ở tuổi dậy thì do sự phát triển của hệ thần kinh và nội tiết, hoạt động của các hoocmon nam và nữ đã làm cho con ng-ời có sự phát triển có tính chất nhảy vọt về thể lực, hình thái cơ thể
Trang 1Mở đầu
1 Lí do chọn đề tài
Con ng-ời là trung tâm của vũ trụ, là một chủ thể đ-ợc phát triển toàn diện về hình thái cơ thể cũng nh- về mặt nhân cách Con ng-ời từ khi sinh ra cho đến khi già chết trải qua các giai đoạn phát triển khác nhau: bào thai, sơ sinh, bú sữa, nhà trẻ, mẫu giáo, niên thiếu, dậy thì, tr-ởng thành, lão hoá và chết Trong các giai đoạn phát triển của đời ng-ời, tuổi dậy thì t-ơng đ-ơng với giai đoạn đang ngồi trên ghế tr-ờng trung học cơ sở Đây là một trong những giai đoạn có những biến đổi quan trọng cả về chất và l-ợng
Tranopxcaia đã nhận định: “Trong các giai đoạn phát triển ở trẻ em nói riêng và con ng-ời nói chung thì sự phát triển ở tuổi dậy thì là cái mốc vô cùng lớn, chuyển từ l-ợng thành chất, đ-a đứa trẻ thành ng-ời lớn thực sự cả
về thể lực, tâm hồn và trí tuệ” [13] ở tuổi dậy thì do sự phát triển của hệ thần kinh và nội tiết, hoạt động của các hoocmon nam và nữ đã làm cho con ng-ời
có sự phát triển có tính chất nhảy vọt về thể lực, hình thái cơ thể cũng nh- trí tuệ, tình cảm và các đặc điểm tâm lí và các mối quan hệ xã hội Tuy nhiên các mốc đó xảy ra sớm hay muộn, xảy ra ở đâu và sự phát triển hình thái đó đã đạt
đến cực điểm của sự cho phép ch-a, điều đó còn phụ thuộc vào nhiều yếu tố của môi tr-ờng tự nhiên và xã hội Tr-ớc hết nó phụ thuộc vào tố chất di truyền, sau đó là các yếu tố môi tr-ờng, xã hội nh-: điều kiện khí hậu, chế độ dinh d-ỡng, điều kiện lao động, tác động của phim ảnh… Những yếu tố trên
đã làm nên những nét khác biệt về mặt hình thái của các độ tuổi ở những vùng miền khác nhau
B-ớc vào những năm đầu của thế kỷ XXI, nền kinh tế - xã hội Việt Nam đã có nhiều b-ớc tiến v-ợt bậc, điều này đã có tác động tích cực đến sự phát triển các chỉ tiêu hình thái thể lực ở lứa tuổi đang lớn Đề tài đ-ợc thực hiện nhằm tìm hiểu các chỉ tiêu hình thái, thể lực và các tố chất vận động lứa tuổi từ 12-15 Kết quả nghiên cứu sẽ bổ sung các số liệu, là cơ sở để các nhà chuyên môn xây dựng kế hoạch bảo vệ sức khoẻ, nâng cao tầm vóc thể lực của trẻ em nói riêng và ng-ời Việt Nam nói chung
Trang 2Từ lý do trên, chúng tôi chọn đề tài : “ Một số chỉ tiêu hình thái, thể lực của học sinh từ 12-15 tuổi tại các tr-ờng THCS Đại Sơn - Đô L-ơng
và THCS Bến Thuỷ – TP Vinh- Nghệ An”
2 Mục tiêu của đề tài
- B-ớc đầu làm quen với công tác nghiên cứu khoa học: ph-ơng pháp thu số liệu, xử lý số liệu, cách viết một công trình nghiên cứu khoa học
- Điều tra một số chỉ tiêu hình thái, thể lực của học sinh từ 12-15 tuổi thời điểm 2008
- Khảo sát các tố chất vận động ở các nhóm đối t-ợng nghiên cứu
- Tìm hiểu thời điểm dậy thì ở học sinh từ 12-15 tuổi
3 nội dung nghiên cứu
3.1 Khảo sát các chỉ tiêu hình thái
3.4 Khảo sát thời điểm xuất hiện dấu hiệu dậy thì ở nữ sinh
4 ý nghĩa của đề tài
Trong chương trình KX 07 nghiên cứu “ Con người Việt Nam – mục tiêu và động lực của sự phát triển kinh tế – xã hội” do nhà nước đặt ra đã thể hiện rõ chiến l-ợc vì con ng-ời.Việc nghiên cứu đặc điểm sinh thể, tình trạng dinh d-ỡng, yếu tố tác động của môi tr-ờng và những biện pháp nâng cao chất l-ợng sức khoẻ đang thu hút nhiều ngành khoa học khắp các địa ph-ơng trong cả n-ớc Qua nghiên cứu chúng ta sẽ tìm và phát hiện các quy luật phát triển
Trang 3thể lực, thể chất, trí tuệ, sự tiến hoá thích nghi của con ng-ời Việt Nam nói chung, các dân tộc ng-ời Việt Nam sống ở những nơi có môi tr-ờng tự nhiên
và xã hội khác nhau nói riêng, nhằm đóng góp vào việc điều tra cơ bản con ng-ời Việt Nam, một vấn đề đang đ-ợc quan tâm rộng rãi của nhiều ngành khoa học
Về mặt thực tiễn thì qua nghiên cứu hình thái của học sinh THCS sẽ giúp chúng ta xác định các chỉ số sinh học, đánh giá sự phát triển thể lực, thể chất ở các độ tuổi khác nhau trong giai đoạn dậy thì, qua đó xác định ranh giới giữa sự phát triển bình th-ờng và không bình th-ờng ở nam và nữ ở các vùng địa ph-ơng khác nhau, từ đó đề ra các chế độ giáo dục, lao động, tập luyện sinh hoạt phù hợp với từng loại đối t-ợng và điều kiện, môi tr-ờng sống
cụ thể Vì thế việc nghiên cứu con ng-ời Việt Nam ở các lứa tuổi khác nhau, tr-ớc đây cũng nh- hiện nay có ý nghĩa chiến l-ợc lâu dài và thiết thực
Trang 4
Ch-ơng 1
tổng quan các vấn đề nghiên cứu
1.1 l-ợc sử vấn đề nghiên cứu
1.1.1 Tình hình nghiên cứu thế giới
ở mức độ tiến hoá sinh vật, con ng-ời đều có nguồn gốc từ ng-ời hiện
đại nên có cấu tạo hình thái, cấu tạo cơ bản giống nhau nh-ng do khác nhau
về tính di truyền và biến dị nên các cá thể trong cùng một loài không hoàn
toàn giống nhau về mặt hình thái Pirher một trong những ng-ời sáng lập ra bộ
môn di truyền học quần thể khi xây dựng môn thống kê toán học ứng dụng trong di truyền học, nhân trắc học mới đầy đủ ý nghĩa và tính chính xác của
nó Ng-ời đặt nền móng cho nhân trắc học hiện đại là nhà nhân trắc học ng-ời
Đức Rudol F Mactin tác giả của hai cuốn sách nổi tiếng “Giáo trình về nhân
học” (1919) và “Chỉ nam đo đạc và xử lí thống kê”(1924) Từ đó đến nay
nhân trắc học đã tiến những b-ớc dài có nhiều tác giả nghiên cứu về vấn đề này Các công trình nghiên cứu dựa trên ph-ơng pháp của Marctin có bổ sung
và hoàn thiện về mặt lí luận dựa trên thực tiễn của mỗi n-ớc
Năm 1937, Gaspar nghiên cứu về sự phát triển thể lực của học sinh thành phố Stugate (Đức), trong 10 năm (1923-1934), kết quả là chỉ số phát triển thể lực của học sinh bị ảnh h-ởng rõ rệt qua đời sống xã hội, chiến tranh, làm cho chiều cao cân nặng đều giảm từ 4-6 cm và 1-1,5 kg
Khu vực Đông D-ơng, 1942, Đỗ Xuân Hợp cộng tác với P.Hward đã nghiên cứu và đưa ra cuốn sách “Những đặc điểm nhân chủng và sinh học của người lao động”
Năm 1948, tổ chức y tế thế giới vì sức khoẻ cộng đồng ra đời và tổ chức này đã có công lớn trong chăm sóc đánh giá sự phát triển sức khoẻ trẻ em thông qua hai chỉ số chiều cao, cân nặng
Vào những năm 1960, người ta phát hiện ra hiện tượng “gia tốc” phát triển của của cơ thể trẻ em ở lứa tuổi học đ-ờng và đã nhận thấy các chỉ số
Trang 5chiều cao, cân nặng của trẻ em lớn hơn so với trẻ lứa tuổi ở các thập kỉ tr-ớc
đó
Tiếp đó là một loạt các nghiên cứu của nhiều tác giả và đã đ-a ra đ-ợc các giả thuyết để giải thích như thuyết “Phát quang” của Kock, thuyết “Chọn lọc” của Bennhold Thomson, thuyết “Dinh dưỡng” của Len, thuyết về “Thành thị hoá” của Ruddeer đã nghiên cứu sâu về sự chênh lệch chiều cao và cân
B-ớc sang thế kỷ XX, cùng với sự phát triển của các ngành khoa học thì nhân trắc học cũng phát triển mạnh mẽ Việc nghiên cứu thể lực trẻ em lứa tuổi đến tr-ờng đã đ-ợc đẩy mạnh khắp nơi trên thế giới và một số n-ớc đã thu đ-ợc những thành quả đáng kể Năm 1971, I P Lêônốp nghiên cứu những hiểu biết tâm lí trẻ em ở tr-ớc và sau tuổi dậy thì
Năm 1972, tại Đức các nhà khoa học đã đ-a ra bảng tiêu chuẩn đánh giá thể lực của học sinh Cũng trong năm này, A.N Kabanôp cho rằng, sự phát triển thể lực và thể lực và thể chất ở trẻ em ngoài sự quyết định bởi yếu tố di truyền thì nó còn liên quan chặt chẽ đến chế độ dinh d-ỡng, sự luyện tập và chế độ chăm sóc của gia đình và xã hội [2]
Năm 1979, tổ chức y tế thế giới đã yêu cầu sử dụng hai chỉ số cân nặng
và chiều cao để theo dõi sự phát triển cơ thể và tình trạng dinh d-ỡng cơ thể trẻ em tất cả các lứa tuổi [13]
Năm 1992, Singapore đã hoàn thành 6 nội dung điều tra thể chất học sinh [9]
Năm 1993, Nhật Bản đã hoàn chỉnh “Test kiểm tra thể chất cho mọi người” với 5 nội dung áp dụng cho học sinh và sinh viên”
Trang 6Tại Liên Xô, hội nghị lần thứ VII về các vấn đề sinh thái, sinh lí và hình thái lứa tuổi đã thông qua sơ đồ phát triển cơ thể sau khi sinh của con ng-ời Gần đây các nhà nghiên cứu ng-ời Pháp M.Sempé, Gpédrôn và M.P.Rogemot
đã công bố tác phẩm “Tăng trưởng phương pháp và sự nối tiếp” Các tác giả đã
đề cập đến các ph-ơng pháp nghiên cứu thể lực và sự phát triển cơ thể trẻ em
Theo Xukholomxky, nhà s- phạm nổi tiếng của Nga thì khả năng vận
động, kĩ năng, kĩ xảo của con ng-ời nói chung và học sinh nói riêng đ-ợc hình thành trong đời sống cá thể phải trải qua quá trình luyện tập Quá trình vận
động nói chung và luyện tập thể dục thể thao nói riêng có vai trò quyết định
đối với sự phát triển toàn diện của con ng-ời Đặc biệt ở lứa tuổi thanh niên, chỉ có một cơ thể khoẻ mạnh, một thân hình c-ờng tráng phát triển cân đối, thì
hệ thần kinh mới nhạy bén, phản xạ mới linh hoạt
B.Bedisơ và D.Hun nghiên cứu thể lực của học sinh (cùng thời gian nghiên cứu, cùng lứa tuổi) cho thấy học sinh nông thôn có chỉ số phát triển thể lực thấp hơn học sinh thành phố Song song với việc nghiên cứu về sự phát triển thể lực của học sinh và mối liên quan giữa lứa tuổi với các yếu tố ảnh h-ởng, các nhà y học cũng đã tiến hành nghiên cứu y học đ-ờng
Đây là một trong những h-ớng nghiên cứu mang tính chất thời sự nhất trong thời gian này
1.1.2 Tình hình nghiên cứu ở Việt Nam [15,9,6]
Xuất phát từ nhu cầu thực tế và lợi ích của con ng-ời, việc nghiên cứu các chỉ tiêu hình thái, sinh lí của con ng-ời nói chung, và trẻ em nói riêng đã
đ-ợc tiến hành từ rất lâu trên thế giới và Việt Nam cũng đã đ-ợc thực hiện vào những năm đầu thế kỉ XX
ở Việt Nam, nghiên cứu hình thái thể lực đã đ-ợc tiến hành từ những năm 30 của thế kỉ XX, tại ban nghiên cứu nhân trắc học thuộc viện Viễn Đông
Bắc Cổ
Những kết quả nghiên cứu b-ớc đầu về nhân trắc học trên ng-ời Việt Nam thời kì này đựợc công bố trong 9 tập tạp chí “Các công trình nghiên cứu của giải phẫu học tr-ờng Đại học y khoa Đông Dương” (1936-1944) và trong
Trang 7cuốn “Những đặc điểm nhân chủng và sinh học của người Đông Dương” của P.H.Ward, Đỗ Xuân Hợp
Năm 1945-1960 bộ môn nhân trắc học bắt đầu đ-ợc thành lập ở các viện nghiên cứu và tr-ờng đại học để phục vụ cho giảng dạy và nghiên cứu Thời kì này việc nghiên cứu nhân trắc học của ng-ời Việt Nam ch-a phát triển Từ năm 1955 trở đi, việc nghiên cứu hình thái sinh lý ng-ời Việt Nam
đều đ-ợc các nhà khoa học quan tâm Từ 1955-1957, Chu Văn T-ờng nghiên
cứu hằng số sinh lý của trẻ em Việt nam; Trịnh Bỉnh Dy (1963-1964) khảo sát
và công bố “Hằng số sinh lí học của ng-ời Việt Nam”
Từ 1961-1966, Bùi Thu nghiên cứu sự biến đổi của các hằng số sinh vật
học của ng-ời Việt Nam trong một số lao động chuyên biệt
Vũ Triệu Ân (1964-1966) đề cập đến những số huyết học của ng-ời Việt Nam
Nguyễn Quang Quyền với các công trình nghiên cứu đo đạc thống kê hình thái nhân học ở mọi lứa tuổi (1960), nghiên cứu các chỉ số đánh giá thể lực học sinh Hà Nội (2/1971), một số đặc điểm ng-ời Việt Nam hiện tại và vấn đề thích nghi của cơ thể (2/1974)
Năm 1963, Nguyễn Quang Quyền và Đỗ Xuân Hợp (1963) nghiên cứu
về sức lớn của học sinh Hà Nội
Chu Văn T-ờng và Nguyễn Công Khang (1972) với các công trình
“Một số hằng số của trẻ em Việt Nam” và “ Hằng số sinh học ng-ời Việt Nam” đã tổng kết các công trình nghiên cứu của nhiều tác giả về chỉ số hình thái và thể lực Cho đến nay cuốn sách này luôn đ-ợc làm tài liệu cho việc giảng dạy và nghiên cứu các chỉ tiêu sinh học ng-ời Việt Nam
Sau khi giải phóng miền nam và thống nhất đất n-ớc, các công trình nghiên cứu khoa học ở mọi lĩnh vực đã đ-ợc đẩy mạnh và đạt đ-ợc nhiều thành tựu to lớn Nằm trong xu thế thuận lợi, nhiều công trình nghiên cứu về hình thái và sinh lí của Việt Nam thuộc nhiều dân tộc khác nhau, ở nhiều địa ph-ơng khác nhau và ở các lứa tuổi đã đ-ợc công bố
Đoàn Yên và cộng sự (1980, 1982, 1987) đã nghiên cứu một số chỉ tiêu sinh học ng-ời Việt Nam từ 3-110 tuổi, đặc biệt là chiều cao và cân nặng
Trang 8Năm 1980-1985, Nghiêm Xuân Thăng, Nguyễn Ngọc Hợi, Ngô Thị Bê và Hoàng ái Khuê đã nghiên cứu các chỉ số hình thái, sự phát triển thể chất của trẻ em và học sinh miền đồng bằng, TP Vinh và miền núi Nghệ An Đào Duy Khuê (1989) nghiên cứu hình thái, thể lực trên 1478 học sinh từ 6-17 tuổi thuộc hai tr-ờng THCS và hai tr-ờng THPT thị xã Hà Đông Trần Văn Dần và cộng sự (1990-1995) đã khảo sát thực trạng cong vẹo cột sống trên 13.747 học sinh từ 8-14 tuổi ở các địa ph-ơng Hà Nội, Vĩnh Phúc, Thái Bình Năm 1994, Nguyễn Ngọc Hợi Điều tra sự phát triển thể chất của học sinh [10].Trần Đình Long (1994) đã nghiên cứu tình trạng phát triển thể lực của học sinh tuổi từ 6-
15 thuộc quận Hoàn Kiếm- Hà Nội, sau đó tác giả lại tiếp tục nghiên cứu về lứa tuổi 6-16 tại thị xã Thái Bình vào năm 1995 [19] Đặc biệt từ 1994-1996
ông và cộng sự đã nghiên cứu tầm vóc và thể lực 22.596 học sinh (trong đó có 11.031 trai và 11.565 gái) lứa tuổi 6-18 đang học tại các tr-ờng PTTH Quận Hoàn Kiếm, Ba Đình và Đống Đa, Hai Bà Tr-ng, Từ Liêm của Hà Nội Đây là công trình đ-ợc đánh giá tốt nhất Đinh Văn Thức, Nguyễn Duy Khiêm, Nguyễn Hữu Chỉnh (1996) đã nghiên cứu một số chỉ tiêu nhân trắc của học sinh từ 6-15 tuổi An D-ơng- Hải An-Hải Phòng Nguyễn Quang Mai và
Nguyễn Thị Lan (1998) nghiên cứu hình thái trên học sinh từ 12-18 tuổi của
Năm 2001, Đinh Thị Thu H-ơng và Nguyễn Thị Thanh Hà nghiên cứu
sự biến đổi một số chỉ tiêu hình thái, sinh lý của học sinh ở lứa tuổi từ 12-15 tuổi.[6,15] Cũng năm 2001, Ngô Thị Bê và cộng sự đã nghiên cứu mối quan
hệ giữa chỉ tiêu hình thái của học sinh với thực trạng bàn ghế trong nhà tr-ờng [13] Năm 2004-2005, Ngô Thị Bê và Đinh Thị Nga đánh giá thể lực và dị tật cong vẹo cột sống của học sinh ở một số tr-ờng tiểu học và THCS thuộc hai tỉnh Nghệ An-Hà tĩnh[14 ] Ngô Thị Bê và cộng sự (2007), đã khảo sát các
Trang 9bệnh học đ-ờng và ảnh h-ởng của chúng lên các chỉ tiêu hình thái, sinh lí ở học sinh thuộc tỉnh Nghệ An [ 12]
1.2 cơ sở khoa học của đề tài
1.2.1 Hình thái
Sinh tr-ởng và phát triển là một trong những đặc tr-ng cơ bản nhất của
sự sống trong đó có con ng-ời, nó có vai trò quan trọng đối với đời sống của một cá thể cũng nh- cả quần thể Đối với cơ thể trẻ em luôn xảy ra các quá trình sinh lí đặc tr-ng nh- sự tăng tr-ởng, phát triển và hoàn thiện các cơ quan trong cơ thể
Phát triển là sự biến đổi về chất bên trong và đựơc biểu hiện ra bên ngoài bằng thuộc tính dấu hiệu bản chất của từng giai đoạn sinh vật Khái niện phát triển chỉ sự biến đổi chất l-ợng, sự hoàn thiện về chức năng sinh lí của các cơ quan cũng nh- toàn cơ thể, sự biến đổi từ cơ thể thai nhi thành cơ thể tr-ởng thành
Khái niệm về sinh tr-ởng chỉ sự biến đổi về số l-ợng, sự tăng tr-ởng về kích th-ớc, khối l-ợng chính là sự biến đổi về những đặc điểm cấu tạo giải phẫu của các cơ quan trong cơ thể
Sự sinh tr-ởng và phát triển có liên quan chặt chẽ, phụ thuộc vào nhau
Đó là sự vận động đi lên theo chiều h-ớng hoàn thiện cả về cấu tạo và chức năng
Sinh tr-ởng là điều kiện của phát triển và phát triển lại làm thay đổi sự sinh tr-ởng của từng giai đoạn ở giai đoạn phát dục cơ thể sinh vật th-ờng nhanh biến đổi về hình thái và sinh lí, đến giai đoạn tr-ởng thành thì dừng lại hoặc giảm sinh tr-ởng và dừng lại sinh tr-ởng thì cơ thể bắt đầu suy thoái Tốc độ sinh tr-ởng của cơ thể phụ thuộc vào nhiều yếu tố, có thể là ảnh h-ởng của các yếu tố ngoại cảnh trong đó bao gồm cả yếu tố hoàn cảnh sinh hoạt, tinh thần, vật chất, ảnh h-ởng của khí hậu, ánh sáng thích nghi của môi tr-ờng Đây là những yếu tố tác động nhanh và tức thời ngay ở thế hệ con cháu Dựa vào sự ảnh h-ởng của các nhóm nhân tố mà ng-ời ta đã chia chúng thành hai nhóm chính là:
Trang 10- Các nhân tố bên trong gồm: tính di truyền, giới tính, các hoocmon sinh trưởng và phát triển,…
- Các nhân tố bên ngoài gồm: ảnh h-ởng của môi tr-ờng sống, điều kiện dinh dưỡng, chế độ tập luyện,…
Nghiên cứu sự phát triển của cơ thể cũng nh- nghiên cứu sự biến đổi về các đặc điểm sự lớn lên về thể chất nh- tầm vóc, hình dáng tốc độ phát triển của cơ thể Sự phát triển của cơ thể do tăng số l-ợng và kích th-ớc của các tế bào, các mô, các cơ quan Những chỉ số đặc biệt quan trọng giúp cho việc theo dõi đánh giá sự lớn lên là cân nặng, chiều cao, vòng ngực, các chỉ số này đánh giá đầy đủ khách quan các yếu tố bên ngoài nh- yếu tố dinh d-ỡng, giáo dục
về thể chất và tinh thần, bệnh tật, tình trạng vệ sinh, khí hậu môi tr-ờng ảnh h-ởng đến sự phát triển của cơ thể, đặc biệt là cơ thể đang phát triển
Trong các thông số về hình thái, chiều cao là dấu hiệu đ-ợc quan tâm sớm nhất Chỉ số chiều cao khẳng định sự phát triển của bộ x-ơng Chỉ số cân
là bằng chứng về quá trình tích luỹ của cơ thể, về độ béo gầy và sự phát triển của hệ cơ chiều cao là một trong những chỉ số đ-ợc sử dụng trong hầu hết các lĩnh vực của nhân trắc học Chiều cao phản ánh quá trình biến thái của các x-ơng (đầu, cổ, x-ơng và các chi ), nó nói lên tầm vóc của một ng-ời Tỷ lệ các phần kích th-ớc theo lứa tuổi đ-ợc thay đổi rất khác nhau Chiều dài đầu của trẻ sơ sinh bằng khoảng 1/4 chiều dài cơ thể, ở tuổi dậy thì và tuổi tr-ởng thành chiều dài chỉ còn bằng 1/8-1/7 chiều dài cơ thể Ng-ợc lại chi d-ới của trẻ sơ sinh rất ngắn chỉ bằng 1/3 chiều dài cơ thể, sau tuổi dậy thì và ng-ời tr-ởng thành thì chi d-ới bằng 1/2 chiều dài cơ thể Tỉ lệ khác nhau của các phần, các bộ phận của cơ thể chứng tỏ chúng sinh tr-ởng và phát triển không
đều Chiều cao mang đặc tính chủng tộc, giới tính và nó chịu ảnh h-ởng nhất
định của môi tr-ờng sống Sau chiều cao là trọng l-ợng cơ thể Trọng l-ợng cơ thể gồm hai phần: thứ nhất là phần cố định chiếm tổng 1/3 tổng khối l-ợng (gồm x-ơng, da, các tạng và thần kinh), thứ hai là phần thay đổi chiếm 2/3 tổng số khối l-ợng, trong đó 3/4 là trọng l-ợng cơ, 1/3 là mỡ và n-ớc ở nữ giới tỉ lệ mỡ lớn hơn so với nam giới Khi cơ thể tăng tr-ởng, trọng l-ợng tăng
Trang 11chủ yếu là cơ thay đổi Qua nghiên cứu, trọng l-ợng cơ thể là đặc điểm tổng hợp biểu thị mức độ và tỉ lệ giữa sự hấp thu và tiêu hao năng l-ợng Trọng l-ợng cơ thể cũng thay đổi tuỳ theo từng giai đoạn phát triển: trọng l-ợng cơ thể tr-ởng thành gấp 20 lần so với trọng l-ợng cơ thể của trẻ sơ sinh, trọng l-ợng nội quan của các cơ thể tuổi dậy thì và tr-ởng thành tăng lên khoảng 14-15 lần so với lúc mới sinh Một số cơ quan khác lại phát triển mạnh trong giai đoạn phôi: não bộ của trẻ sơ sinh đã nặng khoảng 390g so với ng-ời tr-ởng thành nặng khoảng 1300g, nh- vậy chỉ tăng 3 - 4 lần, sau 10 tuổi trọng l-ợng não tăng lên không đáng kể So với chiều cao trọng l-ợng ít phụ thuộc hơn vào các yếu tố di truyền Tuy trọng l-ợng cơ thể không nói lên tầm vóc, nh-ng sự phát triển của nó liên quan đến nhiều kích th-ớc khác cho nên th-ờng đ-ợc dùng để đánh giá thể lực Cùng với chiều cao thì vòng ngực cũng
đ-ợc coi là chỉ tiêu hình thái dùng để đánh giá thể lực Một ng-ời có vòng ngực rộng thì thể lực tốt Sự phát triển của vòng ngực xảy ra song song với sự phát triển của trọng l-ợng Hệ số t-ơng quan giữa vòng ngực và khối l-ợng rất cao, có sự liên quan đến các bệnh hô hấp Chỉ số vòng ngực cho phép phán
đoán về sự phát triển bộ máy hô hấp của trẻ em
định Sự phát triển thể lực là quá trình thay đổi hình dáng, chức năng của con ng-ời trong đời sống cá thể Các đặc điểm về hình thái giải phẫu mang tính
đặc thù về chủng tộc, lứa tuổi, giới tính, nghề nghiệp.Trong mối quan hệ giữa môi tr-ờng và sức khoẻ, các thông số hình thái và thể lực đ-ợc coi là th-ớc đo sức khoẻ và khả năng lao động của con ng-ời Nh- vậy, thể lực là một trong những thông số tổng hợp cơ bản phản ánh sự phát triển sinh học của cơ thể
Để đánh giá thể lực ngoài việc lựa chọn các chỉ tiêu hình thái nh-: Chiều cao, cân nặng, vòng ngực thì ch-a đủ mà phải đánh giá thể lực dựa trên
Trang 12mối t-ơng quan giữa các chỉ tiêu hình thái, giải phẫu sinh lí khác nhau Đó là những ph-ơng pháp đánh giá thể lực bằng các chỉ số Chỉ số thể lực là công thức toán học liên kết các chỉ tiêu với nhau Loại chỉ số đơn giản nhất gồm hai chỉ tiêu (chiều cao, khối lượng) như chỉ số Broca, BMI,…loại phức tạp hơn dựa vào nhiều chỉ tiêu hơn (chiều cao, khối l-ợng, vòng ngực) nh- chỉ số Pignet, Vervack,… Chỉ tiêu càng có nhiều kích th-ớc đ-ợc lựa chọn thì mức
độ đánh giá càng chính xác Tuy nhiên, tuỳ theo mục đích đánh giá thể lực mà mỗi tác giả có thể sử dụng các chỉ số cho phù hợp
Để đánh giá đ-ợc sự phát triển cơ thể của từng cá nhân, phải đối chiếu với bảng tiêu chuẩn phát triển cơ thể Những tr-ờng hợp bình th-ờng thì nằm trong số trung bình của bảng tiêu chuẩn về chiều cao, cân nặng của từng lứa tuổi, bảng tiêu chuẩn này cứ 10 năm đ-ợc xây dựng lại một lần
1.2.3 Những biểu hiện hoạt động sinh lý đặc tr-ng của tuổi dậy thì [8]
Tuổi dậy thì là thời kỳ chuyển tiếp từ giai đoạn trẻ thơ sang giai đoạn tr-ởng thành Đây là thời kỳ mà bất cứ một thiếu niên nào cũng phải trải qua những biến đổi quan trọng về cơ thể cũng nh- về tâm lý
ở giai đoạn dậy thì, cơ thể phát triển nhanh về thể lực và có sự thay đổi của hệ thần kinh - nội tiết, nổi bật là sự hoạt động của các tuyến sinh dục tăng lên, gây ra những biến đổi về hình thái và sự tăng tr-ởng của cơ thể.Do vậy, việc nuôi d-ỡng cần đ-ợc đặc biệt quan tâm để giúp các em có một thân hình
đẹp và sức khỏe dẻo dai
Trong đời ng-ời có ba giai đoạn quyết định đối với việc tăng tr-ởng chiều cao Giai đoạn bào thai, nếu trẻ bị suy dinh d-ỡng bào thai, sinh ra nhẹ
ký - là đã mất đi một cơ hội Giai đoạn thứ hai là 3 năm đầu đời - nếu trẻ suy
dinh d-ỡng kéo dài thì lại mất thêm một cơ hội Giai đoạn thứ ba là ở tuổi dậy
thì, nếu dinh d-ỡng không tốt thì cơ thể sẽ bị hạn chế về chiều cao
Theo nhiều nghiên cứu cho thấy, ở trẻ gái khi đến tuổi dậy thì sẽ xuất hiện các đặc tính giới thứ phát theo thứ tự: từ 9-13 tuổi, bắt đầu phát triển tuyến vú, tốc độ và mức độ to lên khác nhau tuỳ thuộc vào sinh lý của từng cơ thể, tiếp theo là lông mu mọc và mọc lông nách, cơ thể nở nang, sau đó mới là
Trang 13sự ra kinh lần đầu, buồng trứng bài tiết hooc môn Estrogen, progesteron Bên
cạnh sự biến đổi về mặt hình thái, sinh lý, ở các em có sự biến đổi về tâm lý, thay đổi giọng nói
Về mặt cơ chế điều khiển,Tdậy thì là thời kỳ hệ thống “vùng d-ới
đồi”, tuyến yên và buồng trứng bắt đầu hoạt động phối hợp, theo cơ chế Hypothalamus đến tuyến yên, sau đó đến cơ quan đích, đó là buồng trứng và
tử cung Sự khởi đầu cho việc tiết ra chất nội tiết này là dấu hiệu dậy thì đ-ợc bắt đầu Kinh nguyệt có thể không xuất hiện ngay sau khi hệ thống nói trên bắt đầu hoạt động Lúc đầu chỉ xuất hiện một số ảnh h-ởng do hormon, tạo nên một sự biến đổi sinh lý đầu tiên trên cơ thể trẻ gái Sự tăng FSH dẫn đến việc buồng trứng tiết ra các hormone estrogen, tạo nên những thay đổi hình dạng âm đạo, âm hộ, cổ tử cung và vú, tóm lại các em bắt đầu có dáng vẻ của ng-ời lớn
Đồng thời, cũng sự điều khiển của tuyến yên, tuyến th-ợng thận bắt đầu tiết những hormon sinh dục nam (mà bất kỳ ng-ời phụ nữ nào cũng có một khối l-ợng nhỏ) Những hormone nam kích thích mọc lông ở nách và mu ở nữ giới, đồng thời nên một số thay đổi hình dạng và thân thể phụ nữ Hai năm sau khi hormone này xuất hiện, kinh nguyệt mới bắt đầu Lúc đầu là kinh nguyệt không có sự rụng trứng Trong vài tháng đầu, thậm chí vài năm, kinh nguyệt vẫn ch-a đều, có khi rất thất th-ờng Những chu kỳ kinh đầu th-ờng không đều, dao động từ 21 đến 45 ngày, hành kinh kéo dài từ 3 - 8 ngày và l-ợng máu ra là 30 -120ml Trong năm đầu có 45% chu kỳ có rụng trứng, vì thế vẫn có nguy cơ có thai ngay lần đầu giao hợp 20% tr-ờng hợp thai nghén
ở tuổi vị thành niên đã xảy ra trong tháng đầu khi có quan hệ tình dục và 50%
đã xảy ra trong 6 tháng đầu Kinh nguyệt những lần đầu không đau đớn gì vì ch-a rụng trứng, những kinh nguyệt có kèm rụng trứng thì khá đau, nếu đau lắm thì thành chứng kinh nguyệt đau Nguyên nhân th-ờng do hình dạng của cơ quan sinh dục không bình th-ờng (tử cung còn nhỏ, cổ tử cung co bóp quá chặt) nh-ng cũng có khi nguyên nhân do tâm lý
Ngày nay, tuổi dậy thì của các em gái có vẻ đến sớm hơn (tuổi bắt đầu
có kinh tr-ớc đây là 13-15 tuổi) do đời sống vật chất và văn hoá của xã hội đã
Trang 14cao hơn tr-ớc dậy Các yếu tố di truyền, sức khoẻ, khối l-ợng và tỷ lệ mỡ của cơ thể có ảnh h-ởng đến thời gian xuất hiện kỳ kinh đầu
1.3 Điều kiện tự nhiên và xã hội [7,8]
Nghệ An là tỉnh có diện tích lớn nhất Việt Nam thuộc vùng bắc trung
bộ Phía bắc giáp tỉnh Thanh Hóa, phía nam giáp tỉnh Hà Tĩnh, phía tây giáp Lào, phía đông giáp biển Đông Diện tích 16.487 km2 gồm 1 thành phố, 2 thị xã và 17 huyện, với dân số (2005) là 3.030.946 ng-ời, mật độ trung bình là
184 ng-ời/ km2
Khí hậu: Nghệ An nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa, có 4 mùa
rõ rệt: xuân, hạ, thu, đông Từ tháng 4 đến tháng 8 d-ơng lịch hàng năm, tỉnh chịu ảnh h-ởng của gió ph-ơn tây nam khô và nóng Vào mùa đông chịu ảnh
h-ởng của gió mùa đông bắc lạnh và ẩm -ớt
Địa hình: Tỉnh Nghệ An nằm ở Đông Bắc dãy Tr-ờng Sơn, địa hình đa
dạng, phức tạp và bị chia cắt bởi các hệ thống đồi núi, sông suối h-ớng nghiêng từ tây - bắc xuống đông – nam Đỉnh núi cao nhất là đỉnh Pulaileng (2.711 m) ở huyện Kỳ Sơn, thấp nhất là vùng đồng bằng huyện Quỳnh L-u, Diễn Châu, Yên Thành có nơi chỉ cao đến 0,2 m so với mặt n-ớc biển (đó là xã Quỳnh Thanh huyện Quỳnh L-u) Đồi núi chiếm 83% diện tích đất tự nhiên của toàn tỉnh
Sông ngòi: Tổng chiều dài sông suối trên địa bàn toàn tỉnh là 9828 km,
mật độ trung bình là 0,7 km/km2 Sông lớn nhất là sông Cả (sông Lam) bắt nguồn từ huyện M-ờng Pẹc tỉnh Xieng Khoảng (Lào), có chiều dài là 532 km (riêng trên đất Nghệ An có chiều dài là 361 km) Tổng l-ợng n-ớc hàng năm khoảng 28109 m3 trong đó 144109 là n-ớc mặn Nhìn chung nguồn n-ớc khá
Trang 15dồi dào, đủ đáp ứng cho sản xuất và phục vụ cho đời sống sinh hoạt của nhân dân
Biển, bờ biển: Hải vận rộng 4230 hải lí vuông, từ độ sâu 40 m trở vào
nói chung đáy biển t-ơng đối bằng phẳng, từ độ sâu 40 m trở ra có nhiều đá ngầm, cồn cát Vùng biển Nghệ An là nơi tập trung nhiều loài hải sản có giá trị kinh tế cao Bãi biển Cửa Lò là một trong những bãi tắm đẹp và hấp dẫn, đó
là lợi thế cho việc phát triển ngành du lịch
* Thành phố Vinh thuộc tỉnh Nghệ An:
Diện tích 105 km2 dân số 283.000 ng-ời, với mật độ là: 2.695 ng-ời/km2; gồm 16 ph-ờng, 9 xã
Thành phố Vinh có tọa độ địa lý 180 38’50” đến 180 43’38” vĩ độ bắc, từ
105056’30” đến 105049’50” kinh độ đông Vinh là thành phố nằm bên bờ sông Lam, phía bắc giáp huyện Nghi Lộc, phía nam và đông nam giáp huyện Nghi Xuân, phía tây và tây nam giáp huyện H-ng Nguyên
Vinh nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa, có 2 mùa rõ rệt và có
sự biến động lớn từ mùa này sang mùa khác
Nhiệt độ trung bình: 240C, độ ẩm trung bình 85 - 90%, l-ợng m-a trung bình 2.000 mm
Về kinh tế: Ngành dịch vụ chiếm khoảng 55% lao động toàn thành phố, tiếp đó là xây dựng – công nghiệp chiếm 40% và nông nghiệp chiếm phần còn lại (5%)
Thành phố Vinh là tỉnh lị của tỉnh Nghệ An và là trung tâm kinh tế-văn hóa của vùng bắc trung bộ Việt Nam, đây là một trong bốn đô thị loại 1 của Việt Nam (2008); nằm cách thủ đô Hà Nội 291km về phía nam
Trang 16Ch-ơng 2
Đối t-ợng ph-ơng pháp nghiên cứu
2.1 đối t-ợng, địa điểm và thời gian nghiên cứu
2.1.1 Đối t-ợng nghiên cứu
Nghiên cứu đ-ợc tiến hành trên 1189 học sinh từ 12 đến 15 tuổi, phát triển bình th-ờng, không có dị tật bẩm sinh, bao gồm:
Độ tuổi 12: 275 học sinh (139 nữ, 136 nam)
Độ tuổi 13: 323 học sinh (162 nữ, 161 nam)
Độ tuổi 14: 262 học sinh (129 nữ, 122 nam)
Độ tuổi 15: 329 học sinh trong đó 162 nữ, 167 nam
2.1.2.Địa điểm nghiên cứu
Đề tài đ-ợc tiến hành ở hai tr-ờng THCS : THCS Bến Thủy (thuộc thành phố Vinh), THCS Đại Sơn (thuộc huyện Đại Sơn - Đô L-ơng)
2.1.3 Thời gian nghiên cứu
Trang 17Học sinh cởi bỏ giày dép, đứng ở t- thế nghiêm, hai tay duỗi thẳng, mắt nhìn thẳng, hai gót chân chụm, 4 điểm chạm th-ớc: gót chân, l-ng, mông, chẩm
Đo khoảng cách từ gót chân đến đỉnh đầu của học sinh đọc chính xác tới mm
Vòng ngực trung bình: Tính bằng cm Vòng ngực đ-ợc đo bằng th-ớc
dây mềm, độ chính xác tới mm Đối với học sinh nam đo đỉnh d-ới của 2 x-ơng: bả vai ở phía sau và mỏn ức ở phía tr-ớc Đối với học sinh nữ đo qua 2
đỉnh d-ới x-ơng bả vai ở phía sau và d-ới bờ vú ở phía tr-ớc
2.2.3 Ph-ơng pháp đánh giá sự phát triển thể lực (Theo Sermeep, 1986)
10 I 20 khá
20 I 25 trung bình
25 I 36 yếu
I 36 kém
2.2.4 Ph-ơng pháp đo các tố chất vận động (Theo Sermeep, 1986)
Tố chất dẻo: đ-ợc đánh giá qua độ dẻo cột sống tính bằng cm Cho học
sinh đứng trên ghế theo t- thế nghiêng, mũi ngón chân chạm mép ghế, hai đầu gối
Cân nặng (g)
Chiều cao đứng (cm)
Trang 18thẳng, ng-ời cúi về phía tr-ớc Nếu ngón tay giữa chạm th-ớc ở mặt d-ới ghế đ-ợc kết quả âm (+), trên mặt ghế đ-ợc kết quả âm (-)
Tố chất mạnh: đ-ợc đo bằng sức bật tại chỗ không vung tay Yêu cầu
học sinh đứng thẳng, đ-a tay lên cao, mũi chân cách t-ờng 20cm, đánh dấu
điểm chạm th-ớc cuối cùng của ngón tay giữa Sau đó yêu cầu bật cao tại chỗ không vung tay với khả năng tối đa, đánh dấu điểm chạm cao nhất của ngón tay giữa Hiệu số độ cao giữa hai lần đánh dấu là sức mạnh qua khả năng bật cao của đối t-ợng
Tố chất nhanh: (theo Covalep,1975) đánh giá theo tần số vận động ngón
tay ( tính bằng số lần trên 5s) Phương pháp này gọi là “ Tepping Test” được thực hiện bằng cách yêu cầu học sinh với khả năng nhanh nhất của mình dùng bút chấm lên giấy trong khoảng thời gian 5s
2.2.5 Ph-ơng pháp xác định thời điểm dậy thì
Xác định thời điểm dậy thì bằng phiếu trắc nghiệm in sẵn
Trang 19KÕt qu¶ kh¶o s¸t chØ tiªu c©n nÆng trªn 1189 häc sinh t¹i hai khu vùc
Trang 20Biểu đồ 3.1: Cân nặng của HS theo các nhóm đối t-ợng
0 10 20 30 40 50 60
Nhận xét: Từ bảng 3.1 và biểu đồ 3.1 cho thấy,
Từ 15 tuổi, cân nặng trung bình tăng dần theo độ tuổi Giai đoạn
12-13 tuổi, nữ có cân nặng lớn hơn nam, 14-15 tuổi cân nặng của nam lớn hơn nữ, sự sai khác này phù hợp với quy luật sinh học và có ý nghĩa thống kê với
p < 0,01 Theo chúng tôi, tuổi dậy thì là yếu tố tác động trực tiếp đến sự gia tăng cân nặng ở nữ dậy thì th-ờng sớm hơn nam 1-2 năm nên độ tuổi 12-13 cân nặng của nữ lớn hơn nam
So sánh tốc độ gia tăng cân nặng cơ thể nam và nữ cho thấy, nam luôn
có tốc độ gia tăng lớn hơn nữ Sự chênh lệch cân nặng lớn nhất ở độ tuổi 14 (0,02 – 5,2 kg)
Khi so sánh giữa hai khu vực chúng tôi thấy rằng, mức chênh lệch cao nhất ở tuổi 14 (8,34kg) tiếp đến là tuổi 15 (7,44 kg) thấp nhất ở tuổi 13 (5,63 kg)
Sự tăng tr-ởng về cân nặng ngoài phụ thuộc vào nhiều yếu tố khác nh- cơ chất, di truyền, điều kiện khí hậu, chế độ lao động, tác động của hoocmon nội tiết So với những năm tr-ớc đây nền kinh tế của n-ớc ta ngày càng phát triển, với khoa học kĩ thuật tiến bộ, mức thu nhập của ng-ời dân đã tăng lên,
Trang 21do đó chế độ dinh d-ỡng cho cơ thể ngày càng đ-ợc cải tiến Sự chênh lệch cân nặng ở hai khu vực ở các độ tuổi đ-ợc lí giải là học sinh THCS Bến Thuỷ dậy thì sớm hơn so với học sinh THCS Đại Sơn Thể trạng tuy không nói lên tầm vóc nh-ng nói lên tốc độ và tỉ lệ giữa hấp thụ và tiêu hao Nghĩa là một ng-ời đ-ợc dinh d-ỡng tốt, có c-ờng độ lao động bình th-ờng thì thể trọng sẽ cao hơn một ng-ời có dinh d-ỡng kém c-ờng độ lao động nặng nhọc Bên cạnh đó hầu hết các em sống ở vùng Bến Thuỷ sống trong những gia đình có mức thu nhập cao nên nhu cầu dinh d-ỡng đ-ợc đáp ứng đầy đủ, đồ dùng sinh hoạt tiện nghi hơn và không phải lao động quá sức Nhờ chế độ dinh d-ỡng, lao động sinh hoạt hàng ngày tốt hơn nên các em ở Bến Thuỷ có giá trị cân nặng cao hơn Tại ở Đô L-ơng có mức thu nhập về kinh tế thấp hơn nên chế
độ dinh d-ỡng còn hạn chế, bên cạnh đó các em phải lao động nặng hơn do sinh ra trong những gia đình thuần nông Đây cũng là một trong những nguyên nhân quan trọng làm hạn chế sự phát triển của các em
Để thấy rõ mức độ sai khác giữa các thời điểm, chúng tôi so sánh kết quả của đề tài với nghiên cứu của các tác giả Nguyễn Thị Thanh Hà (2001);Trần Đình long (1994-1996 ), đ-ợc thể hiện ở bảng 3.2
Bảng 3.2 So sánh kết quả cân nặng của đề tài với các đề tài khác
Trang 22Nhận xét
* So sánh kết quả cân nặng của đề tài (2008) với kết nghiên cứu của Nguyễn Thị Thanh Hà trên đối t-ợng HS Nghi Xuân- Hà Tĩnh (2001) cho thấy: Đối với nam, độ tuổi 15 cân nặng chênh lệch cao nhất (7,25 kg) tiếp đến
là độ tuổi 14 (6,46 kg) và mức chênh lệch thấp nhất ở tuổi 12 (2,1 kg) Độ chênh lệch cân nặng trung bình ở các độ tuổi là 4,81kg; đối với nữ, độ tuổi 13 cân nặng chênh lệch cao nhất (4,74 kg); tiếp đến là độ tuổi 15 (3,56 kg) và mức chênh lệch thấp nhất (1,73 kg) ở độ tuổi 12 Độ chênh lệch cân nặng trung bình ở các độ tuổi là 3,18 kg
Nh- vậy, tại thời điểm 2008, cân nặng của học sinh cao hơn năm 2001 *So sánh kết quả của đề tài (2008) với kết quả nghiên cứu ở học sinh TP
Hà Nội (1994-1996), ở cả hai giới cho thấy giá trị cân nặng của đề tài thấp hơn Cụ thể, trung bình nam thấp hơn -3,61 kg; nữ thấp hơn -3,46 kg
Điều này cho thấy có sự sai khác rõ rệt cân nặng giữa hai nhóm đối t-ợng ở học sinh TP lớn với các vùng đ-ợc chúng tôi nghiên cứu Theo chúng tôi, sự sai khác này có thể liên quan đến mức sống tại hai khu vực có điều kiện dinh d-ỡng, chăm sóc và rèn luyện thể lực khác nhau
3.1.2 Chiều cao đứng
Chiều cao đứng là một trong những kích th-ớc hay đ-ợc đo đạc trong hầu hết công tác điều tra cơ bản để đánh giá hình thái, thể lực, dinh d-ỡng, sự sinh tr-ởng và phát triển của cơ thể Chỉ tiêu chiều cao đứng đánh giá sự tăng tr-ởng của toàn cơ thể, đặc biệt là sự lớn lên của cột sống và chi d-ới
Kết quả khảo sát chiều cao đứng ở HS đ-ợc thể hiện qua bảng 3.3 và biểu đồ 3.2
Trang 23Bảng 3.3 Chiều cao đứng của HS theo các nhóm đối t-ợng
(Đơn vị: cm)
THCS Bến Thuỷ THCS Đại Sơn
C.lệch P Tuổi G.tính n Xi1 ± SD G.T n Xi2 ± SD G.T
Từ 12-15 tuổi, chiều cao đứng của học sinh tăng dần theo độ tuổi, tuy
nhiên mức độ tăng của nam và nữ theo độ tuổi không giống nhau, điều này có
thể giải thích rằng, đây là giai đoạn dậy thì, ở độ tuổi 12-15, nữ dậy thì sớm
hơn nam
So sánh chiều cao đứng giữa hai khu vực kết quả cho thấy, khu vực Bến
Thuỷ luôn có giá trị cao hơn khu vực Đại Sơn Độ tuổi 14 có mức chênh lệch
trung bình lớn nhất (9,6 cm), thấp nhất ở tuổi 13 (3,25 cm) Tất cả sự sai khác
giữa hai khu vực đều có ý nghĩa thống kê P<0,01 Sự chênh lệch chiều cao
đứng giữa hai khu vực Bến Thuỷ, Đại Sơn là do ảnh h-ởng của điều kiện môi
trường sống, chế độ dinh dưỡng, chế độ tập luyện…