh của nàng
Nh- vậy, cả Thánh Tông di thảo và Truyền kì mạn lục đều có điểm
t-ơng đồng trong miêu tả nội tâm nhân vật đó là dùng ngôn ngữ của nhân vật
để bộc lộ nội tâm, đồng thời dùng thơ, văn, từ, phú… để lột tả nội tâm nhân vật Ph-ơng thức xây dựng nhân vật thông qua miêu tả nội tâm là ph-ơng thức
Trang 18chủ yếu đ-ợc các tác giả văn học hiện đại sử dụng để xây dựng các nhân vật trong tác phẩm của mình Ta biết rằng, nhân vật trong các tác phẩm văn học
tr-ớc Thánh Tông di thảo và Truyền kì mạn lục chủ yếu đ-ợc miêu tả chủ yếu
thông qua hành động chứ ít đ-ợc miêu tả nội tâm Điều này cho thấy sự tiến bộ của hai tác giả Lê Thánh Tông và Nguyễn Dữ trong nghệ thuật xây dựng nhân vật theo đúng đặc tr-ng của văn ch-ơng
1.2.1.3 Xây dựng nhân vật bằng yếu tố “ kì”
Yếu tố kì ảo vốn đ-ợc sử dụng rộng rãi trong nhiều tác phẩm văn xuôi
tự sự thời trung đại Yếu tố kì ảo là sản phẩm của lối t- duy trung đại, đ-ợc các nhà văn mặc nhiên thừa nhận là một ph-ơng diện nghệ thuật có tính đặc thù Theo quan niệm truyền thống, văn ch-ơng muốn đi xa phải đ-ợc chắp đôi cánh của cái kì, cái lạ Nghê Trác nói: “vô truyền bất kì, vô kì bất truyền” Trong loại hình văn xuôi trung đại, yếu tố kì ảo đóng một vai trò quan trọng trong việc tổ chức cũng nh- tạo cho tác phẩm cái vẻ riêng, hấp dẫn, có một sức mê hoặc kì lạ
Trong truyện truyền kì, đặc điểm lớn nhất chi phối các đặc điểm khác là tính chất khác lạ của ng-ời, sự vật, hiện t-ợng đ-ợc phản ánh Ng-ời x-a gọi
đó là tính chất “kì” (thần kì, quái dị) X-a nay trong các định nghĩa tiêu biểu
về thể loại không thể thiếu chữ này Đây được xem là thể văn “thuật kì chí dị” (thuật điều kì lạ, ghi chép sự khác th-ờng- Lăng Vân Hàn), “kì văn dị sự” (văn lạ,việc lạ) “phi kì bất truyền” (không kì lạ thì không l-u truyền) Có nhiều thủ pháp để tạo ra cái kì, tựu trung là xoá nhoà ranh giới mà con ng-ời định ra, thay đổi những tính chất của sự vật, hiện t-ợng vẫn đ-ợc hình dung theo lẽ phải thông th-ờng với các quan hệ đ-ợc mô phỏng từ cõi trần Ví dụ, trong
truyện truyền kì, nhân vật có thể sống ở thuỷ cung (Chuyện ng-ời con gái Nam X-ơng) hay sống ở âm phủ Chuyện chức phán sự đền Tản Viên) hoặc tiên giới (Chuyện Từ Thức lấy vợ tiên)
Trong truyện truyền kì con ng-ời có khả năng giao tiếp với thế giới siêu nhiên, một thế giới thiên hình vạn trạng, phổ biến nhất là ma quỷ Các tác giả
“quỷ vật giả thác dĩ tác hiếu kì” (lấy ma quỷ để gợi tính hiếu kì) Cỏ cây,
Trang 19muông thú, ma quỷ và thần linh đều đ-ợc nhân hoá, sự nhân hoá này có khi có cả ở phần xác lẫn phần hồn, hoặc chỉ ở phần hồn Thế giới phi nhân đó hoặc hoà hợp hoặc đối địch với con ng-ời làm nên bức tranh cuộc sống đặc thù Hiện trạng này kết quả tổng hoà của nhiều nhân tố: t- duy khoa học ch-a phát triển, thế giới quan của các tôn giáo, sự tr-ởng thành của ý thức thẩm mĩ và t- duy nghệ thuật…
Cho đến nay, nhiều ng-ời cho rằng Thánh Tông di thảo là tác phẩm mở
đầu cho truyện truyền kì ở n-ớc ta, Truyền kì mạn lục là tác phẩm đạt đỉnh
cao của truyện truyền kì Việt Nam ở cả hai tác phẩm này đều sử dụng phổ biến yếu tố “kì” để xây dựng nhân vật Yếu tố “kì” tạo nên sức hấp dẫn cho câu chuyện, với cách xây dựng nên nhân vật theo con đ-ờng riêng, nhuốm màu sắc h- ảo, thần kì làm nên vẻ đẹp nội tại cho câu chuyện Sự có mặt của yếu tố “kì” và vai trò tích cực của nó đối với việc xây dựng nhân vật là bản chất của truyện truyền kì Các nhân vật trong hai tác phẩm phần lớn đều là những nhân vật mang màu sắc kì lạ, hư ảo Sử dụng yếu tố “kì” để xây dựng nhân vật, các tác giả đã tạo nên cho các nhân vật của mình một đời sống riêng
Nhân vật Ngọa Vân ở Truyện lạ nhà thuyền chài đ-ợc Lê Thánh Tông
thể hiện bằng yếu tố kì lạ Nàng là nữ học sỹ ở Long cung, gặp chàng Thúc Ng- con ông thuyền chài và kết duyên cùng chàng Ngọa Vân sống ở nhà chồng đúng đạo làm dâu, là ng-ời vợ hiền đảm đang nh- một ng-ời th-ờng Tai họa ập đến: n-ớc biển dâng to, chỗ nào cây n-ớc đổ xuống là làng n-ớc sạch nhẵn “Dù có mọc lông mọc cánh cũng không bay ra khỏi nước được” Tác giả đã sáng tạo ra chi tiết thần kì: “tr-ớc tình hình nguy bách quá, Ngọa Vân vội giơ tay bắt quyết, hô to một tiếng: “Biến” tức thì nàng hoá ra một con cá to, độ dài ngàn th-ớc, mình -ớc lớn tới khoảng ba quầng, nằm chắn chỗ ngọn nuớc tràn vào Vợ chồng ông chài và Thúc Ng- vin ngay vào cá trèo lên” Nhờ có Ngoạ Vân biến thành cá mà cả nhà ông chài cứu thoát khỏi cơn nguy nan Đặc biệt là chi tiết kì ảo: Ngoạ Vân từ biệt gia đình ông thuyền chài
và hoá rồng, theo ph-ơng tây Bắc bay đi, cho thấy tấm lòng của nhân vật Ngọa Vân đối với gia đình thuyền chài Nàng đã không tiếc tính mạng của
Trang 20mình, sẵn sàng làm lộ thiên cơ mặc dù biết mình sẽ vĩnh viễn mất đi hạnh phúc để cứu gia đình chồng Lê Thánh Tông đã sáng tạo ra chi tiết thần kì để tô đậm thêm nét đẹp trong tâm hồn nhân vật
Vũ Thị Thiết trong Chuyện ng-ời con gái Nam X-ơng là hình t-ợng
ng-ời phụ nữ đ-ợc tác giả Nguyễn Dữ xây dựng rất thành công Nàng là ng-ời phụ nữ “thuỳ mị, nết na lại thêm tư dung tốt đẹp”, thuỷ chung với chồng, hiếu thảo với mẹ chồng, th-ơng yêu con Chừng ấy đức tính tốt đẹp những t-ởng nàng có cuộc sống hạnh phúc, nào ngờ đâu số phận bi kịch Vũ N-ơng đã tự tử
để chứng minh tấm lòng trinh bạch, thuỷ chung của mình Tình tiết này có ý nghĩa khắc hoạ vẻ đẹp nhân phẩm của nàng, vì lòng tự trọng thà chết oan uổng chứ không chịu đ-ợc sự nhục mạ, ruồng rẫy của ng-ời chồng cạn nghĩ, hay ghen tuông Vũ N-ơng là nhân vật đ-ợc xây dựng có số phận riêng với t- cách con ng-òi chịu trách nhiệm tr-ớc việc làm của mình Nguyễn Dữ đã sử dụng yếu tố “kì” làm chất liệu xây dựng nhân vật Vũ N-ơng Cuộc đời nàng không kết thúc ở việc tự tử, nàng đ-ợc sống ở thuỷ cung và hiện lên gặp chồng Mặc
dù không sống tiếp ở cõi trần nh-ng tình tiết Vũ N-ơng hiện lên gặp chồng từ cõi tiên minh chứng cho tấm lòng trinh bạch của nàng Tác giả đã sử dụng yếu
tố “kì” nhằm mục đích gửi gắm vào tác phẩm giấc mơ hạnh phúc Vũ N-ơng bất hạnh ở cõi trần nhưng nàng sẽ về miền bất bất tử Sử dụng yếu tố “kì” làm ph-ơng thức xây dựng nhân vật, nhà văn có cơ hội khám phá thêm những nét mới trong tâm hồn nhân vật Tấm lòng trong sáng của Vũ N-ơng nh- viên ngọc không tì vết, toả sáng ở nơi không tồn tại bất công, oan nghiệt nh- xã hội nàng sống
Các tác giả đã m-ợn những chi tiết, sự kiện mang màu sắc thần kì, h-
ảo để xây dựng nhân vật Những yếu tố kì ảo ấy mang màu sắc siêu nhiên, hoang đ-ờng, có phần xa lạ với truyền thống bất ngữ “quái, lực, loạn, thần” của nhà nho Để phục vụ cho sáng tác của mình, hai tác giả đã sử dụng yếu tố
ấy một cách có ý thức Nhiều tình tiết ảnh h-ởng của thần linh chủ nghĩa, của
Phật giáo và của tín ng-ỡng dân gian ở Thánh Tông di thảo và Truyền kì mạn lục, thế giới ng-ời cùng tồn tại với thế giới thần, tình tiết thực lẫn tình tiết ảo, ng-ời quan hệ với cả thần linh, ma quỷ Các nhân vật nh- yêu nữ (Yêu nữ
Trang 21Châu Mai), Mộng Trang (Duyên lạ n-ớc Hoa)… trong Thánh Tông di thảo và nhân vật Nhị Khanh (Chuyện cây gạo), Hàn Than, Vô Kỉ (Chuyện nghiệp oan của Đào thị)… trong Truyền kì mạn lục đều đ-ợc các tác giả xây dựng thông qua
sử dụng yếu tố “kì” Việc sử dụng yếu tố “kì” vừa giúp cho hình tượng nhân vật thêm sinh động, nhiều màu sắc vừa giúp cho câu chuyện tăng thêm phần lôi cuốn, hấp dẫn, khơi gợi sự hiếu kì của ng-ời đọc đối với tác phẩm
1.2.2 Lý giải sự t-ơng đồng
Thánh Tông di thảo và Truyền kì mạn lục là hai tác phẩm thuộc loại
hình văn học trung đại Một trong những ph-ơng thức xây dựng nhân vật phổ biến của văn xuôi trung đại là giới thiệu đầy đủ về ngoại hình, tính tình, phẩm chất của nhân vật ngay từ đầu tác phẩm để định h-ớng cho ng-ời đọc, gây ấn t-ợng đối với ng-ời đọc ngay từ đầu tác phẩm Hai tác phẩm đều thuộc thể loại truyện truyền kì cho nên việc sử dụng yếu tố “kì” để xây dựng nhân vật là một tất yếu Sử dụng yếu tố “kì” để xây dựng nhân vật, hai tác giả đã tạo nên cho tác phẩm của mình sức hấp dẫn riêng Nội tâm nhân vật là một trong những ph-ơng diện quan trọng của nhân vật mà bất kì tác giả nào khi sáng tạo cũng cần chú ý đến Lê Thánh Tông và Nguyễn Dữ là hai tác giả có tài trong việc khám phá tâm hồn con ng-ời, bởi vậy, họ đã thể hiện nội tâm nhân vật trong tác phẩm của mình một cách sinh động
1.3 Những sự khác biệt trong ph-ơng thức xây dựng nhân vật của hai tác phẩm
1.3.1 Biểu hiện của sự khác biệt
Bên cạnh những điểm t-ơng đồng về ph-ơng thức xây dựng nhân vật
thì nhân vật trong Thánh Tông di thảo và Truyền kì mạn lục có nhiều điểm
khác biệt làm nên hai phong cách khác nhau của hai tác giả
1.3.1.1 Nhân vật trong Thánh Tông di thảo th-ờng mang tính phiếm chỉ còn nhân vật trong Truyền kì mạn lục tất cả đều đ-ợc miêu tả cụ thể
Trang 22Khảo sát nhân vật của hai tác phẩm chúng tôi thấy có một điểm khác biệt lớn
và dễ nhận thấy Nhân vật trong Thánh Tông di thảo, ngoài một số có tên riêng còn
lại chủ yếu là phiếm chỉ hoặc tên các loài vật Ta có thể thấy rõ qua bảng sau:
1 Yêu nữ Châu Mai Ng- N-ơng, L-ơng Nhân
2 Bài kí dong dõi con thiềm thừ Cóc, ếch
3 Hai Phật cãi nhau Phật gỗ, Phật đất
4 Truyện ng-ời hành khất giàu Ng-ời hành khất
5 Truyện hai gái thần Ng-ời đàn bà có tuổi, cô gái trẻ
7 Bức th- của con muỗi Muỗi đồng, muỗi nhà
8 Duyên lạ n-ớc Hoa Chu sinh, Mộng Trang, Quốc mẫu
9 Phụ lục: Truyện con tằm vàng Tằm vàng
10 Trận c-ời núi Vũ Môn Lê Thánh Tông, cua, ếch, l-ơn, chạch,
Lê Thánh Tông, anh điếc, anh mù
13 Ngọc nữ về tay chân chủ Sơn thần, Thuỷ thần, Ngọc Hoàng,
con ng-ời
14 Hai thần hiếu đễ Nguyễn Tử Khanh, các thần
15 Truyện chồng dê Cô gái, ng-ời chồng dê
16 Ng-ời trần ở thuỷ phủ Ng-ời học trò, vợ học trò, t-ớng
quân d-ới âm phủ
17 Gặp tiên ở hồ Lãng Bạc Lê Thánh Tông, tiên thổi địch
18 Bài kí một giấc mộng Lê Thánh Tông, yêu khí cây chuông
và cây đàn
19 Truyện tinh chuột Anh chồng, chị vợ, tinh con chuột
20 Một dòng chữ lấy đ-ợc gái thần Anh đồ, cô gái thần
Trang 23Quan sát bảng thống kê này ta thấy, trừ một số truyện nhân vật có tên
cụ thể nh- Hai thần hiếu đễ, Yêu nữ Châu Mai… còn đa số các truyện còn lại
các nhân vật trong đó đều hoặc không có tên cụ thể hoặc có tên nh-ng chỉ là phiếm chỉ hoặc nhân vật chính là các con vật Chẳng hạn, tên hai nhân vật
Thúc Ng- và Ngoạ Vân trong Truyện lạ nhà thuyền chài mang tính phiếm chỉ
Tên hai nhân vật Thúc Ng- và Ngoạ Vân mang những ý nghĩa nhất định, nó
có liên quan nhất định đến nội dung cốt truyện chứ không phải là ngẫu nhiên Hai vợ chồng nhà thuyền chài do sáu m-ơi tuổi mới sinh hạ đ-ợc một đứa con trai mà “hôm đứa bé sinh lại đánh đ-ợc một con cá mè to nên đặt tên là Thúc Ngư” Còn Ngọa Vân có nghĩa là c-ỡi mây Cuối truyện Ngọa Vân hoá rồng bay theo ph-ơng Bắc bay đi
Những truyện còn lại, tên các nhân vật chung chung, phiếm chỉ Ví nh-,
ng-ời đàn bà goá (Truyện ng-ời hành khất giàu), ng-ời đàn bà có tuổi và ng-ời đàn bà trẻ tuổi (Truyện hai gái thần), anh đồ, cô gái thần (Một dòng chữ lấy đ-ợc gái thần), ng-ời học trò, vợ ng-ời học trò (“Người trần ở thuỷ phủ)… Có một số truyện viết về loài vật tên nhân vật trong truyện là các con vật nh-: muỗi đồng, muỗi nhà (Bức th- của con muỗi), cua, ếch, l-ơn, tôm, cá… ( Trận c-ời núi Vũ Môn)…
Khác với Thánh Tông di thảo, trong Truyền kì mạn lục tất cả các nhân
vật chính đều là những nhân vật có tên tuổi cụ thể, không có nhân vật nào
phiếm chỉ cả Đó là Hồ Tông Thốc, Hạng V-ơng (Câu chuyện ở đền Hạng V-ơng), là Nhị Khanh, Trình Trung Ngộ (Chuyện cây gạo), là Hà Nhân, Đào, Liễu (Cuộc hội ngộ ở trại Tây), Thuý Tiêu, Lệ N-ơng, Phạm Tử H-, Đào Hàn
Than, Vô Kỉ… Những nhân vật này có thể là những nhân vật lịch sử, cũng có thể là những hồn ma, một người bình thường hay là tinh loài vật biến thành… nh-ng tất cả họ đều có lai lịch, họ tên rất cụ thể, rõ ràng
Trang 24Sự khác nhau này giữa hai tác phẩm Thánh Tông di thảo và Truyền kì mạn lục là sự khác nhau trên bề mặt mà ta dễ nhận ra Nó cũng là một ph-ơng diện để ta khẳng định đến Truyền kì mạn lục nhân vật đ-ợc cá thể hoá hơn
1.3.1.2 Nhân vật trong Thánh Tông di thảo có nội tâm đơn giản hơn nhân vật trong Truyền kì mạn lục
Xây dựng nhân vật thông qua miêu tả nội tâm là một trong những điểm
gặp gỡ cơ bản giữa Thánh Tông di thảo và Truyền kì mạn lục Tuy nhiên,
trong sự giống nhau đó vẫn có những điểm khác nhau lớn giữa hai phong cách tác giả Nội tâm nhân vật là một ph-ơng diện quan trọng mà khi khám phá bất kì một tác phẩm văn học nào ta cũng phải l-u tâm.Thế giới nội tâm con ng-ời phong phú và phức tạp không dễ nhận biết đ-ợc ngay từ đầu So sánh nhân vật
giữa Thánh Tông di thảo và Truyền kì mạn lục chúng tôi nhận thấy có một sự khác biệt là nội tâm nhân vật trong Thánh Tông di thảo đ-ợc miêu tả còn đơn giản hơn rất nhiều so với nội tâm của nhân vật trong Truyền kì mạn lục
Thánh Tông di thảo có m-ời chín truyện nh-ng một phần ba trong số
đó không phải là truyện truyền kì Trong những tác phẩm không phải là truyện
truyền kì thì các nhân vật chính chủ yếu là con vật nh- các truyện Bài kí dòng dõi con thiềm thừ, Bức th- của con muỗi… Bởi vậy, trong các truyện này nhân
vật không đ-ợc tác giả chú ý xây dựng ở ph-ơng diện nội tâm mà chủ yếu
đ-ợc miêu tả qua các sự kiện và hành động ở một số bài có tính chất tạp kí
nh- Gặp tiên ở hồ Lãng bạc, Bài kí một giấc mộng… tác giả chủ yếu ca ngợi
cảnh đất n-ớc thịnh v-ợng, thái bình của thời đại Các truyện mang tính chất truyền kì, nhà văn cũng chú trọng đến ph-ơng diện nội tâm của nhân vật, song
không đ-ợc miêu tả sâu sắc nh- trong Truyền kì mạn lục ở truyện Hai Phật cãi nhau tác giả tái hiện lại nội dung cuộc cãi nhau giữa t-ợng Phật gỗ và
t-ợng Phật đất để tranh giành ngôi thứ, nội tâm nhân vật không đ-ợc thể hiện
rõ ở truyện Duyên lạ n-ớc Hoa, Chu sinh là nhân vật chính trong truyện
nh-ng lại ít đ-ợc miêu tả về những cảm xúc, suy nghĩ Nhân vật chủ yếu đ-ợc
Trang 25tác giả miêu tả qua những sự kiện diễn ra trong cuộc đời Trong truyện có nhân vật Quốc mẫu và Mộng Trang là đ-ợc tác giả chú ý khắc họa nội tâm
nh-ng cũng không nhiều và không sâu sắc nh- nhân vật trong Truyền kì mạn lục
Nếu nh- chúng ta đối sánh nhân vật trong Thánh Tông di thảo và Truyền kì mạn lục về mặt nội tâm thì thấy nội tâm của nhân vật Truyền kì mạn lục phong phú và phức tạp hơn nhiều Bằng tài năng của mình, Nguyễn Dữ đã khắc họa nội tâm nhân vật rất thành công Hà Nhân (trong Cuộc hội ngộ ở trại Tây) là học trò theo học cụ ức Trai Hàng ngày đi học gặp cô Đào, cô Liễu rồi
cùng hai cô vui vầy, tình tứ Đào, Liễu thực ra cũng chỉ là những tinh thực vật biến thành nh-ng cũng đ-ợc tác giả miêu rất kĩ về nội tâm Chỉ vì có một lần
Hà Nhân “kéo Liễu vào lòng mà ấp ủ, đùa bảo rằng:
- Vẻ kiều diễm của em Liễu thật là tột bậc, có thể xứng đáng với câu thơ cổ: “Mĩ nhân nhan sắc đẹp như hoa”, mà Đào lặng lẽ cúi đầu có dáng hổ thẹn, rồi từ đấy luôn trong mấy hôm không đến” Khi Hà Nhân hỏi Liễu mới biết chỉ vì chàng khen Liễu đẹp mà không khen Đào làm Đào xấu hổ không dám
đến và gửi tặng Hà Nhân một bài thơ:
Băng s-ơng cốt cách tuyết tinh thần Nhị mới cành mềm đã xứng cân Khá trách Đông Hoàng thiên vị lắm Một cành bỏ héo một cành xuân
Hà Nhân buồn rầu hồi lâu rồi làm thơ họa lại, từ đó Đào lại đi lại nh- tr-ớc Chỉ là tinh thực vật biến thành nh-ng hai nhân vật Đào, Liễu có những suy nghĩ, tình cảm phức tạp
Nhân vật Lệ N-ơng và Phật Sinh trong Chuyện Lệ N-ơng cũng đ-ợc
nhà văn khắc họa nội tâm sâu sắc Lệ N-ơng và Phật Sinh từ nhỏ đã chơi thân với nhau và đ-ợc hai gia đình đính -ớc từ lâu Nh-ng lớn lên Lệ N-ơng bị bắt vào cung, tr-ớc khi vào cung nàng để lại cho Phật Sinh một bức th- Th- viết:
Trang 26Li biệt ngày nay, bao khuây nguồn cảm Bóng tr-ớc lầu đã rụng
Xuân trong viện đành giam Những e, g-ơng ly loan bóng múa hững hờ
Đàn “ Biệt hạc” tiếng vang ai oán Thành xuân trời tối, liễu lả cành d-ới ngọn đông phong Ngòi ngự n-ớc trôi, ruột đứt khúc bao ng-ời cung nữ
Luống những mạch sầu đợt đợt Sóng lệ trùng trùng
Nguồn x-a tan nát nghĩ mà đau Kiếp ấy lỡ làng sinh cũng uổng
Ước Liễu thị mong gì hảo hội Duyên Ngọc Tiêu đâu chắc tái sinh Xin chàng trân trọng lấymình
Liệu kết nhân duyên chốn khác
Đừng vì tình một buổi
Để lỡ kế trăm năm Man mác nỗi lòng Th- khôn xiết tả
Ch-a biết ý chàng Tr-ớc xin bày tỏ
Lời lẽ trong th- bày tỏ một nỗi lòng đau xót khi phải biệt li Không đ-ợc ở cùng nhau nàng mong muốn ng-ời mình yêu sẽ đ-ợc hạnh phúc, không vì nàng
Trang 27mà lỡ duyên trăm năm Phật Sinh đau đớn vô cùng, quyết tâm đi tìm Lệ N-ơng Khi gặp nhau thì Lệ N-ơng đã chết nh-ng hồn nàng đã hiện về để gặp Phật Sinh
“vợ chồng cùng nhau âu yếm trò chuyện y như lúc sống” Sinh nói:
“ Nàng đã không may, vậy anh đem linh thấn về, khỏi uổng một chuyến
đi không lại trở về rồi”
Lệ N-ơng nói: “thiếp rất cảm tấm thân tình ấy Song thiếp cùng hai vị
mĩ nhân gần gụi lâu ngày, giao tình thân mật, không nỡ một sớm bỏ đi Ph-ơng chi chốn này n-ớc non trong sáng, mây khói vật vờ, thần yên phách yên, bất tất phiền chàng” Mặc dù rất yêu chàng Phật Sinh nh-ng không nỡ để hai ng-ời con gái đã chết cùng nàng ở lại một mình nên nàng đã không để Phật Sinh mang linh thấn về Còn Phật Sinh vì yêu Lệ N-ơng nên sau này không lấy ai nữa Thật là một tấm lòng hiếm có
Nguyễn Dữ là một tác giả tài năng, khi xây dựng nhân vật ông không
đơn thuần tái hiện lại đời sống nhân vật qua những cử chỉ, hành động, sự kiện diễn ra trong cuộc đời nhân vật mà quan trọng hơn đó là ông đã có sự đi sâu vào tái hiện nội tâm nhân vật, để cho nhân vật phơi bày nội tâm Các nhân vật
Đào Hàn Than (Chuyện nghiệp oan của Đào thị), Nhị Khanh (Chuyện cây gạo), Nhị Khanh (Chuyện ng-ời nghĩa phụ ở Khoái Châu)…đều là những
nhân vật đ-ợc nhà văn chú ý khắc họa nội tâm rất đậm nét Những suy nghĩ, tâm t-, tình cảm, nỗi lòng của nhân vật đ-ợc nhà văn thể hiện rất thành công, bộc lộ một tài năng đặc biệt trong việc miêu tả tâm hồn con ng-ời
1.3.1.3 Trong Thánh Tông di thảo không phải truyện nào cũng có nhân vật kì ảo trong khi đó tất cả các truyện trong Truyền kì mạn lục đều có nhân vật kì ảo
Trong Thánh Tông di thảo có m-ời chín truyện, tuy nhiên không phải
tất cả các truyện đều là truyện truyền kì mà chỉ 13/19 truyện là truyện truyền kì Bởi vậy, cũng không phải truyện nào cũng xuất hiện nhân vật kì ảo Ta có thể theo dõi qua bảng thống kê sau:
Trang 282 Bài kí dòng dõi con thiềm thừ Cóc, ếch
3 Hai phật cãi nhau Lê Thánh Tông T-ợng Phật gỗ, t-ợng
Phật đất, Phật Thích Ca
4 Truyện ng-ời hành khất giàu Ng-ời đàn bà goá
5 Truyện hai gái thần Nhà nho già Hai cô gái thần
12 Ngọc nữ về tay chân chủ Con ng-ời Sơn thần, Thuỷ thần
13 Hai thần hiếu đễ Nguyễn Tử Khanh Anh trai Tử Khanh
15 Ng-ời trần ở thuỷ phủ Học trò và ng-ời
vợ
T-ớng quân d-ới âm phủ
16 Gặp tiên ở hồ Lãng Bạc Lê Thánh Tông Tiên thổi địch
17 Bài kí một giấcmộng Lê Thánh Tông Yêu khí cây đàn và
Trang 29Theo dõi bảng thống kê trên về nhân vật Thánh Tông di thảo và đối sánh với nhân vật trong Truyền kì mạn lục thì ta thấy có sự khác biệt Trong Thánh Tông di thảo có một số truyện tác giả viết nhằm mục đích ngụ ngôn
cho nên không cần sự xuất hiện của lực l-ợng thần kì, chẳng hạn nh- các
truyện Bức th- của con muỗi, Lời phán xử cho anh điếc và anh mù, Bài kí dòng dõi con thiềm thừ… Ng-ợc lại, Truyền kì mạn lục gồm 20 truyện và tất cả đều là truyện truyền kì Ngay tên gọi của tập truyện Truyền kì mạn lục (ghi chép tản mạn những truyện kì lạ) cũng nói lên điều đó Truyền kì mạn lục đã
mang đầy đủ đặc điểm của thể loại truyện truyền kì Vì thế, ở tất cả các truyện
ta đều có thể thấy nhân vật kì ảo Sự xuất hiện của nhân vật kì ảo làm tăng thêm tính lôi cuốn, hấp dẫn cho câu chuyện
1.3.2 Lý giải sự khác biệt
Nếu làm một phép so sánh chúng ta thấy rằng, nhân vật trong Truyền kì mạn lục đ-ợc sáng tạo bởi một nghệ thuật điêu luyện và công phu hơn rất nhiều so với Thánh Tông di thảo Hiện nay, ng-ời ta coi Thánh Tông di thảo
là tác phẩm mở đầu cho thể loại truyện truyền kì còn Truyền kì mạn lục là tác
phẩm đạt đến trình độ đỉnh cao của thể loại truyện truyền kì Việt Nam Do là
tác phẩm mở đầu nên Thánh Tông di thảo còn có sự pha trộn giữa những
truyện mang tính chất truyền kì và những truyện mang tính chất ngụ ngôn, tạp
kí Cũng chính bởi thế nên các nhân vật trong tác phẩm đ-ợc xây dựng còn
đơn giản hơn về ngoại hình và nội tâm Mặt khác, tác phẩm ra đời trong thời kì văn học viết còn chịu sự chi phối của văn học dân gian.Văn học viết thời kì Nguyễn Dữ sống và sáng tác vẫn còn chịu nhiều ảnh h-ởng của văn học dân gian, tuy nhiên, nó không chịu sự tác động mạnh mẽ nh- văn học tr-ớc đó Bản chất tác phẩm là thể loại truyện truyền kì cho nên trong các truyện của
Truyền kì mạn lục đều xuất hiện các nhân vật kì ảo Nguyễn Dữ cũng là một
tài năng văn học, ông rất chú trọng xây dựng nhân vật của mình nhất là ph-ơng diện nội tâm Đó chính là một phần làm nên thành công của tác phẩm
Trang 30và kì vọng về con người” [11; 279] Nhà văn sáng tạo ra nhân vật để thể hiện những cá nhân xã hội nhất định và quan niệm về cá nhân đó Chính vì vậy, nhân vật có vai trò hết sức quan trọng trong một tác phẩm văn học, không có nhân vật thì cũng không có tác phẩm văn học Nhân vật được xem là “linh hồn của tác phẩm”, là người “dẫn dắt độc giả và thế giới khác nhau của đời sống” [4; 203]
2.2 Những sự t-ơng đồng về chức năng nhân vật trong hai tác phẩm
2.2.1 Biểu hiện của sự t-ơng đồng
2.2.1.1 Nhân vật trong hai tác phẩm đều đ-ợc xây dựng nhằm phản ánh hiện thực xã hội đ-ơng thời
Văn học thời kì nào cũng vậy, đằng sau những hình t-ợng văn học,
đằng sau những kí hiệu, những câu chữ là cả một hiện thực xã hội Ng-ời ta thường nói “văn học là tấm g-ơng phản chiếu cuộc sống” Đằng sau những cuôc đời của các nhân vật trong tác phẩm chúng ta có thể liên t-ởng tới cuộc
sống của những con ng-ời trong xã hội thực Thánh Tông di thảo và Truyền kì mạn lục là hai tập truyện mà trong đó, thông qua xây dựng nhân vật, Lê Thánh
Tông và Nguyễn Dữ đều nhằm mục đích là phản ánh hiện thực xã hội phong kiến đ-ơng thời Qua các nhân vật trong từng truyện cụ thể, chúng ta thấy
đ-ợc hiện thực xã hội phong kiến hiện lên đậm nét với đầy đủ những nét đặc tr-ng của nó Bất kì tác phẩm văn học nào đ-ợc viết ra thì mục đích tr-ớc và
Trang 31trên hết đều nhằm phản ánh hiện thực xã hội, thời đại mà chính tác giả đang sống, là ng-ời chứng kiến Nhân vật là một ph-ơng tiện nghệ thuật quan trọng
để tác giả chuyển tải những quan niệm, những cái nhìn, cách nhìn của mình về thực trạng xã hội đó Nhà văn chính là ng-ời nhạy cảm nhất đối với những biến thái dù là nhỏ nhất của xã hội Nguyễn Dữ và Lê Thánh Tông đều là những nhà văn tài năng, những ng-ời có khả năng đặc biệt trong việc nắm bắt các vấn đề xã hội Bởi vậy, qua cuộc đời của các nhân vật trong tác phẩm của
họ, ng-ời đọc có thể khám phá đ-ợc một hiện thực xã hội đầy sinh động
2.2.1.2 Nhân vật trong hai tác phẩm đều có chức năng giáo hoá
Nho giáo rất đề cao chức năng giáo hoá (thay đổi xã hội và con ng-ời theo đạo lí phong kiến) của văn ch-ơng Truyện truyền kì thuộc số thể loại hàng đầu có thể “khuyến thiện trừng ác” Qua các nhân vật của mình, các tác giả bao giờ cũng muốn gửi gắm một thông điệp nào đó tới ng-ời đọc ở hai tác phẩm ta thấy rõ một điều rằng, thông qua nhân vật, các nhà văn nhằm biểu d-ơng, ca ngợi những hành vi đạo đức cao đẹp đồng thời phê phán những hành vi phản đạo đức; từ đó mà giáo dục, cảm hoá con ng-ời
Truyện Hai thần hiếu đễ trong Thánh Tông di thảo ca ngợi tình nghĩa
anh em keo sơn, ca ngợi nhân vật Nguyễn Tử Khanh- một con ng-ời hiếu nghĩa Nguyễn Tử Khanh cha mẹ mất sớm, chỉ còn một ng-ời anh Khi lớn lên anh chị dâu đều mất cả, để lại một ng-ời cháu, Tử Khanh coi nh- con Gia
đình túng thiếu nh-ng hoà mục Một hôm đi đ-ờng gặp m-a,Tử Khanh vào một ngôi miếu gặp anh trai đã là thần Nhờ sự giúp đỡ của ng-ời anh trai, năm sau các con cháu của Tử Khanh đi thi đều đỗ đạt Cuối truyện Sơn Nam Thúc
đã có lời bình như sau: “Đạo hiếu đễ với ng-ời ta rất quan trọng Thánh V-ơng dùng ng-ời, lấy hiếu đễ làm gốc Quỷ thần đ-ợc đời sau thờ cúng cũng
có đạo hiếu đễ Kia những kẻ bất hiếu, bất đễ, sao không trông thấy truyện này làm gương” Như vậy, qua nhân vật Nguyễn Tử Khanh tác giả muốn ca ngợi tình hiếu đễ, đồng thời giáo hoá những kẻ bất hiếu, bất đễ
Xây dựng nhân vật ng-ời hành khất trong Truyện ng-ời hành khất giàu,
nhà văn muốn gửi gắm đến ng-ời đọc những thông điệp đầy ý nghĩa Truyện
Trang 32kể về một ng-ời đàn bà goá không con cái, anh em, không tấc đất cắm dùi phải làm nghề hành khất “khi thì chạy ngược chạy xuôi, ngấp nghé đám tế xuân trong xóm; khi thì loanh quanh đây đó, dòm ngó cúng mộ ngoài đồng Lên núi tìm h-ơng, lần cửa xin n-ớc, đến đâu mụ cũng khéo lạy, khéo quỳ, khéo ton hót gia chủ…” Cứ như thế đến già mụ chết đi đ-ợc dân làng mai táng Họ đốt nhà mụ thì thấy rất nhiều tiền, thóc lúa liền tranh nhau lấy về Câu chuyện kết thúc bằng một lời bình của tác giả: “Nh-ng các của cải ở trên
đã thành vô chủ thì dù của ăn mày cũng mặc, họ vẫn chia nhau lấy tất” Truyện chỉ có vẻn vẹn hai trang giấy nh-ng chứa nhiều ý nghĩa Nhân vật người hành khất kia “lúc sống không người giúp đỡ, khi chết chẳng có cháu con, đã tích đ-ợc nhiều của nh- thế, há không đủ ăn đến già sao? Thế mà cứ phải khéo lụy, khéo quỳ, khéo nịnh, sống làm nghề ăn mày, chết vẫn làm nghề
ăn mày đem cả của cải của mình suốt đời phải chắp tay cúi lạy phó mặc cho cái lũ ng-ời không mảy may giúp đỡ mình khi còn sống Chắc là mụ làm nhiều điều bất thiện nên quỷ mê muội Còn nh- lũ ng-ời làng đã chẳng giúp gì khi mụ còn sống, rủ nhau đến chia khi mụ chết, thật là vô sỉ, ăn mày trong
đám ăn mày” Lời bình của Sơn Nam Thúc thật thấm thía Truyện ng-ời hành khất giàu là bài học cho những kẻ sống làm nhiều điều bất thiện, bất nghĩa
Cũng là lời khuyên cho những kẻ sống ích kỉ, chỉ biết đến vơ vét của ng-ời khác, không biết đến đạo lí là gì, chỉ là “ ăn mày trong đám ăm mày” mà thôi
Sống trong hoàn cảnh xã hội đặc biệt, thời kì xã hội phong kiến rối ren,
đảo điên, đạo đức không đ-ợc chú trọng, Nguyễn Dữ đã phản ánh hiện thực xã hội qua những câu chuyện, những nhân vật gửi gắm vào đó những bài học
luân lí, mong muốn sẽ “khuyến thiện trừng ác” Trong Chuyện gã Trà Bồng giáng sinh ông viết: “Này đức là nền từ thiện, của là kho tranh giành Tích đức
nh- mầm non rỏ một giọt n-ớc, sẽ nảy nở lên, tích của nh- lửa đỏ gieo một khối băng, sẽ tàn lụi xuống Huống chi không van mà lớn là mầm thiện ác, không giữ mà đầy là cơ phúc hoạ, cái tình hình ỷ phục trong đó thật là đáng
sợ Ông nên trân trọng, cố gắng làm điều nhân” Đối với mỗi nhà văn , khi xây dựng nên các nhân vật, họ luôn mong muốn thông qua các nhân vật của mình
Trang 33đem đến cho ng-ời đọc những bài học lí thú về cuộc sống và cũng mong
muốn từ đó con ng-ời ta sẽ sống đẹp hơn Chuyện Lý t-ớng quân là cái g-ơng
về một bài học đắt giá cho những kẻ sống ích kỉ, tàn bạo, chỉ biết làm sao thoả mãn cuộc sống của riêng mình mà làm hại đến ng-ời khác, nhẫn tâm c-ời trên cuộc sống đau đớn của ng-ời khác Lý Hữu Chi là một ng-ời làm ruộng, tính tình dữ tợn, có sức khoẻ, giỏi đánh trận, đ-ợc quốc công Đặng Tất tiến cử làm t-ớng quân Quyền vị cao, hắn làm những việc trái phép, dựa lũ trộm c-ớp nh- lòng ruột, coi ng-ời nho sĩ nh- cừu thù, thích sắc đẹp, ham tiền tài, tham lam không chán, tậu ruộng v-ờn, dựng nhà cửa, khai đào đồng nội để làm ao, dồn
đuổi xóm giềng, đi kiếm những kì hoa dị thảo từ bên huyện khác đem về Ng-ời trong vùng phục dịch nhọc nhằn, anh nghỉ thì em đi, chồng về thì vợ
đổi ai nấy đều vai sông tay nách, rất khổ sở nh-ng hắn vẫn điềm nhiên, không chút mảy may động tâm Có một ông thầy t-ớng số đã nhiều lần cảnh báo cho hắn biết tr-ớc mọi điều sẽ xảy ra nếu hắn cứ làm điều tàn ác Nh-ng bản tính khó đổi, hắn càng ngày càng dâm cuồng, chém giết không kiêng dè mặc cho
mẹ và con trai can ngăn Khi chết xuống âm phủ những gì mà hắn làm đã
đ-ợc đáp trả, cuối cùng hắn cũng phải đền tội đích đáng Hắn bị bỏ vào n-ớc sôi rửa ruột để cho tình dục không sinh, bị l-ỡi trùng thủ moi ruột để cho lòng tham không nổi lên nữa, bị áp giải vào ngục Cửu U lấy dây da chét lấy đầu, lấy dùi lửa đóng vào chân, chim cắt mổ vào ngực, rắn độc cắn vào bụng, rầm luân kiếp kiếp, không bao giờ đ-ợc ra khỏi Cuộc sống rất công bằng Nếu ta làm điều thiện thì ắt sẽ đ-ợc h-ởng phúc lộc còn nếu ta làm điều ác sẽ tự chuốc lấy tai hoạ, mặc dù khi sống ch-a bị trừng phạt thì lúc chết cũng sẽ bị hành hình, giống nh- nhân vật Lý t-ớng quân vậy Làm biết bao điều ác, hắn biết rõ lúc chết sẽ bị Diêm V-ơng trừng trị nh-ng vẫn làm điều ác để rồi phải chịu những hình phạt nặng nhất Sự trừng phạt nhân vật Lý Hữu Chi chính là
sự răn đe cho những kẻ sống chỉ biết làm điều ác
Nh- vậy, cả Thánh Tông di thảo và Truyền kì mạn lục các tác giả xây
dựng nhân vật nhằm mục đích giáo hoá, giúp cho con ng-ời ta lấy đó làm những bài học quý giá và từ đó sống đẹp hơn, tốt hơn
Trang 342.2.2 Lý giải sự t-ơng đồng
“Giữa tác phẩm văn học và hoàn cảnh thời đại có mối liên hệ khăng khiết không thể tách rời” [11; 77] Tác phẩm văn học bao giờ cũng phản ánh hiện thực
đời sống, nếu tác phẩm thiếu chất liệu của cuộc sống sẽ khô héo, lụi tàn, mất đi ý
nghĩa xã hội và nhanh chóng đi vào quên lãng theo thời gian Sở dĩ Thánh Tông
di thảo và Truyền kì mạn lục còn tồn tại tới ngày nay, đ-ợc đông đảo độc giả đón
nhận với một niềm say mê do sức mạnh phản ánh hiện thực của hai tác phẩm Qua cuộc đời của các nhân vật trong các câu chuyện, ng-ời đọc có thể tìm thấy cuộc sống của ng-ời Việt Nam thời tác giả Lê Thánh Tông và Nguyễn Dữ đều là những nhà văn có ý thức trách nhiệm cao khi cầm bút, vì vậy, hiện thực cuộc sống hiện lên trong tác phẩm của họ sinh động và hấp dẫn
Lê Thánh Tông và Nguyễn Dữ đều là nhà nho, bởi vậy, họ chịu ảnh h-ởng rất sâu sắc của giáo lí Nho giáo Một trong những mục đích cao nhất
mà Nho giáo h-ớng tới đó là lòng nhân Các nhà nho x-a khi sáng tác văn học luôn luôn mong muốn tác phẩm của mình sẽ có tác dụng “khuyến thiện trừng
ác” cho nên khi xây dựng nhân vật, họ gửi gắm vào đó những thông điệp quý báu Lê Thánh Tông và Nguyễn Dữ là hai tác giả sống ở hai thời đại khác nhau nh-ng họ đều là nhà nho, động cơ sáng tác của hai tác giả là “viết ra tập truyện để ngụ ý” (Hà Thiện Hán), và “lời ngụ ý khuyên răn” là tinh thần nhất quán của hai nhà văn
2.3 Sự khác biệt về chức năng nhân vật trong hai tác phẩm
2.3.1.Biểu hiện của sự khác biệt
2.3.1.1.Trong Thánh Tông di thảo sự xuất hiện của nhân vật kì ảo th-ờng giúp cho con ng-ời có cuộc sống sung túc hơn, còn Truyền kì mạn lục
thông qua các nhân vật kì ảo tác giả gửi gắm ý t-ởng phê phán chế độ xã hội phong kiến đ-ơng thời
Trong truyện truyền kì có sự đan xen giữa yếu tố hiện thực và yếu tố kì
ảo Yếu tố kì ảo vừa có vai trò, tác dụng làm tăng tính lôi cuốn, hấp dẫn của câu chuyện vừa có vai trò quan trọng là thông qua yếu tố kì ảo ta thấy hiện lên hiện thực xã hội phong kiến Đằng sau yếu tố kì ảo là cả một thế giới hiện
Trang 35thực đầy sinh động Nội dung của truyện truyền kì th-ờng đề cập đến những chuyện lạ lùng, hoang đ-ờng, kì quái nh-ng mục đích là phản ánh thế giới trần tục của con người, quan hệ gia đình, vợ chồng, anh em… trước những biến động của xã hội
Qua khảo sát Thánh Tông di thảo chúng tôi thấy, sự xuất hiện khá
nhiều của những nhân vật kì ảo Điều này có thể thấy rõ qua các truyện nh-:
Duyên lạ n-ớc Hoa, Truyện lạ nhà thuyền chài, Hai thần hiếu đễ, Một dòng chữ lấy đ-ợc gái thần…Trong Duyên lạ n-ớc Hoa chàng Chu sinh nhà nghèo,
cha mẹ mất sớm, ở với chú thím Nhà chú thím nghèo nhưng Chu sinh: “chẳng chịu cất nhắc làm gì cả, chỉ sáng đến trường học, tối về nằm khèo” nên người thím sinh ra chán và luôn mắng nhiếc Vì thế sinh lại về nơi ở cũ của cha mẹ ngày tr-ớc ở đó, Chu sinh hàng ngày khi đi ngủ th-ờng nằm mơ thấy một viên quan dẫn đến một toà cung điện nguy nga Sau đó chàng đ-ợc kết duyên cùng công chúa Mộng Trang và có một cuộc sống sung s-ớng, hạnh phúc Giặc giã hoành hành, vợ chồng li tán, Chu sinh lại về ở với chú Không lâu sau thì đỗ h-ơng cống rồi làm quan Trong một lần đi dẹp loạn, chàng đã gặp lại Mộng Trang trong giấc mộng và biết nàng thuộc loài b-ớm thần Chàng biết mình sắp đ-ợc làm chúa n-ớc Hoa bèn dâng sớ về quê lo việc rồi mất
Trong truyện này, sự xuất hiện của nhân vật kì ảo Mộng Trang và họ hàng b-ớm thần đã giúp cho Chu sinh từ một anh học trò nghèo kiết, l-ời biếng có cuộc sống sung s-ớng, hạnh phúc
Còn trong Một dòng chữ lấy đ-ợc gái thần lại kể về một anh đồ kiết,
cha mẹ mất sớm, em trai không có, nhà nghèo chỉ nhờ bút nghiên mà sống Một hôm có ng-ời con gái đẹp đem mâm lễ vật đến toàn là vàng bạc châu báu
đến chỉ mong xin đ-ợc một dòng chữ của anh ta Do thấy lạ nên anh ta không vội cho chữ mà một mực đòi đổi chữ để lấy đ-ợc cô gái Và cuối cùng anh ta cũng đ-ợc toại nguyện, chỉ một dòng chữ mà lấy đ-ợc gái thần, suốt đời sống sung túc, hạnh phúc ở đây sự xuất hiện của nhân vật cô gái thần (nhân vật kì
ảo) đã đem lại cho anh đồ kiết kia (ng-ời trần) có một cuộc sống sung s-ớng, hạnh phúc mặc dù anh ta chẳng phải làm việc gì nặng nhọc, khó khăn gì cả
Trang 36Điều này hoàn toàn trái ng-ợc với Truyền kì mạn lục Trong Truyền kì mạn lục, sự xuất hiện của những nhân vật kì ảo nh- thần tiên, ma quỷ, tinh loài
vật… nhằm phản ánh hiện thực xã hội phong kiến đương thời thối nát, nhân dân lầm than, đói khổ ; qua đó tác giả gửi gắm ý t-ởng phê phán nền chính sự rối loạn không còn kỉ cương, trật tự, vua chúa hôn ám, bề tôi thoán đoạt…
PGS.TS Vũ Thanh trong bài Đóng góp của Nguyễn Dữ cho truyện truyền kì Đông á đã viết: “lần đầu tiên trong lịch sử văn xuôi dân tộc và cũng
có thể nói rằng, lần đầu tiên trong lịch sử văn học Việt Nam, Nguyễn Dữ đã dựng lên trong tác phẩm của mình một bức tranh hiện thực sinh động và sâu
sắc đến vậy” [22; 3] Truyền kì mạn lục m-ợn chuyện đời x-a để phản ánh
những hiện thực xã hội thời Nguyễn Dữ Thời gian xảy ra các truyện là đời Lí,
đời Trần, đời Hồ và đời Lê sơ Niên đại đ-ợc nhắc đến sớm nhất trong Truyền kì mạn lục là năm Bính Tí, niên hiệu Quang Thái (1396) và niên đại cuối cùng
là Diên Ninh năm thứ năm (1458) Thế nh-ng, vấn đề truyện nêu lên đều là những vấn đề đặt ra cấp thiết và gay gắt trong thời đại Nguyễn Dữ Từ đời sống sa đọa của tầng lớp thống trị đến cuộc sống cơ cực của nhân dân, từ những những biểu hiện suy thoái của Nho, Đạo, Phật đến những suy đồi của
đạo đức xã hội, đặc biệt là từ bi kịch đến khát vọng của ng-ời phụ nữ, không chỉ là hồi âm của quá khứ mà còn là vấn nạn của thời Nguyễn Dữ
Trong Truyền kì mạn lục có loại truyện vạch trần bộ mặt của giai cấp
thống trị phong kiến lúc suy thoái, đả kích hôn quân bạo chúa, tham lam,
đồng tình với cảnh ngộ của ng-ời dân l-ơng thiện bị chà đạp, phản ánh sự phẫn nộ của quần chúng tr-ớc những tệ lậu của xã hội phong kiến; có lúc phản
ánh tình yêu trai gái, hạnh phúc lứa đôi, tình nghĩa vợ chồng, lại có truyện viết
về đời kẻ sĩ, nổi bật trong đó là đời sống của tầng lớp nho sĩ ẩn dật Trong
Chuyện đối đáp của ng-ời tiều phu núi Na, thông qua xây dựng nhân vật ẩn sĩ
tác giả phản ánh hiện thực phong kiến thối nát, hôn quân lộng hành Ng-ời tiều phu trong truyện nói: “ ta tuy chân không b-ớc đến chốn thị thành, mình không vào đến chốn cung đình nh-ng vẫn th-ờng đ-ợc nghe tiếng ông vua
Trang 37bây giờ là ng-ời thế nào Ông ấy th-ờng dối trá, tính nhiều tham dục, đem hết sức dân để dựng cung Kim Âu, dốc cạn của kho để mở phố Hoa Nhai, phao phí gấm là, vung vãi châu ngọc, dùng vàng nh- cỏ rác, quan chức có tiền là mua đ-ợc, kẻ dâng lời ngay thì giết, kẻ nói điều nịnh thì th-ởng, lòng dân
động lay…” Người tiều phu này là một ẩn sĩ nhưng hiểu sự đời Phải chăng vì bất đắc chí, bất mãn với cuộc đời mà ông lui về ở ẩn, vui thú lâm tuyền Nhân vật này dường như là một ẩn sĩ đắc đạo, một tiên nhân “cưỡi mây về gió” Câu trả lời của ông với Tr-ơng công cho ta thấy đ-ợc toàn cảnh hiện thực xã hội
đ-ơng thời: ông vua hiện tại là một tên hôn quân, tham lam, bóc lột sức lao
động của dân đến thậm tệ, cuộc sống của nhân dân điêu đứng, vất vả bởi những lần xây cung mở phố của ông ta khiến cho nhân dân đói khổ, đời đời oán ghét
Chuyện chức phán sự đền Tản Viên cũng là một trong những tác phẩm
phản ánh đậm nét hiện thực xã hội phong kiến đ-ơng thời Trong truyện, nhân vật Ngô Tử Văn là một trí thức nóng nảy, dũng cảm vì không chịu đ-ợc cảnh gian tà, đã đốt đền trừ hại cho dân Tối hôm đó, tên Bách hộ họ Thôi về mắng nhiếc, doạ nạt và đòi chàng làm trả lại ngôi đền Nhờ sự giúp đỡ chỉ bảo của Thổ thần, chàng đã biết hết chân t-ớng sự việc, hiểu rõ đ-ợc tội ác của hồn ma t-ớng giặc Càng ngày chàng càng ốm nặng và sau đó bị quỷ thần bắt xuống Minh ti D-ới Minh ti đã diễn ra cuộc đấu tranh gay gắt chống lại sự gian tà của Ngô Tử Văn Cuối cùng chàng đã thắng và đ-ợc nhận chức phán sự đền Tản Viên Qua sự lộng hành của hồn ma tên t-ớng giặc ta thấy rằng: có sự bất công oan trái từ cõi trần đến cõi âm, kẻ ác làm càn thì đ-ợc bao che, đ-ợc lên mặt dạy đời, thánh thần ở cõi âm cũng tham lam ăn của đút lót của hồn ma t-ớng giặc và tiếp tay cho cái ác hoành hành, Diêm V-ơng và cộng sự xa dân,
để bao nhiêu ng-ời chịu oan ức, bất công, ngang trái Từ đó ta thấy rõ đ-ợc hiện thực xã hội phong kiến đ-ơng thời là một xã hội thối nát, vua quan xa dân, kẻ ác ngang nhiên làm càn mà không bị nghiêm trị có khi còn đ-ợc tiếp tay bởi những thế lực có chức có quyền còn nhân dân luôn là những nạn nhân luôn chịu những bất công, uất ức
Trang 38Hiện thực nổi bật hơn trong Truyền kì mạn lục là những tệ lậu của xã
hội phong kiến Đó chính là cảnh chiến tranh liên miên khiến cho nhân dân lầm than, cơ cực “sống chẳng gặp thời, chết không phải số Đói không có gì
ăn, không có chỗ tựa nương… chết chóc nhiều, những oan hồn không chỗ tựa
nương từng đàn lũ” như trong Chuyện t-ớng Dạ Xoa Hay một tên t-ớng hung tợn, tham quan, háo sắc, tàn ác nh- Lý Hữu Chi (Chuyện Lý t-ớng quân)
khiến cuộc sống nhân dân vô cùng điêu đứng… Rõ ràng những vấn đề hệ trọng nhất của giai đoạn lịch sử này đã đ-ợc Nguyễn Dữ phản ánh vào trong tác phẩm của mình Ông đã cho thấy sự “suy thoái có tính phạm trù” của xã hội Nguy hiểm hơn đó là sự suy đồi có tính hệ thống về mặt đạo đức xã hội
mà đạo đức vốn là nền tảng, là r-ờng cột của xã hội Nguyễn Dữ cũng cho ta thấy chính những thực dụng của lối sống thị dân, chính việc coi của cải, tiền bạc, trọng chức t-ớc góp phần tạo nên một xã hội loạn lạc nh- vậy
2.3.1.2 Thông qua việc xây dựng nhân vật nữ Truyền kì mạn lục phản
ánh khát vọng đ-ợc h-ởng hạnh phúc lứa đôi của ng-ời phụ nữ còn nhân vật
nữ trong Thánh Tông di thảo không thể hiện chức năng này
Cả Lê Thánh Tông và Nguyễn Dữ đều rất chú trọng và công phu trong
việc xây dựng hệ thống nhân vật nữ trong hai tác phẩm Tuy nhiên, ở Truyền kì mạn lục, khát vọng đ-ợc h-ởng hạnh phúc lứa đôi, sự đấu tranh để bảo vệ
tình yêu, hạnh phúc, quyền sống của ng-ời phụ nữ rất mãnh liệt; còn trong
Thánh Tông di thảo vấn đề này d-ờng nh- ch-a đ-ợc đề cập đến
Khác với các tác phẩm văn xuôi tr-ớc đó, cái khiến cho Nguyễn Dữ gần gũi trào l-u nhân đạo chủ nghĩa của văn học Việt Nam thế kỉ XVIII- nửa đầu thế kỉ XIX chính là ông đã h-ớng tới phản ánh số phận và khát vọng của con ng-ời đặc biệt là ng-ời phụ nữ Nguyễn Dữ nhận ra ở những ng-ời phụ nữ sống có đạo đức tử tế những nỗi bất hạnh tột cùng, khi phẩm giá của họ không
đ-ợc đền đáp mà lại bị vùi dập, hầu nh- ai cũng tìn đến một cái chết oan uổng Bởi vậy, ông đã có sự nhìn nhận khác đối với những ng-ời phụ nữ v-ợt lên sự c-ơng toả của lễ giáo phong kiến, tìm đến tình yêu tự do Ông đã không ngần ngại miêu tả tình yêu với tất cả sự mê đắm của những nho sinh với ma