Hiện nay, các chỉ số sinh học của trẻ em đã có nhiều thay đổi so với các thập kỷ tr-ớc, đặc biệt những năm gần đây, thế hệ lứa tuổi 9X có nhiều thay đổi về tốc độ phát triển cơ thể.. Vào
Trang 1Mở ĐầU
Tuổi trẻ là t-ơng lai của mỗi quốc gia Việc quan tâm đến sức khoẻ của lứa tuổi học đ-ờng một cách toàn diện cả về Đức- Trí ‟ Thể ‟ Mỹ có ý nghĩa trong việc tạo ra một đội ngũ có hình thể đẹp, thể lực tốt, trí tuệ thông minh, đáp ứng đ-ợc nhịp độ phát triển của các lĩnh vực khác nhau trong cuộc sống, đ-a đất n-ớc tiến lên trên con đ-ờng hội nhập quốc tế
Quá trình sinh tr-ởng và phát triển của trẻ em nói riêng và con ng-ời nói chung, chịu sự chi phối của hệ gen trong mối t-ơng tác với môi tr-ờng Vào những năm đầu của thế kỷ XXI, chất l-ợng cuộc sống của ng-ời Việt Nam
đ-ợc nâng lên, điều này đã tác động tích cực lên quá trình sinh tr-ởng, phát triển của trẻ em Thực tế cho thấy rằng, trẻ em sống ở những môi tr-ờng khác nhau thì khả năng sinh tr-ởng, phát triển có nhiều điểm sai khác nhất định về mặt hình thái và sinh lý Sự khác nhau đó thể hiện ở các chỉ số cân nặng, chiều cao, vòng ngực… Trong quá trình lớn lên, khả năng sinh tr-ởng và phát triển
ở các độ tuổi không đồng đều, đặc biệt là giai đoạn tuổi dậy thì, thời gian này cơ thể có nhiều biến đổi về thể chất và tâm sinh lý
Hiện nay, các chỉ số sinh học của trẻ em đã có nhiều thay đổi so với các thập kỷ tr-ớc, đặc biệt những năm gần đây, thế hệ lứa tuổi 9X có nhiều thay
đổi về tốc độ phát triển cơ thể Đề tài đ-ợc thực hiện nhằm góp phần xác định các chỉ tiêu hình thái, thể lực và tuổi dậy thì thời điểm 2008 ở học sinh từ 12-
15 tuổi với tiêu đề:
“Một số chỉ tiêu sinh thái thể lực ở học sinh từ 12 – 15 tuổi tại tr-ờng THCS Minh Khai –TP Thanh Hoá và THCS Bến Thủy-TP Vinh ”
Mục tiêu của đề tài
- B-ớc đầu làm quen với công tác nghiên cứu khoa học
- Góp phần xác định một số chỉ tiêu hình thái, thể lực và thời điểm dậy thì của học sinh từ 12- 15 tuổi
- Tìm hiểu sự khác nhau về các tố chất vận động ở các độ tuổi và giữa hai giới trong cùng một độ tuổi
Trang 2Ch-ơng 1 tổng quan vấn đề nghiên cứu
1.1 L-ợc sử nghiên cứu
1.1 1.Tình hình nghiên cứu trên thế giới
Nghiên cứu hình thái, thể lực đ-ợc bắt đầu từ rất sớm trong lịch sử, nh-ng mãi đến thế kỷ XX thì việc nghiên cứu thể lực mới trở thành môn khoa học thực sự với đầy đủ ý nghĩa và tính chính xác của nó
Một trong số các vấn đề đ-ợc quan tâm khi nghiên cứu con ng-ời là hình thái Từ thế kỷ XIII, Tenon đã coi cân nặng là một chỉ số quan trọng để
đánh giá thể lực Mối quan hệ giữa hình thái với môi tr-ờng sống cũng đ-ợc nghiên cứu t-ơng đối sớm mà đại diện cho nó là các nhà nghiên cứu nhân trắc học Ludman, Nold vàVolansk.[16]
Những ng-ời đầu tiên l-u ý tới số đo vòng ngực từ những năm 20 của thế kỷ tr-ớc là bác sĩ lâm sàng khi họ nhận thấy có sự liên quan giữa mức độ phát triển lồng ngực và bệnh cơ quan hô hấp Vào cuối thế kỷ XIX, vòng ngực trở thành chỉ tiêu đánh giá thể lực quan trọng sau chiều cao.[16]
Cuốn sách đầu tiên viết về sự tăng tr-ởng chiều cao con ng-ời của Stocller đ-ợc xuất bản tại Đức năm 1792, Harpenden đã nghiên cứu học sinh quý tộc tr-ờng Caxchile(Đức1772-1794).[3]
Ng-ời đầu tiên nghiên cứu về sinh lý vận động là nhà sinh lý học Nga Ocbêli(1882-1958) với những công trình về cơ chế thích nghi của con nguời
mà động vật ở các điều kiện hoạt động khác nhau
1882 S.S.Erismamn trong bài giảng tại tr-ờng học Matscova, đã phát biểu rằng, vệ sinh là khoa học của sức khỏe cộng đồng.[18]
Rundolf Martin, ng-ời đặt nền móng cho nhân trắc học hiện đại qua hai tác phẩm nỗi tiếng, “ Giáo trình nhân trắc học”(1991) và “ Kim chỉ nam đo
đặc cơ thể và xử lý thống kê”(1920) Sau Rudolf Marin đã có công trình bổ sung và hoàn thiện thêm các đề xuất cho phù hợp với thực tế trong n-ớc Vấn
đề nhân trắc học còn được thể hiện qua các công trình “Nhân trắc học” của P.N.Baskirov, Evan Dervael và Bunak A.M.Vruxon.[3]
Trang 3Năm 1948, tổ chức y tế thế giới đã ra đời Tổ chức này đã có tiếng nói vô cùng quan trọng trong công cuộc chăm sóc sức khỏe cho con ng-ời, đặc biệt là thế hệ trẻ.[3]
Vêđexky(1956) cho rằng: “Sự luyện tập từ từ và có hệ thống sẽ đem lại kết quả và hiệu suất cao nhất, phát triển toàn diện, đặc biệt là với thanh thiếu niên đang lứa tuổi tr-ởng thành
Từ những năm 1960, các nhà khoa học đã phát hiện ra hiện tượng “Gia tốc” phát triển của cơ thể lứa tuổi học đ-ờng ở các chỉ số chiều cao, cân nặng Một loạt các giả thuyết của hiện tượng “Gia tốc” như Thuyết chọn lọc của Bennhold Thomson, Thuyết dinh d-ỡng của Lonx, đặc biệt là Thuyết “Thành thị hóa” của Rudder đã nghiên cứu kỹ sự chênh lệch chiều cao, cân nặng giữa trẻ em thành thị và nông thôn.[26]
Nghiên cứu của Aerapxki (1967) cho thấy, nếu trẻ thiếu vận động thì cơ thể phát triển không bình th-ờng, có hiện t-ợng yếu tim, các nội quan rối loạn và chậm phát triển về tâm lý
Granperin(1969) khi nghiên cứu trên học sinh cho thấy rằng, khi có luyện tập thể dục thể thao và vận động thích hợp sẽ tăng khả năng miễn dịch, tăng khả năng lao động trí óc, nhờ đó tăng mức bão hòa oxy trong máu, giảm thời gian phản xạ vận động, có khả năng tiếp thu nhanh
Amôxop 1969 viết: “Văn minh không có nghĩa là làm giảm hoạt động cơ bắp của con ng-ời, nếu giảm lao động chân tay nặng nhọc, thì phải tìm cách bù vào bằng chính các hoạt động thể dục thể thao” hoạt động vận động tích cực là ph-ơng tiện duy nhất để giảm bớt sự căng thẳng của trí óc.[23]
Iarsacski (1970) cho rằng: Sự tiến hoá của con ng-ời phụ thuộc và hai yếu tố đó là sinh học và xã hội D-ới tác động của hai yếu tố đó, con ng-ời luôn luôn phát triển, thay đổi hoàn thiện và hoàn chỉnh hơn
I.P.Lêonop (1971) đã nghiên cứu về những hiểu biết về tâm lý của trẻ
em tr-ớc và sau tuổi dậy thì
Kabomop (1972), bằng những nghiên cứu của mình đã phát biểu rằng:
sự phát triển thể lực và thể chất ở trẻ em ngoài quyết định bởi yếu tố di truyền
Trang 4thì nó còn liên quan chặt đến chế độ dinh d-ỡng, sự luyện tập và chế độ chăm sóc của giai đình và xă hội.[20]
Georrgy và cộng sự (1972) đã chứng minh sự luyện tập và lao động dẫn
đến sự thay đổi sâu sắc trong toàn bộ cơ thể, đặc biệt là trong tổ chức cơ
Theo Xukholomxki, nhà s- phạm Nga nỗi tiếng (1976) cho rằng, một chế độ chăm sóc dinh d-ỡng tốt, kết hợp với một chế độ giáo dục đúng khoa học sẽ làm cho trẻ em phát triển toàn diện.[20] Cùng năm này, theo Ivanốp thì ngày nay trẻ em vào tr-ờng đã bị một l-ợng hoạt động vận động giảm đi một nữa
Năm 1979, Tổ chức y tế thế giới đã yêu cầu cần sử dụng hai chỉ số cân nặng, chiều cao để theo dõi sự phát triển cơ thể và tình trạng dinh d-ỡng cơ thể trẻ em tất cả lứa tuổi Với quy mô của mình, tổ chức này đã tập trung đ-ợc nhiều nhà khoa học, có nhiều công trình mang tính tổng quát và toàn diện
Năm 1980, với sự chỉ đạo trực tiếp của Tổ chức y tế thế giới ở nhiều quốc gia, việc phát đánh giá thể lực học sinh đ-ợc tiến hành theo định kỳ Nhiều n-ớc phát triển đã công bố sự phát triển cơ thể của thanh thiếu niên, cứ sau một thập niên chiều cao tăng lên 1 cm, cân nặng tăng lên 1kg.[3]
B.Bediso và D.Hun cũng nghiên cứu thể lực của học sinh và cho thấy học sinh ở khu vực khác nhau thì thông số thể lực cũng khác nhau
Năm 1981, Verner Kneist( Đức) đã công bố mô hình xây dựng y tế tr-ờng học, cùng với nhiệm vụ thầy thuốc học đ-ờng và mối liên quan của các
tổ chức xã hội
Năm 1985, Tổ chức WHO đã tổ chức hội thảo quốc tế bao gồm các vấn
đề nh-: Giáo dục vệ sinh trong nhà tr-ờng, dịch vụ y tế trong và ngoài tr-ờng học, cơ quan hỗ trợ cho y tế tr-ờng học và ngoài tr-ờng học Cơ quan hỗ trợ cho y tế tr-ờng học tốt nhất là vai trò của Bộ y tế và Bộ giáo dục
Năm 1987, Giáo s- Baginovo đã cho xuất bản cuốn sách nói về vệ sinh tr-ờng học, trong đó nêu lên yêu cầu kiểm tra giám sát lứa tuổi học sinh về mặt vệ sinh phòng bệnh do cơ quan y tế đảm nhận.[21]
Từ 1992 ở Singapo đã hoàn chỉnh 6 nội dung điều tra thể chất học sinh
Trang 5chiếu về sự phát triển thể lực của trẻ em mà chỉ dựa vào các tiêu chuẩn của các quốc gia phát triển như Mỹ, Đức…
Việc nâng cao sức khoẻ tr-ờng học những năm gần đây trên Thế giới đã trở nên phổ biến và đã chiếm vị trí vững chắc trong chăm sóc sức khỏe cộng
đồng
1.2.Tình hình nghiên cứu ở Việt Nam
ở Việt Nam, nhân trắc học đ-ợc bắt đầu nghiên cứu từ những năm 30
của thế kỷ XX tại ban nhân trắc học thuộc viện Viễn Đông Bắc Cổ Sau giải phóng miền nam thống nhất đất n-ớc, các công trình nghiên cứu khoa học ở mọi lĩnh vực đã đ-ợc đẩy mạnh và đạt đ-ợc nhiều thành tựu to lớn Nằm trong
xu thế thuận lợi, nhiều công trình nghiên cứu về hình thái và sinh lý của ng-ời Việt Nam ở nhiều vùng miền thuộc mọi lứa tuổi đã đ-ợc công bố.[2,3]
Năm 1960 Y tế học đ-ờng đã đ-ợc sự quan tâm chỉ đạo của liên bộ Y tế-giáo dục và đã có những nghiên cứu về sức khỏe học sinh
Từ những năm 1965, chiến tranh leo thang phá hoại miền Bắc ngày càng ác liệt, các tr-ờng học phải sơ tán về các vùng xa thành phố, xa khu vực công nghiệp Giai đoạn này, chính phủ rất quan tâm đến tình hình sức khỏe học sinh nên Bộ Y tế đã tổ chức điều tra sức khoẻ bệnh tật của trên 20000 học sinh ở 13 tỉnh thành, thành phố trong hai năm 1966-1967 Kết quả điều tra cho thấy có sự giảm sút về phát triển thể lực so sánh với năm 1962, chiều cao trung bình giảm 2cm; cân nặng giảm 1,5 kg chủ yếu ở lứa tuổi 12
Hội nghị “Hằng số sinh học người Việt Nam”những năm 1967 và 1972
và kỷ yếu “Hằng số sinh học ng-ời Việt Nam” xuất bản 1975 là các mốc đánh dấu một chặng đ-ờng trong lịch sử nghiên cứu sinh học ng-ời Việt Nam Cuốn tuyển tập này đã tập hợp kết quả của nhiều công trình nghiên cứu của hầu hết các nhà khoa học sinh lý học Việt Nam
Tầm vóc và thể lực là những khái niệm phản ánh cấu trúc tập hợp của cơ thể, đặc biệt có liên quan chặt chẽ đến khái niệm, sức lao động và thẫm mỹ của con ng-ời, vì vậy từ lâu đã đ-ợc nhiều nhà khoa học quan tâm
Trang 6Phạm Năng Cường (1967) với công trình nghiên cứu “ Phương pháp xác định giới hạn tuổi và tính tuổi” [26] ; “Chỉ số phát triển của trẻ em Việt Nam” công bố trong tập san “ Những kết quả nghiên cứu khoa học viện vệ sinh dịch tễ Việt Nam(1962-1964)” [25]
Nguyễn Quang Quyền đã nghiên cứu các chỉ số đánh giá thể lực học sinh ở Hà Nội (2-1971); “Một số đặc điểm ng-ời Việt Nam hiện đại và vấn đề thích nghi của cơ thể” (2-1974); “Nhân trắc học và ứng dụng nghiên cứu trên người Việt Nam”[2,3] ; “Một số vấn đề đo đặc thống kê hình thái nhân học mọi lứa tuổi”(1960)…
Nguyễn Văn Lực-Phan Văn Mỹ đã nghiên cứu đặc điểm tầm vóc và chỉ
số thể lực của học sinh dân tộc H’Mông và trường An Ninh III.[23]
Từ hội nghị HSSH ng-ời Việt Nam đến nay, trãi qua thời gian khá dài, điều kiện môi tr-ờng tự nhiên và xã hội có nhiều biến đổi, nhất là những năm đất n-ớc thống nhất đã mở ra một địa bàn mới những đối t-ợng mới cho việc nghiên cứu hình thái cũng nh- sinh lý, sinh học ở n-ớc ta Nhiều công trình của nhiều tác giả đã tiến hành khảo sát các chỉ số sinh học khắp mọi miền của đất n-ớc
Tại khu vực Nghệ An- Hà Tĩnh từ năm 1984-1994 đẫ có nhiều công trình nghiên cứu về hình thái sinh lý ở trẻ em nh-: năm 1994, Nguyễn Ngọc Hợi đã điều tra sự phát triển thể chất của học sinh từ cấp học mẫu giáo đến THPT tại hai tỉnh Nghệ An- Hà Tĩnh; Ngô Thị Bê, 1981 đã khảo sát sự phát triển trẻ em lứa tuổi nhà trẻ mẫu giáo tại TP Vinh- Nghệ An
D-ới sự h-ớng dẫn của giáo s- Nguyễn Quang Quyền, các nhà nghiên cứu của ĐH Y khoa- thành phố Hồ Chí Minh đã khảo sát các chỉ số hình thái của trẻ em và người lớn Tây Nguyên” (1980-1990); “Các chỉ số hình thái, sự phát triển thể lực và thể chất của học sinh miền đồng bằng
Nguyễn Văn Hoài, Nguyễn Đức Hồng, Nguyễn Thế Công, 1994 cũng đã nghiên cứu về tầm vóc thể lực ng-ời Việt Nam.[1]
Phạm Thị Ngọc Yến, Trần Thị Thu Hoà 1980, nghiên cứu sự phát triển cơ thể trẻ em Việt Nam qua từng giai đoạn tuổi
Trang 7Đào Thị Khuê, 1991 nghiên cứu đặc điểm và kích th-ớc hình thái về sự tăng tr-ởng và phát triển của học sinh 6-17 tuổi
Tuyển tập nghiên cứu khoa học giáo dục thể chất sức khỏe trong tr-ờng học các cấp, 1998 đã tập hợp nhiều công trình nghiên cứu nhiều nhà khoa học nh-: PTS Lê Anh Thơ “Điều tra thể chất học sinh trường học các cấp”; Đinh Văn Thức, Nguyễn Du Nghiên, Nguyễn Hữu Chỉnh Đại học y Hải Phòng nghiên cứu “một số chỉ tiêu nhân trắc của học sinh 6-15 tuổi ở An D-ơng- huyện An Hải- Hải Phòng 1996”; Phùng Văn Mỳ, Nguyễn Văn Lực và cộng
sự nghiên cứu “ Thực trạng thể lực của trẻ em trong độ tuổi học đường các dân tộc ít ng-ời miền núi phái Bắc”….[2]
Đặc biệt là đề tài cấp nước “Đặc điểm sinh thể, tình trạng của người Việt Nam và biện pháp nâng cao chất l-ợng do tr-òng ĐH Y- Hà Nội chủ trì mang mã số KX.07 đã góp phần lớn vào việc nghiên cứu con ng-ời Việt Nam.[16]
Đề án “Tổng điều tra thể chất ng-ời Việt Nam từ 7-35 tuổi” được thực hiện với đối t-ợng điều tra trên nhiều độ tuổi, đại diện cho các vùng miền dân tộc, nghề nghiệp khác nhau, trong đó có 17 độ tuổi là học sinh [2]
Nguyễn Thị Thanh Hà, 2001 nghiên cứu sự biến đổi một số chỉ tiêu phát triển hình thái của HS tuổi dậy thì từ 12-15 tuổi ở TP Vinh và các vùng phụ cận.[15]
Nguyễn Thị Nga, 2002 nghiên cứu một số chỉ số hình thái và sinh lý ở 10-15 tuổi của học sinh dân tộc M-ờng, huyện Thạch Thành, tỉnh Thanh Hóa Nghiên cứu trên 1200 HS lứa tuổi 10-15 ở huyện Thạch Thành tỉnh Thanh Hóa.[31]
Đinh Thị Thu H-ơng, 2001 nghiên cứu sự biến đổi một số chỉ tiêu phát triển sinh lý ở lứa tuổi dậy thì trên 369 HS, tại ba tr-ờng THCS H-ng Dũng(TP Vinh), THCS Nghi Hải (Nghi Lộc), THCS Xuân An, Nghi Xuân [22]
Đinh Thị Thu H-ơng, Hoàng Thị H-ơng, 2006 nghiên cứu thực trạng cong vẹo cột sống và ảnh h-ởng của nó lên một số chỉ tiêu thể lực, thể chất
Trang 8sinh lý và năng lực trí tuệ HS THCS trên địa bàn TP Vinh và huyện Nghi Lộc- Nghệ An.[23]
Hội nghị khoa học Giáo dục thể chất, y tế tr-ờng học ngành Giáo dục lần thứ IV, 2006 đã xuất bản Tuyển tập bao gồm các công trình nghiên cứu các chỉ tiêu hình thái và các tật học đ-ờng ở học sinh Đặng Văn Khôi, Hoàng Thị Thanh đã khảo sát tình trạng thừa cân béo phì ở học sinh tiểu học thành phố Thái Bình; Nguyễn Ngọc Hợi, Ngô Thị Bê và cộng sự đã nghiên cứu các chỉ tiêu hình thái, dị tật học đ-ờng và ảnh h-ởng của chúng lên năng lực thể chất cũng nh- mối liên hệ với các trang thiết bị học đ-ờng trên đối t-ợng học sinh Tiểu học Trung học cơ sở và Trung học phổ thông
Thẩm Hoàng Điệp, Nguyễn Quang Quyền, Vũ Huy Khôi, Trần V-ơng Sinh đã bước đầu nghiên cứu một số chỉ tiêu sinh học người Việt Nam “Một
số nhận xét về phát triển chiều cao, vòng ngực, vòng đầu của ng-ời Việt Nam
2.1.1 Cơ sở lý luận về sự sinh tr-ởng và phát triển theo giai đoạn
Sinh tr-ởng và phát triển là một trong những đặc điểm cơ bản của mọi cơ thể sống, trong đó có con ng-ời Một cơ thể sống phải thực hiện sống trong quá trình trao đổi chất và năng l-ợng, vận động, cảm ứng, sinh tr-ởng, phát
triển, thích nghi, sinh sản và di truyền
Sinh tr-ởng (Growth) là sự tăng kích th-ớc và khối l-ợng cơ thể sinh vật
ở giai đoạn lớn hơn, còn sự phát triển( Develop ment) là sự biến đổi về chất bao gồm, sự biến đổi về hình thái, chức năng sinh lý, các quy luật theo từng giai đoạn của cuộc đời của mỗi sinh vật Sinh tr-ởng và phát triển liên quan mật thiết với nhau và tác động qua lại, thay đổi qua từng giai đoạn Sinh tr-ởng là điều kiện của phát triển, còn phát triển là thay đổi sinh tr-ởng bằng cách đẩy nhanh hay kìm hãm sự sinh tr-ởng theo từng giai đoạn ở quá trình phát dục, cơ thể sinh vật th-ờng lớn hơn, biến đổi nhiều và có tính chất nhảy
Trang 9vọt về hình thái và chức năng sinh lý Đến giai đoạn tr-ởng thành thì sinh tr-ởng chậm, đến khi ngừng sinh sản thì cơ thể bị suy thoái
Những công trình nghiên cứu của C B Penxen (1962) M.H Saternicop (1968) F Bnedish đã chứng minh một quy luật sinh sống của cá thể
* Tốc độ sinh tr-ởng, phát triển của cơ thể không đồng đều lúc nhanh,
lúc chậm, nói cách khác là cơ thể sinh tr-ởng, phát triển diễn ra và thay đổi theo từng giai đoạn của cá thể Ng-ời ta có thể căn cứ vào một số hình thái
đặc tr-ng của cơ thể nh- chiều cao, cân nặng, vòng ngực để đánh giá sự sinh
tr-ởng phát triển của cơ thể [12]
+ Chiều cao ng-ời (L)
Là một đặc điểm quan trọng nhất để đánh giá sự phát triển của cơ thể
Nó biến đổi độc lập và biểu hiện khối l-ợng cơ Vì vậy, thông th-ờng ng-ời càng cao thì cơ thể phát triển càng tốt ( tất nhiên còn phụ thuộc vào chiều cao của từng quần cơ, điều kiện sống…) Sự biến đổi về chiều cao đặc trưng cho chủng tộc loài ng-ời, cho tuổi và giới tính
+ Trọng l-ợng cơ thể (P)
Cũng là một trong những đặc điểm quan trọng, biến đổi phụ thuộc vào chiều cao Trọng l-ợng cơ thể biểu hiện ở mức độ và tỷ lệ hấp thụ và tiêu hao trong hoạt động sống của cơ thể Có thể chia trọng l-ợng thành hai phần
- Phần cố định gồm: x-ơng, da, các tạng và thần kinh chiếm 1/3 tổng số trọng l-ợng cơ thể
- Phần thay đổi chiếm 2/3 tổng số trọng l-ợng, trong đó 3/4 là cơ và 1/4
là mỡ và n-ớc
+ Vòng ngực (W)
Cũng là một trong những đặc điểm quan trọng để đánh giá sự phát triển của cơ thể và sức khỏe Nó biến đổi phụ thuộc cả chiều cao và trọng l-ợng của cơ thể, là biểu hiện của thể tích lồng phổi Mối liên hệ giữa trọng l-ợng và vòng ngực nói lên mức độ phát triển của cơ thể Trọng l-ợng của trẻ sơ sinh trung bình là 3200g Sau một năm nặng 9 ‟ 10 kg, năm thứ hai trọng l-ợng
Trang 10tăng lên 2,5 ‟ 3 kg Còn chiều cao tăng 10 ‟ 15 cm Các năm tiếp theo cho đến tuổi dậy thì trọng l-ợng tăng 1,5 ‟ 2 kg và chiều cao tăng lên 4 -5 cm
Đến tuổi dậy thì trẻ có những biến đổi rõ rệt nhất về mặt sinh lý dậy thì tốc độ sinh tr-ởng về chiều cao trong lứa tuổi này có thể tăng lên 5 ‟ 8 cm/ năm; khối l-ợng tăng 4 ‟ 8 kg / năm Sự tăng chiều cao trong giai đoạn dậy thì xảy ra trong khi tứ chi phát triển thì lồng ngực lép do các x-ớng s-ờn phát triển, kết quả là trẻ th-ờng gầy, cao, chân tay lèo khèo, nhịp thở khó khăn…[8,9]
* Tốc độ sinh tr-ởng và phát triển ở các bộ phận, các cơ quan, các mô;
thậm chí cả các tế bào trong cùng một cơ thể sống không giống nhau Tỷ lệ các bộ phận khác nhau ở các lứa tuổi khác nhau ở trẻ em sơ sinh chiều cao
đầu bằng chiều cao cơ thể, nh-ng đến khi tr-ởng thành thì chỉ bằng 1/8 chiều dài của cơ thể Trái lại chi d-ới của trẻ sơ sinh rất ngắn bằng 1/3 chiều dài của cơ thể, nh-ng ở ng-ời lớn chi d-ới lớn hơn một nửa chiều dài của cơ thể.[8,9]
Charless W, Bodemer (1978) trong cuốn “ Phôi sinh học hiện đại” đã viết: “ Cơ thể sống là tồn tại khách quan, luôn vận động và phát triển của hai sinh giới bao gồm hai quá trình, quá trình phát triển chủng loại( Phylogenesis)
là quá trình tr-ởng thành của loài và quá trình phát triển cơ thể ( Ontgenosis )
là quá trình hình thành các cá thể sinh vật của loài [2]
Tổ chức y tế thế giới (WHO) định nghĩa “ Sức khỏe là một trạng thái toàn diện về thể chất, tâm thần và xã hội chứ không phải là tình trạng có bệnh hay không có bệnh, hay th-ơng tật theo nghĩa thông th-ờng (Genera 1975) Vì vậy chăm sóc sức khỏe cho mọi ng-ời nói chung và học sinh nói riêng là đặc biệt quan trọng [12]
Nhiều tác giả nh-: Bunak U U (1965), Ashauski I A(1965), viện Hàn Lâm khoa học Liên Xô Bộ môn Nhi của tr-ờng Đại học Hà Nội (1961) đã căn cứ vào một số tiêu chuẩn hình thái, sinh lý, phân chia hình thái sinh lý, phân chia quá trình phát triển của cơ thể thành một số thời kỳ t-ơng đối không lớn chỉ từ 1‟2 năm và trẻ từ 10-11 tuổi (thời kỳ tiền dậy thì ); từ 11-15 tuổi đối với nữ, từ 13 -16 tuổi đối với nam ( thời kỳ dậy thì) [11,9]
Trang 112.1.2 Các yếu tố ảnh h-ởng đến sự sinh tr-ởng và phát triển
Sự sinh tr-ởng và phát triển của con ng-ời nhanh hay chậm, tối đa hay không bị chi phối rất nhiều yếu tố, các nhà khoa học nh- Kabmop (1972), Theo Xukholomxki (1976) đã nghiên cứu và phân tách thành hai nhóm yếu tố
ảnh h-ởng đó là yếu tố bên trong và yếu tố bên ngoài
c, Các tuyến nội tiết
Đóng vai trò quan trọng đối với sự phát triển và cơ thể có thể tăng c-ờng hay kìm hãm sự sinh tr-ởng và phát triển cơ thể nh- hoocmon sinh tr-ởng, hoocmon sinh dục, hoạt động ở các giai đoạn phát dục ở động vật và giai đoạn dậy thì ở ng-ời Sự hoạt động bình th-ờng của tuyến nội tiết có thể gây ra rối loạn hoạt động của cơ quan chức năng
*Nhóm yếu tố bên ngoài
Sự sống và môi tr-ờng luôn gắn bó hữu cơ với nhau Nghiên cứu Kabanốp (1972), Frêdman (1971), Burlachuc(1988) phân tích hai yếu tố sinh tr-ởng, phát triển thể lực đa dạng, phong phú trong đó chủ yếu các yếu tố sau
a ảnh h-ởng của chế độ dinh d-ỡng
Nếu trẻ đ-ợc nuôi d-ỡng tốt sẽ có tốc độ nhanh hơn và đạt đ-ợc mức tối đa về kích th-ớc cơ thể và giới hạn di truyền cho phép Nhu cầu và thành
Trang 12phần dinh d-ỡng đ-ợc thay đổi tùy theo các giai đoạn và phát triển cụ thể; đặc biệt là giai đoạn dậy thì
b Môi tr-ờng sống [1, 8, 37]
Từ khi sinh ra, phát triển và già đi, con ng-ời tồn tại trong môi tr-ờng tự nhiên ( địa dư, đất nước, khí hậu…) và xã hội ( đó là mối quan hệ giữa con ng-ời với con ng-ời, chế độ chính trị, kinh tế, sự bùng nổ thông tin về thời đại,
sự phát triển nhanh chóng của các ph-ơng tiện thông tin đại chúng nh- truyền thanh, viễn thông, sự nâng cao trình độ văn hóa của cha mẹ, sự đổi mới nội dung phương pháp và phương thức giáo dục đặc biệt là ở các bậc học…) Tất cả các yếu tố đó đều ảnh h-ởng trực tiếp và gián tiếp đến quá trình sinh tr-ởng
và phát triển của cơ thể
2.1.3 Cơ sở sinh lý của tố chất hoạt động [34, 35]
Các tố chất vận động có liên quan chặt chẽ với kỹ năng vận đông, mức
độ phát triển về tố chất thể lực phụ thuộc vào trạng thái cấu tạo và chức năng của nhiều cơ quan và hệ cơ quan trong cơ thể
Hoạt động thể lực rất đa dạng và phức tạp, phụ thuộc vào công suất hoạt
động, cơ cấu động tác và thời gian gắng sức Mỗi một loại hoạt động đòi hỏi cơ thể phải thể hiện khả năng hoạt động của mình về mặt nào đó Nh- vậy hoạt động thể lực có thể phát triển các mặt khác nhau của năng lực hoạt động thể lực Các mặt khác nhau đó của khả năng hoạt động thể lực đ-ợc gọi là tố chất vận động Có tố chất vận động chủ yếu sau, sức mạnh, sức nhanh, sức dẻo (sức bền)
b Tố chất nhanh(sức nhanh)
Sức nhanh ( tốc độ) là khả năng thực hiện động tác trong một khoảng thời gian ngắn nhất Sức nhanh nh- một tố chất thể lực có thể biểu hiện ở các
Trang 13dạng đơn giản và phức tạp Các dạng đơn giản của sức nhanh liên quan chặt chẽ với kết quả sức nhanh ở dạng phức tạp Song các dạng biểu hiện sức nhanh
đơn giản lại phát triển t-ơng đối độc lập với nhau Thời gian phản ứng có thể rất tốt, nh-ng động tác đơn lẻ lại chậm hoặc tần số của động tác lại thấp Vì vậy sức nhanh là tố chất tổng hợp của cả 3 tố chất cấu thành là thời gian phản ứng, thời gian của động tác đơn lẻ và tần số hoạt động
Nh- vậy, cơ sở sinh lý để phát triển sức nhanh là tăng c-ờng độ linh hoạt và tốc độ dẫn truyền h-ng phấn ở trung tâm và bộ máy vận động, tăng c-ờng sự phối hợp giữa các sợi và các cơ, nâng cao tốc độ thả lỏng và các cơ
c Tố chất dẻo( sức dẻo, sức bền)
Là khả năng thực hiện lâu dài một hoạt động nào đó, khái niệm sức bền nh- một tố chất thể lực, vì vậy có tính t-ơng đối rất cao, nó đ-ợc thể hiện trong một loạt hoạt động nhất định
Sức dẻo là khả năng thực hiện lâu dài hoạt động cơ bắp toàn thân hoàn toàn hoặc chủ yếu mang tính chất của khi sức dẻo phụ thuộc vào khả năng hấp thụ oxi tối đa của cơ thể, khả năng lâu dài mức hấp thụ oxi cao
2 1 4 Các yếu tố ảnh h-ởng đến sự phát triển của các tố chất [34, 35]
a Yếu tố sinh học
Trạng thái của các cơ phụ thuộc vào đặc điểm cấu tạo của cơ (số l-ợng,
độ dày của cơ, khả năng đàn hồi của cơ, các mạch máu trong cơ, thần kinh cơ…), đều ảnh hưởng đến sự phát triển của tố chất Khả năng điều hòa có ảnh h-ởng rất lớn đến phát triển của tố chất Các cơ co rút d-ới sự điều khiển của các xung động thần kinh, sự điều hòa thần kinh tốt tạo điều kiện cho sự phát triển về sức mạnh, tốc độ, sự khéo léo, sức bền
Trang 14hiện của hiện t-ợng nhịp sinh học - đặc tr-ng cho tất cả các hiện t-ợng và sự vật trong tự nhiên Buổi tr-a, buổi chiều các tố chất này đ-ợc thể hiện tốt nhất, th-ờng các tố chất thể lực giảm nhiều nhất tr-ớc khi đi ngủ và sau khi ngủ dậy Ngoài nhịp ngày đêm, các công trình gần đây còn cho thấy các tố chất vận động cũng nh- khả năng hoạt động thể lực nói chung có biến đổi theo các nhịp sinh học khác hàng tháng, hàng năm và kéo dài nhiều năm Sự hoạt động của các cơ quan nội tạng và các cơ cũng tạo điều kiện tốt cho tố chất vận
động
c Quá trình luyện tập thể dục thể thao
Các tố chất vận động đ-ợc tăng lên trong quá trình luyện tập thể dục thể thao Chính quá trình luyện tập, dẫn đến hàm l-ợng các chất nh- prôtêin, CP, ATP tăng lên Hệ thống men đều biến đổi trong cấu trúc của cơ, điều đó chứng tỏ đã có ảnh h-ởng đến các tố chất Nh-ng luyện tập căng thẳng quá mức hay gây mệt mỏi thì các tố chất sẽ giảm đi Thông qua các bài tập thể lực
sẽ phát triển các tố chất thể lực đó là hoàn thiện chủ yếu một số chức năng hoặc cơ quan nhất định ví dụ: tập luyện sức mạnh ‟ tốc độ làm biến đổi chủ yếu hệ thần kinh và bộ máy vận động
2 1 5 Biểu hiện hoạt động sinh lý đặc tr-ng tuổi dậy thì [8, 9, 11, 15, 22,
27, 39]
Tuổi dậy thì (DT) là thời kỳ chuyển tiếp từ giai đoạn trẻ thơ sang giai
đoạn tr-ởng thành, là thời kỳ quá độ khi không còn là trẻ con nh-ng vẫn ch-a
là ng-ời lớn Đây là thời kỳ mà bất cứ một thiếu niên nào cũng phải trải qua những biến đổi quan trọng về cơ thể cũng nh- về tâm lý
Tuổi dậy thì là lứa tuổi phát triển nhanh về thể lực và có sự thay đổi của
hệ thần kinh - nội tiết, nổi bật là sự hoạt động của các tuyến sinh dục tăng lên, gây ra những biến đổi về hình thái và sự tăng tr-ởng của cơ thể Song song với
sự phát triển nhanh còn là giai đoạn các em hoạt động rất nhiều Do vậy, việc nuôi d-ỡng cần đ-ợc đặc biệt quan tâm để giúp các em có một thân hình đẹp
và sức khỏe dẻo dai
Trang 15Trong đời ng-ời có ba giai đoạn quyết định đối với việc tăng tr-ởng chiều cao Giai đoạn bào thai, nếu trẻ bị suy dinh d-ỡng (SDD) bào thai, sinh
ra nhẹ ký - là đã mất đi một cơ hội Giai đoạn thứ hai là 3 năm đầu đời - nếu
trẻ SDD kéo dài thì lại mất thêm một cơ hội Giai đoạn thứ ba là ở tuổi dậy thì,
nếu dinh d-ỡng không tốt thì đành chịu thấp lùn vĩnh viễn!
Nữ đến tuổi dậy thì xuất hiện các đặc tính giới thứ phát theo thứ tự: Vú
to lên là dấu hiệu sớm nhất, bắt đầu 9 -13 tuổi, tốc độ và mức độ to lên khác nhau tuỳ từng em, tiếp theo là lông mu mọc và mọc lông nách, cơ thể nở nang,
sau đó mới là sự ra kinh lần đầu, buồng trứng bài tiết hooc môn progesteron
Ngoài ra còn có sự biến đổi về mặt tâm lý của các em nh-: tâm lý của thiếu nhi sang tâm lý của ng-ời lớn, tính tình trầm lắng mơ mộng, có cảm giác mình không còn là trẻ con, tính nết trở nên bất th-ờng, thoắt vui, thoắt buồn,
đang t-ơi tỉnh đột nhiên cáu kỉnh, bẳn gắt…rối loạn giọng (hay th-ờng gọi
"bể" giọng) gây khó khăn trong giao tiếp cho trẻ khi b-ớc vào tuổi tr-ởng thành Rối loạn giọng “tuổi dậy thì” là sự duy trì giọng nói của trẻ em sau khi
đã dậy thì đầy đủ và thanh quản đã phát triển hoàn toàn, nghĩa là ng-ời đó có thanh quản của một ng-ời tr-ởng thành, nh-ng lại không có giọng nói tr-ởng thành Thời kỳ DT quả là thời gian có nhiều thay đổi, đảo lộn của cơ thể DT
là thời kỳ hệ thống “vùng d-ới đồi”, tuyến yên và buồng trứng bắt đầu hoạt
động phối hợp Tr-ớc đây ch-a có biểu hiện gì, đột nhiên tuyến yên “nhận lệnh” của vùng d-ới đồi, bắt đầu tiết ra theo chu kỳ của mệnh lệnh FSH và
LH, lập tức buồng trứng bắt đầu hối thúc các trứng và tiết ra các hormone estrogen Sự khởi đầu cho việc tiết ra chất nội tiết này là dấu hiệu thời DT bắt
đầu Kinh nguyệt có thể không xuất hiện ngay sau khi hệ thống nói trên bắt
đầu hoạt động Lúc đầu chỉ xuất hiện một số ảnh h-ởng do hormon, tạo nên một sự biến đổi sinh lý đầu tiên trên cơ thể trẻ gái Sự tăng FSH dẫn đến việc buồng trứng tiết ra các hormone estrogen, tạo nên những thay đổi hình dạng
âm đạo, âm hộ, cổ tử cung và vú, tóm lại các em bắt đầu có dáng vẻ của ng-ời lớn
Đồng thời, cũng do mệnh lệnh của tuyến yên, tuyến th-ợng thận bắt
đầu tiết những hormon sinh dục nam (mà bất kỳ ng-ời phụ nữ nào cũng có
Trang 16một khối l-ợng nhỏ) Những hormon nam chính là “thủ phạm” khiến phụ nữ mọc lông ở nách và mu Những hormon th-ợng thận ấy cũng tạo nên một số thay đổi hình dạng và thân thể phụ nữ Phải hai năm sau, khi hormon này xuất hiện, kinh nguyệt mới bắt đầu (báo hiệu hệ thống vùng d-ới đồi, tuyến yên và buồng trứng đã hoạt động đều đặn) Lúc đầu là kinh nguyệt không có sự rụng trứng Trong vài tháng đầu, thậm chí vài năm, kinh nguyệt vẫn ch-a đều, có khi rất thất th-ờng Những chu kỳ kinh đầu th-ờng không đều, dao động từ 21
đến 45 ngày, hành kinh kéo dài từ 3 - 8 ngày và l-ợng máu ra là 30 -120ml Trong năm đầu có 45% chu kỳ có rụng trứng, vì thế vẫn có nguy cơ có thai ngay lần đầu giao hợp, 20% tr-ờng hợp thai nghén ở tuổi vị thành niên đã xảy
ra trong tháng đầu khi có quan hệ tình dục và 50% đã xảy ra trong 6 tháng
đầu Kinh nguyệt những lần đầu không đau đớn gì vì ch-a rụng trứng, những kinh nguyệt có kèm rụng trứng thì khá đau, nếu đau lắm thì thành chứng kinh nguyệt đau Nguyên nhân th-ờng do hình dạng của cơ quan sinh dục không bình th-ờng (tử cung còn nhỏ, cổ tử cung co bóp quá chặt) nh-ng cũng có khi nguyên nhân do tâm lý
Ngày nay, tuổi dậy thì của các em gái có vẻ đến sớm hơn (tuổi bắt đầu
có kinh tr-ớc đây là 13-15 tuổi) do đời sống vật chất và văn hoá của xã hội đã cao hơn tr-ớc dậy Các yếu tố di truyền, sức khoẻ, khối l-ợng và tỷ lệ mỡ của cơ thể có ảnh h-ởng đến thời gian xuất hiện kỳ kinh đầu
Tuổi DT bao gồm những biến đổi chậm chạp kéo dài nhiều tháng, thậm chí nhiều năm và th-ờng diễn ra vào tuổi 12, 13 Tuy nhiên, ng-ời ta thấy có những tr-ờng hợp rất sớm (9 tuổi) hoặc muộn hơn (17 tuổi), th-ờng là tùy theo địa ph-ơng và dân tộc Chẳng hạn nh- ở châu Phi, tuổi DT của con gái rất sớm, có khi chỉ 5, 6 tuổi và nhiều em có thai ở tuổi đó ở Pháp và châu Á, những tr-ờng hợp quá sớm nh- vậy hay quá muộn th-ờng đ-ợc gọi là không bình th-ờng
2.2 Cơ sở thực tiễn
Ngày nay, cùng với với sự phát triển khoa học- kỹ thuật, sự bùng nổ thông tin, sự phát triển nhanh chóng của các ph-ơng tiện thông tin đại chúng
Trang 17nh- viễn thông, truyền hình, sự nâng cao của trình độ văn hóa, sự tăng tr-ởng kinh tế đã có những buớc nhảy vọt so với những thập kỷ tr-ớc, đặc biệt là những năm gần đây đã năng cao mức sống của mọi ng-ời dân và ảnh h-ởng trực tiếp lên sự tăng tr-ởng của trẻ em Việt Nam cả về thể chất lẫn trí tuệ Sự hiểu biết về sự thay đổi cơ thể, đáp ứng sự chăm sóc nuôi d-ỡng là vấn đề đặt
ra cấp thiết trong giai đoạn hiện nay
3 3 Tổng quan điều kiện và xã hội của vùng nghiên cứu.[13, 14]
3.3.1 Vị trí địa lí
-Thanh Hoá nằm ở cực Bắc Miền Trung, cách Thủ đô Hà Nội 150 km
về phía Nam, cách Thành phố Hồ Chí Minh 1.560km Phía Bắc giáp với ba tỉnh Sơn La, Hoà Bình và Ninh Bình, phía Nam giáp tỉnh Nghệ An, phía Tây giáp tỉnh Hủa Phăn (n-ớc Cộng hoà dân chủ nhân dân Lào), phía Đông là Vịnh Bắc Bộ
-Thành phố Vinh có tọa độ địa lý từ 18°38'50” đến 18°43’38” vĩ độ Bắc, từ 105°56’30” đến 105°49’50” kinh độ Đông Vinh là thành phố nằm bên bờ sông Lam, phía Bắc giáp huyện Nghi Lộc, phía Nam và đông nam giáp huyện Nghi Xuân, phía Tây và Tây nam giáp huyện H-ng Nguyên Thành phố cách thủ đô Hà Nội 295 km về phía Bắc, cách Thành phố Hồ Chí Minh 964
km và cách trung tâm kinh tế miền Trung là thành phố Đà Nẵng 472 km về phía Nam
Trang 18-Thành phố Vinh đ-ợc kiến tạo bởi hai nguồn phù sa, đó là phù sa sông Lam và phù sa của biển Sau này Sông Lam đổi dòng chảy về mạn Rú Rum, thì miền đất này còn nhiều chỗ trũng và đ-ợc phù sa bồi lấp dần Địa hình bằng phằng và cao ráo nh-ng không đơn điệu
3.3.3 Khí hậu
-Thanh Hoá nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa với 4 mùa rõ rệt L-ợng m-a trung bình hàng năm khoảng 1600-2300mm, mỗi năm có khoảng 90-130 ngày m-a H-ớng gió phổ biến mùa Đông là Tây bắc và Đông bắc, mùa hè là Đông và Đông nam Đặc điểm khí hậu thời tiết với l-ợng m-a lớn, nhiệt độ cao, ánh sáng dồi dào là điều kiện thuận lợi cho phát triển sản xuất nông, lâm, ng- nghiệp
-Vinh nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa, có 2 mùa rõ rệt và có
sự biến động lớn từ mùa này sang mùa khác.Có hai mùa gió đặc tr-ng : Gió tây nam - gió khô xuất hiện từ tháng 5 đến tháng 9 và gió đông bắc - mang theo m-a phùn lạnh ẩm -ớt kéo dài từ tháng 10 đến tháng 4 năm sau
3.3.4 Kinh tế- xã hội
- Thành phố Thanh Hoá kinh tế tăng tr-ởng với tốc độ khá cao; cơ cấu kinh tế chuyển dịch theo h-ớng tăng tỷ trọng công nghiệp, dịch vụ, giảm tỷ trọng nông nghiệp; kết cấu hạ tầng đ-ợc quan tâm đầu t-, nhiều dự án quan trọng đã và đang đ-ợc xây dựng Lĩnh vực văn hóa - xã hội có nhiều chuyển biến tiến bộ, đời sống vật chất, tinh thần của nhân dân đ-ợc cải thiện và nâng cao; tiềm lực quốc phòng an ninh đ-ợc củng cố, trật tự an toàn xã hội có chuyển biến tích cực Mức thu nhập bình quân 1740 USD, mật độ 3600 ng-ời/
km2 (2008)
- Thành phố cơ cấu kinh tế, dịch vụ chiếm khoảng 55% lao động của toàn thành phố Tiếp đó là công nghiệp - xây dựng chiếm 40% và nông lâm nghiệp 5% Thành phố Vinh nằm trên trục giao thông huyết mạch Bắc - Nam
về cả đ-ờng bộ, đ-ờng sắt, đ-ờng biển và đ-ờng hàng không, nắm giữ vị trí trọng yếu trên con đ-ờng vận chuyển từ Nam ra Bắc và ng-ợc lại Mức thu
2
Trang 19Hóa và Tr-ờng THCS Bến Thuỷ-TP Vinh- Nghệ An
Thời gian thực hiện từ tháng 8/2008 đến tháng 5 /2009
2 2 Nội dung nghiên cứu
2 2 1 Khảo sát các chỉ tiêu hình thái
Trang 20„ Cân nặng (P): Xác định cân nặng bằng cân bàn Học sinh cởi bỏ giày dép, mặc quần áo mỏng, lên xuống cân nhẹ nhàng Khi kim không chuyển
động nữa thì đọc kết quả chính xác đến g
„ Chiều cao đứng (H): Đo chiều cao đứng của học sinh bằng th-ớc dây nhựa mền tính đến mm, cố định trên 1 mặt phẳng đứng Học sinh cởi bỏ giày dép, đứng ở t- thế nghiêm, hai tay duỗi thẳng mắt nhìn thẳng, hai gót chân chụm, 4 điểm chạm th-ớc, gót chân, l-ng, mông, chẩm Đo khoảng cách từ gót chân đến đỉnh đầu của học sinh đọc chính xác tới mm
„ Vòng ngực trung bình (W): Vòng ngực đ-ợc đo bằng th-ớc dây mềm,
độ chính xác tới mm Đối với học sinh nam đo đỉnh d-ới của 2 x-ơng, bả vai ở phía sau và mỏn ức ở phía tr-ớc Đối với học sinh nữ đo qua 2 đỉnh d-ới x-ơng bả vai ở phía sau và d-ới bờ vú ở phía tr-ớc
Trang 2120 I 25 trung bình
25 I 36 yếu
I 36 kém
2.3.4 Ph-ơng pháp đo các tố chất vận động
Theo ph-ơng pháp của Sermeep, 1986
„ Tố chất dẻo: Đ-ợc đánh giá qua độ dẻo cột sống tính bằng cm Cho học sinh đứng trên ghế theo t- thế nghiêng, mũi ngón chân chạm mép ghế, hai đầu gối thẳng, ng-ời cúi về phía tr-ớc Nếu ngón tay giữa chạm th-ớc ở mặt d-ới ghế đ-ợc kết quả d-ơng(+), trên mặt ghế đ-ợc kết quả âm(-)
„ Tố chất mạnh: Đ-ợc đo bằng sức bật tại chỗ không vung tay Yêu cầu học sinh đứng thẳng, giơ tay cao, ngón tay chạm vào t-ờng, mũi chân cách t-ờng 20cm, đánh dấu điểm chạm th-ớc cuối cùng của ngón tay giữa Sau đó yêu cầu bật cao tại chỗ không vung tay với khả năng tối đa, đánh dấu điểm chạm cao nhất của ngón tay giữa Hiệu số độ cao giữa hai lần đánh dấu là sức mạnh qua khả năng bật cao của đối t-ợng
„ Tố chất nhanh: Đánh giá theo tần số vận động ngón tay( tính bằng số lần
trên 5s) Phương pháp này gọi là “ Tepping Test” (theo Covalep,1975) được thực hiện bằng cách yêu cầu học sinh với khả năng nhanh nhất của mình dùng bút chấm lên giấy trong khoảng thời gian 5s
2.3.5 Xử lý số liệu [7, 28]
Các kết quả nghiên cứu đ-ợc xử lí theo ph-ơng pháp xác suất thống kê trên máy vi tính theo phần mềm Excel Các chỉ số so sánh bao gồm trị số trung bình cộng (X ),độ lệch chuẩn (SD) còn gọi là sai số chuẩn hay sai số trung bình
Số liệu đ-ợc kiểm tra độ tin cậy theo ph-ơng pháp phân tích ph-ơng sai ANOVA (analysis of variance) và T‟test trên phần mềm Epi.Info.6.0
2.4 Ph-ơng tiện nghiên cứu
Th-ớc dây độ chính xác đến 1 mm
Cân bàn độ chính xác g
Giấy trắng ô ly
Trang 22Ch-ơng 3 Kết quả nghiên cứu và bàn luận 3.1 Chỉ tiêu hình thái
3.1.1 Cân nặng
Cân nặng là một chỉ số đánh giá sự phát triển thể lực và sức khỏe của con ng-ời Nó là chỉ số khách quan về thể lực của mỗi ng-ời, phản ánh nhiều quá trình xẩy ra trong cơ thể, đặc biệt là quá trình trao đổi chất và năng l-ợng, phát triển hệ x-ơng Kết quả khảo sát cân nặng trên 1263 HS đ-ợc thể hiện qua bảng 3.1 và biểu đồ 3.1
bảng 3.1 Cân nặng của HS theo từ 12-15 tuổi
Trang 23
32.58 31.67 35.64 37.48
43.92 41.77
48.45 44.31
0 5 10 15 20 25 30 35 40 45 50
* Nhận xét Từ bảng 3.1, biểu đồ 3.1 cho thấy, cân nặng cơ thể của HS tăng
liên tục Có sự khác nhau ở hai giới, HS nam tốc độ gia tăng trung bình ở các
độ tuổi cao hơn HS nữ (nam 6,22 Kg ; nữ 4,21 kg)
ở giai đoạn 13 tuổi HS nữ nặng hơn HS nam (1,8kg) ở 14-15 tuổi trọng l-ợng HS nam lớn hơn HS nữ (4,14 kg) Sự sai khác này có ý nghĩa thống kê (P<0,01)
Trong quá trình phát triển cơ thể, cân nặng tăng nhanh ở nam độ tuổi 13-14(8,28 Kg); ở nữ độ tuổi 12-13 (5,81 Kg) Sự tăng nhanh đột biến về cân nặng này theo chúng tôi, yếu tố tác động trực tiếp là hiện tượng “dậy thì” Hiện t-ợng này đ-ợc chia làm hai giai đoạn: tr-ớc dậy thì và dậy thì Giai
đoạn tr-ớc dậy thì chủ yếu là phát triển về bề ngang, trẻ em nam hình dạng trở nên nở nang hơn bả vai lớn, các bắp thịt to ra, các chỗ dự trữ mỡ th-ờng là ở mặt, lồng ngực, phần trên của bụng; các em nữ tích trữ mỡ chủ yếu ở vú, đùi, phần d-ới bụng, các bắp thịt, còn gọi là “giai đoạn tròn người”[9], vì thế cân nặng tăng nhanh hơn B-ớc vào thời điểm dậy thì, chiều cao tăng nhanh hơn
so với cân nặng
Trang 24Bảng 3.2 So sánh kết quả cân nặng của đề tài với các tác giả khác
(Đơn vị tính: Kg)
Giới
tinh Tuổi
Đề tài (2008 )
1
Nguyễn Thị Thanh Hà (2001)
2
Hoàng Thị H-ơng (2006)
3
HSSH (1975)
Nam
12 32,58 4,88 28,361,8 29,085,38 25,51 3,18
P(1-2) <0,01 P(1-3)>0,05
Trang 2532,58 28,36
29,08
25,51
35,64 30,64
42,12 34,91
0 5 10 15 20 25 30 35 40 45
30.76
44.31 38.3 38.42
34.16
0 5 10 15 20 25 30 35 40 45 Kg
Trang 26*Nhận xét: Từ bảng 3.2 và biểu đồ 3.2 cho thấy,
So với năm 1975, kết quả của đề tài cao hơn 7,07-14,08 kg( nam); 11,01 kg(nữ)
5,9-So với năm 2001, kết quả của đề tài cao hơn thể hiện rõ nhất ở độ tuổi
14, ở nam là 11,24 Kg; ở nữ là 7,0 kg Sự khác sai khác này có ý nghĩa thống
kê với P<0,01
So với năm 2006, kết quả nghiên cứu cao hơn thể hiện rõ nhất ở độ tuổi
15 Đối với nam là 6,33 kg; đối với nữ là 5,89 kg (với P<0,01)
3.1.2 Chiều cao đứng
Chiều cao là một chỉ số đánh giá sự tăng tr-ởng của cơ thể Chiều cao là một trong những kích th-ớc hay đ-ợc đo đạc trong hầu hết các công tác điều tra cơ bản để đánh giá hình thái, thể lực, dinh d-ỡng và phát triển cơ thể
Chiều cao đứng là một chỉ số hình thái biểu hiện sự phát triển cơ thể, trong đó tổ chức x-ơng, nhất là x-ơng dài giữ vai trò quan trọng, sự lớn lên của các đốt sống của cột sống và x-ơng nh- x-ơng đùi, x-ơng cẳng chân Kết quả khảo sát chiều cao đứng của học sinh đ-ợc thể hiện qua bảng 3.3, biểu đồ 3.3
Bảng 3.3 Chiều cao đứng của học sinh từ 12-15 tuổi
Trang 27146.435
157.82 154.925
154.635 142.445
130 135 140 145 150 155 160
Cm
Tuổi
Biểu đồ 3.3 Chiều cao đứng của học sinh từ 12-15 tuổi ( Đơn vị tính: Cm)
* Nhận xét: Qua bảng 3.3, biểu đồ 3.3, cho thấy,
Chiều cao đứng của HS nam, nữ tăng liên tục và không đều ở hai giới:
HS nam tăng trung bình 5,63cm/ năm; HS nữ tăng trung bình 4,63 cm/năm
Tốc độ gia tăng chiều cao ở HS nam nhanh ở độ tuổi 13-14 tăng 8,49cm; ở nữ ở độ tuổi 12-13 tăng 6,83 cm, sau đó tiếp tục tăng nh-ng chậm lại ở độ tuổi 14-15 (1,69cm) ở nữ; ở nam (2,89cm) Tốc độ này không đều do l-ợng hoocmon sinh tr-ởng mà các tuyến nội tiết tiết ra ở các lứa tuổi và giới tính khác nhau là khác nhau
Độ tuổi 12-13 chiều cao đứng của nữ cao hơn nam (2,8 cm); ở độ tuổi 13-14 chiều cao đứng của nam cao hơn nữ Sự sai khác này có ý nghĩa thống kê(P<0,01)
Sự phát triển không đồng đều về chiều cao còn đ-ợc thể hiện trên biểu
đồ có điểm cắt, giao nhau giữa hai kênh nam và nữ ở lứa tuổi 13-14 Có thể giải thích sự sai khác này là do yếu tố “dậy thì”, hệ x-ơng phát triển mạnh, có
sự tăng tr-ởng nhanh các đốt sống của cột sống và các x-ơng dài nh- x-ơng
đùi, x-ơng cẳng chân làm cho chiều cao tăng nhanh, có năm cao tới 8,9 cm (14 tuổi ở nam); nữ 6,84 cm( tuổi 13) Khi đã dậy thì hoàn toàn, cơ thể lúc này b-ớc vào thời kỳ ổn định nên giảm tốc độ gia tăng chiều cao đứng, vì vậy ở
độ tuổi 12-13 chiều cao ở HS nữ tăng chậm hơn so với HS nam
Trang 28Bảng 3.4 So sánh chiều cao đứng của HS TP Thanh Hóa và HS TP Vinh
( Đơn vị tính : Cm)
155,93 152,5
150,67
142,6
157 156,72
147,89 142,29
130 135 140 145 150 155 160
2
P(1-2)
THCS Minh Khai
1
THCS Bến Thủy
2
Gia Tăng P(1-2)
12 142,99 5, 62 138,91 4, 43 P>0,05 143 6, 48 142,6 3, 66 0,3 P>0,05
13 148,55 6, 43 144,32 4,3 P<0,01 150,67 5, 61 148 3,84 2,8 P<0,01
14 157,35 4, 48 152,5 5, 71 P<0,01 152,5 4, 69 156,72 4, 45 -4 P<0,01
15 163,7 4,59 155,94 6,91 P<0,01 155,93 4, 7 157 4, 46 -1 P<0,01