Câu 1: Phân tích phối hợp giữa chính sách tài khóa và chính sách tiền tệ trong điều hành kinh tế vĩ mô của chính phủ. Liên hệ với tình hình thực tiễn của Việt Nam trong thời gian qua?6Câu 2: Phân tích hiện tượng ‘chèn lấn’ các khoản vay của chính phủ đối với đầu tư và xuất khẩu của khu vực tư. Nêu các giải pháp khắc phục hiện tượng này.8Câu 3: Trình bày nội dung cải cách hệ thống ngân hàng theo hướng tự do hóa tài chính.9Câu 4: Những yếu tố tác động trực tiếp đến việc thu hút vốn đầu tư nước ngoài (FDI)? Phân tích các giải pháp mở rộng thu hút nhanh vốn FDI tại Việt Nam.14Câu 5: Nêu cơ sở khoa học của việc chính phủ tham gia vào quản lý hệ thống tài chính bằng các “qui định” (Regulations)?17Câu 6: Cuộc khủng hoảng tài chính của nước Mỹ là do các qui định quản lý của hệ thống tài chính quá lỗi thời. Nhận định này đúng hay sai? Giải thích?17
Trang 1Câu 1: Phân tích phối hợp giữa chính sách tài khóa và chính sách tiền tệ trong điều hành kinh tế vĩ mô của chính phủ Liên hệ với
tình hình thực tiễn của Việt Nam trong thời gian qua? 6
Câu 2: Phân tích hiện tượng ‘chèn lấn’ các khoản vay của chính phủ đối với đầu tư và xuất khẩu của khu vực tư Nêu các giải pháp khắc phục hiện tượng này 8
Câu 3: Trình bày nội dung cải cách hệ thống ngân hàng theo hướng tự do hóa tài chính 9
Câu 4: Những yếu tố tác động trực tiếp đến việc thu hút vốn đầu tư nước ngoài (FDI)? Phân tích các giải pháp mở rộng thu hút nhanh vốn FDI tại Việt Nam 14
Câu 5: Nêu cơ sở khoa học của việc chính phủ tham gia vào quản lý hệ thống tài chính bằng các “qui định” (Regulations)? 17
Câu 6: Cuộc khủng hoảng tài chính của nước Mỹ là do các qui định quản lý của hệ thống tài chính quá lỗi thời Nhận định này đúng hay sai? Giải thích? 17
Câu 7: Theo S.Mishkin (2004): … “Cổ phiếu không phải là hình thức tài trợ vốn quan trọng hơn các trung gian tài chính đối với các doanh nghiêp”… Hãy dùng lý thuyết thông tin bất cân xứng để bình luận nhận định trên và nêu ra các giải pháp để giúp hệ thống các ngân hàng thương mại phát triển bền vững và lành mạnh? 18
Câu 8: Phân tích sự phối hợp giữa chính sách tài khoá và chính sách tiền tệ trong kiểm soát lạm phát Liên hệ thực tiển của Việt Nam trong thời gian qua 20
Câu 9: Trình bày các quan điểm lựa chọn cấu trúc tài chính trong điều kiện thông tin bất cân xứng và khuynh hướng tài trợ vốn của hệ thống tài chính Việt Nam trong thời gian tới 22
Câu 10: - Phân tích những lợi ích chi phí khi tham gia khu vực đồng tiền chung - Nhưng điều kiện cơ bản khi xây dựng khu vực đồng tiền chung - Nhận định về điều kiện xây dựng đồng tiền chung khu vực Asean 23
Câu 11:- Phân tích lợi ích và chi phí đối với nguồn vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài 24
- Đánh giá khái quát về nguồn vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài ở nước ta 24
- Các giải pháp cơ bản nâng cao hiệu quả sử dụng nguồn vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài 24
Câu 12: bắt buộc: Trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế các công cụ tài chính-tiền tệ nào chịu tác động mạnh mẽ nhất Hãy lấy ví dụ minh họa 26
Các công cụ của chính sách tiền tệ 26
Câu 13: Trình bày xu hướng cải cách chi tiêu công Thực trạng chi tiêu công tại việt Nam như thế nào? 28
Câu 14: Trình bày điểm giống và khác nhau của các nguồn vốn huy động từ quốc tế Việt Nam cần làm gì để kiểm soát dòng vốn nước ngoài vào 31
Câu 15: Có ý kiến cho rằng: "Thị trường vốn là kênh tài trợ vốn chủ yếu cho quá trình công nghiệp hóa và hiện đại hóa ở nước ta" 34
Câu 16: Mối quan hệ giữa nguồn tài chính vô hình và nguồn tài chính hữu hình là gì? (phần quan điểm của các nhà kinh tế VN về nguồn tài chính) 37
Câu 17: Hiện nay Nhà nước sử dụng mô hình cân đối ngân sách nào? 39
Câu 18: Cải cách thuế ở VN ? 46
Câu 19: Ảnh hưởng của cuộc khủng hoảng tài chính 2008 của thế giới, đặc biệt ở Mỹ, VN đã rút ra được bài học gì? (đặc biệt trong lĩnh vực kinh tế và tài chính như thế nào) (xem thêm slide cô BM) 47
Trang 2Câu 20: Xu hướng cải cách tài chính của VN là đi theo xu hướng cải cách tài chính của thế giới, tuy nhiên bước đi, lộ trình, thời
gian khác nhau như thế nào? 48
Câu 21: Cần cân nhắc khi vay nợ: hiệu quả của việc sử dụng tiền vay và trả nợ như thế nào? (gợi ý: vấn đề cần cân nhắc: khi vay nợ sẽ xảy ra vấn đề chèn lấn đầu tư và chèn lấn xuất khẩu giải pháp khắc phục) (xem câu 2 chèn lấn đầu tư) 48
Câu 22: VN bằng các biện pháp nào để có thể phát triển thị trường tài chính 49
Câu 23: Các yếu tố cơ bản của một môi trường đầu tư là gì? (trong câu hỏi này có một yếu tố (còn nhiều yếu tố khác nữa) là: môi trường kinh tế vĩ mô phải ổn định và phát triển vd như: tốc độ tăng trưởng GDP, chính sách lãi suất, tỷ giá kìm chế lạm phát v.v ,
từng chính sách đó đưa ra các biện pháp cụ thể và phải liên hệ thực tiễn VN) 50
Câu 24: Vay nợ nước ngoài chính phủ sẽ tăng tiết kiệm, và có làm giảm tiết kiệm trong nước hay không? Việc này có ảnh hưởng đến chính sách tỷ giá và điều hành tỷ giá như thế nào? Ngoài ra việc vay nợ nước ngoài sẽ làm tăng nợ nước ngoài đối với trong nước, vấn đề này được xử lý như thế nào? 52
Câu 25: Phân biệt giữa nợ quốc gia và nợ chính phủ? (Nợ quốc gia gồm nợ chính phủ và nợ doanh nghiệp vay bên ngoài) 55
Câu 26: Bên cạnh những mặt tích cực trong việc thu hút nguồn vốn ODA, còn có những ảnh hưởng gì đến quốc gia đó? (kinh tế, chính trị chẳng hạn) 56
Câu 27: Khi phát hành trái phiếu, thì nhà nước cần phải chuẩn bị những yếu tố nào? (kỹ thuật phát hành trái phiếu) 57
Câu 28: Những mặt thuận lợi và hạn chế trong việc thu hút vốn FDI tại TP.HCM? 57
Câu 29: Ở VN, quá trình tái cấu trúc khu vực kinh tế nhà nước có phải là quá trình tư nhân hoá hay không? Nếu không phải thì cổ phần hóa ở Việt Nam và tư nhân hóa ở nuớc ngoài có khác nhau ở chỗ nào? 59
Cổ phần hóa không phải là tư nhân hóa 59
Câu 30: Nghiên cứu quá trình CPH DN ở VN, khi NN chuyển nhượng DNNN từ một sở hữu thành đa sở hữu, VN có xảy ra trường hợp các DN đó thu được tiền chuyển nhượng thấp hơn giá trị thực tế của DN hoặc ngược lại hay không? 60
Câu 31: Tại sao nói CPH DNNN là việc thực hiện phân phối lại thu nhập của xã hội, tạo điều kiện cho người thu nhập thấp và nghèo nâng cao thu nhập? 60
Câu 32: Thị trường CK nên hình thành trước hoặc sau quá trình CPH thì việc CPH sẽ có hiệu quả? 60
Câu 33: Đấu giá công khai và bán qua đấu thầu khác nhau những điểm nào? 62
Câu 34: TC công và TCNN giống và khác nhau điểm nào? 64
Câu 35: TC công bao gồm những bộ phận nào? 64
Câu 36: Đánh giá sự phát triển của HTTC và liên hệ thực tiễn VN? 65
Câu 37: Các nhân tố kinh tế nào mà lãi suất chịu ảnh hưởng và chính những nhân tố này ảnh hưởng đến sự phát triển của kinh tế? 66
Câu 38: Lãi suất biến động có tác động đến cung cầu tín dụng không? 68
Câu 39: Liên hệ việc điều hành lãi suất VN năm 2010 Việc áp dụng lãi suất thoả thuận có phải là một bước tiến bộ hay không?68 Câu 40: Các biện pháp nào NHTW sử dụng để can thiệp vào TGHĐ? 71
Câu 41: Việc điều chỉnh TGHĐ có những mặt tích cực và tiêu cực như thế nào? Liên hệ việc điều hành tỷ giá năm 2010 ở VN? 71 Câu 42: Với môi trường kinh tế vĩ mô ở VN không ổn định: lãi suất tăng cao, giá cả hàng hoá tăng cao…thì sẽ ảnh hưởng đến hoạt động của NH ở những khía cạnh và nghiệp vụ nào? Có gây ra căng thẳng TC cho NH không? 73
Trang 3Câu 43: Nợ chính phủ của Hy Lạp (diễn biến, nguyên nhân, những hậu quả cho nền kinh tế, tầng lớp dân cư, và các nước cho
vay, từng bước khắc phục như thế nào?) 74
Câu 44: Ở VN có xảy ra khủng hoảng TCTT hay không (nêu rõ biểu hiện ở những mặt nào)? Để ngăn ngừa hay giải quyết khủng hoảng TCTT, nhà nước ta cần phải dùng những biện pháp gì? 76
Câu 45: Ở VN có xảy ra khủng hoảng TTCK hay không (nêu rõ biểu hiện ở những mặt nào)? Nêu những biện pháp để ngăn ngừa hoặc giải quyết? 76
Câu 46: Ở VN dòng vốn đầu tư ngắn hạn vào TTCK có tháo lui chưa trong trường hợp chính sách chưa ổn định? 77
Câu 47: Ở VN tình hình thâm hụt NSNN triền miên, khá lớn, hàng năm từ 5%/GDP, nhưng những năm gần đây đã vượt quá 5%/ GDP, với tình hình đó sẽ có nguy cơ xảy ra khủng hoảng NS hay không? 77
Câu 48: Nêu các biện pháp để công khai hoá TC và lành mạnh hoá nền TC quốc gia? 78
Câu 49: Nghiên cứu cuộc khủng hoảng TC thế giới năm 2008? 79
Câu 50: Theo quan điểm các nhà kinh tế VN, tại sao tự do hoá TC lại phải kiểm soát chính sách tài khoá? 82
Câu 51: Dưới tác động của tự do hoá TC thì cơ cấu thu chi NS sẽ có thay đổi, điều này nó thể hiện như thế nào? 82
Câu 52: Những cam kết của VN đối với WTO về lĩnh vực TC? 83
Câu 53: Tự do hoá lãi suất ở VN được thực hiện thời gian nào hoặc khoảng thời gian nào? 83
Câu 54: Các nội dung liên quan đến cải cách NHVN? Và thời điểm nào bắt đầu thực hiện việc cải cách đó? 84
Câu 55: Trình bày diễn biến lạm phát ở VN? Trong điều kiện chống lạm phát hiện nay, NHTW sử dụng công cụ và biện pháp nào để chống lạm phát? 85
Câu 56: TGHĐ khi sử dụng nó để chống lạm phát thì biểu hiện như thế nào? 89
Câu 57: Khi một quốc gia tiếp cận tốt đối với thị trường TC quốc tế, nó sẽ có những biểu hiện nào? 91
Câu 58: Thị trường TC thế giới tác động tích cực và tiêu cực đối với TC của một quốc gia như thế nào? 92
Câu 59: Các hình thức thu hút vốn ODA, FDI? 93
Câu 60: Trước tình hình nền TC có nhiều điều kiện chưa hoàn thiện, VN trong quá trình tự do hoá TC cần những giải pháp nào để thực hiện tự do hoá TC? 94
Câu 61: Liên hệ thực tiễn VN về chu chuyển vốn quốc tế đặc biệt là trên tài khoản vãng lai? 95
Câu 62: Xu hướng cải cách thuế ở VN trong những năm tới? Cần hoàn thiện các loại thuế nào? 97
Câu 63: Trong quản lý nợ công có những rủi ro, những rủi ro nào có thể xảy ra trong quản lý nợ công ở VN? (tiềm lực TC và tiềm lực kinh tế rất quan trọng) 97
Câu 64: Cách tính toán thâm hụt NSNN ở VN và thế giới có tương đồng hay không? Trong trường hợp không tương đồng thì khác nhau ở điểm nào? 98
Câu 65: Tái cấu trúc khu vực kinh tế NN được biểu hiện trên những nội dung nào? 98
Câu 66: Cơ chế TC và quản lý TC trong tập đoàn kinh tế VN? 99
Câu 67: Nếu quá trình CPH và hình thành TTCK được thực hiện song song với nhau thì có tạo thuận lợi cho việc CPH hay không? 99 Câu 68: Trong điều kiện VN lạm phát cao, mục tiêu chống lạm phát hàng đầu, kế đến là tăng trưởng kinh tế, để thực hiện việc chống lạm phát, NN sử dụng chính sách thắt chặt TC và tiện tệ, việc làm này sẽ ảnh hưởng như thế nào đến TTCK? Việc thực
Trang 4hiện các chính sách nêu trên sẽ có độ trễ của nó, độ trễ của việc thực hiện các chính sách trên sẽ ảnh hưởng như tế nào đến
TTCK? 100
Câu 69: TGHĐ và lãi suất ảnh hưởng như thế nào đến lạm phát? 101
Câu 70: Những biện pháp can thiệp vào TGHĐ? Trong đó biện pháp cuối cùng là gì (phá giá tiền tệ)? 101
Câu 71: Các biện pháp can thiệp của NN vào TT ngoại hối (NHTW can thiệp như thế nào)? 102
Câu 72: Cải cách khu vực kinh tế nhà nước: thị trường chưng khoán có cần đi trước một bước? 102
Câu 73: Nguyên nhân cổ phần DNNN ở các nước rất nhanh nhưng VN chậm? 103
Câu 74: Nếu NN bán giá thấp hơn giá trị thực của doanh nghiệp Tiêu cực là gì? 103
Câu 75: Nếu NN bán giá cao hơn giá trị thực của doanh nghiệp Có lợi là gì? 103
Câu 76: phân tích mối quan hệ lý thuyết kỳ vọng hợp lý và lý thuyết thị trường hiệu quả Liên hệ lý thuyết thị trường hiệu quả với thị trường chứng khoán VN.Lý thuyết Kỳ Vọng 104
Câu 77, Chính sách kích cầu của Chính phủ VN 8 tỷ USD sẽ làm bội chi ngân sách 8%GDP 105
Các nhà kinh tế e ngại sẽ dẫn đến lạm phát Các anh chị có đồng ý với quan điểm trên không? giải thích? 105
Câu 78: theo các anh, chịTrong bối cảnh suy thoái kinh tế toàn cầu tạo ra những thời cơ và thách thức gì đối với các doanh nghiệp Việt Nam Các doanh nghiệp Việt Nam sẽ làm gì để tận dụng thời cơ và khắc phục thách thức để phát triển 106
Câu 79: Anh, chị hãy cho biêt: 107
- Tự do hóa tài chính là gì? 107
- Lợi ích và chi phí của tự do hóa tài chính 107
- tiến trình tự do hóa tài chính ở Việt Nam 107
-Giải pháp thúc đẩy tự do hóa tài chính ổn định và bền vững ở Việt Nam 107
Câu 80: sử dụng mô hình "k gian tài khóa" phân tích khả năng quản lý nợ công bền vững ở Việt Nam? 113
Câu 81: phân tích mối quan hệ giữa các bộ phận/yếu tố của hệ thống tài chính? theo anh/chị, ở Việt Nam hiện nay cần tập trung củng cố những bộ phận/ yếu tố nào? 115
Câu 82: Cơ chế lan truyền của chính sách tiền tệ Việc NHNN thắt chặt tín dụng ảnh hưởng đến thị trưởng bất động sản ở VN như thế nào? 115
Một số hệ quả của thắt chặt tín dụng đối với thị trường bất động sản 121
Câu 83: Hiện tượng too big too fail, liên hệ đến việc NHNN yêu cầu các NHTMCP tăng vốn điều lệ 122
Câu 84: QUan điểm cho rằng" Nếu người chủ biết đầy đủ thông tin của người quản lý thì không thể xảy ra hiện tượng NGười chủ- Người đại diện" Bình luận nhận định trên 123
câu 85: Cuộc khủng hoảng tài chính ở Mỹ năm 2007 là do xuất hiên nhiều công cụ phái sinh Hãy nhân định vấn đề này 123
câu 86: Những điểm lợi và bất lợi của Chính sách tài khóa trong ngắn hạn 124
câu 87: Đa dạng hóa danh mục đầu tư sẽ giảm thiểu rủi ro nhưng điều này có đúng trong trường hợp nhà đầu tư nhỏ lẻ hay không giải thích và cho ví dụ minh họa 125
Câu 88: Đánh giá CSTK và CSTT nhằm kiềm chế lạm phát 2012 125
Câu 89: Vì sao tự do hóa tài chính cần nâng cao công tác quản ly tài chính? 126
Câu 90: thông tin bất cân xứng là gì? Một ngân hàng TM thường gặp các dạng thông tin bất cân xứng nào? 127
(Tr31 sách) Câu 91: Trình bày về mối quan hệ giữa Công ty Bảo hiểm và thị trường chứng khoán 127
Trang 5Câu 92: Phân biệt kiểm tra tài chính theo đầu vào và kiểm tra tài chính theo đầu ra 127
Câu 93: Có quan điểm cho rằng để không có xảy ra khủng hoảng trong tương lai cần hạn chế phát triển mô hình tài chính đa năng Dựa vào lý thuyết danh mục đầu tư hãy bình luận nhận định trên 128
Câu 94: Giả sử đường cong lãi suất có dạng như hình vẽ Thị trường tiên liệu điều gì về sự di chuyển lãi suất ngắn hạn trong tương lai? Đường cong lãi suất ngụ ý gì về sự tiên liệu của thị trường về tỷ lệ lạm phát trong tương lai? 129
Câu 95: Bộ ba bất khả thi (Thực hiện chính sách tiền tệ độc lập, ổn định chính sách tỷ giá, tự do hóa tài khoản vãng lai)? 129
Câu 96: Chính sách tỷ giá ảnh hưởng đến quá trình giải ngân vốn ODA và FDI ntn? 130
- Tác động của ODA, FDI tới tỷ giá hối đoái: 130
Câu 97: Các công cụ của nghiệp vụ thị trường mở được vận dụng linh hoạt tại Việt Nam hay chưa? Liên hệ thực tế? 131
Câu 98: Chính sách tiền tệ ảnh hưởng đến thị trường ngoại hối như thế nào? Liên hệ VN? 131
Các nhân tố ảnh hưởng đến TGHĐ 132
Câu 99: Gói kích thích lãi suất ưu đãi 4%, có phải là yếu tố gây nên lạm phát VN k? 134
Câu 100: Tài chính khu vực công và tư trong quan điểm của thế giới (nội dung và các chủ thể)? 135
Câu 101: Cơ chế quản lý tài chính trong tập đoàn được thực hiện như thế nào? Công ty mẹ-con quản lý tài chính như thế nào? Công ty mẹ góp vốn cho công ty con theo hình thức nào? 135
Câu 102: Hệ thống ngân hàng ở Việt Nam chưa rơi vào căng thẳng tài chính hay đang rơi vào khủng hoảng tài chính? 136
Câu 103: BIỆN PHÁP TÁC ĐỘNG LÊN THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN 138
Câu 104: Hãy phân tích mối quan hệ giữa lạm phát và bội chi ngân sách? 140
Anh/Chị hãy cho biết : Hoạt động tài chính có ảnh hưởng gì đến quá trình phát triển kinh tế và xu thế hội nhập hiện nay ở nước ta 144
Câu 105: Hãy bình luận ý kiến sau : Do thị trường tài chính thứ cấp không giúp cho doanh nghiệp tăng thêm một đồng vốn nào nên thị trường này kém quan trọng hơn thị trường sơ cấp 145
Câu 106: Trong điều kiện lạm phát cao, để kiềm chế lạm phát thì Nhà nước sử dụng các chính sách thắt chặt chính sách tài chính và thắt chặt chính sách tiền tệ Vậy khi sử dụng chính sách thắt chặt tài chính, tiền tệ như vậy nó sẽ có ảnh hưởng tới hoạt động của thị trường chứng khoán như thế nào? Nếu như thực hiện có hiệu quả trong vấn đề chống lạm phát thông qua chính sách tài chính và chính sách tiền tệ thì tác dụng tích cực và tiêu cực của nó đối với thị trường chứng khoán được thể hiện như thế nào? Liên hệ với thực tế ở Việt Nam hiện nay? 145
Câu 107: Phân biệt thị trường tiền tệ và thị trường vốn Mối quan hệ giữa 2 TT này 146
Câu 108: Chính sách tiền tệ tác động như thế nào đến thị trường tài chính trong và ngoài nước? 147
Câu 109: Nguyên nhân Lạm phát ở VN 150
TỔNG HỢP CÂU HỎI ÔN THI LTTCTT
Câu 1: Phân tích phối hợp giữa chính sách tài khóa và chính sách tiền tệ trong điều hành kinh tế vĩ mô của chính phủ Liên hệ với tình hình thực tiễn của Việt Nam trong thời gian qua?
1 Mối quan hệ giữa chính sách tiền tệ và chính sách tài khóa
Chính sách tiền tệ (CSTT) và chính sách tài khóa (CSTK) là hai công cụ quản lý kinh tế vĩ mô quan trọng, mỗi chính sách có mục tiêu riêng, nhưng đều cùng theo đuổi mục tiêu chung là tăng trưởng kinh tế bền vững và có mối quan hệ chặt chẽ với nhau Nội dung cơ bản của CSTK là kiểm soát thu chi ngân sách do những khoản thu chi này có tác động trực tiếp đến tăng trưởng, lạm phát và nhiều chỉ số kinh tế vĩ mô khác Vì thế, CSTK được coi là một trong những chính sách quan trọng đối với việc ổn định và thực thi chính sách kinh tế vĩ mô, một CSTK vững mạnh sẽ thúc đẩy tăng trưởng kinh tế và làm cơ sở để các doanh nghiệp đưa ra
Trang 6các quyết định đầu tư lớn Trong mối quan hệ với giá cả, CSTK là một trong những nguyên nhân cơ bản của lạm phát, một sự nớilỏng CSTK đều gây áp lực tăng giá cả hàng hóa dịch vụ trên hai kênh là thúc đẩy tăng tổng cầu và tài trợ thâm hụt.
CSTT là công cụ của NHTW để điều tiết quá trình cung ứng tiền, lãi suất và tín dụng, kết quả là chi phối dòng chu chuyển tiền vàkhối lượng tiền để đạt mục tiêu chính sách đề ra Một CSTT nới lỏng sẽ làm tăng cung tiền, giảm lãi suất, qua đó thúc đẩy tăngtổng cầu và gây áp lực lạm phát nếu cung tiền tăng quá mức so với sản lượng tiềm năng
CSTK tác động đến CSTT trước hết qua kênh tài trợ thâm hụt ngân sách: Nếu thâm hụt ngân sách được tài trợ từ vay nước ngoài
sẽ ảnh hưởng đến cán cân thanh toán, nếu tài trợ bằng cách vay từ NHTW thì sẽ làm tăng lượng tiền cung ứng và mặt bằng giá
cả, nếu thâm hụt ngân sách được bù đắp bằng cách vay từ các NHTM thì nguồn vốn cho vay các khu vực kinh tế ngoài quốcdoanh sẽ giảm, hạn chế năng lực đầu tư của các khu vực kinh tế này và ảnh hưởng xấu đến tốc độ tăng trưởng kinh tế Ngoài ra,CSTK còn ảnh hưởng đến dòng vốn quốc tế và khả năng của NHTW trong việc kiểm soát luồng ngoại tệ, nếu chính sách thu chingân sách không hợp lý thì sẽ tác động tiêu cực đến hiệu quả phân bổ nguồn lực và làm tăng rủi ro liên quan đến dòng vốn quốctế
CSTT tác động đến CSTK tùy theo mức độ điều chỉnh các công cụ CSTT, một CSTT thắt chặt sẽ làm giảm đầu tư, khả năng thuthuế và nguồn thu ngân sách, một sự giảm giá nội tệ sẽ làm gia tăng khoản nợ Chính phủ bằng ngoại tệ qui đổi, nếu NHTW điềuchỉnh tăng lãi suất thì giá trái phiếu Chính phủ sẽ giảm và ảnh hưởng đến khả năng cân đối ngân sách
Các khoản thu chi của Chính phủ được phản ánh rõ qua các giao dịch trên tài khoản kho bạc mở tại NHTW hoặc các NHTM, tiềngửi kho bạc tăng cao sẽ làm giảm nguồn vốn khả dụng của các NHTM, qua đó làm tăng lãi suất liên ngân hàng Tiền gửi củaChính phủ tại NHTW chiếm tỉ trọng lớn trong tiền cơ bản, nên cũng là yếu tố quan trọng làm thay đổi tổng phương tiện thanhtoán trong nền kinh tế, việc chuyển tiền hai chiều trên tài khoản của Chính phủ tại NHTW sẽ gây biến động đến tiền cơ bản Đây
là những yếu tố gây áp lực đến việc kiểm soát cung tiền và thực thi CSTT, việc kiểm soát cung tiền và lãi suất sẽ khó khăn hơnnếu một phần tiền gửi kho bạc được gửi tại các NHTM
Để hạn chế những tác động bất lợi giữa CSTK và CSTT, cả hai chính sách này phải nhất quán về mặt mục tiêu, phải tạo ra sựđồng bộ và bổ sung cho nhau trong quá trình thực thi Khi bù đắp thâm hụt ngân sách, Bộ Tài chính có thể phát hành trái phiếuChính phủ và NHTW mua vào, tạo thêm công cụ để điều tiết thị trường tiền tệ Trong quá trình thực thi CSTK, việc tài trợ thâmhụt và các khoản thu chi lớn của Chính phủ phải có kế hoạch và được thông báo trước cho NHTW, giúp NHTW dự báo đượcdiễn biến cung tiền để kịp thời điều chỉnh theo mục tiêu đề ra và đảm bảo hiệu quả của CSTT
Mối quan hệ giữa CSTT và CSTK cũng được chứng minh qua mô hình IS-LM Theo mô hình này, tăng chi tiêu của Chính phủ cótác động làm tăng cung tiền, làm giảm lãi suất trên thị trường tiền tệ Ngược lại, tăng thu thuế có tác động làm tăng lãi suất vì khi
đó cung tiền giảm Mô hình IS-LM giúp các nhà hoạch định chính sách điều chỉnh CSTT và CSTK, để có tác động thích hợp lêntổng cầu và lãi suất trong nền kinh tế Bên cạnh đó, mô hình Timbergen của nhà kinh tế học cùng tên người Hà Lan có thể giúpcác nhà hoạch định chính sách kinh tế vĩ mô tìm kiếm được sự phối hợp hiệu quả giữa CSTT và CSTK
2 Thực trạng phối hợp CSTT và CSTK tại Việt Nam
Tại Việt Nam, việc phối hợp CSTT và CSTK đã có những chuyển biến tích cực, nhất là trong việc chỉ đạo điều hành giữa Ngânhàng Nhà nước Việt Nam (NHNN) và Bộ Tài chính, có sự phối hợp trong việc phát hành tín phiếu kho bạc, xác định lãi suất pháthành trái phiếu Chính phủ, Luật NHNN cũng đã qui định là không phát hành tiền để bù đắp thâm hụt ngân sách, tiền gửi kho bạcphải gửi tại NHNN Hàng năm, Quốc hội thông qua các chỉ tiêu kinh tế vĩ mô chủ yếu và khống chế mức thâm hụt ngân sáchtrong tỉ lệ nhất định, việc chỉ đạo điều hành của Chính phủ cũng đảm bảo sự nhất quán giữa mục tiêu CSTT và CSTK
Tuy nhiên, trong chừng mực nào đó, còn thiếu sự phối hợp trong quá trình điều hành hai chính sách này, chưa có sự nhất quángiữa việc xác định lãi suất trái phiếu Chính phủ với chính sách lãi suất của NHNN Bên cạnh đó, NHNN cũng không nắm đượccác khoản thu chi lớn của ngân sách nhà nước, nên bị động trong việc kiểm soát cung tiền trước tác động của các dòng tiền trongkhu vực Chính phủ
Từ cuối năm 2007, kinh tế thế giới biến động mạnh và bước vào thời kỳ suy thoái, gây ra những bất ổn khó lường đối với nềnkinh tế Việt Nam, thị trường tài chính trong nước chao đảo mạnh, đe dọa tính thanh khoản của hệ thống ngân hàng, lãi suất và tỉgiá biến động mạnh, lạm phát liên tục leo thang Để ổn định thị trường, NHNN, Bộ Tài chính và các bộ, ngành đã có nhiều biệnpháp can thiệp quyết liệt, kịp thời và có hiệu quả, từng bước giải quyết các vấn đề phát sinh
Từ tháng 6/2007 đến tháng 9/2008, NHNN đã thực hiện chính sách tiền tệ thắt chặt để chống lạm phát, nhưng CSTK vẫn duy trìmức bội chi như thường lệ, nỗ lực chống lạm phát vì thế không đạt được hiệu quả như mong đợi, mặc dù nguy cơ khủng hoảng bịđẩy lùi Nói đúng hơn, trong khi CSTT thắt chặt thì CSTK lại nới lỏng, khiến áp lực lạm phát và lãi suất tăng Khi đó, CSTK mớibắt đầu điều chỉnh theo hướng giảm tỉ lệ thâm hụt xuống dưới 3% GDP, cắt giảm 10% chi thường xuyên, v.v
Từ tháng 10/2008 đến nay, Chính phủ chủ trương nới lỏng CSTT và CSTK để hỗ trợ phục hồi kinh tế sau khủng hoảng Đối vớiCSTT, NHNN đã điều chỉnh giảm lãi suất cơ bản để giảm mặt bằng lãi suất cho vay, đồng thời tăng cường nguồn vốn huy động,đáp ứng nhu cầu mở rộng tín dụng trong nền kinh tế Đối với CSTK, Chính phủ đã ban hành Nghị quyết số 30/NQ-CP ngày11/12/2008 về những giải pháp cấp bách nhằm ngăn chặn suy giảm kinh tế, bảo đảm an sinh xã hội, bao gồm 5 nhóm giải pháp
cơ bản, trong đó kích cầu kinh tế là một trong những giải pháp ưu tiên hàng đầu Bên cạnh khoản 36.000 tỉ đồng trái phiếu Chínhphủ và hàng loạt chính sách an sinh xã hội và phát triển hạ tầng nông thôn, miễn giảm một số loại thuế, hoãn thu hồi vốn đầu tư
Trang 7xây dựng cơ bản ứng trước 2009, phát hành trái phiếu Chính phủ bổ sung, … Chính phủ đã dùng 1 tỉ USD từ dự trữ ngoại hốiquốc gia để hỗ trợ giảm 4% lãi suất (thời hạn 8 tháng) và 20.000 tỉ đồng (thời hạn 24 tháng).
Về vấn đề kích cầu, NHNN đã thực hiện đúng nguyên tắc với nhiều giải pháp thích hợp nhằm hướng các khoản vay đúng đốitượng, kiểm soát chặt chẽ việc cho vay hỗ trợ lãi suất và hạn chế rủi ro hệ thống Nhờ đó, các tổ chức, cá nhân đã tiếp cận đượcvốn ngân hàng với chi phí thấp, giảm giá thành sản phẩm, duy trì sản xuất kinh doanh và việc làm, từng bước khắc phục khókhăn do ảnh hưởng của khủng hoảng kinh tế thế giới Tính đến ngày 26/11/2009, tổng dư nợ cho vay hỗ trợ lãi suất là 415.886,92
tỉ đồng
Tuy nhiên, với mức thâm hụt ngân sách khá cao để nới lỏng CSTT và CSTK, nguồn vốn trong nền kinh tế dường như đã bị cạnkiệt, có thể ảnh hưởng đến giá trị VND và gây áp lực tăng lãi suất, nhiều ngân hàng đã tăng lãi suất huy động đến sát trần quiđịnh 10%, nhất là từ cuối tháng 10/2009, buộc NHNN phải quyết định tăng lãi suất cơ bản từ 7% lên 8%, bắt đầu có hiệu lực từtháng 12/2009
Thực trạng CSTT và CSTK thời gian qua cho thấy, mặc dù hai chính sách này đã được tận dụng tối đa và phối hợp khá chặt chẽ,nhưng giới hạn chính sách đang cản trở những tác động tích cực và làm nảy sinh nhiều hệ lụy cho thời gian tới Điều này cũng doCSTT linh hoạt hơn so với CSTK, việc thay đổi lượng tiền cung ứng sẽ làm thay đổi mức lãi suất và NHTW có thể tác động đếnđầu tư, xuất khẩu ròng và tiêu dùng trong ngắn hạn Trong đó, NHNN có thể sử dụng CSTT để điều chỉnh mức lạm phát, gây tácđộng lên năng suất lao động và tăng trưởng GDP tiềm năng trong dài hạn Tuy nhiên, rất khó thay đổi CSTK do Chính phủ lập kếhoạch chi tiêu, thuế và thâm hụt ngân sách, kế hoạch ngân sách hàng năm do Quốc hội thông qua, điều này tạo ra sự lệch pha sovới CSTT
Trong điều kiện Việt Nam, áp lực đối với ngân sách nhà nước tồn tại thường xuyên và có xu hướng tăng, cơ cấu và hiệu quả cũngnhư khả năng kiểm soát chi tiêu ngân sách nhà nước thể hiện các dấu hiệu thiếu bền vững do các khoản chi tiêu ngân sách khôngtạo ra nguồn thu trong tương lai, thậm chí gây sức ép cho chuỗi bội chi mới Gói kích cầu trong thời gian qua đã có tác dụng loạitrừ nguy cơ đổ vỡ dây chuyền trong khu vực doanh nghiệp và nền kinh tế không bị rơi vào suy thoái trầm trọng, nhưng xu hướng
mở rộng chi tiêu công và các biện pháp nới lỏng kiểm soát tiền tệ kéo dài đang gặp phải cản trở lớn là hiệu quả đầu tư quá thấpvới bằng chứng là chỉ số ICOR năm 2008 đã lên con số 8 Trên thực tế, nền kinh tế đứng trước nguy cơ của vòng xoáy lạm phát,nếu cứ tiếp tục kích cầu và thực hiện gói kích cầu thứ hai mà không có giải pháp dài hạn để đảm bảo hiệu quả sử dụng vốn đầu
tư, đảm bảo nguồn trả nợ trong tương lai
Câu 2: Phân tích hiện tượng ‘chèn lấn’ các khoản vay của chính phủ đối với đầu tư và xuất khẩu của khu vực tư Nêu các giải pháp khắc phục hiện tượng này.
Trong kinh tế học, hiện tượng chèn lấn (đầu tư) xảy ra khi chính phủ mở rộng việc vay mượn để tài trợ chi tiêu hoặc để bù đắp
việc cắt giảm thuế vượt doanh thu (tức là có hiện tượng thâm hụt chi tiêu), dẫn tới mức lãi suất cao hơn, và kết quả là làm đầu tư
ở khu vực tư nhân bị sụt giảm
Để vay được tiền chính phủ phải đa dạng hoá các hình thức vay như phát hành trái phiếu, tín phiếu, công trái Đồng thời phảithực hiện nhiều biện pháp để tăng mức độ hấp dẫn người cho vay như tăng lãi suất, mở rộng ưu đãi về thuế thu nhập ngoài racòn phải triển khai các biện pháp khác, kể cả tuyên truyền, vận động để huy động tối đa nguồn tiền trong dân cư nhằm hoànthành kế hoạch vay đã định
Tuy nhiên, tổng lượng tiền mà nhân dân và các đơn vị có thể có để cho chính phủ vay bị giới hạn trong tổng lượng tiết kiệm của
xã hội Nếu chính phủ huy động được nhiều thì đương nhiên phần tiền còn lại dành cho đầu tư phát triển sản xuất kinh doanh ởkhu vực ngoài quốc doanh sẽ giảm đi
Như vậy, chưa biết chính phủ sẽ làm gì, làm như thế nào đối với lượng tiền huy động được, nhưng xã hội hay trực tiếp hơn là khuvực các doanh nghiệp và dân cư đó sẽ mất đi một nguồn vốn tương ứng có khả năng dành cho đầu tư phát triển kinh tế Nếu cácbiện pháp thu hút tiền vay của chính phủ và của ngân hàng càng có lãi suất cao thì càng tạo ra luồng tiền vốn dịch chuyển từ cáckhu vực doanh nghiệp và dân cư sang hệ thống tài chính ngân hàng mà không chảy vào sản xuất kinh doanh
Trang 8Do vậy, vay trong nước để bù đắp thâm hụt ngân sách luôn luôn chứa đựng nguy cơ kìm hãm các hoạt động sản xuất kinh doanhcủa nền kinh tế Mục tiêu chấn hưng kinh tế của chính phủ thông qua con đường phát hành trái phiếu, tín phiếu bị chính bảnthân giải pháp này cản trở ngay từ nguồn gốc.
Chính vì thế, trong thời kỳ kinh tế đình đốn, hầu như các nước đều tránh các biện pháp có nguy cơ làm giảm khẳ năng tự đầu tư của các thành phần kinh tế, kể cả doanh nghiệp quốc doanh, ngoài quốc doanh và các tầng lớp dân cư Biện pháp tài trợ thâm hụt ngân sách này chỉ nên thực hiện trong trường hợp nền kinh tế là cường thịnh Nếu ta tài trợ thâm hụt ngân sách bằng cách phát hành trái phiếu, thì trái phiếu sẽ tạo ra cho công dân trách nhiệm nộp thêm thuế trong tương lai để trang trải lãi về các trái phiếu đấy.
Về nguyên tắc, tháo lui đầu tư, có thể tránh được nếu thâm hụt ngân sách được tài trợ bằng phát hành tiền, nhưng biện pháp này lại nhanh chóng dẫn tới lạm phát tăng cao.
- Thoái lui cũng có thể xảy ra do chế độ tỷ giá hối đoái thả nổi Vay mượn chính phủ dẫn tới lãi suất cao làm các dòng vốn nước ngoài chảy vào trong nước (tức là tiền nước ngoài tập trung vào những tài sản phát hành bằng nội tệ) Dưới chế độ tỷ giá hối đoái thả nổi, việc lưu chuyển dòng vốn này dẫn tới giá đồng nội tệ tăng cao (hay tỷ giá hối đoái giảm) và vì vậy sẽ gây ra thoái lui xuất khẩu (hàng nội địa trở nên đắt đỏ hơn đối với người sử dụng đồng tiền nước ngoài) Tác động này ngược chiều với tác động kích cầu của thâm hụt ngân sách, nhưng không có tác động ngược chiều rõ ràng nào tới sự tăng trưởng kinh tế trong dài hạn.
- Thoái lui trầm trọng nhất khi một nền kinh tế đã gần đạt tới mức toàn dụng Lúc đó, chính sách mở rộng bằng thâm hụt ngân sách của chính phủ chỉ dẫn tới giá cả tăng, và cầu tiền tăng Tác động này lại làm lãi suất tăng cao hơn và làm giảm mong muốn đầu tư Ở mức toàn dụng, các doanh nghiệp không còn thị trường vì vậy tác động tăng tốc là không có Trực tiếp hơn, nếu nền kinh tế toàn dụng, bất cứ sự gia tăng nào của chi tiêu chính phủ chỉ làm các nguồn lực rời khỏi khu vực tư nhân mà thôi
Việc tài trợ chi tiêu có thể được thực hiện thông qua phát hành TP (vay nợ) trong nước Biện pháp tài trợ này có thể chia thành vay nợ từ công chúng hoặc từ hệ thống các NHTM.
Vay nợ từ công chúng huy động với lãi xuất cao còn làm tăng các khoản trả lãi thêm hàng chục ngàn tỷ đồng/ năm trong tương lai và làm trầm trọng thêm vấn đề thâm hụt ngân sách.
Nếu chính phủ vay nợ hệ thống ngân hàng thương sẽ gây sức ép đối với dự trữ của các NHTM và các NHTM sẽ đòi hỏi trợ giúp
về khả năng thanh khoản từ NHNN Nếu những đòi hỏi này được NHNN đáp ứng, cơ sở tiền sẽ tăng làm lạm phát sẽ quay trở lại Tuy nhiên, nếu NHNN không đáp ứng những đòi hỏi về tính thanh khoản này, các NHTM buộc phải giảm các nguồn tín dụng cho khu vực DNTN và lao vào một cuộc cạnh tranh lãi suất huy động Trong kinh tế học, hiện tượng này được biết đến với cái tên lấn
át đầu tư – tức là chi tiêu CP cuối cùng sẽ lấn át đầu tư của khu vự tư nhân Việc vay nợ sẽ đẩy lãi suất lên cao và gây khó khăn thêm cho các DNTN và không thúc đẩy được tăng trưởng kinh tế.
Vấn đề của Việt Nam khi tác nhân chính đóng góp làm tăng tổng cầu chính là chi tiêu ngân sách của Chính phủ Để tăng trưởng kinh tế thì cách dễ dàng nhất là tăng chi tiêu chính phủ Tình trạng thâm hụt ngân sách vẫn cứ tiếp diễn năm này qua tháng khác
là một minh chứng cho vấn đề này Khi chi tiêu chính phủ tăng lên sẽ đóng góp chủ động làm tăng tổng cầu, từ đó cũng làm tăng cầu tiền tệ Cầu tiền tệ tăng lên, tất yếu tạo áp lực tăng lãi suất, trừ khi cung tiền cũng tăng theo Khi đó, khu vực tư nhân buộc phải cắt giảm bớt đầu tư và nhập siêu cũng phải tăng lên để phản ứng bị động trước sự gia tăng của tổng cầu do chi tiêu ngân sách chèn lấn Do bị chen lấn tín dụng như vậy nên doanh nghiệp tư nhân luôn bị đói vốn và phải chấp nhận vay vốn với lãi suất quá cao, có thời điểm lên tới 20 – 22% Đây là một trong những nguyên nhân dẫn tới tình trạng phá sản hàng loạt của các doanh nghiệp tư nhân
Như vậy khu vực tư nhân phải chịu hy sinh cho sự bành trướng của chính sách tài khoá và nền kinh tế phải gánh chịu những hậu quả của tình trạng thâm hụt kép từ cán cân ngân sách và cán cân thương mại Không những chỉ có áp lực về lạm phát và lãi suất
mà hệ quả của nó còn là các căng thẳng ngoại tệ, áp lực tỷ giá và sự suy giảm dự trữ ngoại hối quốc gia.
Giải pháp:
Để khắc phục chèn lấn, yêu cầu các dự án đầu tư của Chính phủ phải có hiệu quả để thu hút lại sự đầu tư của khu vực tư
Chính phủ và nhất là các doanh nghiệp nhà nước kém hiệu quả phải cắt giảm mạnh đầu tư của mình, phân bổ vốn đầu tư công saocho hợp lý (ví dụ, theo hướng tăng cường phát triển nguồn nhân lực bằng cách đầu tư vào y tế, giáo dục, nghiên cứu khoa học),giám sát tốt quá trình đầu tư, nâng cao hiệu quả quản lý và vận hành khối DNNN Theo hướng này thì tổng cầu nhanh chónggiảm (vì phía tổng cung đang có xu hướng giảm) và kết quả mong đợi là lạm phát sẽ giảm và lãi suất cũng giảm theo Khi đó khuvực tư nhân tiếp tục đầu tư các dự án có năng suất của họ và khởi đầu lại một chu kỳ kinh tế mới Chỉ có như vậy thì sự đánh đổigiữa lạm phát và tăng trưởng mới có thể giảm thiểu
Tuy nhiên, hiện tượng chèn lấn đầu tư có thể giảm bớt tính nghiêm trọng nếu chính phủ chi tiêu mở rộng thị trường cho các sản
phẩm ở khu vực tư nhân, và vì thế kích thích đầu tư trở lại (tác động gia tốc kinh tế) Tác động này quan trọng nhất khi các doanh
nghiệp đang trong tình trạng dư thừa năng lực, tức là nền kinh tế đang trong thời kỳ suy thoái kinh tế
Câu 3: Trình bày nội dung cải cách hệ thống ngân hàng theo hướng tự do hóa tài chính.
Thực hiện tựdo hoá tài chính trong lĩnh lực ngân hàng
1.4.1.1 Tựdo hoá lãi suất
Trang 9Tựdo hoá lãi suất là cơchếlãi suất trong đó có rất ít hoặc không có sựcan thiệp của các cơquan chức năng vào việc hình thành lãisuất mà lãi suất được hình thành trên cơsởthịtrường, vận động theo qui luật cung cầu
Tựdo hoá lãi suất được hiểu là lãi suất hoàn toàn được điều chỉnh theo yêu cầu của thịtrường Sựcan thiệp của NHTƯ đối với lãisuất thịtrường được điều hành thông qua các công cụgián tiếp nhưlãi suất tái chiết khấu hay tái cấp vốn đểtác động lên cung cầuvốn trên thịtrường tiền tệnhằm xác lập mức lãi suất cân bằng Nhưvậy tựdo hoá lãi suất có thể được hiểu là việc tháo bỏhoàn toàncác ràng buộc vềlãi suất trong nền kinh tế, cho phép lãi suất trong nền kinh tế đạt tới điểm cân bằng của nó Thực chất của tựdohoá lãi suất là một quá trình loại bỏcác quy phạm, giới hạn bất hợp lý, loại bỏtối đa các kiểm soát vềlãi suất trong kinh doanh tiềntệcủa khu vực trung gian tài chính và thay thếbằng các biện pháp điều tiết lãi suất gián tiếp của NHTƯthông qua các công cụcủachính sách tiền tệ: trong điều hành chính sách lãi suất, NHTƯchỉcông bốcác mức lãi suất áp dụng đối với các khoản cho vay táichiết khấu hoặc tái cấp vốn của mình đối với các tổchức tín dụng Các mức lãi suất tiền gửi, cho vay cụthểtheo từng thời kỳ, từngđối tượng của các tổchức tín dụng đối với nền kinh tếsẽdo tổchức tín dụng tự ấn định, dựa trên cung cầu vốn và sựcạnh tranh trênthịtrường, từ đó hình thành nên mức lãi suất phản ánh đúng nhu cầu thịtrường Khi muốn điều hành lãi suất kinh doanh của cáctổchức tín dụng trong nền kinh tế, phù hợp với mục tiêu của chính sách tiền tệtừng giai đoạn, NHTƯsẽthực hiện thông qua điềuhành lãi suất tái chiết khấu của mình đốivới các tổchức tín dụng, từ đó tác động đến lãi suất trên thịtrường tiền tệliên ngân hàng vàcuối cùng sẽtác động đến lãi suất kinh doanh của các tổchức tín dụng
Tựdo hóa lãi suất góp phần làm cho các dòng vốn trong xã hội được tựdo lưu chuyển đến bất kỳ đâu, tùy thuộc vào ý muốn củanhà đầu tưmà không phải gặp bất cứsựngăn cản phi kinh tếnào Lãi suất khi đó tự điều chỉnh linh hoạt và nhạy cảm, phản ánh nhucầu đòi hỏi của thịtrường Nhờcó quá trình tựdo hóa lãi suất mà dòng vốn được lưu chuyển từnơi có lợi nhuận thấp đến nơi có lợinhuận cao, từnơi nhiều rủi ro đến nơi mức rủi ro thấp hơn, từ đó thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, tạo điều kiện ổn định kinh tếvĩmô,tăng vốn đầu tưphát triển sản xuất, giúp các doanh nghiệp thuộc mọi thành phần kinh tếphát triển mạnh và có hiệu quả
Lãi suất nếu chưa được tựdo hóa và vẫn bịkiểm soát chặt chẽtrong thời gian dài sẽgây ra những thiệt hại tổng thểcho nền kinh tế.Trong trường hợp các ngân hàng buộc phải thực hiện cho vay với lãi suất thấp hơn lãi suất thịtrường dưới một sức ép nào đó vàphải huy động với lãi suất cao thì chênh lệch lãi suất đầu vào và lãi suất đầu ra sẽkhông đảm bảo bù đắp chi phí hoạt động củangân hàng, nhưthếcác tổchức tín dụng sẽkhông phát triển Mặt khác, khi phải cho vay với lãi suất thấp và huy động vốn với lãisuất thấp để đảm bảo đủbù đắp chi phí, lãi suất thấp sẽkhông khuyến khích người dân duy trì nguồn vốn tiết kiệm của mình ởtrongnước từ đó dẫn đến kìm hãm sựtăng trưởng các khoản tiết kiệm và giảm hiệu quảcủa đầu tư
Khi kiểm soát lãi suất quá chặt chẽ sẽ khuyến khích sựhình thành các công cụtài chính và các trung gian tài chính không chínhthức phát triển đểcạnh tranh với các công cụtài chính và các trung gian tài chính chính thức bịkiểm soát làm cho quá trình phitrung gian tài chính phát triển và sựtrốn tránh các quy chếkiểm soát
Thực tiễn cho thấy, trong quá trình điều hành nền kinh tế, nhiều quốc gia đặt ra mức trần lãi suất cho vay nhằm kiểm soát cảlãisuất tiền gửi và lãi suất cho vay nghĩa là không tựdo hóa lãi suất dẫn đến hậu quảthịtrường tài chính không ổn định và không pháthuy được tính năng động sáng tạo, không ổn định làm cho hiệu quảtrong việc huy động vốn và sửdụng vốn không cao và nhất làkhông khơi dậy được nguồn vốn tiềmnăng của dân cư đầu tưcho sản xuất Nhà nước điều hành thịtrường song chính sách lại táchrời khỏi các thuộc tính của kinh tếthịtrường tất yếu không mang lại hiệu quả
Tiến trình tựdo hóa lãi suất ngoài những tác động tích cực còn có những tác động tiêu cực, ảnh hưởng đến nhiều mặt của nền kinh
tế Nhưng đứng trước bối cảnh hội nhập, các nước cần phải tựdo hóa lãi suất, vấn đềlà các nước nên chọn cách đi nào cho phù hợpvới nền kinh tếthịtrường hiện nay và phải làm thếnào đểcó thểtận dụng và phát huy tối đa những mặt tích cực mà tựdo hóa lãi suấtmang lại cũng nhưhạn chếđược tối đa những tác động xấu của cơchếnày Tựdo hoá lãi suất được coi là hạt nhân, là vấn đềcốt lõicủa tựdo hoá tài chính trong lĩnh vực ngân hàng, bởi nhờnó mà làm cho các luồng tài chính vận động một cách thông suốt Tự dohoá lãi suất là một xu thế khách quan trong quá trình hội nhập Mức độtựdo hoá lãi suất càng sâu rộng bao nhiêu thì hội nhập quốctếvềngân hàng càng nhanh chóng bấy nhiêu
Để tự do hoá lãi suất, cần có những điều kiện sau:
Một là,hành lang pháp lý cho hoạt động kinh tếtài chính đã tương đối đồng bộvà hoàn chỉnh
Hai là,thịtrường tài chính gồm thịtrường tiền tệvà TTCK đã ra đời và vận hành hiệu quả
Ba là,các tổchức kinh tế đều đảm bảo khảnăng sửdụng vốn triệt đểvà có hiệu quả
Bốn là,môi trường kinh tếvĩmô đã ổn định và tương đối chắc chắn
Năm là,hệthống ngân hàng ổn định và hoạt động hữu hiệu
Sáu là,các ngưồn lực trong nước nhưvốn, tài nguyên, lao động … đã được phân phối và sửdụng tương đối hợp lý
1.4.1.2 Tựdo hoá cơchếtín dụng
Tựdo hoá cơchếtín dụng là tôn trọng các điều kiện khách quan trong hoạt động tín dụng Tựdo hóa tín dụng đòi hỏi phải xóabỏcác hạn chế, định hướng hay ràng buộc vềsốlượng trong quá trình cung cấp cũng nhưphân phối tín dụng nhằm nâng cao hiệuquảcủa hoạt động tín dụng cho mọi thành phần kinh tế
Một biểu hiện cụthểcủa việc định hướng tín dụng là Ngân hàng Nhà nước yêu cầu các ngân hàng thương mại quốc doanh mởcáctài khoản cho vay theo chỉ định của Chính phủhay dùng NSNN bao cấp cho một sốhoạt động kinh tế, xã hội đã không tính đếnhiệu quảsửdụng đồng vốn
Trang 10Nội dung tựdo hóa hoạt động tín dụng không có nghĩa là hoàn toàn hạthấp vai trò của Chính phủ Ởcác nước đang phát triển,đểduy trì tỉlệcần thiết quan trọng trong tín dụng cho nền kinh tếtheo sựchỉ định của Chính phủ, Chính phủcó thểcan thiệp vàocơcấu đầu tưcũng nhưbảo đảm sựlành mạnh của các trung gian tài chính Tuy nhiên tựdo hóa tín dụng, thừa nhận vai trò chính,song không đồng nhất với sựcan thiệp quá sâu của Chính phủvì hậu quảcủa nó có thểdẫn đến thịtrường tài chính bịbóp méo, hiệuquảsửdụng các nguồn lực tài chính không cao, thậm chí lãng phí
Như đã phân tích trên, tựdo hóa tín dụng không có nghĩa là Chính phủhoàn toàn không còn vai trò đối với việc sửdụng các nguồnlực tài chính, đểmặc cho thịtrường tựđiều chỉnh Nếu vậy sẽdẫn đến đầu tưsai lệch, các nguồn vốn được tập trung nhiều vào lĩnhvực đang sinh lợi, còn các lĩnh vực khác thì thiếu vốn do khảnăng sinh lời thấp hay thiếu hấp dẫn thu hồi vốn chậm, nhất là nhữngngành đóng vai trò quan trọng đối với sựphát triển của nền kinh tế, liên quan đến lợi ích cho quốc kếdân sinh, lợi ích công cộng Tựdo hóa các hoạt động tín dụng không có nghĩa là hoàn toàn tựdo mà cần thiết phải có vai trò của Chính phủ Tuy nhiên vai trò
đó chỉthểhiện ởnhững dựán lớn theo định hướng phát triển kinh tếcủa quốc gia Nhà nước không nên can thiệp quá sâu vào lĩnhvực phân phối tín dụng nhằm tạo điều kiện đểcác dòng vốn tìm đến nơi cần, theo nguyên tắc chịu trách nhiệm hoàn toàn đối vớiphần vốn nhận được, bảo đảm khảnăng thu hồi và có lãi
Nội dung của tựdo hoá cơchếtín dụng: Một là, bãi bỏhoàn toàn việc ấn định hạn mức tín dụng và các tỷlệcó liên quan Hai là, xoábỏbao cấp trong hoạt động tín dụng Ba là, mởrộng tín dụng cho mọi thành phần kinh tế đểtận dụng các nguồn lực đang có và tiềm
ẩn trong nền kinh tế Bốn là, xoá bỏnhững ràng buộc của hệthống ngân hàng trong hoạt động tín dụng, nâng cao tính tựchịu tráchnhiệm và tính tựchủ, tạo môi trường thông thoáng cho việc cung ứng vốn cho nền kinh tế
1.4.1.3 Tựdo hoá tỷgiá hối đoái
Tựdo hoá tỷgiá hối đoái là đểcho diễn biến tỷgiá hối đoái trên thịtrường biến động dưới tác động của quan hệcung cầu là chủyếu,cơquan quản l ý Nhà nước tránh sựcan thiệp trực tiếp và thái quá Xu hướng toàn cầu hoá đang diễn ra rất nhanh chóng
Việc giao lưu, thông thương hàng hoá giữa các nước ngày một gia tăng Tỷgiá hối đoái là một trong những nhân tố ảnh hưởngmạnh mẽvà trực tiếp đến hoạt động đó Vì vậy, yêu cầu các quốc gia dần phải từbỏcách kiểm soát quá chặt chẽtỷgiá, đưa đồng bảntệcó khảnăng chuyển đổi cao Khi Chính phủvà NHTƯtừbỏviệc can thiệp của mình và đểcho tỷgiá được tựdo xác định trênthịtrường thì nước đó đang theo đuổi chính sách tỷgiá tựdo Vì vậy, tựdo hoá tỷgiá là một quá trình tiến tới cho phép tỷgiá đượctựxác định trên thịtrường
Tựdo hoá tỷgiá hối đoái bao gồm những nội dung chính sau: Thứnhất, bãi bỏtỷgiá cố định với việc công bốtỷgiá chính thức.Thứhai, nới lỏng biên độgiao dịch và tiến tới xoá bỏbiên độgiao dịch tỷgiá trong hoạt động kinh doanh của NHTM Thứba,đểchotỷgiá biến động theo tương quan cung cầu trên thịtrường và chỉcan thiệp có giới hạn khi xét thấy cần thiết
Tựdo hoá tỷgiá cũng tiềm ẩn trong đó những bất ổn nhất là đối với những nền kinh tế đang phát triển Chẳng hạn nhưtỷgiá caoảnh hưởng tới việc nhập khẩu, tỷgiá thấp ảnh hưởng tới xuất khẩu … bên cạnh đó còn các vấn đềkinh tếkhác sẽcó những diễn biếnxấu khi tỷgiá thay đổi quá đột ngột nhưtỷlệlạm phát, lượng cung cầu ngoại tệ Vì vậy, không một cơchếcủa quốc gia nào vềtỷgiálại thảnổi hoàn toàn, vì nhưvậy, vai trò điều tiết vĩmô của Nhà nước sẽbịtriệt tiêu Chính vì vậy, hầu hết các nước áp dụngcơchếtựdo hoá tài chính, thì tỷgiá cũng sẽ được thảnổi nhưng có quản lý, nghĩa là không thảnổi hoàn toàn
Đểthực hiện tựdo hoá tỷgiá hối đoái phải có một số điều kiện nhất định: Một là,thịtrường hối đoái phải được hình thành trước vàhoạt động trôi chảy Hai là,lưu thông tiền tệtrong nước tương đối ổn định và được kiểm soát tốt Ba là,hoạt động kinh tếtài chínhđối ngoại phải tương đối ổn định Bốn là,dựtrữngoại hối phải đủlớn, cán cân vãng lai thặng dưvà tương đối ổn định Nămlà,hệthống ngân hàng trong nền kinh tếhoạt động hiệu quảvà ổn định
1.4.1.4 Tựdo hoá quản lý ngoại hối và các luồng vốn quốc tế
Tự do hoá quản lý ngoại hối và các luồng vốn quốc tế đó là làm cho các nguồn vốn nước ngoài và trong nước tựdo luân chuyển,tạo sựhấp thụcó hiệu quảcác nguồn vốn từbên ngoài đểphát triển kinh tế, bên cạnh đó mởrộng giao lưu kinh tếthương mại với cácnước trên thếgiới, đặc biệt là trong lĩnh vực tài chính - ngân hàng
Nguồn lực tài chính cho phát triển kinh tế không chỉhuy động từnội bộmỗi quốc gia mà còn từbên ngoài từcác mối quan hệsongphương và đa phương với các nước khác Quan hệngoại thương là cần thiết và tất yếu khách quan nhất là trong bối cảnh hiện naycác quốc gia đều có xu hướng tham gia vào các khối tựdo thương mại và mậu dịch thì tựdo hoá hoạt động ngoại hối sẽgiúp choquan hệthương mại diễn ra thuận lợi và nhanh chóng hơn
Với xu thếvận động và phát triển của nền kinh tếthếgiới, chúng ta đang từng bước hội nhập nền kinh tếthếgiới, theo tinh thầnNghịquyết Đại hội Đảng toàn quốc lần thứVIII [49]: “xây dựng một nền kinh tếmở”, “ đẩy nhanh quá trình hội nhập kinh tếkhuvực và thếgiới” Không nước nào đứng một mình có thểphát triển một cách thuận lợi được trong thời đại ngày nay Vấn đề đặt ra
là ởchỗ: “làm sao đểhoà nhập nhưng không hoà tan”
Xu thếchung của các quốc gia trên thếgiới đang mởcửa biên giới, bãi bỏcác rào cản mậu dịch và nới lỏng dần các biện pháp kiểmsoát tài chính đểhội nhập toàn cầu nếu không muốn tụt hậu, đứng bên lềcuộc chạy đua tăng trưởng kinh tế Trao đổi giao lưu kinhtếhàng hoá đang ngày càng được mởrộng, thông thoáng và tất yếu là cùng với nó dòng vốn cũng lưu chuyển mạnh mẽhơn ởphạm
vi quốc gia và quốc tế
Với vịtrí quan trọng của các nguồn lực tài chính, lĩnh vực ngân hàng giữvai trò huyết mạch của nền kinh tế, thông qua các chínhsách và công cụ để điều hành nền kinh tế Đểhội nhập thành công, chúng ta cần tạo ra hành lang pháp lý trên cơsởtôn trọng các
Trang 11qui luật kinh tếkhách quan của thịtrường, tạo điều kiện cho các chủthểtrên thịtrường có thểtựdo quyết định việc hình thành vàsửdụng các nguồn lực tài chính theo tín hiệu thịtrường
Tham khảo
Ngày nay trong sự phát triển và hội nhập nhanh chóng nền kinh tế của các quốc gia trên thế giới đã cho thấy sự tăng trưởng kinh
tế nhanh hay chậm hoặc suy thoái đều phụ thuộc rất nhiều vào chính sách cũng như cơ cấu của hệ thống tài chính mỗi quốc gia.
Xu hướng được nhiều quốc gia trên thế giới lựa chọn thực hiện là tiến hành tự do hóa tài chính.
Việc tự do hóa tài chính bao gồm các nội dung cơ bản như xóa bỏ các hạn chế, định hướng hay ràng buộc về số lượng trong quá trình cấp và phân phối tín dụng, chấm dứt các kênh cấp vốn ưu đãi, các định chế tài chính có quyền tự do xác định các lãi suất tiền gửi, cho vay và tự do sử dụng công cụ lãi suất, mở rộng cạnh tranh trong các hoạt động trung gian tài chính, chấm dứt những phân biệt đối xử về pháp lý giữa các lọai hình sở hữu và hoạt động khác nhau và tự do hóa các luồng vốn quốc tế Khi tự
do hóa tài chính các dòng vốn được tự do lưu chuyển từ nơi có hiệu suất sinh lợi thấp sang nơi có hiệu suất sinh lợi cao mà không bị ngăn cản bởi các qui định phi kinh tế.
Trong môi trường quốc tế hóa một cách mạnh mẽ về mọi mặt như hiện nay, VN cũng không thể đứng ngoài tiến trình toàn cầu hóa, để hội nhập vào xu hướng chung này VN cần từng bước thực hiện tự do hóa trên nhiều phương diện trong đó tự do hóa tài chính có ảnh hưởng rất quan trọng đến sự phát triển của kinh tế đất nước.
1 Hệ thống ngân hàng VN trong tiến trình thực hiện chính sách tự do hóa tài chính
Hệ thống ngân hàng VN là trung tâm tài chính cốt lõi của nền kinh tế quốc gia, nó là trọng tâm của việc thực thi các chính sách tài chính tiền tệ của nhà nước, nhìn vào thực trạng hoạt động của hệ thống ngân hàng, ta có thể đánh giá được hiệu quả của hệ thống tài chính và sự phát triển của nền kinh tế đất nước.
2 Những tồn tại trong tiến trình thực hiện tự do hóa tài chính
2.1 Vấn đề lãi suất
Việc áp dụng cơ chế tự do hóa lãi suất đã tạo điều kiện tốt cho sự phát triển của hệ thống ngân hàng và là bước tiến quan trọng của quá trình tự do hóa tài chính ở VN Tuy nhiên, bên cạnh những thuận lợi tích cực thì việc thực hiện tự do hóa lãi suất trong thời gian qua cũng nảy sinh một số vấn đề bất cập trong quản lý lãi suất và khó khăn cho hệ thống ngân hàng VN như việc NHNN công bố lãi suất cơ bản nhằm định hướng lãi suất thị trường trong thời gian qua đã bộc lộ những hạn chế, các NHTM cổ phần tiềm lực về tài chính còn hạn chế phải đối mặt khi tiến hành tự do hóa lãi suất.
2.2 Hệ thống pháp lý và kế toán - kiểm toán
- Hệ thống pháp lý: Tuy đã có những sửa đổi nhất định để hoàn thiện hành lang pháp lý, nhưng thực tế vẫn chưa đáp ứng được yêu cầu phát triển, hiệu quả kinh doanh của toàn hệ thống còn thấp, sức cạnh tranh còn khoảng cách xa so với các nước trong khu vực và trên thế giới
- Kế toán - kiểm toán: Chúng ta đã có Luật kế toán và Luật kiểm toán nhưng hoạt động kế toán, kiểm toán ở VN vẫn chưa đạt đến qui mô mà tiến trình phát triển kinh tế - xã hội đòi hỏi.
2.3 Điều hành tỷ giá hối đoái
Xung quanh vấn đề tỷ giá ở VN hiện nay, các nhà nghiên cứu kinh tế cho rằng: Giá trị đồng VN đã bị đánh giá quá cao so với ngoại tệ , như vậy, trước hết nó sẽ làm giảm sức cạnh tranh của hàng hóa VN trên thị trường quốc tế, ảnh hưởng xấu đến hoạt động xuất nhập khẩu, sau đó làm NHNN khó điều hành chính sách tiền tệ.
2.4 Hệ thống ngân hàng
Trong thời gian qua, Nhà nước đã có những thay đổi về chính sách giúp cho hệ thống ngân hàng VN tiến gần hơn đến điều kiện
đủ cho thành công của tự do hóa tài chính Tuy nhiên, hệ thống ngân hàng VN còn nhiều yếu kém trên các mặt
a Quản lý yếu kém
Vấn đề điều hành, quản lý hoạt động ngân hàng từ NHNN đến các NHTM chiếm vị trí quan trọng trong việc quyết định hoạt động hiệu quả và tính lành mạnh của hệ thống, nhất là đối với NHTM trong điều kiện chuyển sang cơ chế thị trường và chấp nhận cơ chế kinh doanh bình đẳng.
Công tác kiểm tra, kiểm soát nội bộ chưa được chú ý đúng mức ở các NHTM, trong một số ngân hàng, bộ phận kiểm soát nội bộ tồn tại mang tính hình thức, không phát hiện được những sai sót của bộ phận điều hành hoặc nếu có phát hiện ra thì cũng không
xử lý được Đây là vấn đề mà hệ thống ngân hàng VN cần có biện pháp khắc phục vì nó liên quan mật thiết đến hiệu quả kinh doanh của ngân hàng, nhất là trong vấn đề quản lý lãi suất của hoạt động tín dụng.
b Tính cạnh tranh thấp
Hiện nay, NHTMQD vẫn chiếm vị trí quan trọng trong hệ thống ngân hàng mà khách hàng của khu vực này chủ yếu vẫn là các DNNN, điều này khiến cho việc cải cách hoạt động của các NHTMQD sang kinh doanh trên cơ sở thương mại thực sự và tạo môi trường kinh doanh bình đẳng trong lĩnh vực ngân hàng gặp khó khăn Sự bảo trợ công khai hay ngấm ngầm của Nhà nước đối với các DNNN trong việc vay vốn ngân hàng vẫn còn tồn tại đồng nghĩa với việc phát huy tác dụng của các qui luật kinh tế thị trường trong lĩnh vực này bị cản trở, dẫn đến tính cạnh tranh trong khu vực NHTMQD còn thấp.
3 Giải pháp cho vấn đề tự do hóa tài chính và cơ cấu lại hệ thống ngân hàng ở VN
3.1 Sử dụng công cụ lãi suất trong quản lý vĩ mô
Trang 123.1.1 Công cụ điều tiết lãi suất
Lãi suất là một trong những công cụ được các chính phủ sử dụng trong quản lý vĩ mô nền kinh tế nhất là trong cơ chế thị trường,
nó kích thích tập trung nguồn lực tài chính và phân bổ nguồn lực đó một cách có hiệu quả, thúc đẩy nền kinh tế phát triển, ổn định mục tiêu của chính sách tiền tệ quốc gia.
3.1.2 Sử dụng hiệu quả công cụ lãi suất
Trên sơ sở kinh nghiệm thực tế của một số nước trên thế giới về việc sử dụng công cụ lãi suất trong điều hành chính sách tài chính, tiền tệ thì việc lựa chọn lãi suất nào là cơ bản, có tính chất tác động đến lãi suất thị trường phụ thuộc vào điều kiện phát triển của thị trường tài chính tiền tệ của quốc gia Hiện tại, việc sử dụng các loại lãi suất trên thị trường liên ngân hàng của NHNN VN mang tính chất hình thức do độ nhạy cảm của các lãi suất này đối với thị trường thấp; vấn đề được đặt ra là làm thế nào để lựa chọn lãi suất chủ đạo với điều kiện lãi suất này phản ánh đúng quan hệ cung cầu vốn trên thị trường, đồng thời có tác dụng điều chỉnh lãi suất thị trường theo mục tiêu của chính sách tiền tệ.
a Lãi suất trên thị trường liên ngân hàng
Mặc dù thị trường liên ngân hàng đã được thiết lập và hoạt động được một thời gian, nhưng đối với các NHTM thì thị trường liên ngân hàng chưa phải là nơi có thể sẵn sàng cung cấp nguồn vốn thiếu hụt, các nghiệp vụ được thực hiện trên thị trường này còn
ít nên chưa hình thành được lãi suất IBOR Đối với một thị trường liên ngân hàng phát triển, các NHTM phải tính toán kỹ lượng vốn thừa hay thiếu trong ngắn hạn để có thể xác định mức vay hoặc cho vay của mình trên thị trường liên ngân hàng một cách chính xác, và khi giao dịch trên thị trường này, bắt buộc phải theo thực hiện lãi suất mình đã công bố Vì vậy, muốn hình thành lãi suất IBOR và nó có tác dụng trong việc điều tiết lãi suất thị trường theo đúng mục tiêu thì việc thúc đẩy hoạt động của thị trường này của NHNN là vấn đề quan trọng.
b Lãi suất trên thị trường mở
Nghiệp vụ thị trường mở được nhiều nước trên thế giới sử dụng rất hiệu quả trong việc điều tiết thị trường tiền tệ cũng như định hướng lãi suất trên thị trường do lãi suất trên thị trường này khá sát và nhạy với với lãi suất thị trường, bên cạnh đó các nghiệp
vụ trên thị trường mở dễ dàng được sửa chữa hơn nếu NHNN phát hiện sai sót so với nghiệp vụ trên thị trường liên ngân hàng, quan trọng nhất là khả năng thực hiện các nghiệp vụ trên thị trường này có thê đáp ứng yêu cầu về cung ứng vốn, đủ sức điều chỉnh lãi suất trên thị trường một cách hữu hiệu, nhưng kèm theo đó là điều kiện phát triển của thị trường mở cũng như yêu cầu hoạt động thường xuyên để NHNN có thể thu thập, xử lý thông tin và thực hiện nghiệp vụ thị trường mở sao cho hoạt động trên thị trường tiền tệ không vượt quá tầm kiểm soát của NHNN và đi đúng mục đích của chính sách tài chính tiền tệ.
3.2 Cơ chế quản lý tỷ giá hối đoái
Hiện nay, trên thế giới còn tồn tại nhiều chế độ tỷ giá hối đoái khác nhau, nhưng trong điều kiện hội nhập và quốc tế hóa ngày nay, xu hướng tiến tới tự do hóa tỷ giá hối đoái đang được Chính phủ các quốc gia theo đuổi Xét trên bình diện quản lý vĩ mô thì NHNN VN đang thực hiện chế độ tỷ giá linh hoạt, có sự kiểm soát của Nhà nước, đây có thể nói là một lựa chọn đúng đắn của Nhà nước trong điều kiện quá trình hội nhập của VN với thế giới còn nhiều cách biệt Nếu lựa chọn chế độ tỷ giá thả nổi tự do thì điều kiện phát triển kinh tế - xã hội hiện nay của chúng ta chưa cho phép, còn nếu lựa chọn chính sách điều hành tỷ giá theo kiểu
“an toàn” thì không thể tránh khỏi những áp đặt mang tính hành chính vào quản lý tỷ giá - điều mà chúng ta đang cố gắng thay đổi để thích ứng dần với việc điều hành nền kinh tế theo các qui luật phát triển Điều kiện nêu trên đặt ra những yêu cầu đối với Nhà nước trong việc lựa chọn và điều hành tỷ giá phải hết sức linh hoạt, thích ứng dần với hội nhập và tạo động lực phát triển kinh tế.
3.2.1 Xác định đúng giá trị của đồng VN
Từ lâu đồng tiền VN (VND) đã có quan hệ tỷ giá chính thức với đồng đôla Mỹ (USD), để ấn định tỷ giá này, NHNN căn cứ vào tỷ giá của thị trường ngoại tệ liên ngân hàng để công bố tỷ giá hàng ngày, đây cũng là cơ sở pháp lý để các TCTD đưa ra mức tỷ giá cụ thể trong giao dịch với khách hàng Như vậy, tỷ giá VND chủ yếu được đánh giá thông qua sự biến động của VND so với USD, điều này phản ánh đúng thực trạng giao dịch ngoại hối của VN, các hoạt động thanh toán bằng USD chiếm tỷ trọng cao, tuy nhiên, nếu chỉ dựa vào một ngoại tệ duy nhất là USD để xác định giá trị bản tệ thì quá mạo hiểm đối với việc hoạch định chính sách vĩ mô Vì vậy, chúng ta nên xem xét lại khả năng xác định linh hoạt tỷ giá VND tương ứng với một rổ tiền tệ là các ngoại tệ mạnh có tham gia thương mại với VN, có như vậy, đồng tiền VN mới được xác định đúng giá trị và giảm thiểu tâm lý sùng bái USD, dẫn đến tình trạng đôla hóa nền kinh tế của đại bộ phận dân cư hiện nay.
3.2.2 Nới lỏng biên độ tỷ giá và tiến tới lọai bỏ các công cụ kiểm soát tỷ giá mang tính hành chính
Năm 2005, NHNN vẫn qui định biên độ tỷ giá đối với các TCTD kinh doanh ngoại tệ theo hướng nới lỏng biên độ hơn, hướng đi này giống như một bước thực tập cho các NHTM làm quen dần với việc kinh doanh tiền tệ theo cơ chế cạnh tranh bình đẳng và
sử dụng các công cụ phòng ngừa rủi ro tỷ giá, giảm thiểu tình trạng bị sốc do các biến động Sau đó, Nhà nước sẽ tiến hành loại
bỏ qui định mang tính hành chính áp đặt và đẩy mạnh việc sử dụng các công cụ quản lý gián tiếp trong điều hành tỷ giá hối đoái, các TCTD được tự do quyết định giá mua bán ngoại tệ trên cơ sở qui luật cung - cầu trên thị trường ngoại hối, các bước tiến hành như trên sẽ giúp cho các NHTM phát huy tính tự chủ và khả năng hội nhập thị trường tài chính quốc tế theo đúng tiến trình.
3.2.3 Sử dụng công cụ gián tiếp để điều chỉnh tỷ giá trên thị trường
Muốn cho công cụ điều chỉnh gián tiếp của NHNN thông qua nghiệp vụ trên TTNTLNH có tác dụng, điều kiện cần là TTNTLNH
Trang 13phải thực sự tạo niềm tin cho các NHTM bằng cách biến đây thành chỗ dựa của họ và nhu cầu được tham gia giao dịch ngọai tệ trên thị trường trở nên không thể thiếu Hệ thống thanh tóan liên ngân hàng cần được đầu tư đúng mức để đạt được hiệu quả nhất, tiết kiệm thời gian cũng như nhân lực, đồng thời giúp cho cả NHNN và các NHTM có thể cập nhật những thông tin thị trường và ra quyết định nhanh nhất trong giao dịch trên thị trường này Có như vậy, các nghiệp vụ ngoại hối mới có thể được thực hiện và phát triển trên thị trường, tránh sự đơn điệu về nghiệp vụ ngọai hối hiện nay của TTNTLNH và công cụ điều chỉnh của Nhà nước thông qua thị trường này mới có tác dụng.
3.3 Cơ cấu lại hệ thống ngân hàng
3.3.1 Đối với ngân hàng Nhà nước
- Cấu trúc lại tổ chức của NHNN từ Trung ương xuống chi nhánh theo hướng tinh gọn, hiện đại, tránh sự can thiệp của chính quyền các cấp.
- Xây dựng và từng bước hoàn thiện các khung pháp lý đảm bảo sự bình đẳng cho hoạt động của các tổ chức tín dụng hoạt động trên lãnh thổ VN.
- Xóa bỏ cơ chế bao cấp đối với các NHTM, đặc biệt là đối với các NHTM quốc doanh, buộc các ngân hàng này phải thực sự hoạt động theo nguyên tắc thị trường, xóa bỏ dần cơ chế tín dụng chỉ định, giao nghiệp vụ tín dụng ưu đãi theo chính sách của nhà nước cho các ngân hàng chính sách.
- Lãi suất và tỷ giá hối đoái được thỏa thuận theo quan hệ cung cầu trên thị trường, thực hiện kiểm soát gián tiếp thông qua các công cụ của chính sách tiền tệ.
- Tiêu chuẩn hóa cán bộ, công chức ngân hàng.
- Xây dựng hệ thống thông tin tài chính hiện đại, đảm bảo cho hệ thống tài chính hoạt động an toàn và hiệu quả, dễ giám sát theo thông lệ quốc tế.
- Rà soát lại toàn bộ những qui định về việc thành lập, hoạt động của các tổ chức tín dụng trong nước cũng như nước ngoài áp dụng linh hoạt các công cụ dự trữ bắt buộc, cho vay tái chiết khấu và nghiệp vụ thị trường mở.
3.3.2 Đối với các ngân hàng thương mại
Yêu cầu đối với các NHTM là :
- Các ngân hàng phải có qui mô đủ lớn, hoạt động an toàn, hiệu quả và có sức cạnh tranh cao.
- Phân bổ và huy động vốn một cách có hiệu quả.
- Nâng cao năng lực quản lý và tiềm lực tài chính của các NHTM trên cơ sở cơ cấu lại tài chính bao gồm : xử lý nợ quá hạn, đẩy mạnh tái đầu tư và cơ cấu lại sở hữu nhằm tăng vốn điều lệ.
- Hiện đại hóa hoạt động ngân hàng, xây dựng và áp dụng cơ chế kiểm tra kiểm soát nội bộ theo thông lệ quốc tế.
- Tạo sức cạnh tranh, mở rộng thị phần trong nước và tranh thủ thời cơ mở thị trường kinh doanh ra nước ngoài.
3.4 Tiến hành cổ phần hóa NHTMQD
Tiến trình cơ cấu lại hệ thống ngân hàng và lành mạnh hóa tài chính quốc gia đòi hỏi phải thực hiện nhiều giải pháp đồng bộ, các giải pháp lớn cần tiến hành như : xử lý nợ đọng, tăng vốn điều lệ của hệ thống ngân hàng rất cần sự trợ giúp của Chính phủ và các cơ quan chức năng, tuy nhiên, để hệ thống ngân hàng có thể giữ được sự phát triển ổn định, đủ sức cạnh tranh trong môi trường mở cửa, ngăn ngừa sự phát sinh nợ xấu thì bản thân hệ thống ngân hàng cần có những nỗ lực hơn, nhất là các NHTMQD - những ngân hàng vốn chiếm ưu thế về thị phần và lượng vốn trong hệ thống ngân hàng VN.
Để thu hút nguồn vốn từ các nhà đầu tư nước ngoài, Nhà nước có thể cho phép các nhà đầu tư nước ngoài mua cổ phần của NHTMQD với lượng cổ phần tối đa không được vượt quá một tỷ lệ qui định, nhằm tránh tình trạng bị thâu tóm bởi các tập đoàn
tư bản nước ngòai do chúng ta chưa có nhiều kinh nghiệm trong việc điều hành cũng như tổ chức hoạt động của một NHTM hiện đại Bán cổ phần cho các nhà đầu tư nước ngòai, phát triển về vốn hoạt động ngân hàng, chúng ta có thể thuê các tổ chức tài chính quốc tế thực hiện việc cấu trúc lại hoạt động NHTM theo tiêu chuẩn của NHTM quốc tế hiện đại Có như vậy, NHTM của
VN mới trở thành một NHTM hiện đại đích thực, có khả năng cạnh tranh và vươn ra thị trường quốc tế.
Xu hướng tất yếu khách quan ngày nay là hòa nhập kinh tế toàn cầu, gắn liền với quá trình tự do hóa thương mại và dòng vốn lưu chuyển không biên giới Nếu tách biệt ra khỏi quá trình này, một quốc gia không thể đạt được sự phát triển cao và bền vững Đối với VN, đổi mới trong chính sách tài chính là một bộ phận cấu thành của tiến trình hòa nhập kinh tế thế giới nên thành công của việc thực hiện chính sách tài chính sẽ góp phần không nhỏ vào thành công của công cuộc đổi mới nền kinh tế - xã hội có như vậy, VN mới có thể thực hiện thành công tự do hóa tài chính - một bước tiến quan trọng, một xu thế tất yếu của quá trình toàn cầu hóa nền kinh tế trong giai đoạn hiện nay.
Câu 4: Những yếu tố tác động trực tiếp đến việc thu hút vốn đầu tư nước ngoài (FDI)? Phân tích các giải pháp mở rộng thu hút nhanh vốn FDI tại Việt Nam.
Có thể chia thành 5 nhóm yếu tố:
a/ Động cơ của nhà đầu tư
Mục tiêu của các chủ đầu tư khi tiến hành đầu tư là nhằm thu lợi nhuận càng nhiều càng tốt Muốn vậy, ngoài việc khaithác tối đa thị trường trong nước, họ còn tìm cách vươn ra thị trường nước ngoài để mở rộng thị phần Để xâm nhập thị trườngnước ngoài, các chủ đầu tư có thể sử dụng nhiều cách khác nhau (xuất khẩu, tiến hành FDI, nhượng quyền, ) Thông thường
Trang 14chủ đầu tư sẽ quyết định đầu tư ra nước ngoài dưới hình thức FDI khi bản thân họ có các lợi thế độc quyền riêng và FDI sẽ giúp
họ tận dụng được nhiều lợi thế cũng như cắt giảm chi phí (chi phí nhân công, nguyên liệu tại chỗ, chi phí vận chuyển ) nhằm tối
đa hóa lợi nhuận, nâng cao năng lực cạnh tranh
b/ Nguồn lực:
- Tiềm năng thị trường: Qui mô và tiềm năng phát triển của thị trường là những nhân tố quan trọng hàng đầu khi nhà đầu tưquyết định lựa chọn địa điểm để đầu tư Thông thường họ sẽ nhắm đến những vùng tập trung đông dân cư , có nhiều kỳ vọngtăng trưởng nhanh trong tương lai và có các cơ hội mở rộng ra các thị trường lân cận
- Vị trí địa lý: Lợi thế về vị trí địa lý giúp tiết kiệm đáng kể chi phí vận chuyển, dễ dàng mở rộng ra các thị trường xungquanh, khai thác có hiệu quả nguồn nhân lực và thúc đẩy các doanh nghiệp tập trung hóa
- Tài nguyên: Sự dồi dào về nguyên vật liệu với giá rẻ cũng là nhân tố tích cực thúc đẩy thu hút đầu tư nước ngoài
- Nguồn nhân lực:
Khi quyết định đầu tư một cơ sở sản xuất mới ở một nước đang phát triển, các chủ đầu tư sẽ nhắm đến việc khai thácnguồn nhân lực trẻ và tương đối thừa thãi ở các nước này Thông thường nguồn lao động phổ thông luôn được đáp ứng đầy đủ và
có thể thỏa mãn yêu cầu của các công ty Bên cạnh đó, đội ngũ nhân lực có trình độ kỹ thuật cao, nhiều kinh nghiệm, những cán
bộ quản lý giỏi cũng là nguồn lực hấp dẫn các nhà đầu tư
Văn hóa, thái độ, tác phong làm việc của người lao động là những yếu tố quan trọng trong việc xem xét, lựa chọn địađiểm để đầu tư
c/ Cơ sở hạ tầng:
Chất lượng của cơ sở hạ tầng kỹ thuật và trình độ công nghiệp hóa có ảnh hưởng rất quan trọng đến dòng vốn đầu tư nướcngoài vào một nước hoặc một địa phương Một hệ thống cơ sở hạ tầng kỹ thuật hoàn chỉnh (bao gồm cả hệ thống đường bộ,đường sắt, đường hàng không, mạng lưới cung cấp điện, nước, bưu chính viễn thông và các dịch vụ tiện ích khác), là điều mongmuốn đối với mọi nhà đầu tư nước ngoài Bên cạnh đó còn phải kể đến các dịch vụ hỗ trợ khác như hệ thống y t ế, giáo dục, giảitrí, các dịch vụ hải quan, tài chính, thương mại, quảng cáo, kỹ thuật, v.v )
Thiếu sự hỗ trợ cần thiết của các hoạt động này, môi trường đầu tư cũng sẽ bị ảnh hưởng nghiêm trọng Ngoài ra, hiệuquả hoạt động của các cơ sở công nghiệp địa phương, sự có mặt của các ngành công nghiệp hỗ trợ, sự tồn tại các đối tác tin cậy
để các công ty nước ngoài có thể liên doanh liên kết cũng là những yêu cầu rất quan trọng cần phải được xem xét đến
d/ Sự ổn định về kinh tế và chính trị - xã hội và luật pháp đầu tư.
Đây là điều kiện tiên quyết nhằm giảm thiểu những rủi ro kinh tế chính trị của vốn FDI vượt khỏi sự kiểm soát của chủđầu tư nước ngoài Những bất ổn định kinh tế chính trị sẽ ảnh hưởng tiêu cực đến tâm lý nhà đầu tư, nó không chỉ làm cho dòngvốn này bị chững lại, thu hẹp, mà còn làm cho dòng vốn từ trong nước chảy ngược ra ngoài, tìm đến những nơi mới an toàn vàhấp dẫn hơn
Hệ thống pháp luật đầu tư của nước sở tại phải đảm bảo sự an toàn về vốn cho nhà đầu tư Nội dung của hệ thống phápluật càng đồng bộ, chặt chẽ, tiên tiến, nhưng cởi mở, phù hợp với luật pháp và thông lệ quốc tế thì khả năng hấp dẫn của FDIcàng cao
e/ Hệ thống chính sách đầu tư hấp dẫn, khuyến khích nhà đầu tư
Ví dụ như: Chính sách thương mại thông thoáng; chính sách tiền tệ, lãi suất linh hoạt; chính sách hỗ trợ tín dụng; hệ thống thuế
rõ ràng, đơn giản, dễ áp dụng, mức thuế không quá cao, có ưu đãi…
Phân tích các giải pháp mở rộng thu hút nhanh vốn FDI tại Việt Nam
- Về thách thức: Bên cạnh những thuận lợi thì Việt Nam còn tồn tại nhiều hạn chế ảnh hưởng đến thu hút FDI như: hệ thống kết cấu hạ tầng còn yếu kém, thiếu hụt nhân lực chất lượng cao, công tác quy hoạch thiếu đồng bộ, thủ tục hành chính rườm rà, …
Từ những yếu tố thuận lợi và khó khăn đã phân tích, chúng ta có thể dự báo trong ngắn hạn năm 2011, Việt Nam sẽ thu hút được khoảng 20 tỉ USD vốn FDI (bao gồm cả tăng vốn, mở rộng sản xuất), tăng 7,6% so với ước thực hiện năm 2010 và vốn thực hiện đạt khoảng 11-11,5 tỉ USD.
Trang 15Theo thứ trưởng Bộ Kế hoạch Đầu tư Phạm Huy Đông, trong thời gian sắp tới, thu hút FDI sẽ thực hiện theo hướng chọn lọc hơn và trọng tâm là thu hút các dự án cơ sở hạ tầng; sử dụng công nghệ cao; công nghệ sạch và có khả năng tạo ra các sản phẩm có sức cạnh tranh; các dự án sản xuất hàng xuất khẩu; phát triển ngành công nghiệp hỗ trợ; có khả năng tham gia vào chuỗi giá trị toàn cầu Đối với những dự án đầu tư quy mô lớn, đặc biệt là các dự án có sử dụng đất lớn, có khả năng gây ô nhiễm môi trường, sử dụng nhiều tài nguyên khoáng sản nếu không có chế biến sâu, các dự án tiêu tốn nhiều năng lượng sẽ được xem xét kỹ càng hơn Bên cạnh đó, những dự án đầu tư chậm triển khai sẽ được phân loại để có những biện pháp xử lý phù hợp, trong đó có việc xem xét rút Giấy chứng nhận đầu tư theo quy định của pháp luật để tạo cơ hội cho các nhà đầu tư khác thực sự có tiềm năng và năng lực triển khai tham gia đầu tư.
Một số giải pháp đổi mới nhằm thu hút, sử dụng vốn FDI hiệu quả:
- Phối hợp chặt chẽ giữa Trung ương và địa phương trong việc cấp phép và quản lý các dự án đầu tư nước ngoài
- Thực hiện các cam kết quốc tế sau khi gia nhập WTO để tạo ra một sân chơi lành mạnh nhằm thu hút nhiều nguồn vốnđầu tư nước ngoài vào Việt Nam
b/ Về các giải pháp quy hoạch:
- Rà soát, quy hoạch ngành, vùng chiến lược, từng bước mở cửa thị trường hàng hoá, dịch vụ theo lộ trình cam kết quốc tế
và thực hiện các cam kết quốc tế
- Làm rõ các lĩnh vực không cấp phép đầu tư và đầu tư có điều kiện, trong đó chú trọng lĩnh vực văn hoá thông tin theohướng minh bạch, cụ thể và phù hợp với các cam kết quốc tế; đẩy nhanh tiến độ thực hiện các nội dung triển khai chậm hoặcchưa triển khai đã cam kết trong Sáng kiến chung Việt Nam – Nhật Bản, Hiệp định thương mại Việt - Mỹ,…
c/ Về xúc tiến đầu tư:
- Ðể thu hút dòng vốn FDI đúng mục tiêu và định hướng, công tác xúc tiến đầu tư cần tiếp tục được đổi mới theo hướng bốtrí các nguồn lực để xúc tiến đầu tư theo chuyên đề, theo ngành, lĩnh vực và theo vùng, miền Không xúc tiến đầu tư theo địa giớihành chính để bảo đảm tính liên kết vùng, miền, tận dụng tối đa các tiềm năng thế mạnh của vùng, miền và giảm đầu tư theophong trào, theo thành tích
- Cần phải có chiến lược kêu gọi đầu tư, tăng cường các hoạt động đối ngoại, tích cực xúc tiến đầu tư qua mọi phương tiện,mọi kênh thông tin với các nước trên thế giới thông qua các chuyến thăm, làm việc cấp cao của lãnh đạo Đảng, Nhà nước vàChính phủ; tổ chức các cuộc hội nghị, hội thảo tổ chức trong và ngoài nước
d/ Về cải thiện cơ sở hạ tầng:
- Tiến hành tổng rà soát, điểu chỉnh, phê duyệt và công bố các quy hoạch về kết cấu hạ tầng đến năm 2020 làm cơ sở thu hútđầu tư phát triển kết cấu hạ tầng Tranh thủ tối đa các nguồn lực để đầu tư phát triển kết cấu hạ tầng, đặc biệt là nguồn vốn ngoàingân sách nhà nước; ưu tiên các lĩnh vực cấp, thoát nước, vệ sinh môi trường (xử lý chất thải rắn, nước thải.v.v.); hệ thống đường
bộ cao tốc, trước hết là tuyến Bắc-Nam; nâng cao chất lượng dịch vụ đường sắt; sản xuất và sử dụng điện từ các loại năng lượngmới như sức gió, thủy triều, nhiệt năng từ mặt trời; các dự án lĩnh vực bưu chính viễn thông, công nghệ thông tin
- Ngoài ra cần phải quy hoạch, nâng cấp hệ thống điện, nước sạch và đường truyền Internet băng thông rộng Giá cước, phícác loại hàng hoá, dịch vụ công cộng cần phải có sự điều chỉnh tương đương với các nước trong khối Asean nhằm đáp ứng tối đacác nhu cầu mà nhà đầu tư nước ngoài đã đặt ra
e/ Về nguồn nhân lực:
Cần nâng cao số lượng cũng như chất lượng nguồn lao động Việt Nam đáp ứng được nhu cầu về nguồn lao động do cácnhà đầu tư nước ngoài đặt ra như: trình độ tay nghề - kỹ thuật, trình độ ngoại ngữ, sức khoẻ và tác phong làm việc công nghiệp
f/ Một số giải pháp khác:
- Xây dựng chính phủ điện tử và phổ biến thương mại điện tử Thúc đẩy thiết kế và xây dựng các website của Chính phủ,
chính quyền địa phương và các doanh nghiệp để các nhà đầu tư dễ dàng tiếp cận các nguồn thông tin FDI ban đầu có chất lượng
và trung thực thông qua mạng Internet
- Thu hút nguồn vốn đầu tư của Việt kiều về nước Chính phủ cần có những chính sách, cơ chế nhằm kêu gọi, thu hút các
Việt kiều về nước đầu tư do họ có những trình độ quản lý, nắm bắt công nghệ phương Tây, thêm nữa giúp quảng bá tốt hơn cácchính sách đầu tư của Việt nam với các đối tác kinh doanh quốc tế của mình
Trang 16Câu 5: Nêu cơ sở khoa học của việc chính phủ tham gia vào quản lý hệ thống tài chính bằng các “qui định” (Regulations)?
Kể từ khi thống nhất đất nước, ban đầu hệ thống tài chính của Việt Nam được tự do hoá hoàn toàn, nhưng dần dần tất cả các loạitrong hệ thống tài chính dần dần được chính phủ Việt Nam kiểm soát chặt chẽ bằng các quy định cụ thể cho từng lĩnh vực trong
hệ thống tài chính: Ngân hàng, chứng khoán, bảo hiểm Cấu trúc hệ thống tài chính: thị trường tài chính, tổ chức tài chính, cáccông cụ tài chính và cơ sở hạ tầng tài chính
Để kiểm soát được sự vận hành của từng lĩnh vực trong hệ thống tài chính, chính phủ đã ban hành rất nhiều quy định nhằm kiểmtra, giám sát của các hoạt động tài chính, đồng thời hạn chế rủi ro cho quốc gia
- Thứ nhất, trong hệ thống ngân hàng, với hàng loạt các quy định để kiểm soát được sự mất thanh khoản của hệ thống ngân hàngthương mại, NHTW đã quy định tỷ lệ dữ trữ bắt buộc của mỗi ngân hàng thương mại, để hạn chế được sự lạm phát, chính phủ đãban hành các quy định về lãi suất trần, lãi suất sàn và lãi suất tái cấp vốn… Ngoài ra để bảo đảm an toàn trong hoạt động của cácngân hàng nói riêng và hệ thống tài chính nói chung, chính phủ đã có một số quy định “Tổ chức tín dụng không được huy độngvốn quá 20 lần tổng số vốn tự có và quỹ dự trữ”, thủ tướng chính phủ đã ban hành danh mục về vốn pháp định của các tổ chức tíndụng đến hết năm 2010 phải có vốn điều lệ tối thiểu là 3000 tỷ đồng và thực hiện các chính sách tiền tệ, chính sách tài khoá đểquản lý nền kinh tế Một số chính sách có tính chất chữa cháy như chỉ thị 03vào tháng 05/2007 khống chế dư nợ cho vay kinhdoanh chứng khoán không được vượt quá 3% tổng dư nợ cho vay
- Thứ hai, trong thị trường chứng khoán, chính phủ cũng cực kỳ khắt khe để kiểm soát được thị trường chứng khoán để thực sựhoạt động hiệu quả Một số quy định về việc chào bán chứng khoán riêng lẻ và chào mua công khai, hay các công ty đại chúngphải công bố thông tin định kỳ về một số nội dung cơ bản: báo cáo tài chính kiểm toán, nghị quyết đại hội đồng cổ đông thườngniên Việc chào mua chứng khoán công khai nhằm kiểm soát các nhà đầu tư lách luật mà các cơ quan chức năng không xử lýđược Việc chào bán chứng khoán riêng lẻ phải có các điều kiện sau: có nghị quyết của đại hội đồng cổ đông hoặc hội đồng quảntrị thông qua phương án chào bán và sử dụng số tiền thu được từ đợt chào bán
- Thứ ba, trong thị trường bảo hiểm, Uỷ ban kinh tế đã dần dần xây dựng nên các quy định nhằm kiểm soát chặt chẽ các dịch vụbảo hiểm qua biên giới (các dịch vụ bảo hiểm trực tiếp ) để tránh thất thoát ngoại tệ và thất thu thuế… từ thế đã ra đời luật kinhdoanh bảo hiểm, nội dung đưa ra các quy định, cách thức để các tổ chức kinh doanh bảo hiểm thực thi nhằm tạo ra các chuẩnmực chung nhất
Câu 6: Cuộc khủng hoảng tài chính của nước Mỹ là do các qui định quản lý của hệ thống tài chính quá lỗi thời Nhận định này đúng hay sai? Giải thích?
“Khủng hoảng tài chính của nước Mỹ là do các qui định quản lý của hệ thống tài chính quá lỗi thời” là nhận định sai
Các NH Mỹ trước đây chịu kiểm soát rất chặt chẽ bởi đạo luật Glass-Steagall (1933 – sau khủng hoảng 1929) Đạo luật này kiểmsoát rất khắc nghiệt hđ NH, phân biệt rạch ròi, kiểm soát hoạt động của các định chế tài chính (NH đầu tư, cty CK, cty BảoHiểm)
Từ năm 1990, đạo luật nào được gỡ bỏ dần dần Và đến năm 1999, chính quyền Bill Clinton đã thay thế đạo luật này bằng mộtđạo luận mới, cho phép các định chế siết chặt lại với nhau, không còn ranh giới (NH có quyền kinh doanh CK, BH cũng vậy…).Mục đích là tạo ra sự tự do tài chính
Chính do sự tự do hóa tài chính này dẫn đến việc các NH tham gia vào rất nhiều các hoạt động mang tính rủi ro cao Cộng vớitâm lý quá lớn để thất bại nên các NH càng liều lĩnh trong các hoạt động của mình Vì vậy mới gây ra khủng hoảng dây chuyềnnăm 2007 ở Mỹ
Những nguyên nhân chính dẫn tới cuộc khủng hoảng tài chính của nước Mỹ, đó là:
- Sự hình thành và đổ vỡ của bong bóng thị trường bất động sản, của các khoản cho vay khổng lồ để thế chấp nhà đất ở Mỹ.
- Sự yếu kém của hệ thống ngân hàng và sai lệch lớn trong điều tiết tài chính, khi có tình thế xấu xảy ra, hệ thống ngân hàng Mỹ
bị hoảng loạn, lan ra toàn thế giới, gây nên sự co hẹp cung tiền tệ, dẫn tới sự suy thoái trong tổng cầu tiêu dùng và đầu tư
- Các chính sách kinh tế vĩ mô của Mỹ và nhiều nước đã có những khiếm khuyết lại được thực hiện thiếu nhất quán, đầy đủ và thiếu cải cách cơ cấu dẫn tới kinh tế vĩ mô mất cân bằng và thiếu bền vững.
- Sự suy giảm giá trị của đồng đô la và khủng hoảng chế độ tiền tệ không bản vị Từ tháng 8/1971, Mỹ tuyên bố đóng cửa thị trường vàng và đồng đô la từ đó không còn dùng vàng làm thước đo giá trị nữa Từ đó, đồng đô la được phát hành vô tội vạ và giá trị của nó ngày càng giảm đi.
- Kết quả của việc giải quyết mâu thuẫn giữa việc xã hội hoá vô cùng mạnh mẽ, rộng lớn của sức sản xuất xã hội được cộng hưởng trong quá trình toàn cầu hoá với quan hệ chiếm hữu tư nhân chật hẹp, ích kỷ, vô trách nhiệm tại các nền kinh tế lớn có ảnh hưởng toàn cầu, đặc biệt là ở Mỹ và các nước phát triển Để bảo đảm mục tiêu hàng đầu là lợi nhuận, giới chủ tư bản và các tập đoàn tư bản bằng mọi giá thúc đẩy tư nhân hoá, tự do hoá thị trường, cổ vũ chủ nghĩa thực dụng, khuyếch đại chính sách
tư bản giả, chi phối các chính sách kinh tế - xã hội của các quốc gia Chính vì thế, gần như toàn bộ quá trình sản xuất, phân phối sản phẩm đều trong tay giới tư bản tài phiệt, bất khả xâm phạm, không thể kiểm soát
Những nguyên nhân trực tiếp và gián tiếp nêu trên, bắt nguồn từ một điều cốt lõi nhất, quan trọng nhất dẫn tới cuộc khủng hoảng này Đó chính là việc nhận thức và thực hiện sai lệch vai trò của nhà nước trong nền kinh tế thị trường Cuộc khủng
Trang 17hoảng lần này rõ ràng bắt nguồn trực tiếp từ việc Chính phủ Mỹ và các chính phủ khác ở các nước phát triển đã xử lý sai lầm quan hệ giữa nhà nước và thị trường, trao quá nhiều quyền cho cơ chế thị trường tự do, buông lỏng sự quản lý và giám sát điều hành của nhà nước Cụ thể hơn ở Mỹ là Cục dự trữ Liên bang đã thả lỏng tín dụng trong một thời gian dài cho sự bùng nổ thị trường bất động sản; thị trường ảo và kinh tế “bong bóng” đã tự do phi mã đến lúc vỡ tung ra Lỗi quan trọng ở đây là “quá ít nhà nước, quá nhiều thị trường tự do”.
Cắt nghĩa từ cội nguồn vấn đề này cần khái lược lại cơ chế vận hành của nền kinh tế Mỹ và các nước phát triển Đã có một thời gian dài, nền kinh tế thị trường tư bản chủ nghĩa được vận hành theo cơ chế hoàn toàn tự do dựa trên học thuyết kinh tế của nhà kinh tế học cổ điển Adam Smith Trong tác phẩm “Của cải của các dân tộc (1776)”, Adam Smith đã đưa ra quan điểm có tính triết lý là: Hãy để cho thị trường vận hành dưới sự dẫn dắt của “bàn tay vô hình”, cơ chế thị trường tự do sẽ đưa tới kết quả cuối cùng là “sự hài hoà xã hội” Tuy nhiên, cuộc Tổng khủng hoảng 1929 - 1933 đã làm cho tất cả các nước Tư bản chủ nghĩa phát triển buộc phải từ bỏ lý luận về bàn tay vô hình của cơ chế thị trường để chuyển sang thực hiện thuyết kinh tế của Keynes với lý lẽ ngược lại rằng: Để thoát khỏi khủng hoảng, thất nghiệp và nguy cơ bùng nổ xã hội, nhà nước phải điều tiết kinh tế Lý thuyết kinh tế của Keynes đã chiếm địa vị chi phối ở các nước Phương Tây từ năm 1945 - 1973.
Tới nửa cuối những năm 70 của thế kỷ XX, khi cuộc khủng hoảng năng lượng thế giới nổ ra, các nước tư bản phát triển lại rơi vào suy thoái kinh tế và lý thuyết Keynes bị coi là nguyên nhân gây ra tình trạng trên để thay vào đó là chủ nghĩa tự do mới Từ đầu những năm 1980, chủ nghĩa tự do mới được Thủ tướng Anh That-chơ, Tổng thống Mỹ Reagan cùng với WB, IMF nhiệt liệt tán thưởng và lý thuyết đó được đưa vào vận hành ngay tại Mỹ, các nước Tây Âu và hàng loạt nước khác Phương châm của lý thuyết tự do mới là “thị trường nhiều hơn, nhà nước ít hơn” với 5 điểm chủ yếu: 1 Tăng thị trường; 2 giảm nhà nước; 3 phi điều tiết hoá; 4 tự do hoá; 5 tư nhân hóa Theo quan điểm của thuyết tự do mới, tăng trưởng kinh tế phải đi trước, công bằng xã hội sẽ đi sau, người nghèo hãy kiên tâm chờ đợi Do việc áp dụng chủ nghĩa tự do mới, khoảng cách giữa các nước giàu và các nước nghèo cũng như giữa người giàu và người nghèo ngày càng gia tăng.
Chỉ khoảng trên dưới một thập niên áp dụng mô hình kinh tế theo thuyết tự do mới, các cuộc khủng hoảng kinh tế lần lượt nổ ra
ở Mêhicô, một số nước ở Đông Nam Á, Nga, Áchentina trong những năm 90 của thế kỷ trước và lần này nổ ra ngay tại Mỹ, nước đi đầu trong việc áp dụng cơ chế kinh tế này Cuộc khủng hoảng đó nhanh chóng gây thành phản ứng dây chuyền, đẩy kinh
tế thế giới lún sâu vào cuộc suy thoái tồi tệ nhất kể từ những năm 30 của thế kỷ trước Rõ ràng, cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu lần này đã giáng một đòn chí tử vào lý thuyết của chủ nghĩa tự do mới, vào quan điểm coi nhẹ vai trò điều hành và quản lý của nhà nước trong nền kinh tế thị trường Giáo sư Joseph Stiglitz, người được giải thưởng Nobel kinh tế năm 2001 đã khẳng định; Mỹ đã xuất khẩu triết lý kinh tế thị trường tự do, xuất khẩu một thứ văn hóa doanh nghiệp vô trách nhiệm đối với xã hội ,
và cuối cùng đã xuất khẩu sự suy thoái đi bốn phương
Câu 7: Theo S.Mishkin (2004): … “Cổ phiếu không phải là hình thức tài trợ vốn quan trọng hơn các trung gian tài chính
Hãy dùng lý thuyết thông tin bất cân xứng để bình luận nhận định trên và nêu ra các giải pháp để giúp hệ thống các ngân hàng thương mại phát triển bền vững và lành mạnh?
(minskin tr18: vấn đề chanh)
Thuyết trật tự phân hạng (Thông tin bất cân xứng)
Thuyết trật tự phân hạng thị trường được nghiên cứu khởi đầu bởi Myers và Majluf (1984) dự đoán không có cơ cấu nợ trên vốn
cổ phần mục tiêu rõ ràng
Giả thuyết rằng ban quản trị biết về hoạt động tương lai của doanh nghiệp nhiều hơn các nhà đầu tư bên ngoài (thông tin khôngcân xứng) và việc quyết định tài chính có lẽ cho biết mức độ kiến thức của nhà quản lý và sự không chắc chắn về lưu lượng tiềnmặt tương lai
Khi ban quản trị tin tưởng cổ phiếu được đánh giá cao hơn là đánh giá thấp, họ có thể phát hành chứng khoán (nguồn tài chínhbên ngoài) Vì thế, khi doanh nghiệp đi theo thị trường vốn bên ngoài, những thị trường này chấp nhận cổ phiếu được đánh giácao hơn là đánh giá thấp, và vì vậy, hoạt động này sẽ chuyển tải thông tin không thuận lợi cho các nhà đầu tư Kết quả là banquản trị sẽ nỗ lực để tránh đi theo các thị trường vốn (nguồn tài chính bên ngoài) Nếu ban quản trị đi theo những thị trường vốnnày, có khả năng họ phát sinh nợ nhiều hơn nếu như họ tin là cổ phiếu của họ được đánh giá thấp và sẽ sinh ra vốn cổ phần nếunhư họ cho rằng cổ phiếu của họ được đánh giá cao
Vì vậy, sự phát hành vốn cổ phần từ việc bán cổ phiếu sẽ chuyển tải nhiều thông tin không thuận lợi hơn là sự phát hành tiền chovay Điều này khiến các nhà quản trị quan tâm đến tiền cho vay hơn là vốn cổ phần từ việc bán cổ phiếu
Những quyết định về kết cấu vốn không dựa trên tỷ lệ Nợ/Tài sản tối ưu mà được quyết định từ việc phân hạng thị trường Trước hết, các nhà quản trị sẽ dự định sử dụng nguồn tài chính nội bộ, tiếp đến có thể phát hành tiền cho vay, và cuối cùng là phát hành vốn cổ phần.
Tiêu điểm của thuyết này không tập trung vào kết cấu vốn tối ưu nhưng tập trung vào sự quyết định tài chính hiện hành sắp tới.
Tỷ lệ Nợ/Tài sản = f {hoạt động kinh doanh, nhu cầu đầu tư}
Như vậy, Myers và Majluf cho rằng sẽ không có một cấu trúc vốn tối ưu với các doanh nghiệp.
Trang 18Bên cạnh đó, tài trợ bằng nợ rẻ hơn vốn cổ phần Trong trường hợp này, “chi phí” được đề cập ở đây chính là chi phí có thể đo lường được cho việc huy động vốn tài trợ cho hoạt động của doanh nghiệp Với nợ, đó chính là chi phí lãi vay mà doanh nghiệp phải trả cho khoản vay của mình Với vốn cổ phần, chi phí sử dụng vốn được hiểu như là quyền đối với thu nhập phải đủ thỏa mãn được các cổ đông khi họ quyết định góp vốn vào công ty.
Ví dụ, nếu bạn điều hành một doanh nghiệp nhỏ và cần tài trợ khoảng $40,000, bạn có thể hoặc là đi vay ở ngân hàng số tiền
$40,000 với lãi suất 10% hoặc bạn có thể bán 25% cổ phần doanh nghiệp cho người hàng xóm với giá $40,000 Giả sử trong năm sau đó, doanh nghiệp của bạn có thể tạo ra được lợi nhuận hoạt động là $20,000 Nếu ban đầu bạn quyết định
đi vay ở ngân hàng với chi phí lãi vay (hay còn gọi là chi phí tài trợ của nợ) sẽ là $4,000, bạn còn lại lợi nhuận $16,000 Ngược lại, nếu bạn đã sử dụng tài trợ vốn cổ phần, nghĩa là bạn không hề có nợ và dĩ nhiên là không có chi phí lãi vay nhưng bạn chỉ được nắm giữ 75% lợi nhuận của doanh nghiệp thôi (25% khác thuộc sở hữu của người hàng xóm nhà bạn) Do đó, lợi nhuận
Do đó, cũng dễ hiểu khi các cổ đông sáng lập của công ty quyết định lựa chọn phát hành nợ chứ không phải vốn cổ phần Thuếcũng là một yếu tố giúp cho tình huống phát hành nợ trở nên tốt hơn Nếu doanh nghiệp sử dụng nợ, bởi vì chi phí lãi vay đượckhấu trừ ra khỏi thu nhập hoạt động trước khi thu nhập bị đánh thuế, do đó chính hành động đã đem đến cho doanh nghiệp lợi íchtấm chắn thuế từ nợ
Dĩ nhiên, lợi ích của tài trợ nợ với lãi suất cố định đôi khi lại có thể là điểm bất lợi Bởi vì nợ được xem là chi phí tài chính cốđịnh, dù doanh nghiệp của bạn có hoạt động ra sao, thu nhập nhiều hay thậm chí đang thua lỗ thì doanh nghiệp vẫn phải đảm bảoviệc trả lãi vay đúng kỳ hạn và trả nợ gốc khi đáo hạn, do vậy một sự gia tăng nợ của doanh nghiệp cũng đồng nghĩa với việc gia
Quay trở lại ví dụ trên, giả sử trong năm sau, công ty của bạn chỉ tạo ra được có $5,000 Với tài trợ nợ, bạn có thể vẫn có cùng
$4,000 lãi vay phải trả và vì vậy lợi nhuận của bạn chỉ còn lại $1,000 ($5,000 -$4,000) Trong trường hợp tài trợ hoàn toàn bằng vốn cổ phần, tức là bạn không hề phải trả một đồng lãi vay nào hết, thì bạn vẫn có 75% lợi nhuân tương đương với $3,750
Do vậy, đối với một công ty được kỳ vọng làm ăn tốt thì tài trợ nợ có thể được sử dụng thường xuyên với mức chi phí thấp hơn
so với tài trợ bằng vốn cổ phần Tuy nhiên, nếu giai đoạn nào công ty không thể vận hành tốt để tạo ra lượng tiền mặt đủ lớn, thìchi phí lãi vay lúc này có thể là một gánh nặng Đây chính là mặt trái của việc tài trợ hoạt động doanh nghiệp bằng nợ Từ đây cóthể thấy, dù nợ có chi phí rẻ hơn vốn cổ phần, doanh nghiệp nào cũng có thể hiểu được điều này, nhưng thời điểm nào thì sửdụng nợ là hợp lý? Hợp lý ở đây có nghĩa là tận dụng được tối đa lợi ích của nợ, tận dụng tối đa lợi ích từ đòn bẩy tài chính từ nợ.Khi nào thì doanh nghiệp nên vay nợ và vay nợ bao nhiêu là thích hợp?
Dễ thấy, các doanh nghiệp không bao giờ có thể chắc chắn 100% về lượng thu nhập trong tương lai (mặc dù họ có thể có những
dự đoán hợp lý) và khi thu nhập tương lai của các doanh nghiệp càng không ổn định thì rủi ro càng tăng lên Do đó, các doanhnghiệp trong ngành có rủi ro kinh doanh thấp, có dòng tiền ổn định thường sử dụng nợ nhiều hơn là các doanh nghiệp trong cácngành nhiều rủi ro hơn Các doanh nghiệp nhỏ hoặc mới bắt đầu hoạt động, đang trong giai đoạn khởi nghiệp cũng sử dụng nợ rất
ít, nếu không muốn nói là không có sử dụng nợ Các doanh nghiệp mới với sự không chắc chắn cao có thể phải trải qua một thờigian đầy khó khăn để tìm được tài trợ bằng nợ vay, nên thường thì các hoạt động của chúng hầu hết được tài trợ bằng vốn cổphần
Ở Việt Nam, nhắc đến nợ, người ta thường có tâm lý e dè, nhất là đối với các doanh nghiệp đang trong thời kỳ “sung mãn”,lượng tiền mặt vô cùng dư thừa thì dường như họ lại càng không quan tâm đến nợ Sau 7 năm TTCKVN ra đời, đi vào hoạt động
và đạt được sự phát triển như hôm nay thì để giải quyết bài toán thiếu vốn, doanh nghiệp niêm yết thường chọn giải pháp vốn cổphần chứ không mấy mặn mà với việc sử dụng tài trợ bằng nợ Các doanh nghiệp dường như đã quên đi lợi ích từ việc sử dụngđòn bẩy tài chính Hi vọng trong tương lai không xa, vấn đề tài trợ bằng nợ sẽ được các doanh nghiệp Việt Nam quan tâm thỏađáng và đạt được hiệu quả tốt nhất trong việc sử dụng nợ Phát hành trái phiếu doanh nghiệp cũng là một hình thức vay nợ củadoanh nghiệp
Giải pháp để giúp hệ thống các ngân hàng thương mại phát triển bền vững và lành mạnh
Doanh nghiệp và ngân hàng luôn có mối quan hệ mật thiết với nhau Hoạt động kinh doanh cũng như tình hình tài chínhcủa doanh nghiệp ảnh hưởng không nhỏ đến “sức khỏe” của các ngân hàng Sau đây là một số giải pháp giúp hệ thống các ngânhàng thương mại phát triển bền vững và lành mạnh trong việc cho vay đối các doanh nghiệp:
- Thẩm định tốt các doanh nghiệp vay vốn bao gồm thẩm định năng lực tài chính thông qua báo cáo tài chính, hỗ trợ
doanh nghiệp tự đánh giá năng lực tài chính của công ty từ đó tính toán hạn mức nhu cầu vốn vay thật sự của doanh nghiệp tránhtình trạng doanh nghiệp vay số tiền vượt nhu cầu thật sự của mình dẫn đến áp lực trả nợ cao Bên cạnh đó, ngân hàng cũng cẩn
Trang 19phải thẩm định tính pháp ly doanh nghiệp, người đại diện công ty trước pháp luật, trụ sở, chi nhánh nhà xưởng máy móc thiết bị
để biết được quy mô hoạt động của doanh nghiệp, quy trình sản xuất cũng như hoạt động tiêu thụ sản phẩm dịch vụ của doanhnghiệp Ngoài ra, thẩm định tài sản (đối với trường hợp vay thế chấp) cũng là một việc quan trọng vì đây là “chốt chặn cuốicùng” phòng ngừa rủi ro cho ngân hàng Việc thẩm định phải đảm bảo nguyên tắc “an toàn” và không chịu áp tăng trưởng dư nợcũng như áp lực từ phía khách hàng
- Theo sát dòng tiền của doanh nghiệp sau khi cho vay để có những xữ lý kịp thời cũng nhu cung cấp các sản phẩm dịch
vụ phù hợp cho doanh nghiệp Ví dụ đối với các doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực thương mại có uy tín thì ngân hàng cóthể hỗ trợ vốn vay bằng cách cung cấp sản phẩm chiết khấu hoặc bao thanh toán nhằm hỗ trợ khả năng thanh toán cho doanhnghiệp Đặc biệt đối với các doanh nghiệp được phép vay tín chấp thì viêc theo sát dòng tiền là điều kiện tiên quyết bắt buộc đốivới ngân hàng để phòng ngừa rủi ro
- Bảo mật thông tin báo cáo tài chính của doanh nghiệp đang vay vốn tại ngân hàng Tránh những tiết lộ gây ảnh
hưởng đền hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp
- Nâng cao hiệu quả công tác kiểm tra sau cho vay.
- Đào tạo đội ngũ cán bộ nhân viên có trình độ để thực hiện tốt công tác thẩm định và chăm sóc khách hàng.
- Thiết kế các sản phẩm dịch vụ phù hợp với mọi loại hình doanh nghiệp và nhu cầu của họ.
- Có chính sách hỗ trợ các doanh nghiệp mới thành lập và có tiềm năng phát triển.
- Cân đối lãi suất huy động và cho vay hợp lý để đảm bảo tính thanh khoản và tăng trưởng dư nợ bền vững.
Theo kinh nghiệm của nhiều nước và từ nhiều nghiên cứu, trừ những cú sốc bất ngờ như khủng hoảng kinh tế, thiên tai…nguyênnhân gây ra tình trạng nợ xấu nhiều nhất là do các ngân hàng không có đầy đủ thông tin từ phía khách hàng của mình mặc dù đã
có rất nhiều nỗ lực trong công tác thẩm định Nói một cách đơn giản, là do cơ chế sàng lọc chưa đủ hiệu lực nên các ngân hàng
đã để "lọt" những khách hàng có khả năng che đậy hành vi và thông tin của kho trong giao dịch vay vốn để thực hiện những dự
Câu 8: Phân tích sự phối hợp giữa chính sách tài khoá và chính sách tiền tệ trong kiểm soát lạm phát Liên hệ thực tiển của Việt Nam trong thời gian qua.
1 Chính sách tài khóa và chính sách tiền tệ trong việc kiểm soát lạm phát (xem thêm câu 1)
Chính sách tài khóa là các chính sách của chính phủ nhằm tác động lên định hướng phát triển của nền kinh tế thông qua nhữngthay đổi trong chi tiêu chính phủ và thuế khóa Chính sách tài khóa khác với những chính sách kinh tế cơ bản khác như chínhsách tiền tệ, đó là chính sách nhằm ổn định nền kinh tế bằng cách kiểm soát tỉ lệ lãi suất và nguồn cung tiền Hai công cụ chínhcủa chính sách tài khóa là chi tiêu của chính phủ và hệ thống thuế Những thay đổi về mức độ và thành phần của thuế và chi tiêucủa chính phủ có thể ảnh hưởng đến các biến số của nền kinh tế như: tổng cầu và mức độ hoạt động kinh tế; kiểu phân bổ nguồnlực; phân phối thu nhập, hay nói cách khác chính sách tài khóa liên quan đến tác động tổng thể của ngân sách đối với hoạt độngkinh tế
Trong khi đó, chính sách tiền tệ chủ yếu tập trung vào ổn định tiền tệ (kiểm soát lạm phát); tăng trưởng kinh tế; tạo việc làm vàcân bằng cán cân thanh toán Tùy theo từng giai đoạn và diễn biến của kinh tế vĩ mô mà chính sách tiền tệ hướng tới mục tiêu ưutiên nào là chủ yếu, chẳng hạn trong giai đoạn lạm phát cao, tăng với tốc độ vừa phải, chính sách tiền tệ thường tập trung ưu tiênvào mục tiêu kiểm soát lạm phát và khi ổn định được lạm phát, mục tiêu của chính sách này lại thường kết hợp với mục tiêu tăngtrưởng Các công cụ của chính sách tiền tệ như chính sách lãi suất tái chiết khấu, chính sách dự trữ bắt buộc, nghiệp vụ thị trường
mở và hạn mức tín dụng có tác động nhanh chóng trong việc kiểm soát lượng tiền cung ứng, từ đó tác động đến lạm phát, và vìvậy, chính phủ các nước thường sử dụng tối đa các công cụ của chính sách tiền tệ nhằm kiểm soát lạm phát về ngắn hạn; nhưngnếu chỉ có chính sách tiền tệ, lạm phát khó có thể được kiểm soát về dài hạn, đặc biệt đối với các nước lạm phát cơ cấu như ViệtNam Vì vậy, các nhà hoạch định chính sách vĩ mô phải kết hợp nhịp nhàng hoạt động hai chính sách này để vừa giải quyết đượccác mục tiêu trước mắt, vừa kiểm soát được lạm phát về lâu dài Thế nhưng trên thực tế, sự phối hợp hai chính sách không phảilúc nào cũng ăn khớp như mong muốn
2 Chính sách tài khóa và chính sách tiền tệ trong kiểm soát lạm phát ở Việt Nam trong thời gian qua
Mặc dù bối cảnh kinh tế quốc tế không mấy sáng sủa, nhưng trong năm 2010, Việt Nam vẫn đạt được mục tiêu tăng trưởng(6,78%) và là một trong số quốc gia có tốc độ tăng trưởng tốt nhất trong khu vực Hệ thống ngân hàng - tài chính giữ được ổnđịnh, các công cụ điều hành mang tính hành chính trong giai đoạn chống suy giảm kinh tế dần dần được dỡ bỏ, các công cụ thịtrường đang dần tái sử dụng, tạo điều kiện cho các doanh nghiệp hồi phục và phát triển sau tác động của khủng hoảng kinh tế vàtài chính trên thế giới Có được kết quả trên, nhờ vào việc chỉ đạo quyết liệt, cùng với phương pháp điều hành chính sách vĩ mô
Trang 20nhanh nhạy, linh hoạt và thận trọng của Chính phủ, trong đó chính sách tiền tệ và chính sách tài khóa - tài chính đóng vai tròquan trọng có quyết định tới ổn định kinh tế vĩ mô và thúc đẩy tăng trưởng
Thế nhưng, trong năm 2010, mặc dù đạt được mục tiêu tăng trưởng GDP, song lạm phát đã vượt mục tiêu gần 2 điểm phần trăm
Có nhiều nguyên nhân dẫn đến kết quả không mong muốn này, trong đó sự phối hợp chưa thực sự nhịp nhàng giữa chính sách tàikhóa và chính sách tiền tệ cũng đã ảnh hưởng tới kết quả kiểm soát lạm phát ở Việt Nam trong thời gian qua Sự phối hợp chưanhịp nhàng giữa hai chính sách vĩ mô quan trọng và có ảnh hưởng mạnh mẽ nhất đến kiểm soát lạm phát trong ngắn hạn là do:
- Thứ nhất: Chủ trương duy trì tăng trưởng cao trong thời gian dài, đặc biệt ngay cả trong thời kỳ khủng hoảng kinh tế, tàichính thế giới đã đè nặng lên chính sách tài khóa và chính sách tiền tệ ở Việt Nam Với mô hình tăng trưởng chủ yếu nhờ vàotăng lượng đầu tư và lấy khu vực kinh tế nhà nước hiện tại hoạt động kém hiệu quả làm chủ đạo và nhờ vào việc bán tài nguyên,gia công trình độ thấp dẫn đến hiệu quả đầu tư thấp Điều này được minh chứng qua số đơn vị cần thiết để tạo ra một điểm phầntrăm tăng trưởng GDP (hệ số ICOR) vào khoảng 6 trong những năm gần đây, dẫn đến quyết định logic về chính sách là để tăngtrưởng cao cần gia tăng đầu tư
- Thứ hai: Kết cục của mô hình tăng trưởng này dẫn đến Chính phủ phải thực thi chính sách tài khóa mở rộng, chấp nhậnthâm hụt ngân sách (5,8%) và phát hành trái phiếu để bù đắp cho nhu cầu đầu tư, đặc biệt là đầu tư công Tổng mức đầu tư banđầu của các dự án, công trình thuộc danh mục đầu tư từ nguồn vốn trái phiếu Chính phủ giai đoạn 2003 - 2010 là 246.447 tỷđồng Hầu hết các dự án đều có điều chỉnh tổng mức đầu tư so với phê duyệt ban đầu Có dự án điều chỉnh tổng mức đầu tư lên 3
- 4 lần, riêng phần vốn trái phiếu Chính phủ một số dự án điều chỉnh tới trên chục lần, qua tổng hợp của Bộ Kế hoạch và Đầu tưtổng mức đầu tư điều chỉnh từ các bộ, ngành, địa phương đã lên tới 558.654 tỷ đồng (tăng 226%) Uỷ ban Tài chính - Ngân sáchcho rằng, tổng mức đầu tư các công trình, dự án sử dụng nguồn vốn này đã “tăng quá cao so với khả năng cân đối của ngân sách,ảnh hưởng đến khả năng vay và trả nợ” Trong khi cơ chế điều hành, quản lý nguồn vốn chưa hợp lý số lượng dự án hoàn thànhcòn quá ít, ảnh hưởng không nhỏ đến hiệu quả sử dụng vốn
- Thứ ba: Chinh sách tài khóa với chi tiêu công quá mạnh trong khu vực đầu tư, làm tăng tỷ lệ đầu tư/GDP ở mức 44,2%năm 2010 - cao nhất châu Á, sau Trung Quốc Do nền kinh tế kém hiệu quả nên các khoản đầu tư công cũng không mấy hiệu quả
đã tạo ra sự mất cân đối giữa lượng hàng hóa với số lượng tiền trong nền kinh tế và kết quả tất yếu phải xảy ra là lạm phát Chitiêu công và nợ công tăng cao trong những năm gần đây đã tạo ra sức ép nặng nề lên giá cả hàng hóa Điều này cũng giải thích tạisao chính sách tiền tệ đã kiểm soát tăng trưởng tín dụng (28%) và gia tăng tổng phương tiện thanh toán (25%) khá tốt năm 2010nhưng lạm phát vẫn ở mức 2 chữ số Đây cũng chính là nguyên nhân cơ bản của lạm phát ở Việt Nam trong nhiều năm qua
- Thứ tư: Một minh chứng khác cho việc thiếu sự phối hợp nhịp nhàng giữa chính sách tài khóa và chính sách tiền tệ làtrong nhiều thời điểm, trong khi chính sách tiền tệ đang vận hành theo hướng thắt chặt tiền tệ để ổn định giá cả, Chính phủ lạiđiều chỉnh tăng giá một số mặt hàng như xăng dầu, giá điện Sự không nhất quán này đã phần nào làm giảm hiệu lực của chínhsách tiền tệ trong việc kiểm soát lạm phát ở Việt Nam trong thời gian qua Ngay trong tháng 12 năm 2010, chính sách tiền tệ đãbắt đầu có dấu hiệu thắt chặt thông qua việc tăng lãi suất cơ bản nhưng chính sách tài khóa dù có dấu hiệu thắt chặt hơn nhưngnhìn chung, vẫn theo hướng nới lỏng
- Thứ năm: Trong khi chính sách tiền tệ đang điều hành theo hướng giảm lãi suất thị trường để tạo điều kiện cho các doanhnghiệp vay vốn với chi phí thấp thì để huy động vốn cho gia tăng đầu tư công, Chính phủ phải tăng cường phát hành trái phiếuchính phủ với lãi suất ở một số thời điểm lên tới 11 - 12%/năm, cao hơn lãi suất huy động vốn của các tổ chức tín dụng, sau mộtthời gian, mức lãi suất huy động trái phiếu đã giảm xuống 9,6% năm, nhưng vẫn cao hơn so với mức rủi ro của công cụ tài chínhnày Các ngân hàng thương mại với động cơ tối đa hóa lợi nhuận và giảm thiểu rủi ro, họ đã sử dụng vốn huy động được trên thịtrường mua trái phiếu chính phủ hấp dẫn hơn là cho các doanh nghiệp vay và mức lãi suất này vô hình trung đã đẩy mức lãi suấthuy động trên thị trường lên cao Đây là một biểu hiện của sự chưa ăn khớp giữa vận hành của chính sách tài khóa với chính sáchtiền tệ trong thời gian qua
- Thứ sáu: Sự thiếu phối hợp, trao đổi thông tin trong điều hành chính sách tiền tệ và chính sách tài khóa cũng đã ảnhhưởng tới việc điều hành của chính sách sách tiền tệ về ngắn hạn Điều hành chính sách tiền tệ đòi hỏi có hệ thống thông tin tàichính đầy đủ, cập nhật và chính xác, thế nhưng trong một số trường hợp các thông tin, báo cáo về các vấn đề tài chính công, đặcbiệt chi tiêu và đầu tư công lệch pha về thời gian với yêu cầu điều hành chính sách tiền tệ
3 Một số đề xuất tăng cường sự phối hợp trong thời gian tới
Chính sách tiền tệ và chính sách tài khóa là hai bộ phận trọng yếu trong điều tiết vĩ mô nền kinh tế và đặc biệt trong kiểm soát lạm phát Hai chính sách này trên thực tế được hoạch định và thực thi khá riêng biệt bởi hai cơ quan khác nhau của Chính phủ, nhưng lại cùng một mục tiêu vĩ mô là thúc đẩy tăng trưởng kinh tế ổn định và bền vững, và vì vậy, hoạt động của hai chính sách này có mối quan hệ đan xen và ảnh hưởng lẫn nhau Để tăng cường hiệu quả của hai chính sách này cần phải có sự kết hợp nhịp nhàng và đồng bộ theo hướng sau đây:
- Thứ nhất: Chính phủ cần đưa ra một kế hoạch tổng thể chính sách về tài chính - tiền tệ năm 2011, trong đó các vấn đề
về cân đối bội chi ngân sách, cân đối đầu tư công cần được tính toán, nghiên cứu trong mối quan hệ chặt chẽ tới các chỉ tiêu quan trọng của chính sách tiền tệ: tổng phương tiện thanh toán và tăng tưởng tín dụng Tránh hiện tượng trong khi chính sách tiền tệ đang tìm cách thắt chặt để kiểm soát lạm phát thì chính sách tài khóa lại nới lỏng cho đầu tư công như thời gian vừa qua.
Trang 21- Thứ hai: Việc phát hành trái phiếu chính phủ với khối lượng lớn trong năm qua cho chi tiêu công đã dẫn tới hiện tượng khan hiếm vốn cho khu vực sản xuất, các doanh nghiệp vẫn thiếu vốn và lãi suất cho vay vẫn ở mức cao cho dù chính sách tiền tệ
đã kiểm soát tốt các chỉ tiêu tổng phương tiện thanh toán và tăng trưởng tín dụng Do vậy, để ưu tiên vốn cho khu vực sản xuất kinh doanh, thúc đẩy tăng trưởng, Chính phủ cần nghiên cứu giảm phát hành trái phiếu chính phủ cho đầu tư công trong năm
2011 và các năm tiếp theo.
- Thứ ba: Lãi suất phát hành trái phiếu cần được nghiên cứu, tính toán với mặt bằng lãi suất huy động chung của hệ thống ngân hàng thương mại, hạn chế các ngân hàng thương mại sử dụng vốn huy động để mua trái phiếu chính phủ và cần tăng cường phối hợp giữa chính sách tiền tệ và chính sách tài khóa trong việc xác định lãi suất đảm bảo ổn định lãi suất thị trường
- Thứ tư: Từng bước giảm bội chi ngân sách theo hướng Chính phủ chỉ đầu tư các công trình cơ sở hạ tầng trọng điểm liên quan đến quốc kế dân sinh, khuyến khích khu vực kinh tế tư nhân tham gia đầu tư các công trình xây dựng cơ sở hạ tầng thông qua hình thức đối tác công tư (PPP)
- Thứ năm: Nguyên nhân căn bản của lạm phát ở Việt Nam trong thời gian qua là mô hình tăng trưởng dựa vào đầu tư nhưng lại kém hiệu quả và thực hiện chính sách tài khóa mở rộng, và vì vậy, để kiểm soát lạm phát ở Việt Nam trong thời gian tới, Chính phủ cần kiên định với mục tiêu ưu tiên ổn định vĩ mô thay vì thúc đẩy tốc độ tăng trưởng GDP, thậm chí cần đặt mục tiêu tăng trưởng thấp hơn (khoảng 6 - 6,5%) để kiểm soát lạm phát ở mức 5 - 6% năm 2011 và duy trì tỷ lệ lạm phát ở mức 3 - 4% những năm tiếp theo Làm được như vậy nền kinh tế sẽ duy trì tốc độ tăng trưởng vững chắc và lâu dài.
- Thứ sáu: Cần phải có sự phối hợp chặt chẽ giữa chính sách tiền tệ và chính sách tài khóa ngay từ khâu xây dựng và hoạch định chính sách, trước mắt năm 2011, cả hai chính sách này phải nên được thắt chặt để giảm tổng cầu và ngăn chặn lạm phát, chính sách tài khóa cần được xây dựng theo hướng giảm dần thâm hụt tài chính tổng thể và thâm hụt ngân sách nên được duy trì ở mức 4 - 5%/năm.
Câu 9: Trình bày các quan điểm lựa chọn cấu trúc tài chính trong điều kiện thông tin bất cân xứng và khuynh hướng tài trợ vốn của hệ thống tài chính Việt Nam trong thời gian tới
Thuyết trật tự phân hạng thị trường được nghiên cứu khởi đầu bởi Myers và Majluf (1984) dự đoán không có cơ cấu nợ trên vốn
cổ phần mục tiêu rõ ràng
Giả thuyết rằng ban quản trị cho biết về hoạt động tương lai của doanh nghiệp nhiều hơn các nhà đầu tư bên ngoài (thông tinkhông cân xứng) và việc quyết định tài chính có lẽ cho biết mức độ kiến thức của nhà quản lý và sự không chắc chắn về lưulượng tiền mặt tương lai
Khi ban quản trị tin tưởng cổ phiếu được đánh giá cao hơn là đánh giá thấp, họ có thể phát hành chứng khoán (nguồn tài chínhbên ngoài) Vì thế, khi doanh nghiệp đi theo thị trường vốn bên ngoài, những thị trường này chấp nhận cổ phiếu được đánh giácao hơn là đánh giá thấp, và vì vậy, hoạt động này sẽ chuyển tải thông tin không thuận lợi cho các nhà đầu tư Kết quả là banquản trị sẽ nỗ lực để tránh đi theo các thị trường vốn (nguồn tài chính bên ngoài) Nếu ban quản trị đi theo những thị trường vốnnày, có khả năng họ phát sinh nợ nhiều hơn nếu như họ tin là cổ phiếu của họ được đánh giá thấp và sẽ sinh ra vốn cổ phần nếunhư họ cho rằng cổ phiếu của họ được đánh giá cao
Vì vậy, sự phát hành vốn cổ phần từ việc bán cổ phiếu sẽ chuyển tải nhiều thông tin không thuận lợi hơn là sự phát hành tiền chovay Điều này khiến các nhà quản trị quan tâm đến tiền cho vay hơn là vốn cổ phần từ việc bán cổ phiếu
Những quyết định về kết cấu vốn không dựa trên tỷ lệ Nợ/Tài sản tối ưu mà được quyết định từ việc phân hạng thị trường Trướchết, các nhà quản trị sẽ dự định sử dụng nguồn tài chính nội bộ, tiếp đến là vay nợ ngân hàng ( vay nợ phát ra tín hiệu về chấtlượng kinh doanh của doanh nghiệp, chi phí vay được tính vào chi phí kinh doanh có sự chia sẻ kinh tế của nhà nước, doanhnghiệp kg bị chia sẻ quyền quản lý và dưới áp lực lãi suất doanh nghiệp phải hoạt động có hiệu quả, đồng thời tránh tâm lý ỷ lạicủa giám đốc), tiếp đến có thể phát hành tiền cho vay (phát hành trái phiếu, trái phiếu có khả năng chuyển đổi) và cuối cùng làphát hành vốn cổ phần (việc phát hành cổ phiếu kg gây áp lực trả cổ tức cho cổ đông, nhưng ảnh hưởng đến đạo đức kinh doanh)
Khuynh hướng tài trợ vốn của hệ thống tài chính VN trong thời gian tới:
Với việc cải thiện và nâng cao chất lượng của hệ thông ngân hàng và thị trường chứng khoán thì đây là 2 kênh huy động tài chínhchính của doanh nghiệp
Ngân hàng chiếm ưu thế trong hệ thống tài chính của các nước nói chung và VN nói riêng, việc sử dụng ngân hàng như là kênhtài trợ tài chính có những ưu điểm sau:
Cải thiện tình trạng thông tin bất cân xứng
Cung cấp các cơ chế giảm thiểu rủi ro
Cải thiện tình trạng chiếm lĩnh thông tin của DN
Không chi phối hoạt động kinh doanh của DN
Khắc phục tình trạng thông tin nội gián
Khắc phục tình trạng sử dụng thông tin không trả phí
Trang 22Ở VN trong những năm trở lại đây, TTCK khẳng định được tầm quan trọng trong nền kinh tế và qui mô ngày càng tăng lên sovới ngân hàng cùng với sự phát triển kinh tế xã hội Do đó, TTCK là kênh tài trợ tài chính không thể bỏ qua của các DN Ưuđiểm của kênh TTCK:
Kích thích sự đổi mới và tăng trưởng dài hạn
Cung cấp nhiều công cụ quản lý rủi ro
Không giới hạn qui mô tài trợ vốn
Liên kết và gia tăng tiềm lực đầu tư
Cung cấp nguồn vốn dài hạn
Khắc phục các yếu kém của hệ thông ngân hàng
Câu 10: - Phân tích những lợi ích chi phí khi tham gia khu vực đồng tiền chung.
- Nhưng điều kiện cơ bản khi xây dựng khu vực đồng tiền chung.
- Nhận định về điều kiện xây dựng đồng tiền chung khu vực Asean.
1 Lợi ích – chi phí
- Giảm chi phí trong thương mại
- Xóa bỏ thị trường ngoại tệ với các đồng tiền trong khu vực Ví dụ: thống kê trong EUROZONE khoảng tiết kiệm này lên đến0.25 -0.5% GDP
- Thúc đẩy TM; gia tăng đầu tư
- Lợi ích thu được từ việc sử dụng một đồng tiền quốc tế
- Tăng trưởng kinh tế
- Dỡ bỏ các ràng buộc thương mại là điều bắt buộc trong nội khối=> nhằm tăng cạnh tranh
- Mất sự độc lập cũng như tự quyết của mỗi nước trong các quyết định liên quan đến chính sách tiền tệ
- Liên minh tiền tệ và cú sốc do sự không cân xứng
- Tác động lên thị trường lao động ?
- Chi phí để các tổ chức và cá nhân thực hiện sự thay đổi, điều chỉnh
- Lạm phát và thất nghiệp
- Sự khác biệt trong hệ thống tài chính và pháp luật => khó khăn trong quản lý
- Mất doanh thu từ việc in tiền
- Sự khác nhau về tốc độ tăng trưởng
- Mất đi ý nghĩa văn hóa (các hình in trên tiền của từng nước)
2 Điều kiện
- Trình độ phát triển kinh tế giữa các nước tương đương, ví dụ: khoảng cách về thu nhập bình quân đầu người giữa các nướcthấp
- Giá tương đương và đầu ra sản phẩm có khả năng lưu chuyển cao trong nội khối
- Tự do trong dịch chuyển lao động và tài chính giữa các nước thành viên
- Chính sách tài khóa/ ngân sách tương ứng giữa các thanh viên trong nội khối
- Năng lực điều hành của Ngân hàng TW tốt, hệ thống ngân hàng tốt
3 Asean
Hiện nay khu vực Asean gặp một số trở ngại khi muốn xây dựng khu vực đồng tiền chung như sau:
- Sự khác biệt về trình độ phát triển kinh tế giữa các thành viên Ví dụ: Sing – nước phát triển nhất khu vực có thu nhập bìnhquân đầu người cao gấp hơn 200 lần so với Myanmar – nước nghèo nhất khu vực
- Mặc dù đã có CEPT nhưng việc lưu chuyển hàng hóa giữa các nước thành viên còn thấp
- Lao động và tài chính dịch chuyển tương đối dễ dàng nhưng không tự do hoàn toàn
- Các nước thành viên theo duổi các chính sách tài khóa/ quản lý ngân sách khác nhau, không tương ứng
=> Từ đó thấy việc xây dựng đồng tiền chung cho KV Asean hiện nay là không khả thi
Câu 11:- Phân tích lợi ích và chi phí đối với nguồn vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài.
- Đánh giá khái quát về nguồn vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài ở nước ta.
Trang 23- Các giải pháp cơ bản nâng cao hiệu quả sử dụng nguồn vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài.
1 Phân tích lợi ích và chi phí đối với nguồn vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài.
Thúc đẩy chuyển giao công nghệ
Các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài nhìn chung có trình độ công nghệ khá tiên tiến, phương thức kinh doanh hiệnđại Các khu công nghiệp và khu chế xuất với yêu cầu thu hút vốn FDI đã được hình thành và phát triển và ngược lại, thông quađầu tư nước ngoài, hệ thống các khu công nghiệp, khu chế xuất đã có sự phát triển khá mạnh và vững chắc Trong các khu côngnghiệp này, FDI đã giúp Việt Nam hình thành và phát triển những ngành công nghiệp khá hiện đại như khai thác chế biến dầukhí, lắp ráp xe hơi- xe máy, nâng cấp các ngành công nghiệp truyền thống hiện hữu như may mặc, chế biến lương thực – thựcphẩm, đào tạo huấn luyện nhân lực theo các tiêu chuẩn quốc tế… Nhiều sản phẩm của các công ty có vốn đầu tư nước ngoài đã
đủ sức cạnh tranh trên thị trường trong nước và hướng tới xuất khẩu Những lĩnh vực quan trọng của nền kinh tế quốc dân nhưviễn thông, dầu khí, du lịch đang phát triển nhanh chóng nhờ có sự đóng góp quan trọng của khu vực đầu tư trực tiếp nước ngoài.Hơn thế nữa, đầu tư trực tiếp nước ngoài góp phần nâng cao trình độ công nghệ của các doanh nghiệp sản xuất trong nước
Tạo việc làm, phát triển nguồn nhân lực
Mở rộng thị trường xuất khẩu và nâng cao năng lực cạnh tranh trên thị trường thế giới
Tác động lan tỏa của đầu tư nước ngoài đến các thành phần kinh tế khác trong nền kinh tế: Các cán bộ quản lý và cán bộ
kỹ thuật trong nước được kích thích nâng cao trình độ khi giao dịch với các đối tác nước ngoài
Đóng góp đáng kể vào ngân sách nhà nước và các cân đối vĩ mô
- Về mặt xã hội:
Đầu tư nước ngoài góp phần quan trọng trong việc tạo việc làm, tăng năng suất lao động, cải thiện nguồn nhân lực
Góp phần mở rộng quan hệ đối ngoại, chủ động hội nhập kinh tế với khu vực và thế giới
1.2 Chi phí
***Hạn chế
- Sự mất cân đối về ngành nghề, vùng lãnh thổ
- Sự yếu kém trong chuyển giao công nghệ
- Tranh chấp lao động trong khu vực có vốn đầu tư nước ngoài chưa được giải quyết kịp thời
- Sự phụ thuộc về kinh tế của các nước nhận đầu tư
- Rút vốn ồ ạt và bất ngờ có thể gây khủng hoảng
- Chi phối thị trường, khai thác nguồn tài nguyên và tác động đến môi trường (ô nhiễm)
2 Đánh giá khái quát về nguồn vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài ở nước ta.
Tính từ 1995 đến 2010, cả nước đã cấp giấy phép đầu tư cho khoảng 11.834 dự án ĐTNN với tổng vốn đăng ký là
192,576 triệu USD (Bao gồm cả vốn tăng thêm của các dự án đã được cấp phép từ các năm trước), trong đó vốn thực hiện đạt
trên 72,933.7 triệu USD
2.1 Về lĩnh vực
Lĩnh vực công nghiệp và xây dựng vẫn luôn là lĩnh vực thu hút sự quan tâm lớn nhất của nhà đầu tư nước ngoài Cho tới
tháng 12/2010, lĩnh vực này đứng ở trí số 1 trong danh mục thu hút vốn FDI Tổng vốn đầu tư đăng ký mới và tăng thêm tronglĩnh vực này là 9,77 tỷ USD, chiếm 58,73% tổng vốn đầu tư đăng ký
Lĩnh vực dịch vụ: Song song với việc khuyến khích đầu tư vào công nghiệp-xây dựng, chúng ta cũng đã tạo nhiều điều kiện
thuận lợi cho khu vực dịch vụ phát triển, tập trung vào các ngành dịch vụ trực tiếp phục vụ sản xuất và xuất khẩu, chủ yếu là dịch
vụ lưu trú và ăn uống (295 dự án), giao thông vận tải-thông tin truyền thông (636 dự án), kinh doanh bất động sản (xây dựng khu
đô thị, khu vui chơi giải trí )
Lĩnh vực Nông – Lâm – Ngư nghiệp: Đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) vào lĩnh vực nông nghiệp trong những năm qua chỉ
chiếm khoảng 3,92% số dự án FDI cả nước, quá thấp so với tiềm năng của Việt Nam mặc dù chính phủ đã dành nhiều ưu đãi cholĩnh vực này Cụ thể trong giai đoạn 1988-2010, số vốn FDI cho nông nghiệp chỉ chiếm 1,60% tổng số vốn FDI Năm 2010, lĩnhvực Nông – Lâm – Ngư chỉ có 11 dự án được cấp mới, với vốn đăng ký được cấp mới hơn 10 triệu USD, chiếm 1,14% số dự áncấp mới và 0,06% vốn đăng ký cấp mới, trong đó, các dự án hoạt động có hiệu quả bao gồm chế biến mía đường, gạo, xay xát bột
mì, sắn, rau; tiếp theo là các dự án trồng rừng và chế biến lâm sản, chăn nuôi và chế biến thức ăn gia súc
2.2 Về vùng lãnh thổ
Trang 24Qua 22 năm (1988 – 2010) đã có 92 quốc gia và vùng lãnh thổ đã tham gia đầu tư vào thị trường Việt Nam với tổng số vốnđăng ký gần 193 tỷ USD, với 12.213 dự án Trong đó dẫn đầu là các nước Châu Á – Thái Bình Dương chiếm khoảng 67% về vốnđăng ký, kế đến là các nước Châu Âu chiếm khoảng 21%, các nước Châu Mỹ chiếm 11% nhiều nhất là Hoa Kỳ chiếm gần 7%,các nước thuộc Châu Phi chiếm khoảng 1%.
Tính theo lũy kế đến 12/2010, Đài Loan vẫn là quốc gia đứng đầu về việc đăng ký vốn vào Việt Nam với 2.146 dự án, đạt22.814.404.331 USD, kế đến là Hàn Quốc với 2.650 dư án đạt 22.132.764.175 USD, Singapore, Nhật Bản, đặc biệt trong nhữngnăm gần đây số vốn Hoa Kỳ đầu tư vào Việt Nam không ngừng tăng lên và Hoa Kỳ đã vươn lên dẫn đầu vào năm 2009 Trongnăm 2010, “hiện tượng” Hà Lan trở thành nhà đầu tư đăng ký vốn rất lớn, thế chỗ cho các đối tác truyền thống như Hoa Kỳ, HànQuốc… nguyên nhân là do Nhà máy Điện Mông Dương 2 là quá trình đàm phán của chúng ta trong suốt nhiều năm qua và 2010
là năm kết thúc
2.3 Về địa phương
Vùng kinh tế trọng điểm phía Nam – khu vực Đông Nam Bộ: Chiếm tỷ trọng thu hút FDI nhiều nhất là, với ưu thế vượt
trội về cơ sở hạ tầng, thuận lợi trong giao thông đường thủy, bộ, hàng không, năng động trong tư duy kinh doanh đã thu hút 7360
dự án với tổng vốn đầu tư đạt 95,51 tỷ USD, chiếm 52% tổng vốn đăng ký Tp.Hồ Chí Minh với định hướng hình thành trungtâm dịch vụ cấp cao theo hướng tập trung vào Tài chính-Ngân hàng và các ngành công nghệ cao (như công viên phần mềmQuang Trung) dẫn đầu cả nước với vốn đăng ký 30 tỷ USD chiếm 30% tổng vốn đăng ký của Vùng; thu hút được 3475 dự án đầu
tư Tiếp theo thứ tự là Vũng Tàu, Đồng Nai, Bình Dương (Xem bảng 2.4 Phần Phụ lục) Các tỉnh này đã có sự gia tăng số vốnđăng kí nhanh chóng trong những năm qua nhờ vào những cải cách hành chính cũng như cải thiện cơ sở hạ tầng trong khu vực…
Vùng trọng điểm phía Bắc – khu vực Đồng bằng sông Hồng: Với vị thế là trung tâm thủ đô khu vực này đã thu hút 3108
dự án với vốn đầu tư trên 34,7 tỷ USD, chiếm 18% về tổng vốn đăng ký cả nước; trong đó Hà Nội đứng đầu với 1926 dự án, vốnđăng ký đạt 20,25 tỷ USD Tiếp theo thứ tự là Hải Phòng, Hải Dương, Vĩnh Phúc…
Vùng trọng điểm miền Trung – khu vực Bắc Trung Bộ và Duyên hải Nam Trung Bộ: Cơ sở hạ tầng, giao thông từng
bước được cải thiện cộng với nhiều chính sách ưu đãi đã đưa vùng này trở thành điểm sáng về thu thu hút đầu tư với những dự ánlọc hóa dầu, các khu du lịch, trung tâm nghỉ dưỡng đạt chuẩn quốc tế… có quy mô lớn, thu hút được 595 dự án với tổng vốnđăng ký 40,1 tỷ USD chiếm 21% tổng vốn đăng ký của cả nước Dẫn đầu khu vực này là Hà Tĩnh thu hút 24 dự án lớn với vốnđăng ký khoảng 8 tỷ USD, tiếp theo là Phú Yên, Thanh Hóa, Quảng Nam…
Vùng Tây Bắc, Tây Nguyên và Đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL): Trong số 10 địa phương dẫn đầu về thu hút FDI từ
trước đến nay thì không có tỉnh miền núi, các tỉnh khu vực Tây Nguyên nào Thực tế này cho thấy, một số tỉnh miền núi phía bắc,Tây Nguyên, ĐBSCL thu hút được rất ít dự án FDI mặc dù Chính phủ đã có chính sách ưu đãi đầu tư đặc biệt cho các tỉnh đó vàchính quyền địa phương cũng rất quan tâm đến hoạt động xúc tiến đầu tư
Nhìn chung vốn FDI có xu hướng ngày càng dịch chuyển vào các vùng trọng điểm phía Nam và miền Trung, giảm dần ở cácvùng miền Bắc Cơ cấu FDI theo vùng miền chưa thực hiện được mục tiêu là rút ngắn khoảng cách về trình độ cũng như tốc độphát triển giữa các vùng mà trái lại còn làm giãn xa hơn Do đó, trong những năm tới, Nhà nước cần phải điều chỉnh cơ cấu đầu
tư theo vùng lãnh thổ, từng bước phù hợp với kế hoạch phát triển kinh tế
3 Các giải pháp cơ bản nâng cao hiệu quả sử dụng nguồn vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài.
- Phối hợp chặt chẽ giữa Trung ương và địa phương trong việc cấp phép và quản lý các dự án đầu tư nước ngoài
- Thực hiện các cam kết quốc tế sau khi gia nhập WTO để tạo ra một sân chơi lành mạnh nhằm thu hút nhiều nguồn vốn đầu
tư nước ngoài vào Việt Nam
3.2 Về các giải pháp quy hoạch:
- Rà soát, quy hoạch ngành, vùng chiến lược, từng bước mở cửa thị trường hàng hoá - dịch vụ theo lộ trình cam kết quốc tế
và thực hiện các cam kết quốc tế
- Chính phủ cần xây dựng quy hoạch phát triển các ngành công nghiệp như xe máy, xi măng, điện, điện tử; các lĩnh vực dịch
vụ – nơi có giá trị gia tăng nhất
- Sửa đổi, bổ sung các quy định về chuyển giao công nghệ và bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ; quy định cụ thể Danh mục dự ánđặc biệt khuyến khích đầu tư theo Điều 37 của Nghị định 164/2003/NĐ-CP quy định chi tiết thi hành Luật thuế thu nhập doanhnghiệp
- Hoàn chỉnh quy hoạch ngành y tế cũng như cơ chế quản lý y tế để tháo gỡ những vướng mắc hiện nay trong thu hút nguồnFDI vào lĩnh vực khám chữa bệnh, sản xuất và cung ứng thuốc chữa bệnh, vắc – xin, sinh phẩm học, trang thiết bị y tế,…;
Trang 25- Làm rõ các lĩnh vực không cấp phép đầu tư và đầu tư có điều kiện, trong đó chú trọng lĩnh vực văn hoá thông tin theohướng minh bạch, cụ thể và phù hợp với các cam kết quốc tế; cho phép ngân hàng nước ngoài, ngân hàng liên doanh tự quyếtđịnh việc mở tài khoản không kỳ hạn hoặc có kỳ hạn tại các tổ chức tín dụng nước ngoài; đẩy nhanh tiến độ thực hiện các nộidung triển khai chậm hoặc chưa triển khai đã cam kết trong Sáng kiến chung Việt Nam – Nhật Bản, Hiệp định thương mại Việt -Mỹ,…
3.3 Về xúc tiến đầu tư:
- Ðể thu hút dòng vốn FDI đúng mục tiêu và định hướng, công tác xúc tiến đầu tư cần tiếp tục được đổi mới theo hướng bốtrí các nguồn lực để xúc tiến đầu tư theo chuyên đề, theo ngành, lĩnh vực và theo vùng, miền Không xúc tiến đầu tư theo địa giớihành chính để bảo đảm tính liên kết vùng, miền, tận dụng tối đa các tiềm năng thế mạnh của vùng, miền và giảm đầu tư theophong trào, theo thành tích
- Cần phải có chiến lược kêu gọi đầu tư, tăng cường các hoạt động đối ngoại, tích cực xúc tiến đầu tư qua mọi phương tiện,mọi kênh thông tin với các nước trên thế giới thông qua các chuyến thăm, làm việc cấp cao của lãnh đạo Đảng, Nhà nước vàChính phủ; tổ chức các cuộc hội nghị, hội thảo tổ chức trong và ngoài nước
3.4 Về cải thiện cơ sở hạ tầng:
- Tiến hành tổng rà soát, điểu chỉnh, phê duyệt và công bố các quy hoạch về kết cấu hạ tầng đến năm 2020 làm cơ sở thu hútđầu tư phát triển kết cấu hạ tầng Tranh thủ tối đa các nguồn lực để đầu tư phát triển kết cấu hạ tầng, đặc biệt là nguồn vốn ngoàingân sách nhà nước; ưu tiên các lĩnh vực cấp, thoát nước, vệ sinh môi trường (xử lý chất thải rắn, nước thải.v.v.); hệ thống đường
bộ cao tốc, trước hết là tuyến Bắc-Nam; nâng cao chất lượng dịch vụ đường sắt; sản xuất và sử dụng điện từ các loại năng lượngmới như sức gió, thủy triều, nhiệt năng từ mặt trời; các dự án lĩnh vực bưu chính viễn thông, công nghệ thông tin
- Ngoài ra cần phải quy hoạch, nâng cấp hệ thống điện, nước sạch và đường truyền Internet băng thông rộng Giá cước, phícác loại hàng hoá, dịch vụ công cộng cần phải có sự điều chỉnh tương đương với các nước trong khối Asean nhằm đáp ứng tối đacác nhu cầu mà nhà đầu tư nước ngoài đã đặt ra
3.5 Về nguồn nhân lực:
Cần nâng cao số lượng cũng như chất lượng nguồn lao động Việt Nam đáp ứng được nhu cầu về nguồn lao động do các nhàđầu tư nước ngoài đặt ra như: trình độ tay nghề - kỹ thuật, trình độ ngoại ngữ, sức khoẻ và tác phong làm việc công nghiệp
3.6 Một số giải pháp khác:
- Xây dựng chính phủ điện tử và phổ biến thương mại điện tử Thúc đẩy thiết kế và xây dựng các website của Chính phủ,
chính quyền địa phương và các doanh nghiệp để các nhà đầu tư dễ dàng tiếp cận các nguồn thông tin FDI ban đầu có chất lượng
và trung thực thông qua mạng Internet
- Thu hút nguồn vốn đầu tư của Việt kiều về nước Chính phủ cần có những chính sách, cơ chế nhằm kêu gọi, thu hút các
Việt kiều về nước đầu tư do họ có những trình độ quản lý, nắm bắt công nghệ phương Tây, thêm nữa giúp quảng bá tốt hơn cácchính sách đầu tư của Việt nam với các đối tác kinh doanh quốc tế của mình
Công cụ tỷ lệ dự trữ bắt buộc: là tỷ lệ giữa số lượng phương tiện cần vô hiệu hóa trên tổng số tiền gửi huy động, nhằmđiều chỉnh khả năng thanh toán (cho vay) của các Ngân hàng thương mại
Công cụ nghiệp vụ thị trường mở: là hoạt động Ngân hàng Trung ương mua bán giấy tờ có giá ngắn hạn trên thị trườngtiền tệ, điều hòa cung cầu về giấy tờ có giá, gây ảnh hưởng đến khối lượng dự trữ của các Ngân hàng thương mại, từ đó tác độngđến khả năng cung ứng tín dụng của các Ngân hàng thương mại dẫn đến làm tăng hay giảm khối lượng tiền tệ
Công cụ lãi suất tín dụng: đây được xem là công cụ gián tiếp trong thực hiện chính sách tiền tệ bởi vì sự thay đổi lãi suấtkhông trực tiếp làm tăng thêm hay giảm bớt lượng tiền trong lưu thông, mà có thể làm kích thích hay kìm hãm sản xuất Nó là 1công cụ rất lợi hại Cơ chế điều hành lãi suất được hiểu là tổng thể những chủ trương chính sách và giải pháp cụ thể của Ngânhàng Trung ương nhằm điều tiết lãi suất trên thị trường tiền tệ, tín dụng trong từng thời kỳ nhất định
Công cụ hạn mức tín dụng: là 1 công cụ can thiệp trực tiếp mang tính hành chính của Ngân hàng Trung ương để khốngchế mức tăng khối lượng tín dụng của các tổ chức tín dụng Hạn mức tín dụng là mức dư nợ tối đa mà Ngân hàng Trung ươngbuộc các Ngân hàng thương mại phải chấp hành khi cấp tín dụng cho nền kinh tế
Tỷ giá hối đoái:Tỷ giá hối đoái là tương quan sức mua giữa đồng nội tệ và đồng ngoại tệ Nó vừa phản ánh sức mua củađồng nội tệ, vừa là biểu hiên quan hệ cung cầu ngoại hối Tỷ giá hối đoái là công cụ, là đòn bẩy điều tiết cung cầu ngoại tệ, tác
Trang 26động mạnh đến xuất nhập khẩu và hoạt động sản xuất kinh doanh trong nước Chính sách tỷ giá tác động một cách nhạy bén đếntình hình sản xuất, xuất nhập khẩu hàng hóa, tình trạng tài chính, tiện tệ, cán cân thanh toán quốc tế, thu hút vốn đầu tư, dự trữcủa đất nước Về thực chất tỷ giá không phải là công cụ của chính sách tiền tệ vì tỷ giá không làm thay đổi lượng tiền tệ trong lưuthông Tuy nhiên ở nhiều nước, đặc biệt là các nước có nền kinh tế đang chuyển đổi coi tỷ giá là công cụ hỗ trợ quan trọng chochính sách tiền tệ.
Các công cụ tài chính: chứng khoán nợ (trái phiếu), chứng khoán vốn (cổ phiếu)
Các công cụ tài chính chủ yếu của hệ thống tài chính Quốc gia Việt Nam có những loại sau đây:
4 Hợp đồng mua trước và hợp đồng tương lai
Hội nhập kinh tế quốc tế là một xu thế khách quan trong thời đại ngày nay Không một quốc gia nào có thể phát triển được nếukhông tham gia vào quá trình này Đối với các nước đang và kém phát triển, trong đó có Việt Nam, thì hội nhập kinh tế quốc tế làcon đường tốt nhất để rút ngắn sự tụt hậu so với các nước khác và có điều kiện phát huy hiệu quả hơn nữa những lợi thế so sánhcủa mình trong phân công lao động và hợp tác quốc tế
Nắm bắt được xu thế chung của thời đại, từ năm 1986 đến nay, Việt Nam đã tiến hành công cuộc đổi mới và đẩy mạnh hội nhậpkinh tế quốc tế với phương châm “đa dạng hóa, đa phương hóa quan hệ đối ngoại.”
Việt Nam luôn thực hiện nhất quán đường lối đối ngoại độc lập tự chủ, hòa bình, hợp tác và phát triển; chính sách đối ngoại rộng
mở, đa phương hóa, đa dạng hóa các quan hệ quốc tế, chủ động và tích cực hội nhập kinh tế quốc tế, đồng thời mở rộng hợp tácquốc tế trên nhiều lĩnh vực Việt Nam là bạn, là đối tác tin cậy của các nước trong cộng đồng quốc tế, tham gia tích cực vào tiếntrình hợp tác quốc tế và khu vực Theo tinh thần đó, năm 1992, Việt Nam đã nối lại quan hệ với IMF, WB, ADB Tháng 7 năm
1995, Việt Nam gia nhập Hiệp hội các Quốc gia Đông Nam Á (ASEAN); tháng 12 năm 1995 tham gia Khu vực Mậu dịch Tự doASEAN (AFTA); tháng 3 năm 1996, tham gia diễn đàn hợp tác kinh tế Á - Âu với tư cách là thành viên sáng lập; tháng 11 năm
1998, Việt Nam được kết nạp là thành viên chính thức của APEC - diễn đàn hợp tác gồm 21 nền kinh tế thuộc vùng châu Á –Thái Bình Dương 20 năm sau kể từ khi bắt đầu công cuộc đổi mới – tháng 1 năm 2006 – Việt Nam đã trở thành thành viênchính thức thứ 150 của Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO) sau 11 năm đàm phán gia nhập tổchức thương mại lớn nhất hànhtinh này
Bên cạnh việc tham gia vào các hợp tác đa phương và khu vực, Việt Nam cũng đã tiến hành đàm phán và ký kết rất nhiều hiệpđịnh thương mại và đầu tư song phương để thúc đẩy quan hệ hợp tác thương mại-đầu tư với các đối tác chiến lược Hiện ViệtNam đã ký kết trên 90 hiệp định thương mại song phương, gần 60 hiệp định khuyến khích và bảo hộ đầu tư, 54 hiệp định chốngđánh thuế hai lần và nhiều hiệp định hợp tác về văn hóa song phương với các nước và các tổ chức quốc tế Việt Nam cũng đã và
Trang 27đang đàm phán các hiệp định thương mại tự do để thiết lập khu vực thương mại tự do với các đối tác quan trọng như ASEAN,Nhật Bản, Chi Lê…
Câu 13: Trình bày xu hướng cải cách chi tiêu công Thực trạng chi tiêu công tại việt Nam như thế nào?
(xem thêm slide cô BM)
Quan điểm xây dựng chiến lược quản lý chi tiêu công
Cải cách quản lý chi tiêu công phải đặt trong bối cảnh cải cách hành chính công tổng thể và nâng cao năng lực quản lý của Chính phủ.
Với quan điểm này, yêu cầu Nhà nước phải làm cho vai trò quản lý của mình phù hợp với năng lực đáp ứng mục tiêu phát triển kinh tế, cụ thể là phải xây dựng các thể chế nhằm tạo ra một khu vực công năng động, bao gồm tăng cường xây dựng các thể chế
về chính sách; chính quyền có khả năng xây dựng và phối hợp chính sách trong việc lựa chọn mục tiêu chiến lược; phân bổ nguồn lực gắn kết với kế hoạch và chính sách; thực hiện, kiểm soát và đánh giá kết quả các hoạt động; công chức phải có động
cơ và năng lực quản lý tốt; ngăn chặn nạn tham nhũng
Quản lý chi tiêu công cần dựa trên hệ thống các nguyên tắc lập ngân sách và quản lý tài chính tốt Những nguyên tắc đó là:
° Tính tổng thể và tính kỷ luật: Tính tổng thể đòi hỏi một sự tiếp cận đối với những vấn đề chi tiêu công đang tồn tại, hiểu biết tất
cả những mối liên kết và đánh giá những trở lực thuộc về định chế và sau đó tìm ra những điểm tiếp cận thích hợp để đẩy mạnh quá trình cải cách chi tiêu công theo từng giai đoạn Ngân sách phải bao quát tất cả những hoạt động tài chính của Chính phủ Trong ngân sách, những quyết định tài chính mà Chính phủ đưa ra cần phải dựa vào cơ sở giới hạn cứng của ngân sách và có
sự cạnh tranh, đánh đổi giữa các nhu cầu và mục tiêu Tính kỷ luật, đi đối với nó là tính tiết kiệm, hàm ý rằng ngân sách chỉ nên tập trung những nguồn lực vừa đủ ở mức cần thiết để thực hiện tốt những chính sách Chính phủ.
° Tính linh hoạt: Tính linh hoạt có liên quan đến vấn đề đưa những quyết định đến tất cả các nơi mà thông tin hợp lý có thể có Thuộc về hoạt động, những người quản lý cần có quyền lực đối với những quyết định quản lý; thuộc về chương trình, các cá nhân Bộ trưởng cần được trao thêm quyền lực đối với những quyết định chương trình Những vấn đề này phải được đi kèm tính minh bạch và tính trách nhiệm, đồng thời đòi hỏi phải một chiến lược chặt chẽ.
° Tính tiên liệu: Trong quản lý chi tiêu công, tính tiên liệu đóng vai trò quan trọng trong việc thực hiện chính sách và chương trình có hiệu quả và hiệu lực Ở những quốc gia mà có sự ổn định kinh tế vĩ mô và chính sách chiến lược thì ở đó khu vực công
sẽ thực hiện tốt hơn chức năng cung cấp hàng hóa, dịch vụ Vấn đề này đòi hỏi cần chú ý đến sự cân đối giữa ngắn hạn và dài hạn Chính sách tài khóa phải chú ý đến nhu cầu để làm chắc chắn dòng chảy của các quỹ tiền tệ đến các chương trình, dự án đúng lúc Điều này đòi hỏi phải cách tiếp cận trung hạn đối với việc điều chỉnh những mất cân đối ngân sách và đánh giá chương trình.
° Tính trung thực: Tính trung thực yêu cầu ngân sách nên xuất phát từ những dự toán không có sự thiên vị cả thu lẫn chi Sự thiên vị này có thể bắt nguồn từ những vấn đề thuộc về chính trị lẫn kỹ thuật Những dự toán quá lạc quan sẽ làm mềm đi giới hạn ngân sách và dẫn đến sự thất bại trong việc thực hiện những chiến lược chính sách ưu tiên
° Thông tin: Thông tin tốt sẽ làm vững chắc thêm tính trung trực và đưa ra quyết định tốt Thông tin chính xác và kịp thời về chi phí, đầu ra và kết quả là rất cần thiết trong quản lý chi tiêu công.
° Tính minh bạch và tính trách nhiệm: Tính minh bạch và tính trách nhiệm yêu cầu các quyết định, cùng với cơ sở kết quả và chi phí của nó có thể tiếp cận rõ ràng và được thông tin rộng rãi cho công chúng Tính minh bạch đòi hỏi những người ra quyết định phải có tất cả những dữ liệu và thông tin thích hợp Người ra quyết định phải có trách nhiệm về thực thi quyền lực đã được trao Quản lý chi tiêu công cần đặt trong khuôn khổ chi tiêu trung hạn.
Với việc thiết lập khuôn khổ chi tiêu trung hạn sẽ góp phần nâng cao hiệu quả quản lý chi tiêu công:
° Tăng cường năng lực của Chính phủ trong soạn lập ngân sách, đặc biệt là khả năng dự báo khi phân bổ ngân sách.
° Tăng cường kỷ luật ngân sách và tính minh bạch cũng như trách nhiệm giải trình trong sử dụng nguồn lực công.
° Tăng cường chất lượng những thông tin ngân sách, tính rõ ràng của các mục tiêu chính sách.
Hướng sự tập trung của các quan chức chính phủ vào thời kỳ trung hạn chứ không chỉ một năm ngân sách hiện hành.
° Cho phép Chính phủ tập trung nhiều hơn vào những ưu tiên mang tính chiến lược mà vẫn làm cho quy trình ngân sách toàn diện hơn.
2.3 Các nội dung đổi mới quản lý chi tiêu công
- Xác lập lại vai trò và cấu trúc của Nhà nước: Nội dung chiến lược này là nhằm hướng vào xác lập lại quy mô khu vực công và
phạm vi can thiệp của Nhà nước vào nền kinh tế cho phù hợp với năng lực quản lý, thông qua các chính sách cổ phần hóa DNNN, tự do hóa kinh tế, xã hội hóa các hoạt động dịch vụ công.
- Nâng cao năng lực hoạt động của các cơ quan quản lý và đơn vị sử dụng ngân sách: Cung cách quản lý tập trung, quan liêu
là đặc tính của hệ thống lập ngân sách theo truyền thống mà kết quả của nó là nguồn lực tài chính công sử dụng kém hiệu quả và hiệu lực, các cơ quan nhà nước không chịu trách nhiệm về hàng hóa, dịch vụ công cung cấp cho xã hội Những người quản lý và
sử dụng ngân sách hoạt động trong một môi trường bị kiểm soát hết sức cứng Những công cụ truyền thống để thực hiện kiểm soát là định mức và khoản mục hóa các khoản chi tiêu, mua sắm đầu vào Thế nhưng, chính sự kiểm soát đầu vào đã gây ra tính
Trang 28kém hiệu quả trong hoạt động bởi vì nó không khuyến khích tiết kiệm, không tạo ra sự gắn kết giữa khối lượng chi tiêu với khối lượng đầu ra Từ những hạn chế đó, để nâng cao tính hiệu quả trong hoạt động, quản lý chi tiêu công đòi hỏi:
° Những người quản lý được trao quyền tự chủ trong việc điều hành hoạt động của họ và nâng cao tính tự chịu trách nhiệm của
họ về kết quả Những kết quả cần được chi tiết hóa trong ngân sách và trong những kế hoạch tài chính có liên quan, qua đó tạo điều kiện cho những người quản lý thấy trước kết quả thực hiện và giúp cho chính phủ so sánh được kết quả mục tiêu và kết quả thực tế.
° Những người quản lý có năng lực đủ mạnh trong việc chủ động đề ra những giải pháp để giảm bớt chi phí hoạt động và nâng cao khối lượng hoặc chất lượng đầu ra.
° Tạo ra những đòn bẩy kinh tế khuyến khích những người quản lý cải thiện và nâng cao chất lượng hoạt động.
- Chuyển sang lập kế hoạch dài hạn với những giới hạn ngân sách bằng việc xây dựng khuôn khổ chi tiêu trung hạn nhằm ràng buộc các cấp chính quyền từ trung ương đến địa phương sử dụng các nguồn lực tài chính phải gắn liền với các ưu tiên tổng thể của quốc gia
- Từng bước chuyển quản lý ngân sách theo đầu vào sang quản lý ngân sách theo đầu ra Một khi đã thay đổi quy trình lập ngân sách theo khuôn khổ chi tiêu trung hạn, thì phương thức quản lý ngân sách cũng phải có những thay đổi nhất định cho tương hợp Quản lý ngân sách theo kết quả đầu ra là một hoạt động quản lý dựa vào cách tiếp cận thông tin đầu ra qua đó giúp cho chính phủ và các cơ quan sử dụng ngân sách phân bổ và sử dụng nguồn lực tài chính hiệu quả và hiệu lực hơn So với phương quản lý ngân sách theo đầu vào, quản lý ngân sách theo đầu ra có nhiều ưu điểm.
- Phát triển hệ thống thông tin quản lý tài chính và hệ thống kế toán công Những vấn đề này là trong số các yếu tố cơ bản góp phần làm nâng cao năng lực của chính phủ để phân phối và sử dụng các nguồn lực có hiệu quả và hiệu lực.
Đánh giá hiệu quả quản lý chi tiêu công của Việt Nam trong thời gian qua
Thời gian qua, Nhà nước đã làm nhiều nỗ lực để nâng cao hiệu quả quản lý chi tiêu công Điều này được biểu hiện bằng việc Nhà nước đã xây dựng khuôn khổ pháp lý về quản lý chi ngân sách; cải thiện tính minh bạch chi ngân sách; hoàn thiện cơ chế phân bổ nguồn lực tài chính nhà nước
1.1 Xây dựng khuôn khổ pháp lý quản lý chi tiêu ngân sách
Luật NSNN ban hành năm 1996 và qua các lần bổ sung, sửa đổi ở các năm 1998 và năm 2002 đã tạo ra khuôn một khổ pháp lý khá hoàn chỉnh trong việc phân định trách nhiệm giữa các cơ quan nhà nước về quản lý chi NSNN:
-Quốc hội: Quyết định chi NSNN bao gồm chi NSTW và chi NSĐP, chi tiết theo các lĩnh vực chi đầu tư phát triển, chi thường xuyên, chi trả nợ và viện trợ Trong chi đầu tư phát triển và chi thường xuyên, quyết định mức chi cụ thể cho các lĩnh vực giáo dục, khoa học và công nghệ
-Chính phủ: Quyết định giao nhiệm vụ chi cho các cơ quan trực thuộc Chính phủ; quyết định giao nhiệm vụ chi cho từng tỉnh, thành phố trực thuộc TW; quy định nguyên tắc bố trí và chỉ đạo thực hiện dự toán ngân sách điạ phương; quy định hoặc phân cấp cho các cơ quan nhà nước có thẩm quyền quy định các định mức phân bổ và các chế độ, tiêu chuẩn, định mức chi ngân sách nhà nước để làm căn cứ xây dựng, phân bổ và quản lý ngân sách
-Hội đồng nhân dân các cấp: Quyết định dự toán chi ngân sách, bao chi ngân sách cấp mình và chi ngân sách địa phương cấp dưới; quyết định phân bổ dự toán ngân sách cấp mình và mức bổ sung cho ngân sách cấp dưới
-UBND các cấp: Lập dự toán ngân sách điạ phương; quyết định giao nhiệm vụ chi cho các cơ quan trực thuộc; quyết định giao nhiệm vụ chi cho ngân sách cấp dưới; quy định nguyên tắc bố trí và chỉ đạo thực hiện dự toán ngân sách điạ phương đối với một
số lĩnh vực chi được HĐND quyết định
-Các đơn vị sử dụng ngân sách: Tổ chức lập và thực hiện dự toán chi ngân sách thuộc phạm vi quản lý; chi đúng mục đích, đúng đối tượng và tiết kiệm; các đơn vị sự nghiệp được quyền chủ động sử dụng nguồn sự nghiệp để phát triển và nâng cao chất lượng, hiệu qủa hoạt động
1.2 Cải thiện tính minh bạch chi ngân sách
Tính minh bạch chi NSNN có tầm quan trọng trong việc giải trình trước công dân về việc phân bổ nguồn lực tài chính của nhà nước và giải trình về chất lượng chi tiêu NSNN tổng thể Tính minh bạch chi NSNN cũng rất quan trọng đối với các nhà tài trợ – những người tất nhiên sẽ không hài lòng khi họ hỗ trợ nguồn lực tài chính nhưng lại không có đầy đủ thông tin tin cậy để đánh giá được số tiền tài trợ được sử dụng vào việc gì và sử dụng tốt như thế nào Đối với Chính phủ cũng như các cơ quan của Chính phủ, tính minh bạch tài chính có tầm quan trọng để nâng cao hiệu quả quản lý chi tiêu ngân sách
Theo đánh giá của IMF, thời gian qua Việt Nam đã đạt nhiều tiến bộ đáng kể trong việc thực hiện minh bạch tài chính, thể hiện:
° Quyết định số 225/1998 ngày 20.11.1998 của Chính phủ về quy chế công khai tài chính đối với NSNN các cấp, các đơn vị dự toán ngân sách, các DNNN và các quỹ có nguồn thu từ đóng góp của nhân dân Theo đó, Tổng cục thống kê công bố số liệu quyết toán ngân sách dưới dạng ấn phẩm cho mọi đối tượng; Chính quyền các xã thực hiện niêm yết công khai ngân sách tại trụ
sở làm việc…
° Quyết định 1581 ngày 20.11.1998 của Bộ tài chính về cung cấp thông tin tài chính dựa trên tiêu chuẩn thống kê tài chính cho các nhà tài trợ quốc tế
Trang 29° Nghị định 90/1998 của Chính phủ về Quy chế quản lý vay và trả nợ nước ngoài nhằm xác định rõ vai trò của các cơ quan chính phủ trong việc quản lý và theo dõi nợ nước ngoài; Thông tư 22/1999 của Bộ tài chính hướng dẫn chế độ quản lý tài chính nhà nước đối với nguồn viện trợ không hoàn lại nhằm đảm bảo mọi khoản viện trợ được quản lý hạch toán ngân sách nhà nước theo hệ thống mục lục ngân sách …
1.3 Nâng cao hiệu quả phân bổ nguồn lực
Hình thành hệ thống định mức làm cơ sở phân bổ ngân sách
Sau khi ban hành Luật NSNN năm 1996, Chính phủ đã quyết định ban hành hệ thống định mức chi tiêu ngân sách năm 1997 và các định mức thường xuyên sửa đổi Những định mức được tiêu chuẩn hóa và áp dụng cho các mục chi trong các lĩnh vực giáo dục, y tế, văn hóa, thể thao Dựa vào hệ thống định mức, chính quyền địa phương dự toán nhu cầu chi tiêu và phân bổ nguồn lực tài chính… Có thể nói, phương pháp xác lập hệ thống định mức chi tiêu là một yếu tố quan trọng trong việc xác định hiệu quả về phân bổ và hiệu quả về mặt kỹ thuật trong chi tiêu công
Xác lập thứ tự ưu tiên trong phân bổ chi tiêu công
° Xây dựng ngân sách theo chương trình thông qua hoạch định chương trình đầu tư công giai đoạn 1996-2000 Việc xây dựng chương trình đầu tư công cộng đã tạo ra một khuôn khổ thiết lập chương trình chi tiêu công toàn diện, bao gồm chi đầu tư và chi thường xuyên, qua đó giúp cho Chính phủ kiểm soát tốt việc phân phối và sử dụng nguồn lực tài chính trong dài hạn
° Chính sách của Chính phủ ưu tiên chi đầu tư hơn là chi thường xuyên Điều này được thể hiện khá rõ nét ở quan điểm đã nêu trong Nghị quyết do Quốc hội thông qua cho giai đoạn 1996-2000 là tốc độ tăng chi thường xuyên không được vượt quá tốc độ tăng chi đầu tư Thực tế cũng cho thấy, trong giai đoạn 1996 –2000, mặc dù nguồn thu của ngân sách có giảm đi, nhưng Chính phủ vẫn duy trì tỷ trọng chi đầu tư trong tổng chi ngân sách ở mức 6% GDP
° Nâng cao định hướng phục vụ người nghèo của chi tiêu công Theo đánh giá của Ngân hàng Thế giới, Chính phủ Việt nam đã thành công trong việc thúc đẩy tăng trưởng kinh tế và giảm đói nghèo, bao gồm cải thiện sự công bằng trong chi tiêu cho các lĩnh vực giáo dục và y tế Số liệu điều tra mức sống năm 2000 cho thấy, nhóm 20% nghèo nhất nhận được 18% tổng chi tiêu cho giáo dục (tăng lên 2% so với năm 1993) và 26% chi tiêu cho giáo dục tiểu học (tăng lên khoảng 6%)
1.4 Kém hiệu quả trong phân bổ
Mặc dù, đã có nhiều cải thiện, quản lý chi tiêu của Việt nam đã bộc lộ nhiều yếu điểm:
° Lập ngân sách ngắn hạn, chủ yếu ngân sách hàng năm, do đó không được đánh giá, xem xét sự phân bổ nguồn lực gắn kết với những chương trình phát triển kinh tế xã hội hàng năm
° Thiếu vắng hệ thống các tiêu chí thích hợp để xác định thứ tự ưu tiên chi tiêu Phân bổ ngân sách theo yếu tố đầu vào đã tạo ra điểm yếu cơ bản là không khuyến khích đơn vị chi tiết kiệm ngân sách, vì nó không đặt ra yêu cầu ràng buộc hợp lý, chặt chẽ giữa số kinh phí được phân bổ với kết quả đạt được ở đầu ra do sử dụng ngân sách đó
Lập ngân sách theo yếu tố đầu vào đã tạo ra những ưu tiên trong phân bổ bị lệch lạc, méo mó Nguồn lực của xã hội được đầu tư vào những dự án, mang lại lợi ích xã hội rất thấp, trong khi ngân sách thiếu nguồn lực cho những nhu cầu thiết thực như: y tế, văn hóa, giáo dục
° Tạo ra những quy định đặc biệt, hình thành những quỹ tiền tệ riêng biệt tách ra khỏi ngân sách để thực hiện những chương trình có tính ưu tiên Từ đó giảm đi rất nhiều vai trò của ngân sách và vi phạm những nguyên tắc thống nhất trong quản lý ngân sách
1.5 Tính kém hiệu quả hoạt động
° Cho đến nay, ở Việt Nam chưa đạt được nhiều tiến bộ trong việc cải cách hành chính công, tinh giảm biên chế trong khu vực công Biên chế tiếp tục tăng lên (đơn vị ngàn): 1995: 3,053; 1996: 3,138; 1997: 3,267; 1998: 3,339; 1999: 3,363; và năm 2000 3,421 Hiệu suất trong khu vực công giảm, công chức không thực sự cố gắng, trình độ và năng suất không cải thiện, thêm vào đó điều kiện làm việc nghèo nàn làm suy yếu hiệu quả hoạt động
° Nguồn lực hiện hữu của ngân sách chưa đáp ứng đủ cho hoạt động công, thậm chí ngay sau khi ngân sách đã được phê chuẩn Người quản lý luôn bị động, không nắm chắc nguồn lực để chủ động cân đối cho nhu cầu trong ngắn hạn lẫn dài hạn
Về mặt luật pháp, kiểm soát ngân sách được thiết lập theo hướng tập trung cao độ với nhiều quy định rất chi tiết về mua sắm tài sản, định mức chi tiêu… Thế như trên thực tế sự kiểm soát chính thức không được thực hiện có hiệu quả, do thiếu thông tin về tổ chức quản lý
Cách thức quản lý không chính thức tồn tại song song cùng với những quy định chính thức Chẳng hạn, sự tuyển chọn cán bộ công chức, chi tiêu mua sắm…mặc dù luật pháp quy định rất chặt chẽ nhưng trên thực tế dường như lại được thực hiện theo những quy định không chính thức Một khi những quy định chính thức không được thực hiện thì tham nhũng có xu hướng gia tăng, gây phương hại đến nguồn lực tài chính quốc gia
1.6 Thiếu mối liên kết chặt chẽ
Quy trình phân bổ nguồn lực tài chính nhà nước thiếu mối liên kết chặt chẽ giữa kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội trung hạn (3- 5 năm) với nguồn lực trong một khuôn khổ kinh tế vĩ mô được dự báo
Trang 30Nói cách khác, nguồn tài trợ cho những kế hoạch nói trên không được quan tâm đúng mức dẫn đến sự hụt hẫng về tài chính nên nhiều công trình phải chờ kinh phí hoặc bỏ dở Thêm vào đó, kinh phí đầu tư dàn trải cho nhiều dự án khiến những ưu tiên của Chính phủ không được tài trợ tương xứng với tầm quan trọng của chúng
Trong quá trình soạn lập ngân sách, kiểm soát các yếu tố đầu vào được coi trọng hơn là sự cải thiện kết quả hoạt động của ngành thông qua thực thi các mục tiêu và nhiệm vụ của ngành Các thông số về đầu ra cũng như về kết quả thường ít được quan tâm, nên ngân sách thiếu thực tế dễ bị điều chỉnh và có thể tạo ra một kết quả ngoại ý Ngân sách được lập hàng năm vừa tốn thời gian, nhân lực và tiền bạc vừa không dự liệu hết mọi biến cố trung hạn có thể ảnh hưởng đến dự toán Ngân sách chi thường xuyên và ngân sách chi đầu tư phát triển được soạn lập một cách riêng rẽ làm giảm hiệu quả sử dụng nguồn lực công
1.7- Về phương thức cấp phát các khoản chi tiêu công
Hiện nay, nhà nước thực hiện cấp phát kinh phí và vốn từ NSNN theo 2 phương thức chủ yếu đó là hạn mức kinh phí và lệnh chi tiền
+ Phương thức cấp phát theo hạn mức kinh phí đã bám sát dự toán chi NSNN được duyệt cả về tổng số cũng như cơ cấu các mục chi; tạo điều kiện thuận lợi cho Kho bạc nhà nước, cơ quan tài chính trong việc kiểm soát chi
+ Phương thức cấp phát theo lệnh chi tiền chỉ áp dụng đối với các khoản chi đột xuất, không kế hoạch hóa được hoặc áp dụng đối với những đơn vị ít có quan hệ với NSNN, song trong cả một thời gian khá dài, hình thức cấp phát này được áp dụng cho hầu hết các dự án đầu tư xây dựng cơ bản và các chương trình mục tiêu
Cả hai phương thức cấp phát nói trên, được cơ quan tài chính sử dụng để kiểm soát và chủ động điều hòa NSNN Tuy nhiên, hiện nay với xu hướng phân công nhiệm vụ rõ ràng, chuẩn hóa quy trình ngân sách, điều hành ngân sách theo luật; đặc biệt trong điều kiện hội nhập tài chính quốc tế và khu vực ở lĩnh vực tài chính công, để thích ứng với những chuẩn mực quản lý NSNN của các nước thì việc áp dụng các hình thức cấp phát trên cần nghiên cứu và sửa đổi lại cho phù hợp
1.8 Có nhiều khiếm khuyết trong hệ thống thông tin quản lý chi tiêu công
Những chuẩn mực kế toán công chưa được quan tâm đúng mức và do vậy, dẫn đến tình trạng không thể thống nhất và so sánh đánh giá sự phân bổ và sử dụng nguồn lực tài chính nhà nước Hiện tại, ít nhất có 3 hệ thống kế toán đang tồn tại bên trong Chính phủ, đó là: kế toán ngân sách nhà nước, kế toán kho bạc nhà nước, kế toán của các đơn vị sử dụng ngân sách Cơ quan tài chính hạch toán chi NSNN theo chế độ hạch toán riêng dựa trên nguyên tắc ghi sổ đơn và mang đậm tính chất thống kê với tiêu thức lũy kế theo mục lục NSNN Kho bạc nhà nước hạch toán kế toán chi NSNN theo nguyên tắc ghi sổ kép, có theo dõi chi tiết theo mục lục NSNN do Bộ tài chính ban hành Các đơn vị hành chính sự nghiệp thực hiện kế toán theo chế độ kế toán đơn vị hành chính sự nghiệp và cũng theo dõi các khoản chi tiêu của mình theo mục lục NSNN Ba chế độ hạch toán kế toán do ba đầu mối thực hiện, đương nhiên khó mà có sự tương đồng, đặc biệt trong điều kiện các chuẩn mực về kế toán chi tiêu công chưa được nghiên cứu thấu đáo và áp dụng Đây là một trong những tồn tại gây cản trở cho công tác quản lý và điều hành chi NSNN
và áp dụng công nghệ thông tin
Câu 14: Trình bày điểm giống và khác nhau của các nguồn vốn huy động từ quốc tế Việt Nam cần làm gì để kiểm soát dòng vốn nước ngoài vào.
Nguồn vốn nước ngoài
Có thể xem xét nguồn vốn đầu tư nuớc ngoài trên phạm vi rộng hơn đó là dòng lưu chuyển vốn quốc tế Về thực chất, các dònglưu chuyển vốn quốc tế là biểu thị quá trình chuyển giao nguồn lực tài chính giữa các quốc gia trên thế giới Trong các dòng lưuchuyển vốn quốc tế, dòng từ các nước phát triển đổ vào các nước đang phát triển thường được các nước thế giới thứ ba đặc biệtquan tâm Dòng vốn này diễn ra với nhiều hình thức Mỗi hình thức có đặc điểm, mục tiêu và điều kiện thực hiện riêng, khônghoàn toàn giống nhau Theo tính chất lưu chuyển vốn, có thể phân loại các nguồn vốn nước ngòai chính như sau:
Tài trợ phát triển vốn chính thức (ODF - official development finance) Nguồn này bao gồm: Viện trợ phát triển chính thức(ODA -offical development assistance) và các hình thức viện trợ khác Trong đó, ODA chiếm tỷ trọng chủ yếu trong nguồn ODF;Nguồn tín dụng từ các ngân hàng thương mại;
Đầu tư trực tiếp nước ngoài;
Nguồn huy động qua thị trường vốn quốc tế
Nguồn vốn ODA.
Đây là nguồn vốn phát triển do các tổ chức quốc tế và các chính phủ nước ngoài cung cấp với mục tiêu trợ giúp các nước đangphát triển So với các hình thức tài trợ khác, ODA mang tính ưu đãi cao hơn bất cứ nguồn vốn ODF nào khác Ngoài các điềukiện ưu đãi về lãi suất, thời hạn cho vay tương đối lớn, bao giờ trong ODA cũng có yếu tố không hoàn lại (còn gọi là thành tố hỗtrợ) đạt ít nhất 25%
Mặc dù có tính ưu đãi cao, song sự ưu đãi cho loại vốn này thường đi kèm các điều kiện và ràng buộc tương đối khắt khe (tínhhiệu quả của dự án, thủ tục chuyển giao vốn và thị trường…) Vì vậy, để nhận được loại tài trợ hấp dẫn này với thiệt thòi ít nhất,cần phải xem xét dự án trong điều kiện tài chính tổng thể Nếu không việc tiếp nhận viện trợ có thể trở thành gánh nặng nợ nầnlâu dài cho nền kinh tế Điều này có hàm ý rằng, ngoài những yếu tố thuộc về nội dung dự án tài trợ, còn cần có nghệ thuật thoảthuận để vừa có thể nhận vốn, vừa bảo tồn được những mục tiêu có tính nguyên tắc
Nguồn vốn tín dụng từ các ngân hàng thương mại.
Trang 31Điều kiện ưu đãi dành cho loại vốn này không dễ dàng như đối với nguồn vốn ODA Tuy nhiên, bù lại nó có ưu điểm rõ ràng làkhông có gắn với các ràng buộc về chính trị, xã hội Mặc dù vậy, thủ tục vay đối với nguồn vốn này thường là tương đối khắtkhe, thời gian trả nợ nghiêm ngặt, mức lãi suất cao là những trở ngại không nhỏ đối với các nước nghèo.
Do được đánh giá là mức lãi suất tương đối cao cũng như sự thận trọng trong kinh doanh ngân hàng (tính rủi ro ở nước đi vay,của thị trường thế giới và xu hướng lãi suất quốc tế), nguồn vốn tín dụng của các ngân hàng thương mại thường được sử dụngchủ yếu để đáp ứng nhu cầu xuất khẩu và thường là ngắn hạn Một bộ phận của nguồn vốn này có thể được dùng để đầu tư pháttriển Tỷ trọng của nó có thể gia tăng nếu triển vọng tăng trưởng của nền kinh tế là lâu dài, đặc biệt là tăng trưởng xuất khẩu củanước đi vay là sáng sủa
Nguồn vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI)
Nguồn đầu tư trực tiếp nước ngoài có đặc điểm cơ bản khác nguồn vốn nước ngoài khác là việc tiếp nhận nguồn vốn này khôngphát sinh nợ cho nước tiếp nhận Thay vì nhận lãi suất trên vốn đầu tư, nhà đầu tư sẽ nhận được phần lợi nhuận thích đáng khi dự
án đầu tư hoạt động có hiệu quả Đầu tư trực tiếp nước ngoài mang theo toàn bộ tài nguyên kinh doanh vào nước nhận vốn nên cóthể thúc đẩy phát triển ngành nghề mới, đặc biệt là những ngành đòi hỏi cao về trình độ kỹ thuật, công nghệ hay cần nhiều vốn
Vì thế nguồn vốn này có tác dụng cực kỳ to lớn đối với quá trình công nghiệp hoá, chuyển dịch cơ cấu kinh tế và tốc độ tăngtrưởng nhanh ở các nước nhận đầu tư
Thị trường vốn quốc tế.
Với xu hướng toàn cầu hoá, mối liên kết ngày càng tăng của các thị trường vốn quốc gia vào hệ thống tài chính quốc tế đã tạo nên
vẻ đa dạng vế các nguồn vốn cho mỗi quốc gia và làm tăng khối lượng vốn lưu chuyển trên phạm vi toàn cầu Ngay tại nhiềunước đang phát triển, dòng vốn đầu tư qua thị trường chứng khoán cũng gia tăng mạnh mẽ Mặc dù vào nửa cuối những năm
1990, có sự xuất hiện của một số cuộc khủng hoảng tài chính nhưng đến cuối năm 1999 khối lượng giao dịch chứng khoán tại cácthị trường mới nổi vẫn đáng kể Riêng năm 1999, dòng vốn đầu tư dưới dạng cổ phiếu vào Châu á đã tăng gấp 3 lần năm 1998,đạt 15 tỷ USD
* Thời gian cho vay cũng như thời gian ân hạn dài (25-40 năm mới phải hoàn trả và thời gian ân hạn 8-10 năm)
* Trong nguồn vốn ODA luôn có một phần viện trợ không hoàn lại, thấp nhất là 25% của tổng số vốn ODA.
Các nước giàu khi viện trợ ODA đều gắn với những lợi ích và chiến lược như mở rộng thị trường, mở rộng hợp tác có lợi cho họ, đảm bảo mục tiêu về an ninh - quốc phòng hoặc theo đuổi mục tiêu chính trị Vì vậy, họ đều có chính sách riêng hướng vào một
số lĩnh vực mà họ quan tâm hay họ có lợi thế (những mục tiêu ưu tiên này thay đổi cùng với tình hình phát triển kinh tế - chính trị - xã hội trong nước, khu vực và trên thế giới).Ví dụ:
* Về kinh tế, nước tiếp nhận ODA phải chấp nhận dỡ bỏ dần hàng rào thuế quan bảo hộ các ngành công nghiệp non trẻ và bảng thuế xuất nhập khẩu hàng hoá của nước tài trợ Nước tiếp nhận ODA cũng được yêu cầu từng bước mở cửa thị trường bảo hộ cho những danh mục hàng hoá mới của nước tài trợ; yêu cầu có những ưu đãi đối với các nhà đầu tư trực tiếp nước ngoài như cho phép họ đầu tư vào những lĩnh vực hạn chế, có khả năng sinh lời cao
* Nguồn vốn ODA từ các nước giàu cung cấp cho các nước nghèo cũng thường gắn với việc mua các sản phẩm từ các nước này
mà không hoàn toàn phù hợp, thậm chí là không cần thiết đối với các nước nghèo Ví như các dự án ODA trong lĩnh vực đào tạo, lập dự án và tư vấn kỹ thuật, phần trả cho các chuyên gia nước ngoài thường chiếm đến hơn 90% (bên nước tài trợ ODA thường yêu cầu trả lương cho các chuyên gia, cố vấn dự án của họ quá cao so với chi phí thực tế cần thuê chuyên gia như vậy trên thị
* Nguồn vốn viện trợ ODA còn được gắn với các điều khoản mậu dịch đặc biệt nhập khẩu tối đa các sản phẩm của họ Cụ thể là nước cấp ODA buộc nước tiếp nhận ODA phải chấp nhận một khoản ODA là hàng hoá, dịch vụ do họ sản xuất.
* Nước tiếp nhận ODA tuy có toàn quyền quản lý sử dụng ODA nhưng thông thường, các danh mục dự án ODA cũng phải có sự thoả thuận, đồng ý của nước viện trợ, dù không trực tiếp điều hành dự án nhưng họ có thể tham gia gián tiếp dưới hình thức nhà
* Tác động của yếu tố tỷ giá hối đoái có thể làm cho giá trị vốn ODA phải hoàn lại tăng lên Ngoài ra, tình trạng thất thoát, lãng phí; xây dựng chiến lược, quy hoạch thu hút và sử dụng vốn ODA vào các lĩnh vực chưa hợp
Trang 32lý; trình độ quản lý thấp, thiếu kinh nghiệm trong quá trình tiếp nhận cũng như xử lý, điều hành dự án… khiến cho hiệu quả và chất lượng các công trình đầu tư bằng nguồn vốn này còn thấp có thể đẩy nước tiếp nhận ODA vào tình trạng nợ nần.
Fdi
Đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI = Foreign Direct Investment) là hình thức đầu tư dài hạn của cá nhân hay công ty nước này vào nước khác bằng cách thiết lập cơ sở sản xuất, kinh doanh Cá nhân hay công ty nước ngoài đó sẽ nắm quyền quản lý cơ sở
Tổ chức Thương mại Thế giới đưa ra định nghĩa như sau về FDI: Đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) xảy ra khi một nhà đầu tư từ một nước (nước chủ đầu tư) có được một tài sản ở một nước khác (nước thu hút đầu tư) cùng với quyền quản lý tài sản đó Phương diện quản lý là thứ để phân biệt FDI với các công cụ tài chính khác Trong phần lớn trường hợp, cả nhà đầu tư lẫn tài sản mà người đó quản lý ở nước ngoài là các cơ sở kinh doanh Trong những trường hợp đó, nhà đầu tư thường hay đựoc gọi là "công ty mẹ" và các tài sản được gọi là "công ty con" hay "chi nhánh
+ FDI thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, bổ sung nguồn vốn cho phát triển kinh tế - xã hội trong nước
- FDI không để lại gánh nợ cho chính phủ nước tiếp nhận đầu tư về chính trị, kinh tế như hỗ trợ phát triển chính thức (ODA) hoặc các hình thức đầu tư nước ngoài khác như vay thương mại, phát hành trái phiếu ra nước ngoài Do vậy, FDI là hình thức thu hút và sử dụng vốn đầu tư nước ngoài tương đối ít rủi ro cho nước tiếp nhận đầu tư.
- Nhà đầu tư không dễ dàng rút vốn ra khỏi nước sở tại Đầu tư trực tiếp nước ngoài có tác động mạnh đến quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế của nước tiếp nhận theo nhiều phương diện: chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế, cơ cấu vùng lãnh thổ, cơ cấu
*Nhược điểm: khi đầu tư trực tiếp, chủ đầu tư không những góp vốn mà còn đứng ra quản lí dự án đó Tuy nhiên việc quản lí
này đôi khi không hiệu quả do sự khác biệt giữa các quốc gia.
Helpman và Sibert, Richard S Eckaus cho rằng có sự khác nhau về năng suất cận biên của vốn giữa các nước Một nước thừa vốn thường có năng suất cận biên thấp hơn Còn một nước thiếu vốn thường có năng suất cận biên cao hơn Tình trạng này sẽ dẫn đến sự di chuyển dòng vốn từ nơi dư thừa sang nơi khan hiếm nhằm tối đa hoá lợi nhuận.
Để nâng cao hiệu quả công tác quản lý dòng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài vào Việt Nam nhằm đạt các mục tiêu về: Cải
thiện môi trường đầu tư, thúc đẩy và nâng cao chất lượng, hiệu quả đầu tư trực tiếp nước ngoài phù hợp với định hướng Chiếnlược phát triển kinh tế - xã hội Việt Nam giai đoạn 2011 – 2020
Hoàn thiện cơ chế quản lý nhà nước và khuôn khổ pháp lý về quản lý dòng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài vào Việt Nam; vàcũng đồng thời, nâng cao hiệu quả kiểm tra, giám sát các luồng vốn vào - ra, xây dựng cơ sở dữ liệu về dòng vốn đầu tư trực tiếpnước ngoài kịp thời, chính xác đáp ứng yêu cầu của công tác phân tích, dự báo và hoạch định chính sách, điều hành thị trườngngoại hối, ổn định cán cân thanh toán và tăng dự trữ ngoại hối một cách hợp lý
Ngày 29/10/2012, Thủ tướng Chính phủ đã ký ban hành Quyết định số 1601/QĐ-TTg phê duyệt Đề án nâng cao hiệu quả côngtác quản lý dòng vốn đầu tư nước ngoài vào Việt Nam
Theo đó, nội dung của Quyết định yêu cầu các Bộ, ngành nghiên cứu đặc điểm, tính chất các dòng vốn đầu tư nước ngoài vào
Việt Nam (bao gồm dòng vốn góp, dòng vốn vay trong và ngoài nước ) và dòng vốn chuyển ra nước ngoài của doanh nghiệp cóvốn đầu tư nước ngoài được hiểu chung là dòng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài Bên cạnh đó, hoàn thiện khuôn khổ pháp lý liênquan đến quản lý dòng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài cụ thể như:
i) Thống nhất khái niệm về đầu tư trực tiếp, đầu tư gián tiếp trong các văn bản quy phạm pháp luật qua đó phân biệt rõ khái niệmđầu tư trực tiếp và đầu tư gián tiếp để phân tổ, quản lý các dòng vốn nước ngoài vào Việt Nam, trên cơ sở đó bổ sung, làm rõ vàthống nhất trong các văn bản quy phạm pháp luật để tạo khung pháp lý hoàn thiện cho nhà đầu tư nước ngoài khi thực hiện đầu tưvào thị trường Việt Nam;
ii) Bổ sung, sửa đổi các quy định về quy trình thủ tục đầu tư, chuyển tiền ra vào liên quan đến dòng vốn đầu tư trực tiếp nướcngoài như nghiên cứu, rà soát Luật đầu tư và các văn bản hướng dẫn để sửa đổi, bổ sung các quy định về các yếu tố cấu thànhvốn đầu tư trực tiếp nước ngoài, thời điểm chuyển tiền góp vốn đầu tư, thời điểm chuyển nhượng vốn góp, cơ chế hạch toán chiphí chuẩn bị dự án trước khi được cấp phép, nhằm tạo khung pháp lý hoàn chỉnh cho nhà đầu tư nước ngoài trong quá trìnhthực hiện dự án, đồng thời tăng cường khả năng phối hợp giữa các Bộ, ngành và địa phương trong công tác quản lý, giám sátdòng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài;
Trang 33iii) Bổ sung, chỉnh sửa các quy định về vay, trả nợ của doanh nghiệp đầu tư trực tiếp nước ngoài theo hướng thống nhất cơ chế,chính sách quản lý vay, trả nợ trong và ngoài nước của doanh nghiệp đầu tư trực tiếp nước ngoài nhằm đảm bảo mục tiêu quản lý
nợ nước ngoài thận trọng, đảm bảo quy trình tỷ lệ nợ an toàn, hiệu quả và nợ trong và ngoài nước của khối doanh nghiệp có vốnđầu tư nước ngoài nằm trong phạm vi tổng vốn đầu tư của dự án đã được phê duyệt tại Giấy chứng nhận đầu tư Song song đó,cũng cần phải kiện toàn cơ chế báo cáo và công tác thống kê số liệu; kiện toàn công tác thanh tra, kiểm tra, giám sát và công tácphối hợp liên ngành như: kiện toàn cơ sở pháp lý về công tác thanh tra, kiểm tra và giám sát trong phạm vi liên quan đến công tácquản lý dòng vốn FDI như ban hành văn bản quy phạm pháp luật quy định kiểm tra, giám sát, đánh giá đầu tư trực tiếp nướcngoài
Bộ Kế hoạch và Đầu tư được Thủ tướng Chính phủ giao nhiệm vụ chủ trì, phối hợp với các Bộ, ngành có liên quan rà soát, đánh
giá và hoàn thiện khuôn khổ pháp lý về đầu tư trực tiếp nước ngoài vào Việt Nam, thống nhất cơ sở pháp lý về phân tổ nhà đầu tưnước ngoài, thủ tục đầu tư, quy trình cấp phép, chuyển nhượng dự án, quy định cơ cấu vốn góp (vốn hữu hình, vốn vô hình, vốnbằng tiền mặt, tỷ lệ vốn vay/vốn góp ) trong quá trình cấp giấy chứng nhận đầu tư để tổng hợp số liệu thống kê chi tiết dòng vốnđầu tư trực tiếp nước ngoài vào Việt Nam kịp thời, chính xác; cũng đồng thời phối hợp với các Bộ, ngành và địa phương xâydựng cơ chế phối hợp liên ngành trong công tác quản lý hoạt động đầu tư trực tiếp nước ngoài vào Việt Nam nói chung và côngtác thống kê, giám sát dòng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài vào Việt Nam nói riêng; xây dựng hệ thống thông tin hiệu quả vềdòng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài vào Việt Nam nhằm đáp ứng nhu cầu phân tích, dự báo và hoạch định chính sách; xây dựng
cơ chế phối hợp liên ngành trong công tác kiểm tra, giám sát, đánh giá đầu tư và quản lý hoạt động đầu tư trực tiếp nước ngoàivào Việt Nam
Còn đối với Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương thì Thủ tướng Chính phủ giao trách nhiệm phải chủ
động phối hợp với Bộ Kế hoạch và Đầu tư thực hiện việc hoàn thiện cơ sở pháp lý liên quan đến thống kê, kiểm soát và quản lýđầu tư trực tiếp nước ngoài vào Việt Nam; thực hiện cơ chế báo cáo số liệu thống kê về hoạt động đầu tư trực tiếp nước ngoài vàoViệt Nam của các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài thuộc phạm vi quản lý nhằm theo dõi, kiểm soát kịp thời, chính xácdòng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài vào Việt Nam và ra khỏi lãnh thổ Việt Nam Ngoài ra còn phải phối hợp chặt chẽ với Bộ Kếhoạch và Đầu tư, các Bộ, ngành có liên quan trong quá trình thực hiện công tác thanh tra, kiểm tra, giám sát việc tuân thủ phápluật, chế độ báo cáo thống kê đối với doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài thuộc địa bàn quản lý
*Lớp Đêm 5 (Cô Bình Minh):
Câu 15: Có ý kiến cho rằng: "Thị trường vốn là kênh tài trợ vốn chủ yếu cho quá trình công nghiệp hóa và hiện đại hóa ở nước ta".
Anh chị hãy bình luận ý kiến trên Các giải pháp để phát triển thị trường này
1 Vai trò tập trung và tích tụ vốn cho đầu tư:
Thị trường vốn có 1 ý nghĩa vô cùng quan trọng trong sự phát triển KT của mỗi đất nước, đây là 1 kênh bổ sung vốn rất hiệu quả
và nhanh chóng cho các nhà đầu tư và các DN
Thông qua việc phát hành và mua bán các loại CK, các khoản vốn nhỏ lẻ tồn tại trong dân cư được các tổ chức kinh tế huy độngnhằm đáp ứng nhu cầu về vốn cho công cuộc đầu tư của chủ đầu tư
Các DN phát hành cổ phiếu, trái phiếu để huy động vốn cùng chính phủ và các địa phương phát hành trái phiếu của chính phủ vàtrái phiếu địa phương để bù đắp thiếu hụt ngân sách hoặc đầu tư xây dựng các dự án lớn
Nếu đem so sánh với các phương thức huy động vốn khác thì thị trường vốn có thể huy động 1 cách đa dạng hơn, rộng rãi hơnvới 1 phương thức linh hoạt hơn, từ đó có thể đáp ứng 1 cách nhanh chóng những nhu cầu khác nhau của các nhà đầu tư, đảm bảođược tính hiệu quả và thời gian cho nhà đầu tư và những người cần vốn
Ngoài ra, thông qua thị trường vốn, chính phủ và địa phương có thể huy động vốn cho ngân sách hoặc đầu tư vào các công trìnhbằng việc phát hành trái phiếu, công trái Hơn nữa, nếu xét theo quan điểm kinh tế học thì đây là hình thức cụ thể kiềm chế đượclạm phát do ko phải in thêm tiền vào lưu thông để phục vụ cho chi tiêu của chính phủ
2 Thị trường vốn góp phần tạo lập cơ chế đầu tư hợp lý, thúc đẩy quá trình sử dụng vốn 1 cách hợp lý:
Thị trường vốn là kênh huy động vốn theo tín hiệu cơ chế thị trường, là van điều tiết hữu hiệu các khoản vốn từ nơi thừa sang nơithiếu vốn, từ nơi sử dụng kém hiệu quả sang nơi sử dụng vốn hiệu quả hơn
Theo các chuyên gia, các nhà quản lý của các tổ chức quỹ đầu tư hàng đầu TG nhận xét thì việc khả năng huy động vốn đầu tưcủa nước ngoài là rất tốt và có triển vọng tăng cao hơn trong các năm tiếp theo
3 Thu hút vốn đầu tư nước ngoài:
Hằng năm, Vn thu hút 1 lượng vốn đầu tư gián tiếp nước ngoài rất lớn từ các DN, các tổ chức KT của người nước ngoài thôngqua việc đầu tư vào thị trường cổ phiếu trên TTCK
FDI không chỉ mang lại vốn mà cũng có vai trò quan trọng thúc đẩy thị trường TC phát triển theo hướng nâng cao hiệu quả hoạtđộng, mở rộng quy mô và tăng tính minh bạch; nâng cao chất lượng quản trị DN
Tuy nhiên, dùng vốn này cũng tiềm ẩn những rủi ro hơn so với các kênh huy động vốn nước ngoài khác Chính vì vậy, thúc đẩythu hút FII ổn định và tương xứng với tiềm năng, góp phần tạo động lực phát triển thị trường vốn và nền KT VN đang là vấn đềđược các cơ quan hoạch định chính sách, các nhà đầu tư, các DN quan tâm
Trang 344 Thị trường vốn tác động đến tăng trưởng kinh tế của đất nước
Theo các lý thuyết về đầu tư như: lý thuyết về đầu tư, lý thuyết gia tốc đầu tư,… thì vốn có tác động rất lớn tới sự phát triển KT.Vốn được huy động từ nhiều nguồn khác nhau trong đó có thị trường vốn Theo tính chất bắc cầu trong kinh tế thị trường vốncũng có 1 tác động lớn tới sự phát triển KT của đất nước
Khi nguồn vốn đầu tư tăng thì khối lượng sp sản xuất ra tăng, từ đó làm tăng tổng thu nhập quốc dân, làm cho GDP tăng từ đólàm cho nền KT tăng trưởng
Tuy nhiên, khi nguồn vốn đầu tư tăng đến 1 mức nào đó thì nền KT ko thể tăng trưởng thêm được do nền KT cũng phụ thuộc rấtnhiều yếu tố khác nhau như: lao động, tài nguyên thiên nhiên, hay chính sách tài khóa của chính phủ
Nước ta xuất phát từ nước nghèo nàn, lạc hậu thì nguồn vốn lại là 1 yếu tố vô cùng quan trọng trong trong sự phát triển KT củađất nước Ko có tiền chúng ta ko làm được gì, ko có tiền chúng ra ko thể xây dựng các nhà máy sx, ko thể tận dụng nguồn laođộng dồi dào của nước ta, ko thể tận dụng những gì mà thiên nhiên ban tặng
5 Thị trường vốn tạo điều kiện để thực hiện các chính sách KT vi mô:
Thị trường vốn có 1 ý nghĩa rất quan trọng trong sự phát triển KT của các nước có nền KT thị trường Thị trường vốn mà cốt lõi
là TTCK như là trung tâm thu hút mọi nguồn vốn nhàn rỗi của các DN, các tổ chức TC, của chính phủ và địa phương tạo thành 1nguồn vốn khổng lồ cho nền KT
Thị trường vốn hoạt động dựa theo những tín hiệu của thị trường như: lãi suất, hệ số tín nhiệm, độ rủi ro Thị trường vốn như 1cái van điều tiết của nền KT, điều tiết từ nơi sử dụng vốn ko hiệu quả đến nơi sử dụng vốn hiệu quả hơn, từ nơi thừa vốn sang nơithiếu vốn Do đó thị trường vốn đó giúp chính phủ và các tổ chức TC điều tiết cho nền KT
Thực tế đã chứng minh điều đó rất rõ, từ khi xuất hiện thị trường vốn thì thị trường TC của VN được ổn định rất nhiều, ko cónhững biến động quá lớn trên thị trường TC, tạo điều kiện cho sự phát triển KT đất nước Trên thị trường vốn thì bất cứ khoảnvốn nào được sử dụng đều phải trả giá do vậy mà người sử dụng vốn phải quan tâm rất nhiều đến khả năng sinh lợi của mỗi đồngvốn bỏ ra
Khi đất nước chưa có cải cách KT thì tình hình TC của VN rất rối ren và mang tính khó lường Tỷ lệ lạm phát tăng cao, có khiđến hàng trăm phần trăm, người dân ko dám cầm tiền mặt trong tay do sợ mất giá đồng tiền, từ đó KT chậm phát triển, đời sốngnhân dân gặp nhiều khó khăn Nhưng cũng hiện nay, do có những chính sách tài chính ổn định cùng với sự xuất hiện của thịtrường vốn thì thị trường TC của VN ổn định rất nhiều, ko còn lạm phát cao như trước đây mà thay vào đó là tỷ lệ lạm phát luôntrong phạm vi kiểm soát
Thông qua thị trường vốn thì chính phủ đã điều tiết và thực hiện những chính sách KT của mình nhằm phục vụ cho nhu cầu chitiêu của mình và nhằm bình ổn giá cả, bình ổn thị trường TC, từ đó phục vụ nhu cầu phát triển KT của DN, của đất nước
6 Thị trường vốn là công cụ đánh giá, dự báo chu kì kinh doanh của các DN của nền KT
Đứng trên quan điểm của chính phủ và trên quan điểm của các DN thì thị trường vốn thực sự là cầu nối giữa DN, nhà nước và thịtrường Thị trường vốn như cái van điều tiết hữu hiệu các nguồn huy động vốn và sử dụng vốn
Với chính phủ thì phải ban hành những quy định và chính sách KT ngày càng hợp lý hơn, ngày càng đi sâu đi sát vào tình hìnhtrên thị trường vốn hơn Chẳng hạn như: Nghị định số 134/2005/NĐ-CP ngày 1/1/2005 của chính phủ về quy chế quản lý vay vàtrả nợ nước ngoài giúp chính phủ xây dựng 1 cơ chế quản lý nợ an toàn, hiệu quả, thống nhất và mang tính chuyên nghiệp, gópphần xây dựng nhà nước pháp quyền trên cơ sở đảm bảo sự nhất quán và đồng bộ trong hệ thống van bản pháp lý hiện hành, đảmbảo sự ko phân biệt giữa các thành phần KT trong việc tiếp cận nguồn vốn của chính phủ Đạt được mục tiêu giám sát có hiệuquả hơn các nghĩa vụ dự phòng và rủi ro tiềm ẩn đối với NSNN và dự trữ ngoại tệ quốc gia Đồng thời tiến dần tới áp dụng cácthông lệ được quốc tế thừa nhận rộng rãi, nhằm hỗ trợ quá trình hội nhập KT-TC khu vực và quốc tế của nước ta Việc theo dõi,thu nhập, xử lý thông tin quản lý đảm bảo thường xuyên, kịp thời đối với mọi hoạt động thuộc lĩnh vực quản lý Quy trình huyđộng, đàm phán ký kết các Hiệp định vay, thủ tục giải ngân, thanh toán, thu hồi vốn, trả nợ từ nguồn vốn nước ngoài đó được cảitiến theo hướng giảm bớt thủ tục, thời gian và từng bước hài hòa với thông lệ quốc tế Việc bố trí sử dụng vốn đó được quy định
1 cách rõ ràng, trong đó xác định ra những loại dự án nào được ngân sách nhà nước cấp, dự án phải vay lại, đồng thời tăng thêmquyền tự chủ và tự chịu trách nhiệm trong việc vay vốn thương mại nước ngoài của các DN, gắn trách nhiệm sử dụng vốn hiệuquả, tạo ra khả năng trả nợ và góp phần nâng cao hiệu quả sử dụng vốn vay và viện trợ nước ngoài
Đối với các DN thì thị trường vốn là 1 căn cứ rất quan trọng trong sự phát triển KT của DN, nhất là với các cty cổ phần, các ctytrách nhiệm hữu hạn có quy mô vốn hầu hết là vừa và nhỏ
Để tăng quy mô sx thì các DN cần phải áp dụng nhiều biện pháp khác nhau, và 1 trong những yếu tố là cần phải tăng quy mô vốn
để đáp ứng nhu cầu sx của cty Để có thể tăng quy mô vốn cho việc sx của mình thì có thể áp dụng nhiều phương thức huy độngvốn khác nhau như vay vốn của tổ chức tín dụng, tiền trợ cấp từ NSNN, hay thế chấp TS của DN khi vay vốn của NH… Hiệnnay thì nguồn vốn ngân sách ko còn nữa khi VN chính thức gia nhập WTO do đó các DN sẽ phải huy động vốn trên thị trườngvốn
Chính thị trường vốn sẽ là nơi huy động vốn 1 cách tốt nhất, đáp ứng 1 cách đầy đủ và nhanh chóng về vốn cho các DN Và cũngchính thị trường vốn là căn cứ, là tín hiệu, là công cụ dự báo chu kỳ kinh doanh cho các DN khi quyết định vay vốn
7 Thực hiện chính sách tài chính, chính sách tiền tệ của nhà nước
Trang 35Chính sách và hệ thống biện pháp của 1 nhà nước trong lĩnh vực lưu thông tiền tệ, nhằm điều hành khối lượng cung và cầu tiền tệbằng các biện pháp như phát hành tiền, chống lạm phát, dự trữ pháp định và quản lý dự trữ ngoại tệ, tái chiết khấu các kỳ phiếu
và lãi suất, chính sách lãi suất… để đáp ứng kịp thời nhu cầu giao dịch, ổn định sức mua của đồng tiền, phát triển sx, kinh doanhtrong 1 giai đoạn nhất định Là 1 bộ phận quan trọng trong hệ thống chính sách và cơ chế quản lý kinh tế của nhà nước, trên cơ sởvận dụng đúng đắn quy luật của sx hàng hóa và quy luật lưu thông tiền tệ
Giải pháp:
1 Phát triển số lượng, nâng cao chất lượng và đa dạng hóa các loại hàng hóa để đáp ứng nhu cầu của thị trường
- Đẩy mạnh chương trình cổ phần hóa các DN, tổng cty, NHTM nhà nước, gắn việc CPH với niêm yết trên TTCK Nghiên cứucác giải pháp để thúc đẩy những DN đã CPD đủ điều kiện phải thực hiện việc niêm yết; đồng thời, tiến hành rà soát để có thể bántiếp phần vốn của Nhà nước tại các cty cổ phần mà Nhà nước ko cần giữ cồ phần chi phối
- Đa dạng hóa các loại hình trái phiếu trên thị trường bao gồm trái phiếu chính phủ, trái phiếu đô thị và trái phiếu DN… phát triểncác sp CK phái sinh như: quyền chọn mua, quyền chọn bán CK; hợp đồng tương lại; hợp đồng kỳ hạn; các sp liên kế, các sp từ
CK hóa tài sản và các khoản nợ…
2 Phát triển thị trường vốn theo hướng hiện đại, hoàn chỉnh về cấu trúc, được quản lý, giám sát bởi Nhà nước và có khả năng liên kết với các thị trường khu vực và quốc tế.
- Sớm hình thành thị trường trái phiếu chuyên biệt để tạo kênh huy động vốn; nghiên cứu hình thành và phát triển thị trường giaodịch tương lai cho các công cụ phái sinh, thị trường CK hóa các khoản cho vay trung, dài hạn của NH…
- Phát triển thị trường cổ phiếu theo nhiều cấp độ để đáp ứng nhu cầu phát hành cổ phiếu, niêm yết, giao dịch của nhiều loại hình
DN và đảm bảo khả năng quản lý, giám sát của Nhà nước
- Chuyển TTGDCK thành Sở giao dịch CK hoạt động theo mô hình cty từ tháng 6/2008 theo tinh thần Luật CK Nâng cấp đồng
bộ hạ tầng kỹ thuật của thị trường đảm bảo khả năng liên kết với thị trường các nước trong khu vực
3 Phát triển các định chế trung gian và dịch vụ thị trường
- Thúc đẩy việc tăng số lượng, nâng cao chất lượng hoạt động và năng lực tài chính của các cty CK, cty quản lý quỹ, cty đầu tưCK… Đa dạng hóa các loại hình dịch vụ cung cấp trên thị trường, nâng cao tính chuyên nghiệp và chất lượng cung cấp dịch vụ
- Nghiên cứu thành lập các tổ chức định mức tín nhiệm tại VN và cho phép 1 số tổ chức định mức tín nhiệm có uy tín của nướcngoài thực hiện hoạt động định mức tín nhiệm ở VN
4 Phát triển hệ thống nhà đầu tư chuyên nghiệp (ngân hàng, CK, bảo hiểm…) tham gia đầu tư trên thị trường Đa dạng hóa
các loại hình quỹ đầu tư để thu hút vốn dân cư tham gia đầu tư; khuyến khích việc thành lập các quỹ đầu tư ở nước ngoài đầu tưdài hạn vào thị trường VN theo quy định của pháp luật
5 Nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý, giám sát của Nhà nước
- Hoàn thiện hệ thống khuôn khổ pháp lý thống nhất, đồng bộ đáp ứng được yêu cầu quản lý, giám sát và hội nhập với thị trườngvốn của khu vực và quốc tế
- Áp dụng các tiêu chuẩn giám sát thị trường theo thông lệ quốc tế; đẩy mạnh việc thanh tra, kiểm tra, giám sát việc tuân thủ phápluật của các thành viên tham gia thị trường; tăng cường năng lực giám sát, cưỡng chế thực thi của cơ quan giám sát thị trường
- Đẩy mạnh công tác đào tạo, phát triển nguồn nhân lực cho thị trường vốn; tăng cường phổ cập kiến thức về thị trường vốn, thịtrường CK cho công chúng, DN và các tổ chức KT
- Củng cố bộ máy, nâng cao năng lực quản lý, giám sát của Nhà nước đối với thị trường vốn; nghiên cứu thành lập cơ quan giámsát dịch vụ tài chính độc lập để thống nhất việc giám sát đối với các hoạt động dịch vụ tài chính
- Nghiên cứu các biện pháp kiểm soát vốn chặt chẽ trong những trường hợp cần thiết trên nguyên tắc được thể chế hóa, công bốcông khai cho nhà đầu tư và chỉ áp dụng khi có những nguy cơ ảnh hưởng đến an nình của hệ thống TC
Câu 16: Mối quan hệ giữa nguồn tài chính vô hình và nguồn tài chính hữu hình là gì? (phần quan điểm của các nhà kinh
bị ,phương tiện vận tải,vật liệu kiến trúc , đất canh tác , đất xay dựng…
Phân loại :Nhà cửa, vật kiến trúc: là tài sản cố định của doanh nghiệp hình thành sau quá trình thi công xây dựng như: trụ sởlàm việc, nhà xưởng, nhà kho, hàng rào, bể, tháp nước, sân bãi, các công trình cơ sở hạ tầng như đường xá, cầu cống, đường sắt, cầutàu, cầu cảng…
- Máy móc thiết bị: bao gồm các loại máy móc thiết bị dùng trong sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp như: máy móc chuyêndùng, thiết bị công tác, dây chuyền công nghệ, những máy móc đơn lẻ…
- Phương tiện vận tải thiết bị truyền dẫn: là các phương tiện vận tải gồm phương tiện vận tải đường sắt, đường thuỷ, đường bộ,đường không, đường ống và các thiết bị truyền dẫn như hệ thống thông tin, hệ thống điện, đường ống nước, băng tải…
Trang 36- Thiệt bị, dụng cụ dùng trong quản lý: gồm các thiết bị dụng cụ dùng cho công tác quản lý hoạt động kinh doanh của doanh nghiệpnhư thiết bị dụng cụ đo lường, kiểm tra chất lượng, máy vi tính, máy photocopy, máy hút bụi, hút ẩ
- Vườn cây lâu năm, súc vật làm việc và cho sản phẩm như: vườn cà phê, vườn chè, vườn cao su, vườn cây ăn quả, thảm cỏ, thảmcây xanh…; súc vật làm việc ( voi, bò, ngựa cày kéo…) và súc vật nuôi để lấy sản phẩm ( bò sữa, súc vật sinh sản…)
- Tài sản hữu hình khác: bao gồm những tài sản cố định mà chưa được quy định, phản ánh vào các loại trên ( tranh ảnh, tác phẩmnghệ thuật, sách chuyên môn, kĩ thuật…)
nghiệp
Tài sản hữu hình thường chiếm một tỉ trọng khá lớn trong tổng tài sản của doanh nghiệp đồng thời có ý nghĩa cực kì quantrọng Nó tác động trực tiếp vào đối tượng sản xuất để tạo ra sản phẩm cho doanh nghiệp Vì vậy vấn đề đầu tư vào tài sản cốđịnh hữu hình trong doanh nghiệp là mục tiêu trước mắt và lâu dài cho quá trình tồn tại và hoạt động của doanh nghiep
Tài sản vô hình
Khái niệm : Theo Ủy ban Tiêu chuẩn Thẩm định giá quốc tế “Tài sản vô hình là những tài sản thể hiện ra bằng nhữnglợi ích kinh tế, chúng không có cấu tạo vật chất, mà tạo ra những quyền và những ưu thế đối với người sở hữu và thường sinh rathu nhập cho người sở hữu chúng”
Phân loại : theo luật thuế thu nhập của Mỹ có 6 loại cơ bản:
- Các sáng chế, phát minh, công thức tính, quy trình, mô hình, kỹ năng
- Bản quyền và các tác phẩm văn học, âm nhạc, nghệ thuật
- Thương hiệu, tên thương mại, nhãn hiệu hàng hoá
-Thương quyền, giấy phép, hợp đồng
- Phương pháp, chương trình, hệ thống, thủ tục, nghiên cứu, dự báo, dự toán, danh sách khách hàng, các số liệu kỹ thuật
- Các thứ “tương tự” khác Một thứ được gọi là tương tự nếu nó tạo ra giá trị không phải nhờ vào các thuộc tính vật chất mà nhờvào nội dung trí tuệ hoặc các quyền tài sản vô hình khác của nó
3 ) Mối quan hệ giữa đầu tư vào TSHH VÀ TSVH trong doanh nghiệp
Nhìn chung, hoạt động đầu tư vào tài sản hữu hình và tài sản vô hình trong doanh nghiệp có mối liên hệ mật thiết vớinhau Nếu doanh nghiệp xác định được một cơ cấu đầu tư hợp lý, hướng đầu tư đúng đắn thì 2 bộ phận đầu tư này sẽ có tác dụng
hỗ trợ, thúc đẩy lẫn nhau, nâng cao hiệu quả hoạt động sản xuất kinh doanh nói chung và hoạt động đầu tư nói riêng trong doanhnghiệp Tuy nhiên, đối với từng ngành, từng lĩnh vực, vai trò của từng hoạt động đầu tư đối với các hoạt động đầu tư khác cũngnhư tác động của đầu tư đối với sự tồn tại và phát triển của doanh nghiệp là rất khác nhau Điều đó đặt ra nhiều khó khăn đối vớicác doanh nghiệp trong việc xác định một cơ cấu đầu tư hợp lý Interband đã thực hiện một nghiên cứu và đưa ra được mức độcủa giá trị tài sản vô hình và giá trị nhãn hiệu đối với từng hàng hoá và dịch vụ khác nhau Lĩnh vực mà tài sản vô hình cũng nhưhoạt động đầu tư vào tài sản vô hình đóng vai trò rất lớn đến giá trị công ty là các sản phẩm cao cấp, thức ăn và nước uống, ôtô… Với những loại sản phẩm này thì yếu tố tiên quyết để giúp doanh nghiệp thành công là phải xây dựng được một thương hiệumạnh Ngược lại một số sản phẩm như các loại mặt hàng thiết yếu thì doanh nghiệp nên đầu tư vào máy móc thiết bị và kênhphân phối để có sản phẩm giá thành thấp và được phân phối rộng
3.1 ) Tác động của hoạt động đầu tư vào tài sản hữu hình đối với hoạt động đầu tư vào tài sản vô hình trong doanh nghiệp
Đầu tư vào TSHH là điều kiện tiên quyết và cơ bản lam tăng tiềm lực về TSVH Khi doanh nghiệp đã bỏ vốn để đầu tư vào tshhnhư :nhà xưởng, văn phòng làm việc ,phòng thí nghiệm mua sắm và trang bị các loại máy móc thiết bị phương tiện vận tải ,phươngtiện truyên dẫn điều này sẽ là cơ sở dể tăng khả năng cạnh tranh của doanh nghiệpvà nâng cao uy tín của doanh nghiệp trong nềnkinh tế Viêvj doanh nghiệp tăng cường đầu tư vào TSHH sẽ làm tăng khả năng tạo nguồn cho doanh nghiệp đổi mới.tránh sự tụt hậu vềcông nghệ sản xuất,dần dần đuổi kịp các nước trong khu vực.Từ đó sẽ tạo ra tiềm lực để doanh nghiệp đầu tư vào TSVH :phát minhsáng chế,kĩ thuật công nghệ mới ,nghiên cứu phát triển kiêu dáng công nghiệp ,nhãn hiệu hàng hoá và phát triển nguồn nhân lực.Nếuviệc đầu tư vào TSHH không được chú trọng ,trình độ trang thiết bị máy móc lạc hậu ,công nghệ chậm đổi mới sẽ gây cản trở đối vớiquá trình phát triển và hội nhập của các doanh nghiệp,kết quả tất yếu của viêc này sẽ là hiệu quả sản xuất thấp ,số lượng sản phẩmnghèo nàn,chất lượng sản phẩm kém ,doanh thu thấp từ đó doanh nghiệp sẽ không có vốn để đầu tư vào các hoạt đọng chăm sóc kháchhàng ,dịch vụ hậu mãi,chi phí nghiên cứu thị trường
Đầu tư vào tài sản hữu hình thường là đi trước và là cơ sở tiền đề để đầu tư vào tài sản vô hình Khi một doanh nghiệp đã bỏvốn để đầu tư vào tài sản hữu hình: nhà xưởng, các văn phòng làm việc, trung tâm điều hành, các khu chế xuất, phòng thí nghiệm, muasắm và trang bị các loại máy móc thiết bị, phương tiện vận tải, phương tiện truyền dẫn… thì nó làm cho các nghiên cứu phát triển, tạo
ra tiềm lực để đầu tư vào tài sản vô hình: phát minh sáng chế, kĩ thuật công nghệ mới, nghiên cứu phát triển kiểu dáng công nghiệpnhãn hiệu hàng hoá và phát triển nguồn nhân lực
Tác động của đầu tư vào tài sản hữu hình phần lớn là tác động tích cực tạo đà cho đầu tư vào tài sản vô hình, nhưng nếu đầu tưvào tài sản vô hình không đúng chỗ không phù hợp cả về quy mô và chất lượng thì tạo thành một gánh nặng, khó khăn cho công tác đầu
tư vào tài sản vô hình sau này Tuy nhiên tác động tích cực của đầu tư vào tài sản hữu hình đối với đầu tư vào tài sản vô hình là điều tấtnhiên và được chấp nhận như là một lối mòn định hướng phát triển chung cho tất cả các doanh nghiệp dù lớn hay nhỏ, đặc biệt là đốivới các doanh nghiệp vừa thành lập thì cần phải bám chắc vào vấn đề này để phát huy được hiệu quả tối ưu
Trang 373.2)Tác động của hoạt động đầu tư vào tài sản vô hình đối với đầu tư vào tài sản hữu hình trong doanh nghiệp.
Đầu tư vào TSVH là điều kiện tất yếu để đảm bảo cho đầu tư vào TSHH.Trong quá trình hội nhập hiện nay đang và sẽ đang có rấtnhiều các doanh nghiệp nước ngoài thâm nhập vào thị trường nước ta.Nếu doanh nghiệp không xây dựng được thương hiệu uy tín trên
cơ sở giá cả và chất lượng hợp líthì khó có thể cạnh tranh Nhưng một khi doanh nghiệp dã quan tâm vào đầu tư vào TSVH một cachhợp lí thì sẽ tạo cơ hội phát triển kinh doanh lớn,lợi nhuân tăng Đầu tư vào tài sản vô hình lại tiếp tục tác động trở lại đối với đầu tưvào tài sản hữu hình vì nó tạo điều kiện cho doanh nghiệp tiếp tục mở rộng quy mô, tiếp tục có vốn để đầu tư mua sắm thiết bị máymóc mới hiện đại hơn, xây dựng mới nhà xưởng, văn phòng làm việc …Chẳng hạn nếu đầu tư vào công nghệ mới sẽ tạo ra năng suấtlao động cao hơn, giảm giá thành, tăng chất lượng sản phẩm, từ đó tăng sức cạnh tranh trên thị trường, giúp cho doanh nghiệp ngày mộttăng trưởng và phát triển, tăng thêm nguồn vốn để đầu tư vào tài sản hữu hình Hoặc khi một doanh nghiệp tạo dựng được một thươnghiệu mạnh thì sẽ mang về một doanh thu lớn từ việc cho thuê thương hiệu hoặc doanh thu bán hàng do uy tín của thương hiệu mang lại
và đồng vốn đó lại tiếp tục đầu tư đổi mới gia tăng tài sản hưu hình
Ngày nay, xu thế chủ yếu là đầu tư vào tài sản vô hình và không ít doanh nghiệp có tỉ trọng giá trị tài sản vô hình cao hơn gấpnhiều lần so với tài sản hữu hình như Microsoft, Uniliver…
Nói cho cùng đầu tư vào tài sản hữu hình cũng chỉ nhằm mục đích tạo ra một giá trị vô hình ngày càng lớn Tài sản vô hình ngàynay được công nhận và nó được tính toán thành giá trị cụ thể, có thể được mua bán trao đổi trên thị trường
Tác động của đầu tư vào đầu tư vào tài sản vô hình đối với đầu tư vào tài sản hữu hình hầu hết là tác động tích cực bởi vì một sựđầu tư đúng đắn vào tài sản vô hình sẽ tác động làm gia tăng tài sản hữu hình Nhưng ngược lại một sự đầu tư không hợp lý vào tài sản
vô hình sẽ dẫn đến lãng phí nguồn lực và ảnh hưởng tiêu cực đến hoạt động đầu tư vào tài sản hữu hình
3.3 )Tác động của sự phối hợp giữa hoạt động đầu tư vào tài sản hữu hình và đầu tư vào tài sản vô hình đối với sự phát triển của doanh nghiệp.
Nếu hoạt động đầu tư vào tài sản hữu hình và đầu tư vào tài sản vô hình được phối hợp một cách nhịp nhàng đồng bộ thì điều đó
sẽ mang lại hiệu quả kinh tế cao cho hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp
Chẳng hạn, khi doanh nghiệp muốn định vị một sản phẩm cao cấp trên thị trường, thì phải tập trung vào mua sắm máy móc thiết
bị phù hợp đồng thời phải tìm hiểu bí quyết công nghệ, đào tạo cán bộ khoa học nghiên cứu trong lĩnh vực này, phải xác định đượckhách hàng mục tiêu trên thị trường, tức là phải đầu tư vào nguồn nhân lực để tìm hiểu, nghiên cứu thị trường Đồng thời doanh nghiệpcần có các chiến lược Marketing như: đóng gói bao bì, quảng cáo, khuyến mại, và xúc tiến bán cho phù hợp với nhãn hiệu đang đượcđịnh vị, tức là chúng ta phải đầu tư đồng bộ vào cả tài sản cố định hữu hình và tài sản vô hình một cách hợp lý Nếu không thực hiệnđược đồng bộ những công việc nói trên, thì sản phẩm của doanh nghiệp sẽ gặp rất nhiều khó khăn trong việc chiếm lĩnh thị trường.Chẳng hạn, nhãn hiệu bia Laser được định vị là một sản phẩm cao cấp, được khách hàng chấp nhận là một sản phẩm có chất lượng cao
vì công ty đã đầu tư rất nhiều vào hoạt động quảng cáo, công nghệ, kĩ thuật sản xuất…nhưng do sự đầu tư hợp lý đồng bộ vào kênhphân phối nên nhãn hiệu này đã thất bại trong quá trình xâm nhập thị trường
Mặt khác, nếu doanh nghiệp chỉ quan tâm đến các vấn đề đầu tư vào tài sản vô hình như: nhãn hiệu hàng hoá, thương hiệu… màkhông chú ý một cách đúng mức đến tài sản vô hình thì cũng khó có thể thành công trong việc sản xuất kinh doanh Một doanh nghiệpkhông thể thu được lợi nhuận cao nếu không có hệ thống máy móc, trang thiết bị hiện đại với quy mô sản xuất và chi phí hợp lý Chẳnghạn như hãng café Trung Nguyên, một thương hiệu nổi tiếng trên thị trường trong nước và quốc tế nhưng trong những năm gần đây, doTrung Nguyên quá chú trọng vào việc mở rộng thương hiệu thông qua hình thức nhượng quyền thương hiệu mà không chú ý đến việcđầu tư vào chất lượng sản phẩm Việc mở rộng thương hiệu một cách tràn lan không đi kèm với việc đầu tư vào tài sản hữu hình, nângcao chất lượng sản phẩm sản xuất đã đặt ra nhiều khó khăn đối với Trung Nguyên trong thời gian sắp tới
Ngược lại, khi doanh nghiệp muốn định vị một sản phẩm thông thường thì cũng phải có sự đầu tư thích hợp giữa tài sản vô hình vàtài sản hữu hình Một sản phẩm bình dân thì không nên quá chú trọng đến việc đầu tư vào công nghệ và thương hiệu Trong trường hợpnày doanh nghiệp nên đầu tư nhiều vào nhà xưởng, máy móc thiết bị thể thu được lợi thế theo quy mô
Sự đầu tư đồng bộ giữa tài sản vô hình và tài sản hữu hình là điều tối quan trọng trong doanh nghiệp sản xuất kinh doanh,
nó quyết định sức sản xuất, tiêu thụ và trưởng thành của doanh nghiệp Tuỳ vào từng điều kiện cụ thể, tuỳ vào cách thức định vịsản phẩm trên thị trường mà doanh nghiệp xác định chiến lược đầu tư phù hợp giữa tài sả
Khi một sự kết hợp thương hiệu mạnh có thể làm gia tăng giá trị tập đoàn và thiết lập kế hoạch lâu dài, tạo dựng một vị thếđộc đáo trên thị trường và đánh bóng tên tuổi công ty và đặc biệt là làm tăng tiềm năng lãnh đạo trong tập đoàn Bởi thế sự kếthợp thương hiệu có thể làm gia tăng ảnh hưởng lên tài sản hữu hình và tài sản vô hình dẫn tới việc thương hiệu sẽ vượt trội thôngqua tập đoàn
Câu 17: Hiện nay Nhà nước sử dụng mô hình cân đối ngân sách nào?
MÔ HÌNH CÂN ĐỐI NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC ĐỂ PHÂN TÍCH VÀ DỰ BÁO NGẮN HẠN
MÔ HÌNH CÂN ĐỐI NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC
ĐỂ PHÂN TÍCH VÀ DỰ BÁO NGẮN HẠN
(mô hình dự kiến)
Trang 38Mô hình dưới đây là phác thảo đầu tiên của mô hình cân đối ngân sách nhà nước cần xây dựng để phân tích và dự báongắn hạn Yêu cầu đề ra đối với mô hình là:
- Đề cập được các chỉ tiêu chính về hoạt động ngân sách gồm thu chi và phương pháp cân đối ngân sách;
- Mô tả được mối quan hệ giữa các hiện tượng thu chi ngân sách, giữa thu chi ngân sách và hoạt động của nền kinh tế Mô
tả được tình hình thâm hụt ngân sách cũng như các nguồn sử lý thâm hụt ngân sách;
- Không phức tạp để giảm nhu cầu thông tin cho mô hình;
- Có thể sử dụng để vừa phân tích kinh tế (ví dụ đánh giá tác động của một số chính sách liên quan đến thu chi và cân đốingân sách nhà nước), vừa thực hiện các dự báo ngân sách trong khoảng 3 năm tới
Mô hình dưới đây được xây dựng theo tiếp cận cơ cấu, đây được coi là tiếp cận tốt nhất để mô hình hoá một lĩnh vực cụ thểnhằm phân tích chi tiết hoạt động của nó Đặc biệt, do cơ chế mở của nó (ít phương trình hành vi) nên loại mô hình này có tínhmềm dẻo rất cao, cho phép đánh giá được ảnh hưởng tiềm năng của các chính sách, giải pháp tài chính khác nhau Sau khi xâydựng các phương trình theo tiếp cận cơ cấu, sẽ sử dụng hệ thống cân bằng tổng thể để tạo ra những cân đối toàn cục cho hệ thốngkinh tế - thuế
Dự kiến mô hình gồm một số khối sau:
I) Khối cân đối vĩ mô:
(1) Cân đối nguồn - sử dụng:
GDP = TDCC + TLUY + EX - IM + SAISO
Đây là phương trình định nghĩa, theo quan điểm Keynes Trong phương trình; GDP là tổng sản phẩm trong nước, TDCC làtiêu dùng cuối cùng toàn xã hội; TLUY là quỹ tích lũy đầu tư phát triển; EX là kim ngạch xuất khẩu tính theo nội tệ; IM là kimngạch nhập khẩu tính theo nội tệ; SAISO là sai số trong phương trình cân đối nguồn - sử dụng Tất cả các chỉ tiêu trên được tínhtheo giá hiện hành, đơn vị là tỷ đồng
(2) Tiêu dùng cuối cùng:
TDCC = CP + CG
Tiêu dùng cuối cùng toàn xã hội gồm tiêu dùng cuối cùng của khu vực dân cư (CP) và tiêu dùng cuối cùng của khu vựcchính phủ (CG)
(3) Quỹ tích luỹ đầu tư:
Quỹ tích luỹ được xác định theo nguyên tắc đầu tư trong kinh tế thị trường (nhân tử Keynes); trong đó tích luỹ năm nayđược hình thành từ kết quả sản xuất năm trước:
Nhập khẩu phụ thuộc vào nhu cầu của nền kinh tế; nhu cầu này bao gồm cầu tiêu dùng, cầu tích luỹ và cầu xuất khẩu; do
đó nhập khẩu được xác định theo phương trình sau:
IM = f (TDCC + TLUY + EX)
(6) Giá trị gia tăng khu vực quốc doanh:
Khu vực kinh tế quốc doanh chiếm tỷ trọng cao trong tổng sản phẩm trong nước Do đó nó có quan hệ chặt với chỉ tiêunày Vì vậy, có thể xác định giá trị gia tăng của nó qua phương trình quan hệ:
GDPQD = f (GDP)
(7) Giá trị gia tăng khu vực ngoài quốc doanh:
Tương tự với trường hợp trên, giá trị gia tăng của khu vực ngoài quốc doanh cũng chiếm tỷ trọng cao trong tổng sản phẩmtrong nước, vì vậy quan hệ của nó với chỉ tiêu GDP có thể chặt hơn so với giá trị gia tăng của khu vực có vốn đầu tư nước ngoài.Phương trình xác định như sau:
GDPNQD = f (GDP)
(8) Giá trị gia tăng khu vực kinh tế có vốn ĐTNN:
GDPĐTNN = GDP - GDPQD - GDPNQD
II) Khối thu ngân sách:
a) Thu từ khu vực kinh tế quốc doanh:
(1) Thu quốc doanh:
Thu quốc doanh là tổng số thu ngân sách được thực hiện tại khu vực các doanh nghiệp nhà nước Theo bảng kế toán ngânsách, thu quốc doanh gồm các nguồn: thuế lợi tức, thuế doanh thu (từ năm 1999 là thuế giá trị gia tăng VAT), thuế tiêu thụ đặcbiệt, thuế tài nguyên, thuế vốn, khấu hao và các khoản thu khác Vì việc phân tích, dự báo theo kỹ thuật kinh tế lượng phải được
Trang 39tập trung vào các chỉ tiêu có giá trị tương đối lớn để đảm bảo có một quan hệ đáng tin cậy, nên các nguồn trên được chia làm 5loại, mỗi loại đều có giá trị trên 4000 tỷ đồng năm 2001 Phương trình như sau:
TAXQD = TQDLT + TQDVAT + TQDTTĐB + TQDTN + TQDKH
trong đó:
TQDLT : thuế lợi tức;
TQDVAT : thuế giá trị gia tăng;
TQDTTĐB : thuế giá trị gia tăng;
TQDTN : thuế tài nguyên;
TQDKH : thu quốc doanh khác
(2) Thu quốc doanh qua thuế lợi tức:
Thuế lợi tức hay thuế thu nhập doanh nghiệp được áp dụng chung cho tất cả các thành phần kinh tế Mức thuế suất áp dụngthống nhất cho các thành phần kinh tế là 32% tổng thu nhập (trước đây có 2 mức thuế suất là 25%, 35% và 45%) Ngoài ra còn
có một số đối tượng được miễn, giảm thuế suất Vì thu nhập của khu vực kinh tế quốc doanh là một phần giá trị gia tăng của khuvực này nên chúng ta có thể sử dụng phương trình quan hệ sau:
TQDLT = f (GDPQD)
(3) Thu quốc doanh qua thuế VAT:
Đây là loại thuế đánh vào giá trị gia tăng, do đó chúng ta có quan hệ trực tiếp:
(4) Thu quốc doanh qua thuế tiêu thụ đặc biệt:
Luật thuế tiêu thụ đặc biệt được sửa đổi, bổ sung năm 1998, trong đó đã bổ sung thêm một số đối tượng chịu thuế, bao gồm cảhàng hoá nhập khẩu với các mức thuế suất áp dụng thống nhất đối với các hàng hoá nhập khẩu và hàng sản xuất trong nước Docách tính thuế của loại thuế này, thu quốc doanh từ thuế tiêu thụ đặc biệt phụ thuộc vào giá trị các hàng hoá chịu thuế Tuy nhiên,
để không phải mở rộng mô hình, chúng ta tạm thời sử dụng quan hệ gián tiếp qua giá trị gia tăng của khu vực kinh tế này:
TQDTTĐB = f (GDPQD)
(5) Thu quốc doanh từ nguồn thuế tài nguyên:
Thuế tài nguyên tăng giảm theo kết quả sản xuất của những ngành liên quan đến khai thác tài nguyên Để đơn giản hoá mô hình,
ở đây, thuế tài nguyên được xác định như sau:
TQDTN = f (GDPQD)
(6) Thu quốc doanh từ các nguồn khác:
Thu quốc doanh từ các nguồn khác có thể là biến ngoại sinh, có thể được dự báo theo xu thế, hoặc theo kết quả sản xuất của khuvực kinh tế quốc doanh Trong trường hợp cuối, phương trình như sau:
TQDKHAC = f (GDPQD)
b) Thu từ khu vực kinh tế ngoài quốc doanh:
(1) Thu ngoài quốc doanh:
Thu từ kinh tế ngoài quốc doanh bao gồm hai khoản: thuế nông nghiệp và thuế phi nông nghiệp Phương pháp xác định cụ thểnhư sau:
TAXNQD = TAGRI + TNOAGRI
trong đó TAGRI là thuế nông nghiệp; TNOAGRI là thuế phi nông nghiệp
(2) Thu thuế nông nghiệp:
Thuế nông nghiệp được thực hiện trên cơ sở thu thuế sử dụng đất nông nghiệp và thuế hoa màu trên đó Thuế sử dụng đất nôngnghiệp được đánh trên cơ sở diện tích đất canh tác Do vậy, có thể xác định mức thu thuế nông nghiệp như sau:
TAGRI * 100 / PRICE = f (SSHORT, GDPNQD * 100 / PRICE)
trong đó SSHORT là diện tích canh tác cây trồng ngắn hạn, PRICE là chỉ số giá tiêu dùng
(3) Thu ngoài quốc doanh qua thuế phi nông nghiệp:
Thuế phi nông nghiệp khu vực ngoài quốc doanh bào gồm thuế doanh thu (thuế VAT từ năm 1999), thuế lợi tức, thuế thunhập cá nhân, thuế hàng hoá, thuế bán buôn, thuế chuyển quyền sử dụng đất, thuế sát sinh, lệ phí và các loại thuế khác Tương tựnhư trường hợp thu thuế quốc doanh, ở đây, chúng ta chỉ đưa vào mô hình các loại thuế có giá trị lớn Số thuế còn lại được gộpthành 1 loại chung gọi là thuế khác Do đó:
TNOAGRI = TNQDVAT + TNQDLT + TNQDTN + TNQDKH
trong đó:
Trang 40TNQDVAT : thuế VAT;
TNQDLT : thuế lợi tức;
TNQDTN : thuế thu nhập cá nhân;
TNQDKH : thu khác từ khu vực kinh tế ngoài quốc doanh
(4) Thu ngoài quốc doanh qua thuế VAT
Cách xác định tương tự như trường hợp đối với khu vực quốc doanh:
TNQDVAT = f (GDPNQD)
Tương tự, để có thể minh hoạ hiệu quả của chính sách thuế VAT, có thể chi tiết hoá cơ cấu hình thành loại thuế này nhưsau:
TQDVAT = f [(0.5 * T5 + 0.5 * T10) * GDPNQD]
(5) Thu ngoài quốc doanh qua thuế lợi tức
Cách xác định tương tự như trường hợp đối với khu vực quốc doanh:
TNQDLT = f (GDPNQD)
(6) Thu ngoài quốc doanh qua thuế thu nhập:
Cách xác định tương tự như trường hợp đối với khu vực quốc doanh:
TNQDTN = f (GDPNQD)
(7) Thu ngoài quốc doanh qua thuế khác
Cách xác định tương tự như trường hợp đối với khu vực quốc doanh Thu quốc doanh từ các nguồn khác có thể là biến ngoạisinh, có thể được dự báo theo xu thế, hoặc theo kết quả sản xuất của khu vực kinh tế quốc doanh Trong trường hợp cuối, phươngtrình như sau:
TNQDKH = f (GDPNQD)
c) Thu từ khu vực ngoại thương:
(1) Thuế ngoại thương:
Thuế ngoại thương bao gồm ba bộ phận: thuế xuất nhập khẩu, thuế VAT đối với hàng nhập khẩu và phụ thu hàng nhập khẩu Do
đó phương trình xác định thuế ngoại thương như sau:
TAXNT = TXNK + TNKVAT + PHUTHUNK
(2) Thuế xuất nhập khẩu:
Thu thuế xuất nhập khẩu bao gồm thu thuế từ hoạt động xuất khẩu và nhập khẩu hàng hoá, dịch vụ, trong đó chủ yếu là dựa vàothu thuế nhập khẩu Do đó thuế xuất nhập khẩu được xác định theo công thức sau:
TXNK = f (EX * TX / 100 + IM * TM / 100)
trong đó TX, TM lần lượt là thuế suất hải quan được áp dụng bình quân đối với hàng xuất, hàng nhập
(3) Thuế VAT đối với hàng nhập khẩu:
Thuế VAT đối với hàng nhập khẩu cũng được tính toán căn cứ vào khối lượng nhập khẩu và ba mức thuế suất; điều này tương tựnhư đã làm khi xác định thuế VAT đối với khu vực doanh nghiệp nhà nước và khu vực ngoài quốc doanh Cụ thể, chúng ta cóphương trình:
TNKVAT = f (0.19 * T5 + 0.10 * T10 + 0.02 * T20) * NKVATCON
trong đó NKVATCON là giá trị hàng nhập khẩu phải chịu thuế VAT
(4) Tổng giá trị thuế VAT:
Để nhận biết tổng giá trị thuế VAT thu được từ nền kinh tế, chúng ta đưa phương trình sau vào mô hình:
VAT = TQDVAT + TNQDVAT + TNKVAT
d) Thu từ khu vực kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài:
(1) Tổng thu ngân sách từ khu vực có vốn ĐTNN:
Tổng thu ngân sách từ khu vực này phụ thuộc vào tình hình sản xuất kinh doanh của khu vực Do đó chúng ta có phương trình:TAXĐTNN = f (GDPĐTNN)
(2) Riêng thu từ dầu khí, có thể sử dụng phương trình sau để tính toán:
PETROL = f (GIADAU, SXDAU)
trong đó GIADAU là giá dầu thô quy đổi ra tiền việt; SXDAU là lượng dầu đã hoặc dự kiến sản xuất Nguồn thu này gần nhưđộc lập với hoạt động sản xuất của nền kinh tế