1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Tài liệu Ảnh hưởng của việc đưa thông tin “một chiều” và “hai chiều” đối với việc thay đổi ý kiến về một vấn đề gây tra ppt

12 496 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Ảnh hưởng của việc đưa thông tin một chiều và hai chiều đối với việc thay đổi ý kiến về một vấn đề gây tranh cãi.
Tác giả Phan Diệu Ly, Trần Giang Linh, Lơ Ngọc Phương
Chuyên ngành Xã hội học
Thể loại Bài viết
Năm xuất bản 1945
Định dạng
Số trang 12
Dung lượng 92 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

VẤN ĐỀ Trong việc thiết kế các các chương trình định hướng quân sự, một vấn đề thường gây tranh cãi đối với những người tổ chức là: Khi đưa ra những bằng chứng ủng hộ cho quan điểm chính

Trang 1

Ảnh hưởng của việc đưa thông tin “một chiều”

và “hai chiều” đối với việc thay đổi ý kiến về

một vấn đề gây tranh cãi.

Nhóm dịch: Phan Diệu Ly

Trần Giang Linh

Lê Ngọc Phương

K46 – Xã hội học

I VẤN ĐỀ

Trong việc thiết kế các các chương trình định hướng quân sự, một vấn đề thường gây tranh cãi đối với những người tổ chức là: Khi đưa ra những bằng chứng ủng hộ cho quan điểm chính, liệu việc chỉ đưa ra những cơ sở ủng hộ cho quan điểm đó sẽ có hiệu quả hơn; hay đưa ra cả những quan điểm trái ngược với nó sẽ hiệu quả hơn?

Việc chỉ đưa những tranh luận ủng hộ thường được sử dụng trong những vấn đề

mà phần lớn các tranh luận đều ủng hộ cho quan điểm đưa ra, việc đưa những tranh luận đối lập hay những hiểu lầm sẽ gây ra nghi ngờ cho công chúng Nhưng theo một cách khác, việc đưa ra những tranh luận “hai chiều” có thể rất được ủng hộ trên khía cạnh về

sự công bằng – đó là quyền lợi của công chúng trong việc tiếp cận các tài liệu liên quan

để tự đưa ra quyết định của mình Hơn nữa, có lý do để trông đợi rằng đối với một bộ phận công chúng có thể đã không đồng tình với quan điểm đó từ trước, vì thế việc đưa quan điểm đó ra chỉ “khơi lại” những tranh luận của họ, họ không hề chú ý tới vấn đề đưa ra là gì và lại càng khó chịu hơn khi những tranh luận theo quan điểm của họ không được đưa ra Vì thế, theo những người ủng hộ cho tranh luận “hai chiều”, việc đưa ra

những tranh luận của công chúng ngay từ đầu có thể sẽ mang lại sự tiếp nhận tốt hơn.

Thực nghiệm này được tiến hành nhằm cung cấp thông tin về những ảnh hưởng liên quan của hai dạng thông tin của nội dung chương trình, trong quan hệ về sự đa dạng của các cá nhân trong việc tán thành hay không tán thành chương trình đưa ra

II PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU:

1.Hai chương trình đã sử dụng:

Vào thời điểm mà thực nghiệm này được lên kế hoạch (đầu năm 1945), có những thông tin cho rằng tinh thần chiến đấu của quân đội đang bị ảnh hưởng nghiêm trọng bởi những suy nghĩ quá lạc quan rằng chiến tranh sẽ kết thúc sớm Quân đội đã ban hành một chỉ thị đối với binh lính để nhấn mạnh quan điểm về tầm quan trọng của những công việc cần phải làm để đánh bại quân phát xít Điều này đã tạo nên một vấn đề có

Trang 2

những tranh luận ở cả hai phía, nhưng các chuyên gia quân sự cho rằng phần lớn các bằng chứng là ủng hộ cho một phía Vì vậy vấn đề này được chọn cho thực nghiệm

Các chương trình được phát qua đài phát thanh, đơn giản là vì có thể chuẩn bị theo nhiều dạng khác nhau một cách dễ dàng Khung cơ bản của nội dung chương trình được chuẩn bị bởi Bộ phận thực nghiệm của Chi nhánh Nghiên cứu Tất cả các tài liệu

sử dụng đều là những tài liệu chính thức của Văn phòng Thông tin Chiến tranh và Bộ chiến tranh Bài viết và sản phẩm cuối cùng của hai chương trình được thực hiện bởi Dịch vụ Phát thanh Quân đội

Cả hai chương trình được so sánh ở đây đều có dạng phân tích bình luận về chiến tranh Thái Bình Dương Kết luận của bình luận viên là việc kết thúc chiến tranh có thể rất khó khăn và nó có thể cần ít nhất là 2 năm sau ngày Chiến thắng ở Châu Âu

“Một chiều” Những chủ đề chính được đưa ra trong chương trình chỉ là những

tranh cãi cho rằng chiến tranh sẽ còn lâu dài (ở đây được gọi là chương trình A) Những

chủ đề đó là: vấn đề khoảng cách và những khó khăn logic khác trong khối Thái Bình Dương; những nguồn tài nguyên và hàng dự trữ của Đế chế Nhật Bản; kích thước và chất lượng của quân đội Nhật mà quân đội Hoa Kì chưa bao giờ đối mặt; và sự quyết tâm của người Nhật Chương trình này được phát sóng khoảng 15 phút

“Hai chiều” Chương trình khác (chương trình B) được phát sóng khoảng 19 phút

và đưa ra tất cả các khó khăn giống hệt chương trình trước 4 phút thêm vào của chương trình sau được dành để nói về những tranh luận cân nhắc về mặt khác của bức tranh: những thuận lợi của Hoa Kì và những khó khăn của Nhật Bản Chẳng hạn như: những thắng lợi và sự siêu việt của hải quân Hoa Kì; những thành tựu trước đây của Hoa Kì bất

kể cuộc chiến tranh hai phía; khả năng tập trung toàn bộ lực lượng lên quân Nhật sau ngày Chiến thắng ở Châu Âu; tổn thất về tàu chiến của quân Nhật; nền sản xuất của Nhật thấp kém hơn; và những thiệt hại sắp tới về phía Nhật khi Hoa Kì mở rộng cuộc chiến trên không Những luận điểm này được lồng vào cuối chương trình và có sự tranh luận xem nó liên quan đến những vấn đề gì

Cần phải chỉ ra rằng trong khi chương trình B đưa ra các dữ kiện về cả hai phía

của câu hỏi, nó cũng không dành khoảng thời gian như nhau cho cả hai phía, cũng như

không cố gắng so sánh khả năng suy nghĩ về một cuộc chiến lâu dài với khả năng chắc

chắn nhất về một chiến thắng dễ dàng và một cuộc chiến ngắn Chương trình B đưa ra

những luận điểm giống hệt chương trình A, rằng tình hình sẽ rất khó khăn và cần ít nhất

2 năm Điểm khác là chương trình B có nhắc tới những tranh luận trái ngược (chẳng hạn như về sự thuận lợi của quân Mĩ) ở những điểm liên quan Kết quả là chương trình này cho rằng sẽ vẫn gặp khó khăn ngay cả khi xem xét đến những thuận lợi của quân Mĩ

và bất lợi của quân Nhật

2 Thiết kế thực nghiệm:

Kế hoạch chung của thực nghiệm là đưa ra một “điều tra/khảo sát ý kiến” ban đầu

để quyết định ý kiến của binh lính về cuộc chiến Thái Bình Dương và sau đó đo lường lại ý kiến của họ một thời gian sau khi bài nói chuyện được phát trong buổi họp định

hướng của họ Theo cách này sẽ quyết định được sự thay đổi trong suy nghĩ của họ từ

Trang 3

“trước” đến “sau” Một nhúm đối chứng khụng hề nghe bài phỏt biểu nào cũng được điều tra để xem cú bất kỡ sự thay đổi nào cú thể xảy ra sau một thời gian hay khụng Sự thay đổi này khụng phụ thuộc vào bài phỏt biểu mà cú thể là nhõn tố khỏc, chẳng hạn như tin tức từ Thỏi Bỡnh Dương

a Tớnh khuyết danh của cỏc cõu trả lời và trỏnh sự nghi ngờ của những người tham gia thực nghiệm Việc thu thập cỏc cõu trả lời khuyết danh là rất cần thiết, cũng như việc

đo lường cỏc ảnh hưởng của chương trỡnh mà khụng gặp phải sự lo ngại nào của một bộ phận binh lớnh về chuyện cuộc thực nghiệm đang được tiến hành Trong khi tiến hành nghiờn cứu cú cảm giỏc rằng nếu những binh lớnh nghĩ cỏc cõu trả lời của họ sẽ bị nhận dạng bởi tờn hay họ biết họ đang bị “điều tra”, thỡ họ sẽ cú thể đưa ra cỏc cõu trả lời đỳng cỏch hoặc làm sai lệch cỏc cõu trả lời hơn là đưa ra những ý kiến thực của họ về vấn đề Trong thực nghiệm tiến hành ở đõy, việc đảm bảo tớnh khuyết danh và giảm thiểu sự đề phũng là một điều bắt buộc trong cỏc cụng cụ đo lường cũng như trong thiết

kế và quản lý thực nghiệm Sự phũng xa này dựa trờn những nền tảng cú sẵn chứ khụng

hề cú bằng chứng nào đỏng phải nghi ngờ

b Cụng cụ đo lường Bảng hỏi sử dụng trong cuộc “điều tra” ban đầu (trước khi

nghe cỏc bài phỏt biểu) chủ yếu bao gồm cỏc cõu hỏi đúng và một vài cõu hỏi yờu cầu người trả lời phải tự viết cõu trả lời Nội dung của cỏc cõu hỏi làm nờn thang đo sẽ được nhắc đến giới thiệu kết quả của nghiờn cứu Thờm vào đú, “điều tra” ban đầu cũng yờu cầu những “nền tảng” cho việc thu thập cỏc thụng tin cỏ nhõn về trỡnh độ học vấn, tuổi tỏc v.v… và những cõu hỏi “ngụy trang” (cõu hỏi bẫy) - những cõu hỏi khụng liờn quan đến chủ đề của buổi định hướng Việc thu thập thụng tin cỏ nhõn này khụng cần thiết cho thang đo thực nghiệm nhưng được dựng để đưa ra phạm vi của “điều tra” và ngăn

sự chỳ ý đến những thụng tin được giấu trong bài phỏt biểu Điều này nhằm giỳp cho điều tra cú vẻ thực tế hơn, nhưng cỏi chớnh là trỏnh làm cho họ “nhạy cảm” với chủ đề của cuộc buổi định hướng thụng qua việc quỏ nhấn mạnh vào nú trong điều tra

c “Kiểm tra trước” Một trong những bước quan trọng trong chuẩn bị bảng hỏi cú

thể được coi như việc “kiểm tra trước nhằm chuẩn hoỏ” cỏc từ ngữ và nghĩa của cỏc cõu hỏi Điều này bao gồm phỏng vấn trực tiếp cỏc binh lớnh với cỏc cõu hỏi được hỏi bởi người phỏng vấn trong một vài trường hợp hay ngời đợc hỏi tự đọc trong một vài trờng hợp khác Bằng cỏch này, những quan điểm trong cỏc cõu hỏi dễ bị hiểu nhầm hay cỏc

từ ngữ dễ bị hiểu sai sẽ được giải đỏp, và cỏc từ ngữ, phạm trự của cõu trả lời sẽ được phỏt hiện một cỏch tự nhiờn Cựng với việc nõng cao yếu tố từ ngữ của cõu hỏi, việc kiểm tra trước là một phương phỏp quan trọng để quyết định ý kiến của binh lớnh về cỏc chủ đề liờn quan để cỏc tranh luận và phản đối sử dụng trong cỏc chương trỡnh cú thể thớch ứng với ý kiến và thụng tin của binh lớnh Nhằm cung cấp thờm dữ liệu mở rộng cho mục đớch trờn, cỏc cuộc phỏng vấn được tiến hành theo cỏch thực hiện của một bảng hỏi ban đầu với 200 binh lớnh Việc sử dụng một cỏch rộng rói “cỏc cõu hỏi mở” trong bảng hỏi này nhằm thu thập thụng tin chi tiết liờn quan đến lý do của cỏc binh lớnh khi mong đợi một cuộc chiến dài hay ngắn

d Tiến hành thực hiện thực nghiệm Cú 3 yờu cầu để thực hiện thực nghiệm đỳng

cỏch: Việc giới thiệu bài phỏt biểu với cỏc điều kiện thực tế, ngăn ngừa việc những binh

Trang 4

lính tham gia nhận thấy rằng họ đang thực hiện thí nghiệm, và thu thập các câu trả lời trung thực qua bảng hỏi Về tính thực tế khi giới thiệu bài phát biểu, bài phát biểu dành cho nhóm thực nghiệm được kết hợp với chương trình huấn luyện và được sắp xếp như

là một buổi định hướng hàng tuần Điều này không những đảm bảo tính thực tế của bài phát biểu mà còn giúp tránh việc chỉ ra rằng hiệu quả của nó đã được kiểm tra

Cuộc “điều tra” ban đầu được giới thiệu là một điều tra của Bộ Chiến tranh “để tìm hiểu các binh lính cảm thấy thế nào về các vấn đề đa dạng liên quan tới cuộc chiến”, cùng với các ví dụ được đưa ra từ các điều tra trước đó của Chi nhánh Nghiên cứu và giải thích các điều tra đó được dùng làm gì Bảng hỏi được thực hiện bởi tất cả các binh lính trong cùng một thời điểm Bảng hỏi được thực hiện bởi những người “đứng đầu lớp” đã được lựa chọn và đào tạo từ danh sách nhân sự làm việc tại trại Trong khi giải thích hướng dẫn về cuộc điều tra, người đứng đầu lớp nhấn mạnh về tầm quan trọng của nó và tính khuyết danh của các câu trả lời Không hề có bất cứ sĩ quan nào có mặt vào thời điểm đó

và các binh lính được đảm bảo rằng các phiếu điều tra được gửi thẳng đến Washington, không một ai ở trại có thể đọc được những gì họ viết

e Vấn đề khi thực hiện bảng hỏi thứ hai Để tránh sự nghi ngờ về một “cuộc thử

nghiệm” trong việc thực hiện 2 điều tra trong một thời gian ngắn, bảng hỏi thứ 2 khác bảng hỏi thứ nhất cả về dạng thức cũng như mục đích được thông báo Do đó, cuộc điều tra thứ nhất được đưa ra như một “cuộc điều tra” chung của Bộ Chiến Tranh, còn cuộc điều tra thứ 2 được đưa ra trong buổi họp mặt định hướng để “tìm hiểu binh lính nghĩ gì

về các bài phát biểu” (hay trong nhóm đối chứng là: “ họ nghĩ gì về các buổi họp định hướng”)

“Cuộc điều tra” ban đầu được tiến hành đối với 8 tiểu đoàn trong tuần đầu tiên của tháng

Tư năm 1945 Tuần tiếp theo là 8 trung đội được chọn ngẫu nhiên từ 8 đại đội để nghe chương trình A (chỉ đưa thông tin 1 chiều) Một nhóm khác gồm 8 trung đội có cách chọn tương tự, nghe chương trình B (đưa thông tin 2 chiều) Ngay sau khi nghe các chương trình, các binh lính đã điền vào bảng hỏi thứ hai, có vẻ là vì mục đích muốn cho những người làm chương trình biết họ nghĩ gì về các chương trình đó.Trong bảng hỏi thứ hai này, cùng với các câu hỏi phù hợp, còn có các câu hỏi đã xuất hiện trong cuộc điều tra lần trước hỏi binh lính về sự đánh giá cá nhân của họ về cuộc chiến Thái Bình Dương Một nhóm thứ ba, gồm 8 trung đội đóng vai trò làm nhóm đối chứng, không hề nghe chương trình nào Họ cũng điền các bảng hỏi giống như trong buổi họp mặt định hướng, ngoài các câu hỏi giống như trên về cuộc chiến Thái Bình Dương, còn có các câu hỏi xem họ nghĩ gì về các buổi họp định hướng và họ muốn trong tương lai, các buổi họp đó sẽ như thế nào Đối với nhóm đối chứng, các câu hỏi sau – thay cho các câu hỏi

về các bài phát biểu - được giới thiệu là “mục đích” chính của bảng hỏi

Trong khi có 24 trung đội tham gia vào cuộc thử nghiệm này, chỉ có khoảng 70% tham gia vào điều tra ban đầu và vào các buổi họp mặt định hướng Sự “co lại” này tương đối lớn là do số người tham gia cả 2 lần, và mẫu chọn tham gia phân tích “trước – sau” nhỏ ( tổng cộng 625 binh lính, trong đó có 214 người trong nhóm thử nghiệm và

197 người trong nhóm đối chứng) Nhìn qua bức tranh toàn cảnh về sự thay đổi nhanh

Trang 5

chúng ở khu vực Thỏi Bỡnh Dương thỡ nờn cõn nhắc thực hiện thử nghiệm này ở một trại khỏc nữa

III.KẾT QUẢ:

Những kết quả dưới đõy dựa trờn sự phõn tớch cỏc cõu trả lời của những binh lớnh mà điều tra ban đầu phự hợp với bảng hỏi đưa ra trong cỏc buổi họp đinh hướng Vỡ tất cả cỏc bảng hỏi đều mang tớnh khuyết danh, nờn cỏc bảng hỏi “trước” và “sau” của cựng cỏc cỏ nhõn cú thể đều được dựa trờn cỏc cõu trả lời từ cỏc cõu hỏi cơ sở như là số năm học ở trường, ngày sinh…

1 Những ảnh h ởng tới ý kiến của những binh lính có đánh giá ban đầu về cuộc chiến tranh dài và những binh lính có đánh giá ban đầu về cuộc chiến tranh ngắn

Câu hỏi chính đợc sử dụng để đánh giá những hiệu quả của 2 cuộc điều tra, đa ra với mục đích trng cầu khả năng dự đoán tốt nhất của mọi ngời về độ đài có thể của cuộc chiến tranh TBD sau ngày chiến thắng quân Đức ở châu Âu Những kết quả thu đợc từ câu hỏi này đợc sắp xếp theo những thay đổi trong cách đánh giá giới hạn thời gian có thể của cuộc chiến tranh TBD Một thay đổi đợc xác định theo độ chênh là nửa năm hoặc nhiều hơn giữa đánh giá của cùng một binh lính trớc và sau khi nghe chơng trình

Những kết quả đợc phân tích dới dạng "chuỗi ảnh hởng" Một số binh lính đã đổi sang một sự đánh giá dài hơn về chiến tranh và một số khác lại chuyển sang đánh giá ngắn hơn; "Chuỗi các thay đổi” đối với một nhóm đợc tính bằng tỷ lệ số ngời thay đổi thành đánh giá dài hơn trừ đi số ngời thay đổi thành đánh giá ngắn hơn Tuy nhiên, một

số thay đổi trong mỗi chiều hớng này cũng xảy ra trong số những binh lính thuộc nhóm

đối chứng (những ngời không nghe chơng trình) Những thay đổi sau này đợc quy cho tính thiếu xác thực của bảng hỏi và cũng do sự thật rằng trong suốt thời hạn một tuần

tr-ớc và sau khi trắc nghiệm, tin tức chiến tranh và những giải thích khác nhau về tin tức này có thể ảnh hởng nhất định tới ý kiến của những ngời đợc điều tra Vì thế, để thu đợc chuỗi ảnh hởng của chơng trình đến nhóm đợc điều tra, chuỗi thay đổi trong số những ngời nghe chơng trình phải loại trừ đi chuỗi thay đổi xảy ra trong số những ngời trong nhóm đối chứng

Nh đã đợc đề cập phần trớc, việc chỉ đa ra thông tin một chiều về một chủ đề gây

ra những bất lợi cho các cá nhân phản đối quan điểm đợc đa ra Do vậy, các kết quả sẽ

đ-ợc phân tích một cách độc lập giữa những binh lính ban đầu ủng hộ và ban đầu không ủng hộ quan điểm mà các chơng trình đã đa ra Cơ sở để phân biệt hai nhóm này là: liệu

đánh giá ban đầu của họ về độ dài của cuộc chiến tranh là ít hơn hai năm, hai năm hay trên hai năm Đánh giá hai năm đợc cho là tiêu chuẩn ban đầu bởi vì đây là mức đánh giá tối thiểu đợc đa ra bởi phát thanh viên trong các chơng trình ghi âm, và do đó sẽ dễ dàng hơn cho việc phân biệt giữa những ngời ủng hộ và những ngời không đồng ý với quan

điểm của phát thanh viên

Chuỗi các ảnh hởng của hai cách trình bày tài liệu định hớng đợc chỉ ra dới đây cho hai tiểu nhóm binh lính này: những ngời ban đầu đánh giá chiến tranh kéo dài hai hoặc nhiều hơn hai năm (nhóm ủng hộ) và những ngời ban đầu đánh giá chiến tranh kéo dài dới hai năm (nhóm phản đối)

Sơ đồ dới đây chỉ ra rằng chuỗi những ảnh hởng khác nhau đối với hai cách đa ra tài liệu/thông tin định hớng là phụ thuộc vào quan điểm ban đầu của ngời nghe Chơng trình chỉ đa ra một chiều (chơng trình A) có hiệu quả hơn đối với những ngời ban đầu ủng hộ quan điểm này, tức là những ngời đồng ý với quan điểm của chơng trình cho rằng chiến tranh sẽ kéo dài ít nhất hai năm (nhóm ủng hộ) Mặt khác, chơng trình đa thêm vào những thuận lợi bên cạnh những khó khăn của Hoa Kỳ (chơng trình B) thì hiệu quả hơn

đối với những ngời ban đầu phản đối, tức là những ngời mong đợi cuộc chiến tranh ít hơn hai năm (nhóm phản đối) Trong mẫu thu đợc, dờng nh cứ có khoảng ba ngời ủng hộ thì

Trang 6

có một ngời phản đối, vì vậy chuỗi ảnh hởng toàn thể tới tổng các nhóm gần nh giống nhau đối với cả hai chơng trình

Chuỗi ảnh hởng của chơng trình A và chơng trình B tới những binh lính ban

đầu ủng hộ và những binh lính ban đầu phản đối :

Trong số những binh lính có đánh giá ban đầu là “phản đối”

(đánh giá chiến tranh ngắn)

% binh lính thay đổi thành đánh giá dài hơn

chơng trình A (chỉ một chiều) ………… 36%

chơng trình B (cả hai chiều) ………… 48%

Trong số những binh lính có đánh giá ban đầu là “ủng hộ”

(đánh giá chiến tranh dài)

%binh lính thay đổi thành đánh giá ngắn hơn

Chơng trình A (một chiều) ……… 52%

Chơng trình B (hai chiều) ……… 23%

Độ chênh (B-A) ……… -29%

2 Những ảnh h ởng tới ý kiến của những binh lính có số năm học ở tr ờng khác nhau:

Khi những kết quả đợc phân tích theo số năm học ở trờng, ngời ta nhận thấy rằng chơng trình hai chiều (chơng trình B) hiệu quả hơn với những binh lính có học vấn cao hơn còn chơng trình chỉ đa ra một chiều (chơng trình A) lại hiệu quả hơn đối với những binh lính có học vấn thấp hơn Kết quả đợc chỉ ra dới dạng so sánh ảnh hởng tới binh lính khi cha tốt nghiệp trung học với những ảnh hởng tới những ngời đã tốt nghiệp (Nhóm "không tốt nghiệp" bao gồm những ngời chỉ học trong trờng trung học cộng với những ngời có học trung học nhng không hoàn thành; nhóm "tốt nghiệp trung học" bao gồm tất cả những ngời tốt nghiệp trung học, mà không quan tâm tới việc liệu họ có tiếp tục vào đại học hay không) Sự phân tích theo học vấn chia mẫu thành hai phần xấp xỉ bằng nhau

Kết quả cho thấy chơng trình hai chiều ít hiệu quả hơn với những ngời cha tốt nghiệp nhng lại hiệu quả hơn đối với những ngời đã tốt nghiệp trung học

Chuỗi ảnh hởng của chơng trình A và chơng trình B đối với những binh lính

có nền tảng giáo dục khác nhau:

Trong số những binh bính không tốt nghiệp trung học:

% binh lính thay đổi thành đánh giá dài hơn

chơng trình A (chỉ một chiều)……… 46%

chơng trình B (cả hai chiều) ……… 31%

Trong số những binh lính đã tốt nghiệp trung học:

% binh lính thay đổi thành đánh giá dài hơn

chơng trình A (chỉ một chiều)……… 35%

chơng trình B (cả hai chiều) ……….49%

Trang 7

3 Những ảnh h ởng khi quan tõm đến giáo dục và những đánh giá ban đầu

Những ảnh hởng khác nhau đợc chỉ ra phần trên là cho tiểu nhóm đợc chia theo trình độ học vấn, mà không quan tâm tới những khác biệt giữa những binh lính ban đầu ủng hộ và phản đối quan điểm mà chơng trình đa ra Phân tích dựa trên những ảnh hởng của việc phân nhóm theo trình độ học vấn Tuy nhiên, việc chia tổng thể binh lính thành

8 nhóm nhỏ, một vài trong số đó rất nhỏ và do đó khó tránh khỏi sai số chọn mẫu lớn Nên ghi nhớ thực tế n y trong việc diễn giải các chuỗi ảnh hày trong việc diễn giải các chuỗi ảnh h ởng trong bảng ở trang sau

Có thể nhận thấy rằng có một chuỗi ảnh hởng ngày càng tăng đối với chơng trình hai chiều trong tất cả các nhóm nhỏ ngoại trừ nhóm không tốt nghiệp, những ngời ban

đầu cho rằng chiến tranh kéo dài hai hoặc trên hai năm Nh đã đề cập ở trên, kết quả rất

là không ổn định bởi những mẫu nhỏ trong các tiểu nhóm Đây là một thực tế cá biệt của các tiểu nhóm với đánh giá ban đầu là hai hay trên hai năm vì theo điều tra so bộ, cứ bốn ngời thì có một ngời phỏng đoán chiến tranh kéo dài hai hay trên hai năm Tuy nhiên, sự khác biệt giữa những kết quả của hai loại chơng trình là lớn đối với những ngời không tốt nghiệp mà ban đầu mong đợi chơng trình kéo dài hai hay hai năm trở lên đến nỗi mà mặc dù số lợng các trờng hợp rất nhỏ, nhng dờng nh sự khác biệt lớn này chính là do sai

số chọn mẫu (Khả năng thống kê đợc căn cứ vào sự so sánh các phần trăm cho mẫu trên tổng thể đợc sử dụng ít hơn 1/100)

4 Những kết luận đ ợc đ a ra sau đó :

Những kết luận đợc rút ra từ các kết quả đợc trình bày trong báo cáo này có thể

đợc tóm tắt nh sau:

Việc đa ra những điểm mạnh của thông tin đối lập sẽ làm cho tranh luận có hiệu quả hơn trong việc nhận ra những thông điệp từ nó, đặc biệt cho những ngời có học vấn khá hơn

và cho những ngời có quan điểm đối lập

Sự khác nhau này về tính hiệu quả, tuy vậy lại ngợc lại đối với những ngời kém hiểu biết

và đối với một số trờng hợp cực đoan, những thông tin hai chiều có thể có ảnh hởng tiêu cực đối với những ngời kém hiểu biết đã đợc thuyết phục bởi quan điểm mà chơng trình

đa ra Điều này sẽ càng xảy ra nhiều hơn nếu nhóm binh lính có học vấn kém không biết

đến và không tính đến từ trớc những quan điểm của thông tin đối lập Từ những kết quả trên, ngời ta mong đợi rằng ảnh hởng của cả 2 chơng trình lên nhóm tổng thể nói chung

sẽ phụ thuộc vào sự sắp xếp về học vấn của nhóm và sự phân chia ban đầu ý kiến trong nhóm

5 Đánh giá của mỗi binh lính về các sự kiện đ ợc đ a ra :

Báo cáo đa ra thông tin hai chiều (là chơng trình B) làm cho binh lính tin rằng báo cáo đó khách quan và có uy tín cao hơn Tuy nhiên, trong báo cáo này, toàn bộ binh lính không cho rằng các sự kiện về sự thuận lợi của quân đội Hoa Kì đợc đa ra đầy đủ nh những khó khăn đợc đa trong chơng trình B

Chuỗi ảnh hởng của chơng trình A và chơng trình B đối với những binh lính ban

đầu ủng hộ và những ngời ban đầu phản đối đợc trình bày một cách riêng rẽ đối với những binh lính có nền tảng giáo dục khác nhau:

A Những ảnh h ởng trong số những binh lính không tốt nghiệp trung học

*Trong số những binh lính có đánh giá ban đầu là phản đối“ ”

(đánh giá chiến tranh ngắn)

% binh lính thay đổi thành đánh giá dài hơn

Chơng trình A (chỉ một chiều)……… 44% Chơng trình B (cả hai chiều) ……… 51%

Trang 8

*Trong số những binh lính có đánh giá ban đầu là ủng hộ“ ”

(đánh giá chiến tranh dài)

% binh lính thay đổi thành đánh giá dài hơn

Chơng trình A (chỉ một chiều)……… 64%

Chơng trình B (cả hai chiều) ……… -3%

B Những ảnh h ởng trong số những ng ời tốt nghiệp trung học

* Trong số những binh lính có đánh giá ban đầu là phản đối “ ”

(đánh giá chiến tranh ngắn)

% binh lính thay đổi thành đánh giá dài hơn

Chơng trình A (chỉ một chiều)……… 30%

Chơng trình B (cả hai chiều) ……… 44%

*Trong số những binh lính có đánh giá ban đầu là ủng hộ“ ”

(đánh giá chiến tranh dài)

% binh lính thay đổi thành đánh giá dài hơn

Chơng trình A (chỉ một chiều)……….39%

Chơng trình B (cả hai chiều) ……….54%

Đánh giá sự kiện đ ợc đ a ra của những binh lính nghe ch ơng trình A và ch ơng trình B:

% binh lính cho rằng chơng trình đã đa ra những sự kiện thực tế về chiến tranh TBD

Trong số những binh lính nghe chơng trình:

Chơng trình A (chỉ một chiều)……… 61%

Chơng trình B (cả hai chiều)……… 54%

% binh lính cho rằng chơng trình chỉ quan tâm tới những sự kiện quan trọng về chiến tranh TBD.

Trong số những binh lính nghe chơng trình:

Chơng trình A (chỉ một chiều)………48%

Chơng trình B (cả hai chiều)………42%

Nh đã đề cập phần trớc, sự kiện thực tế đợc đa ra đã không đợc quan tâm nhiều trong chơng trình B Nếu đợc qtâm thì hẳn là kết quả sẽ thay đổi theo hớng ngợc loại

Việc giải thích kết quả không mong đợi này rõ ràng phụ thuộc vào sự thật rằng cả

hai chơng trình đều không đề cập đến Liên Xô nh là một nhân tố trong chiến tranh TBD,

và sự bỏ qua này lẽ ra càng không thể bỏ qua trong báo cáo cam kết là đa ra thông tin

cả hai chiều Trong lúc chiến tranh TBD đợc chọn nh là một đề tài định hớng thực

nghiệm, ngời ta nhận thấy rằng điểm yếu của chủ đề này chính là không đa ra quan điểm nào về sự hỗ trợ đợc mong đợi từ phía Liên Xô Do vậy cần phải giảm thiểu sự khác biệt giữa hai báo cáo này bởi vì cả hai đều không đề cập đến những lập luận quan trọng đến 1

Trang 9

phía khác, đó là Liên Xô có thể tham gia vào Tuy nhiên, không thể lờng trớc đợc rằng

sự bỏ qua này sẽ có thể gây chú ý hơn trong chơng trình 2 chiều Nhng điều này xảy ra

đợc gợi ý bởi những bằng chứng sau dây:

Bảng hỏi của chơng trình có 1 câu hỏi “tự trả lời” (câu hỏi mở) nh sau:

“Sự kiện nào hay chủ đề nào mà anh cho là quan trọng trong chiến tranh với quân Nhật nhng lại không đợc đề cập trong chơng trình?”

Với câu trả lời cho là khả năng viện trợ từ phía Liên Xô đã không đợc đề cập trong chơng trình, ta có 23% đối với chơng trình B và chỉ là 13% đối với chơng trình A Sự

khác biệt này thậm chí còn dễ nhận thấy hơn trong những nhóm đợc mong đợi là đặc

biệt nhạy cảm với sự bỏ qua này, nh là những binh lính ban đầu lạc quan về độ dài của

cuộc chiến tranh, những binh lính có học vấn cao hơn, và những binh lính mong đợi sự viện trợ rất lớn từ phía Liên Xô trong nhiệm vụ chống Nhật

6 Phân tích độc lập d ữ li ệ u v ề nh ữ ng ng ườ i đặ c bi ệ t quan tâm đế n vi ệ c các ch ơng trình đã không nêu ra sự viện trợ từ Liên Xô:

Rõ rằng sự viện trợ từ LX không đợc đề cập ở chương trỡnh làm giảmhiều quả của chương trỡnh B hơn chương trỡnh A, điều này thu được từ sự phõn tớch độc lập cỏc đỏnh

giỏ về những sự kiện xảy ra, cỏc ảnh hưởng của chương trỡnh lờn ý kiến của những

người đặc biệt quan tõm đến sự bỏ qua khả năng giỳp đỡ của Liờn Xụ Đú là những

người mà ngay trong lần điều tra đầu đó tớnh đến sự giỳp đỡ của Liờn Xụ và cũng tin tưởng rằng chiến tranh kộo dài ớt hơn 2 năm Sau 2 chương trỡnh ta cú kết quả thu được như sau (so sỏnh với những người tin vào cuộc chiến tranh ớt hơn 2 năm nhưng khụng tớnh đến sự giỳp đỡ từ phớa Nga)

Đỏnh giỏ về việc đưa ra những sự kiện cho những người ban đầu khụng ủng hộ

A.tỉ lệ người cho rằng núi ra sự thật về cuộc chiến tranh TBD là việc tốt

* Trong số những người cú tớnh đến sự giỳp đỡ to lớn của LX:

% số người cho rằng

đú là cơ hội tốt để nghe sự thật

Trong số những binh lớnh đó nghe chương trỡnh

Chương trỡnh A 53%

Chương trỡnh B 37% Độ chờnh (B-A) -16%

Trong số những người khụng tớnh đến sự trợ giỳp từ phớa LX:

% số người cho rằng

đú là cơ hội tốt để nghe sự thật

Trong số những người đó nghe chương trỡnh

Chương trỡnh A 56%

Chương trỡnh B 61%

Trang 10

Độ chờnh (B-A) 5%

B Tỉ lệ người cho rằng chương trỡnh đó đưa ra tất cả những sự kiện thực tế

*Trong số những người tớnh đến sự trợ giỳp từ phớa LX

% binh lính cho rằng chơng trình đó tớnh đến tất cả những sự kiện quan trọng

Trong số những binh lính nghe chơng trình:

Chơng trình A (chỉ một chiều) 46%

Chơng trình B (cả hai chiều) 28%

Độ chờnh(B-A) -18%

*Trong số những người khụng tớnh đến sự trợ giỳp từ phớa LX

% binhlính cho rằng chơng trình đó tớnh đến tất cả cỏc sự kiện quan trọng

Trong số những người đó nghe chương trỡnh

Chương trỡnh A 44%

Chương trỡnh B 46%

Độ chờnh(B-A) 2%

* Sự phõn tớch này dựa trờnnhững giỳp đỡ từ phớa Liờn Xụ là cơ sở đặt ra cõu hỏi trưng cầu xem cú thể mong đợi bao nhiờu từ sự giỳp đỡ này trong cuộc chiến chống Nhật 41% binh lớnh đó cho rằng Liờn Xụ sẽ trợ giỳp rất nhiều trong số những nước đồng minh

a Sự khỏc nhau trong việc đỏnh giỏ cỏc sự kiện đó nờu ra (trong số những người đặc biệt quan tõm đến việc bỏ qua sự giỳp đỡ của Nga) Kết quả trờn cho thấy độtin cậy của chương trỡnh B đó bị ảnh hưởng bởi việc bỏ qua Liờn Xụ

Những kết quả trờn cho thấy nếu chương trỡnh B đề cập đến Liờn Xụ thỡ toàn bộ binh lớnh sẽ cho rằng chương trỡnh này hoàn chỉnh hơn về cỏc điều kiện thực tế Số liệu này được xỏc nhận bởi việc kiểm tra trước trờn số lượng lớn và tiến hành trong thời

điểm sự giỳp đỡ của Liờn Xụ khụng được coi là quan trọng lắm, khi đú, chương trỡnh B

được coi là đầy đủ hơn trong việc tớnh đến cỏc sự kiờn thực tế Số liệu dẫn ra trong lần

kiểm tra ban đầu từ 347 lớnh bộ binh tăng cường trong thỏng 3/1945 thỡ khụng cú sự khỏc nhau giữa 2 chương trỡnh về tỉ lệ % những người quan tõm đến việc bỏ qua sự giỳp

đỡ của Nga Nghiờn cứu về 2 chương trỡnh được thực hiện trong tuần thứ 2 của thỏng 4,

ớt hơn 1 tuần sau khi Nga tuyờn bố khụng thay đổi hiệp ước ngừng chiến với Nhật

b Những ảnh hưởng khỏc nhau về đánh giá độ dài cuộc chiến tranh.(giữa những ngời chú ý đến việc bỏ qua Liên Xô).Việc bỏ qua LX không chỉ làm ảnh hởng đến đánh giá

của mọi ngời về các sự kiện trong chơng trình B mà rõ ràng nó còn làm giảm đi ảnh hởng của chơng trình đến đánh giá của binh lính về độ dài cuộc chiến Việc giảm đi ảnh hởng

này có đợc dựa trờn những phân tích chuỗi ảnh hởng của chơng trình lên cỏc tiểu nhóm

Ngày đăng: 16/01/2014, 17:20

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w