1. Trang chủ
  2. » Giáo án - Bài giảng

Bồi dưỡng HSG chuyên đề lý luận văn học

8 81 0

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 8
Dung lượng 137 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

NỘI DUNG CƠ BẢN CỦA LÍ LUẬN VĂN HỌC THPT A. Các phương diện nội dung và hình thức của văn bản văn học. I. Các khái niệm của nội dung và hình thức trong văn bản văn học 1. Về nội dung: bao gồm các khái niệm đề tài, chủ đề, tư tưởng, cảm hứng nghệ thuật • Đề tài: lĩnh vực đời sống được nhà văn nhận thức, lựa chọn, khát quát, bình giá và thể hiện trong văn bản • Chủ đề: Vấn đề cơ bản được nêu ra trong văn bản, thể hiện điều quan tâm cũng như chiều sâu nhận thức của nhà văn đối với cuộc sống • Tư tưởng của nhà văn: Sự lí giải đối với chủ đề đã nêu lên, là nhận thức của tác giả muốn trao đổi, nhắn gửi, đối thoại với người đọc. • Cảm hứng nghệ thuật: Nội dung tình cảm chủ đạo của văn bản, là những trạng thái tâm hồn, cảm xúc được thể hiện trong văn bản 2. Về hình thức: Bao gồm các khái niệm ngôn từ, kết cấu và thể loại • Ngôn từ: yếu tố đầu tiên của văn bản văn học. Các chi tiết, sự việc, hình tượng, nhân vật...và các thành tố khác được tạo nên nhờ lớp ngôn từ • Kết cấu: sự sắp xếp, tổ chức các thành tố của văn bản thành một đơn vị thống nhất, hoàn chỉnh, có ý nghĩa • Thể loại: những quy tắc tổ chức hình thức văn bản thích hợp với nội dung văn bản: hoặc có chất thơ, chất tiểu thuyết, chất kịch II Ý nghĩa quan trọng của nội dung và hình thức văn bản văn học • Văn học có chức năng chủ yếu là nhận thức, giáo dục, thẩm mĩ, giao tiếp....nên người nghệ sĩ cần phải suy nghĩ, trăn trở về cuộc sống, con người để tác động tích cực, nâng cao nhận thức, phẩm chất, hoàn thiện con người. • Hính thức của văn bản là để khởi gợi tính hiếu kì, tò mò của bạn đọc • Nếu chỉ chú trọng vào nội dung và hình thức văn bản văn học sẽ không trọn vẹn mà cần phải có sự thống nhất giữa hai yếu tố ấy B. Văn bản văn học I Tiêu chí chủ yêu của văn học • Văn bản văn học là những văn bản đi sâu phản ánh hiện thực khách quan và khám phá thế giới tình cảm và tư tưởng, thỏa mãn nhu cầu thẩm mĩ của con người • Được xây dựng bằng ngôn từ nghệ thuật, có hình tượng, có tính thẩm mĩ cao • Xây dựng theo một phương thức riêng, mỗi văn bản văn học đều thuộc về một thể loại nhất định và theo những quy ước, cách thức của thế loại đó II Cấu trúc của văn bản văn học 1. Tầng ngôn từ từ ngữ âm đến ngữ nghĩa: Bước đầu để đi vào chiều sâu của văn bản 2. Tầng hình tượng: được sáng tạo bởi những chi tiết, cốt truyện, nhân vật, hoàn cảnh, tâm trạng 3. Tầng hàm nghĩa: Nghĩa ẩn kín, tiềm tàng của văn bản; cần đi qua các lớp đề tài, chủ đề, tư tưởng, cảm hứng chủ đạo III Từ văn bản đến tác phẩm văn học • Văn bản văn học: các sáng tác của nhà văn, một hệ thống kí hiệu tồn tại khách quan vì chưa thể tác động tới xã hội • Văn bản văn học trở thành tác phẩm văn học thông qua việc đọc và tiếp nhận những giá trị tiềm ẩn trong văn học; từ đó làm thay đổi suy nghĩ, nhận thức, tình cảm của con người C. Đặc trưng thơ, truyện: I. Loại và thể trong văn học được xác định như thế nào? Trả lời: Hình thức tổ chức tác phẩm văn học được xác định trong loại (loại hình, chủng loại) và thể (thể tài, thể loại, kiểu, dạng). Loại là phương thức tồn tại chung; thể chỉ là sự hiện thực hoá của loại. Phần lớn các ý kiến đều đồng ý rằng các tác phẩm văn học được chia làm ba loại lớn: Trữ tình (lấy cảm xúc, suy nghĩ, tâm trạng của con người làm đối tượng thể hiện chủ yếu), tự sự (dùng lời kể, lời miêu tả để xây dưng cốt truyện, khắc hoạ tính cách nhân vật, dựng lên những bức tranh về đời sống) và kịch (thông qua lời thoại và hành động của các nhân vật mà tái hiện những xung đột xã hội). Mỗi loại lại có thể gồm các thể riêng: Loại trữ tình có các thể: thơ ca, khúc ngâm,... Loại tự sự có các thể: truyện, kí, tuỳ bút,... Loại kịch có các thể: chính kịch, bi kịch, hài kịch,... Bên cạnh đó còn có một thể loại khác cũng thường gặp, đó là nghị luận. II. Hãy nêu đặc trưng của thơ, các kiểu loại thơ và yêu cầu về đọc thơ. Đặc trưng của thơ Thơ thường có vần, điệu; ngôn ngữ hàm súc, gợi cảm; thể hiện tình cảm, tâm hồn con người. Các kiểu loại thơ Phân loại thơ theo nội dung biểu hiện có: Thơ trữ tình, thơ tự sự, thơ trào phúng. Phân loại thơ theo cách thức tổ chức bài thơ có: Thơ cách luật (viết theo luật đã định trước), thơ tự do (không theo luật), thơ văn xuôi (câu thơ gần như câu văn xuôi nhưng vẫn có nhịp điệu). Những yêu cầu về đọc thơ Cần biết rõ tên tác phẩm, tên tập thơ, tên tác giả, năm xuất bản, tìm hiểu những thông tin liên quan đến hoàn cảnh sáng tác bài thơ. Đọc kĩ bài thơ, cảm nhận ý thơ qua câu chữ, hình ảnh, nhịp điệu. Ý thơ ở đây là cảm xúc, suy nghĩ, tâm trạng, những sự việc, sự vật,... Đồng cảm với nhà thơ, dùng liên tưởng, tưởng tượng, phân tích khả năng biểu hiện của từng từ ngữ, chi tiết, vần điệu,... mới cảm nhận được ý thơ, thấu hiểu hình tượng thơ, cái tôi trữ tình, nhân vật trữ tình. Từ những câu thơ dẹp, lời thơ lạ, ý thơ hay, từ hình tượng thơ, cái tôi trữ tình, nhân vật trữ tình, hãy lùi xa ra và nhìn lại để lí giải, đánh giá toàn bài thơ cả về nội dung và nghệ thuật. Cần chỉ ra được những nét độc đáo, sáng tạo trong hình thức biểu hiện; những đóng góp về nội dung tư tưởng. III. Tóm lược đặc trưng của truyện, các kiểu loại truyện và yêu cầu về đọc truyện. Cùng với sự phát triển lịch sử của văn học, truyện cũng có những kiểu loại khác nhau. Văn học dân gian có nhiều kiểu truyện: Thần thoại, truyền thuyết, truyện cổ tích, truyện cười, truyện ngụ ngôn. Văn học trung đại có loại truyện viết bằng chữ Hán và loại truyện viết bằng chữ Nôm (chia theo hình thức văn tự). Trong văn học hiện đại, theo quy mô văn bản và dung lượng hiện thực, người ta phân ra truyện ngắn, truyện vừa và truyện dài (tiểu thuyết). + Truyện ngắn thường ít nhân vật, sự kiện, nó hướng tới một vài mảnh nhỏ của cuộc sống, có thể kể về cả cuộc đời hoặc một đoạn đời,... Nhưng trong phạm vi hẹp vẫn có thể đặt ra những vấn đề lớn lao, thể hiện những tư tưởng nhân sinh sâu sắc. (Truyện ngắn là thể tự sự cỡ nhỏ, có cốt truyện, nhân vật, không gian, thời gian, lời kể. Truyện ngắn được phép hư cấu tưởng tượng, khác với bản tin hay phóng sự điều tra. Truyện ngắn thường là một lát cắt của cuộc đời, một mảnh nhỏ của tâm hồn nhân vật). + Không có sự phân biệt rạch ròi giữa truyện vừa và truyện dài (tiểu thuyết). Tiểu thuyết là một thể loại tự sự cỡ lớn. Có nhiều loại tiểu thuyết: Tiểu thuyết phiêu lưu, tiểu thuyết trinh thám, tiểu thuyết khoa học viễn tưởng, tiểu thuyết sử thi ghi lại sự tích anh hùng nhưng nhiều nhất là tiểu thuyết về những số phận cá nhân trong cuộc đời thường: Một cuộc sống không thi vị hoá với mọi yếu tố ngổn ngang bề bộn, từ cao cả đến thấp hèn ti tiện. Nhân vật thường nếm trải bao nhiêu dằn vặt khổ đau của cuộc đời. Với khả năng phán ánh đời sống một cách toàn vẹn, sinh động, đồng thời đi sâu khám phá số phận cá nhân, sử dụng linh hoạt hư cấu, điển hình hoá, tổng hợp thủ pháp của các thể loại văn học, nghệ thuật khác, mang tính đa dạng về màu sắc thấm mĩ, tiểu thuyết được coi là hình thái chủ yếu của nghệ thuật ngôn từ (Côginốp). Yêu cầu khi đọc hiểu truyện: Đọc truyện cần biết hoàn cảnh xã hội, hoàn cảnh sáng tác để lấy cơ sở cảm nhận đúng nội dung truyện. Xem thêm tại: https:doctailieu.comsoanbaimotsotheloaivanhocthotruyen III. Kịch Khái niệm Kịch tái hiện những xung đột trong cuộc sống qua diễn tiến của cốt truyện kịch, qua lời thoại và hành động của các nhân vật Đặc trưng • Đối tượng phản ánh là những mâu thuẫn, xung đột trong đời sống xã hội và con người. • Loại hình tổng hợp của nhiều bộ môn, nhiều người (đạo diễn, diễn viên, hóa trang, ánh sáng, đạo cụ, tác giả kịch bản,…) • Chỉ có kịch bản (vở kịch) mới thuộc thể loại văn học, đồng đẳng với truyện , kí, thơ. Các kiểu loại kịch Các kiểu loại kịch được phân loại dựa trên các tiêu chí:  Dựa vào tính truyền thống hay hiện đại: Kịch dân gian (chèo, tuồng, cải lương,…), kịch cổ điển (trước TK XX), kịch hiện đại (từ TK XX),…  Dựa vào tính chất: o Bi kịch: Kịch phản ánh xung đột giữa những nhân vật cao thượng tốt đẹp với những thế lực đen tối, độc đáo, sự thảm bại hay cái chết của nhân vật ấy gợi lên nỗi xót xa, thương cảm. VD: Romeo và Juliet của Shakespear. o Hài kịch: Kịch khai thác những tình huống khôi hài, sự đối lập với vẻ ngoài đẹp đẽ với cái bên trong xấu xa nhằm làm bật lên tiếng cười chế giễu mỉa mai. VD: Lão hà tiện của Molière. o Chính kịch (xung đột trong cuộc sống): Kịch phản ánh mâu thuẫn, xung đột trong cuộc sống hằng ngày với bi hài, vui buồn lẫn lộn. VD: Hồn Trương Ba da hàng thịt của Lưu Quang Vũ.  Dựa vào ngôn ngữ diễn đạt: Kịch nói (lời thoại bằng ngôn ngữ đời thường), kịch thơ ( lời thoại bằng thơ), ca kịch, kịch hát múa, kịch rối, kịch câm,… Yêu cầu về đọc kịch bản văn học • Đọc kĩ lời giới thiệu, tiểu dẫn. • Tập trung, chú ý vào lời thoại của các nhân vật. (Để có thể xác định được các mối quan hệ và hiểu rõ hơn về tính cách nhân vật). • Phân tích hành động kịch. (Phát hiện xung đột và phân tích tính chất bi, hài của xung đột đó). • Nêu rõ chủ đề tư tưởng, ý nghĩa xã hội của tác phẩm. Nghị luận Khái niệm Văn nghị luận trình bày trực tiếp tư tưởng, quan điểm , tình cảm về những vấn đề mà xã hội quan tâm bằng lí lẽ, chứng cứ có sức thuyết phục. Đặc trưng • Dùng lí lẽ, phán đoán, chứng cứ để bàn về một vấn đề nào đó. • Tác động vào cả lí trí nhận thức và tâm hồn của người đọc giúp họ hiểu được vấn đề đang được trình bày. Các kiểu loại văn nghị luận • Dựa vào nội dung (đối tượng và vấn đề nghị luận): Nghị luận xã hội – chính trị (Chính luận), nghị luận văn học (phê bình, nghiên cứu, bình giảng, phân tích,..). • Dựa vào thời đại: Nghị luận dân gian (tục ngữ), nghị luận trung đại (chiếu, hịch, cáo, thư dụ…), nghị luận hiện đại (tuyên ngôn, lời kêu gọi, xã luận, phê bình…). Yêu cầu về đọc văn nghị luận • Tìm hiểu thông tin về tác giả cũng như hoàn cảnh ra đời của tác phẩm. • Hiểu và nắm bắt được luận điểm, luận cứ và lập luận của tác giả. • Đánh giá đúng hệ thống luận điểm. • Tìm hiểu phương pháp làm sáng tỏ luận điểm. • Phân tích nghệ thuật lập luận: cách nêu chứng cứ, sử dụng ngôn ngữ và tác dụng của chúng. • Nêu khái quát giá trị của tác phẩm nghị luận và rút ra những bài học sâu sắc. E..Phong cách sáng tác của nhà văn I. Khái niệm phong cách sáng tác: Phong cách là nguyên tắc xuyên suốt trong việc xây dựng hình thức nghệ thuật, đem lại cho tác phẩm một tính chỉnh thể có thể cảm nhận được, một giọng điệu và một sắc thái thống nhất. (Từ điển thuật ngữ văn học). Phong cách sáng tác (phong cách nghệ thuật) là một phạm trù thẩm mĩ, chỉ sự thống nhất tương đối ổn định của hệ thống hình tượng, của các phương tiện biểu hiện nghệ thuật, nói lên cải nhìn độc đáo trong sáng tác của một nhà văn, trong tác phẩm riêng lẻ, trong trào lưu văn học hay văn học dân tộc. II. Đặc điểm của phong cách nghệ thuật: 1. Phong cách chính là con người nhà văn: Nhà văn Pháp Buy phông nói: “Phong cách ấy là con người”. Nó hình thành từ thế giới quan, nhân sinh quan, chiều sâu và sự phong phú của tâm hồn, của vốn sống, sở thích, cá tính cũng như biệt tài trong sử dụng cách hình thức, phương tiện nghệ thuật của nhà văn. Ví du: Nguyễn Tuân là người nhìn đời bằng nhãn quan của cái tôi kiêu bạc, đầy tự hào, tự tin, tự trọng, cùng với lòng ngưỡng mộ cái Đẹp trong đời. Nguyễn Tuân là người từng trải, đi nhiều, biết rộng, sống phóng khoáng, thích tự do, thích thú với những cảm giác mãnh liệt trong cuộc sống… Những yếu tố ấy trong con người nhà văn bộc lộ ra thành một phong cách nghệ thuật: Độc đáo, tài hoa và uyên bác. Nét phong cách này khá nhất quán trong cả hai giai đoạn sáng tác trước và sau cách mạng tháng Tám. Khác với Nguyễn Tuân, nhà văn Nam Cao thường viết về những cái nhỏ nhặt, xoàng xĩnh. Từ cái sự tầm thường quen thuộc trong đời sống hàng ngày của “Những truyện không muốn viết”, tác phẩm của Nam Cao làm nổi bật vấn đề xã hội có ý nghĩa to lớn triết lý sâu sắc về con người, cuộc sống và nghệ thuật. Tác phẩm của Nam Cao đề cao con người tư tưởng, đặc biệt chú ý tới hoạt động bên trong của con người, coi đó là nguyên nhân của những hoạt động bên ngoài – Đây là phong cách rất độc đáo của Nam Cao. Nhà văn luôn quan tâm tới đời sống tinh thần của con người, luôn hứng thú khám phá “con người trong con người”. Giọng điệu riêng, buồn thương, chua chát. Ông có phong cách nghệ thuật triết lý trữ tình sắc lạnh. 2. Phong cách sáng tác thể hiện cách nhìn của nhà văn trước cuộc đời Phong cách nghệ thuật không đơn thuần chỉ là những nét lặp đi lặp lại thành quen thuộc của nhà văn. Đó phải là sự lặp lại một cách hệ thống, thống nhất cách cảm nhận độc đáo về thế giới và hệ thống bút pháp nghệ thuật phù hợp với cách cảm nhận ấy. Cho nên, không phải bất kỳ nhà văn nào cũng có phong cách, tạo được phong cách. Phong cách thường được tạo nên bởi một cây bút sâu sắc trên nhiều phương diện: thế giới quan, nhân sinh quan, vốn sống, kinh nghiệm… tài năng về nghệ thuật và có bản lĩnh. Cái nét riêng (ở cách cảm nhận độc đáo về thế giới và hệ thống bút pháp nghệ thuật phù hợp với cách cảm nhận) ấy thể hiện nổi bật, có giả trị và khá nhắt quán trong hầu hết các tác phẩm của họ, lặp đi lặp lại làm cho người đọc nhận ra sự khác biệt với tác phẩm của các nhà văn khác. Chẳng hạn, giữa Nguyễn Công Hoan và Nam Cao, Xuân Diệu và Chế Lan Viên, Nguyễn Tuân và Nguyễn Minh Châu… 3. Nghệ thuật là lĩnh vực của cải độc đáo. Phong cách là nét riêng không trùng lặp. Sự thật có thể là một, nhưng cách nhìn, cách cảm, cách nghĩ của nhà văn phải có màu sắc khác nhau và độc đáo. L. Tônxtôi nói: “Khi ta đọc hoặc quan sát một tác phẩm văn học nghệ thuật của một tác giả mới, thì câu hỏi chủ yếu nảy ra trong lòng chúng ta bao giờ cũng là như sau: Nào, anh ta là con người thế nào đây nhỉ? Anh ta có gì khác với tất cả những người mà tôi đã biết, và anh ta có thể nói cho tôi thêm một điều gì mới mẻ về việc vần phải nhìn cuộc sống của chúng ta như thế nào?” (L.Tônxtôi toàn tập). Ví dụ: Cùng thể hiện khả năng trào phúng, hai nhà văn cùng thời Nguyễn Công Hoan và Vũ Trọng Phụng vẫn tạo được những phong cách khác nhau: + Nguyễn Công Hoan cười nhẹ nhàng, thâm thúy bằng cách dựng lên những tình huống trớ trêu, nghịch lý (kiểu Kép Tư Bền, Người ngựa, ngựa người…). + Vũ Trọng Phụng cười chua chát, sâu cay, quyết liệt, như muốn ném thẳng lời nguyền rủa vào mặt người ta (kiểu số Đỏ). + Nam Cao lại có giọng điệu buồn thương, chua chát, đôi khi lại lạnh lùng tưởng như vô tình. 4. Phong cách nghệ thuật là sự ổn định, nhất quán Ví dụ: Nguyễn Tuân, trải qua hai thời kỳ sáng tác, có những chuyển biến về tư tưởng sáng tác khá rõ nét, nhưng vẫn giữ một phong cách độc đáo, tài hoa, uyên bác. Có khác: + Trước cách mạng, ông ưa viết theo cách ngông, nổi loạn chống lại cái tầm thường, phàm tục ở đời. Cái Đẹp nhiều khi phóng túng. + Còn sau cách mạng: ông ưa viết theo cách tự tin, tự hào, tự trọng về tài năng và bản lĩnh của mình. Cái Đẹp vẫn được đặt trong tư thế thử thách gai góc nhưng bình dị, chân thực hơn. 5. Phong cách nghệ thuật biếu hiện rất phong phủ, đa dạng, Điều này tùy thuộc vào tài năng, sở trường của mỗi nhà văn. Phong cách sáng tác có thể biểu hiện ở việc chọn đề tài. Có nhà văn chỉ thích đề tài nông thôn; có người lại ưa và chỉ chọn đề tài thành thị; có người thích những hiện thực mang tính chất nhẹ nhàng, giản dị, thâm trầm; cũng có người lại thích khai thác những chuyện dữ dội, đau đớn, ám ảnh mãnh liệt đối với con người…). Phong cách sáng tác có thể biểu hiện ở việc chọn thể loại. mỗi nhà văn chỉ viết thành công nhất ở một thể loại, thể loại ấy chính là phong cách của họ. Phong cách sáng tác có thể biểu hiện ở sự vận dụng ngôn ngữ. Có nhà văn ưa dừng thứ văn nhẹ nhàng, êm đềm, sâu lắng, nhưng có người lại luôn tỉnh táo, sắc lạnh đến tàn nhẫn; có người ưa lối nói dí dỏm mà thâm thúy, người lại thích lối nói sắc sảo, dữ dội, sâu cay… Phong cách sáng tác có thể biểu hiện ở giọng điệu. Có nhà văn thường tạo nên một giọng điệu tâm tình, ngọt ngào, ân nghĩa; trong khi người khác lại thành công với giọng điệu thấm đẫm chất triết luận… Phong cách sáng tác có thể biểu hiện ở cách xây dựng hình tượng nhân vật trung tâm. Kiểu nhân vật chân dung – Nguyễn Tuân; kiểu nhân vật tâm lý – Nam Cao; kiểu nhân vật cảm giác – Thạch Lam, kiểu nhân vật đấu tranh – Nguyễn Minh Châu (trong sáng tác sau năm 1975), kiểu nhân vật CON – NGƯỜI – Nguyễn Huy Thiệp… 6. Phong cách nghệ thuật là nét riêng, đậm tính cá thể, nhưng phải có liên hệ mật thiết với hệ thắng chung các phong cách của một thời đại văn học. Ví dụ: Phong cách của các nhà thơ Xuân Diệu, Hàn Mặc Tử, Chế Lan Viên… trước cách mạng tháng Tám đều nằm trong phong cách lãng mạn của trào lưu Thơ mới lãng mạn Việt Nam 1932 – 1945. Đồng thời, phong cách nghệ thuật chỉ có giá trị khi nó thực sự cống hiến cho sự tồn tại và phát triển phong phủ, đa dạng của văn học dân tộc nói chung. 7. Phong cách sáng tác chịu ảnh hưởng của những phương diện tinh thần khác nhau như tâm lý, khí chất, cá tính của người sáng tác. Đồng thời, nó cũng mang dấu ấn của dân tộc và thời đại. Mỗi một thời đại lịch sử và thời đại văn học tương ứng có thể tạo ra những phong cách sáng tác mang đặc trưng riêng: + Chẳng hạn phong cách Hồ Xuân Hương trong thời Trung đại còn nặng nề ý thức hệ phong kiến, văn học chịu ảnh hưởng sâu sắc của quan điểm phi ngã; + Phong cách Nguyễn Tuân trong thời Pháp thuộc, phát triển một khuynh hướng văn học – văn học lãng mạn, bộc lộ đầy đủ, sâu sắc cái tôi nghệ sĩ tài hoa, phóng khoáng…  “Mỗi nhà văn chân chính bước lên văn đàn, về thực chất, là sự cất tiếng bằng nghệ thuật của một giá trị nhân văn nào đó được chưng cất từ những trải nghiệm sâu sắc trong trường đời”. Bằng những hiểu biết về văn học, anhchị hãy bình luận ý kiến trên.  “Các nhà văn, nhà thơ nhân đạo lớn thường gửi vào sáng tác một cách nhìn sâu sắc về con người, cách nhìn này hướng đến đời sống nội tâm và cảm xúc”. Bằng việc phân tích một vài tác phẩm trung đại và hiện đại đã học, anh (chị) hãy bình luận ý kiến trên. H. Giá trị văn học và tiếp nhận văn học I. Giá trị văn học  Giá trị văn học là sản phẩm kết tinh từ văn học, đáp ứng những nhu cầu khác nhau của cuộc sống con người, tác động sâu sắc tới con người và cuộc sống. Ba giá trị cơ bản của văn học gồm: Giá trị nhận thức, giá trị giáo dục và giá trị thẩm mĩ.  1. Giá trị nhận thức  Cơ sở của giá trị nhận thức:  + Tác phẩm văn học là kết quả của quá trình nhà văn khám phá, lí giải hiện thực đời sống, chuyển hóa vào nội dung tác phẩm, đáp ứng nhu cầu nhận thức của người đọc.  + Mỗi người chỉ sống trong khoảng thời gian nhất định, ở những không gian nhất định với những quan hệ nhất định. Văn học có khả năng phá vỡ giới hạn tồn tại trong thời gian, không gian thực tế của mỗi cá nhân, đem lại khả năng sống cuộc sống của nhiều người, nhiều thời, nhiều nơi.  + Giá trị nhận thức là khả năng của văn học có thể đáp ứng được yêu cầu của cuộc sống, muốn hiểu biết cuộc sống và chính bản thân, từ đó tác động hiệu quả vào cuộc sống.  Nội dung:  + Quá trình nhận thức cuộc sống của văn học: Nhận thức nhiều mặt của cuộc sống với những thời gian, không gian khác nhau (quá khứ, hiện tại, tương lai của vùng đất, các dân tộc, phong tục, tập quán...).  + Quá trình tự nhận thức của văn học: Người đọc hiểu được bản chất của con người (mục đích tồn tại, tư tưởng, khát vọng, sức mạnh...), từ đó hiểu chính bản thân.  2. Giá trị giáo dục  Cơ sở của giá trị giáo dục:  + Ngoài nhu cầu hiểu biết, con người còn có nhu cầu hướng thiện, khao khát cuộc sống tốt lành, chan hòa tình yêu thương.  + Nhà văn luôn bộc lộ tư tưởng tình cảm, nhận xét, đánh giá của mình trong tác phẩm. Điều đó tác động và có khả năng giáo dục người đọc.  + Giá trị nhận thức là tiền đề của giá trị giáo dục, giá trị giáo dục làm sâu sắc thêm giá trị nhận thức.  Nội dung:  + Văn học đem đến cho con người những bài học quý giá về lẽ sống.  + Văn học hình thành giúp con người biết yêu, ghét đúng đắn, làm cho tâm hồn con người trở nên lành mạnh, trong sáng, cao thượng hơn.  + Đặc trưng giáo dục của văn học là con đường cảm xúc tới nhận thức, tự giáo dục (khác với pháp luật, đạo đức...). Văn học cảm hóa con người bằng hình tượng, bằng cái thật, cái đúng, cái đẹp nên nó giáo dục một cách tự giác, thấm sâu, lâu bền. Văn học góp phần hoàn thiện bản thân con người, hướng con người tới những hành động cụ thể, thiết thực.  3. Giá trị thẩm mĩ  Cơ sở của giá trị thẩm mĩ:  + Con người có nhu cầu hưởng thụ, thưởng thức cái đẹp.  + Thế giới hiện thực đã có sẵn vẻ đẹp nhưng không phải ai cũng có thể nhận biết và cảm thụ. Nhà văn đã đưa cái đẹp vào tác phẩm, giúp người đọc vừa cảm nhận được cái đẹp cuộc đời vừa cảm nhận được cái đẹp của tác phẩm.  + Giá trị thẩm mĩ là khả năng văn học có thể đem đến cho con người những rung động trước cái đẹp (cái đẹp cuộc sống và cái đẹp của chính tác phẩm).  Nội dung:  + Văn học đem đến cho con người những vẻ đẹp muôn hình, muôn vẻ của cuộc đời (thiên nhiên, đất nước, cuộc đời, lịch sử...).  + Văn học đi sâu miêu tả vẻ đẹp con người (ngoại hình, nội tâm, tư tưởng, tình cảm, những hành động, lời nói...).  + Văn học có thể phát hiện ra vẻ đẹp của những vật rất nhỏ bé, bình thường và cả vẻ đẹp đồ sộ, kì vĩ.  + Hình thức đẹp của tác phẩm (kết cấu, ngôn ngữ...) cũng chính là một nội dung quan trọng của giá trị thẩm mĩ.  II. Tiếp nhận văn học  1. Tiếp nhận đời sống văn học  Tiếp nhận văn học là quá trình người đọc hòa mình vào tác phẩm, rung động, đắm chìm trong thế giới nghệ thuật được dựng lên bằng ngôn từ, thưởng thức cái hay, cái đẹp. Bằng trí tưởng tượng, kinh nghiệm sống, vốn văn hóa và tâm hồn, người đọc khám phá ý nghĩa của từng câu chữ, cảm nhận sức sống của từng hình ảnh, hình tượng, nhân vật... làm cho tác phẩm từ một văn bản khô khan biến thành một thế giới sống động, đầy sức cuốn hút.  Tiếp nhận văn học là hoạt động của cảm giác, tâm trí người đọc nhằm biến văn bản thành thế giới nghệ thuật trong tâm trí mình.  Phân biệt tiếp nhận và đọc: Tiếp nhận rộng hơn đọc vì tiếp nhận có thể bằng truyền miệng hoặc bằng kênh thính giác (nghe).  2. Tính chất tiếp nhận văn học  Tiếp nhận văn học là quá trình giao tiếp giữa tác giả và người tiếp nhận, người nói, người nghe, người viết và người đọc, người bày tỏ và người chia sẻ cảm thông. Vì vậy, gặp gỡ, đồng điệu hoàn toàn là điều khó. Điều này thể hiện ở hai tính chất cơ bản sau:  + Tính chất cá thể hóa tính chủ động, tích cực của người tiếp nhận các yếu tố thuộc về cá nhân có vai trò quan trọng: Năng lực, thị hiếu, sở thích, lứa tuổi, trình độ học vấn, kinh nghiệm sống...  + Tính khuynh hướng trong tư tưởng, tình cảm, trong thị hiếu thẩm mĩ làm tăng sức sống cho tác phẩm.  3. Các cấp độ tiếp nhận văn học  + Khi cảm thụ chỉ tập trung vào nội dung cụ thể, nội dung trực tiếp của tác phẩm. Đây chính là cách tiếp nhất đơn giản nhưng khá phổ biến.  + Khi cảm thụ qua nội dung trực tiếp để thấy được nội dung, tư tưởng của tác phẩm.  + Khi cảm thụ chú ý đến cả nội dung và hình thức để thấy được cả giá trị tư tưởng và giá trị nghệ thuật của tác phẩm.  Để tiếp nhận văn học có hiệu quả thực sự, người tiếp nhận cần:  + Nâng cao trình độ.  + Tích lũy kinh nghiệm.  + Trân trọng tác phẩm, tìm cách tìm hiểu tác phẩm một cách khách quan, trọn vẹn.  Tiếp nhận một cách chủ động, tích cực, sáng tạo, hướng tới cái hay, cái đẹp, cái đúng, không nên suy diễn tùy tiện.

Trang 1

Chuyên đề: LÍ LUẬN VĂN HỌC

VĂN HỌC LÀ GÌ?

ĐẶC TRƯNG VĂN HỌC VÀ CHỨC NĂNG VĂN HỌC

(4 tiết)

I Văn học là gì?

Văn học là một bộ phận quan trọng của văn nghệ Văn học theo nghĩa rộng là thuật ngữ gọi

chung mọi hành vi ngôn ngữ nói - viết và các tác phẩm ngôn ngữ Nó bao gồm các tác phẩm mà

ngày nay có thể xếp vào loại chính trị, triết học, tôn giáo Với nghĩa rộng, văn học đồng nghĩa với

văn hóa.

Văn học theo nghĩa hẹp chỉ khái niệm văn hóa - nghệ thuật mà ta quen dùng hiện nay Nó bao

gồm các tác phẩm ngôn từ có tính chất được sáng tác bằng hư cấu, tưởng tượng Như vậy khi hiểu

văn học theo nghĩa hẹp chúng ta đã loại ra ngoài các tác phẩm chính trị, triết học, tôn giáo Văn học

theo nghĩa hẹp chính là văn chương

Văn học là một hình thái ý thức xã hội thẩm mĩ, nó bắt nguồn từ đời sống, phản ánh đời sống, bày tỏ một quan điểm, lập trường đối với đời sống Nhưng văn học không phản ánh hiện thực trong ý

nghĩa khách quan, phổ quát của chủng loại, của sự vật như cái giếng, con đường, cái ao mà nó quan tâm là một hệ người kết tinh trong sự vật

Ví dụ:

- Nói đến mây, văn học không phản ánh nó giống như một hiện tượng địa lí mà nói đến nó

như một bộ phận của cuộc sống con người, của thế giới người, mang nội dung quan hệ con người

Vì mây cho núi lên trời

Vì chưng gió thổi, hoa cười với trăng.

(Ca dao)

- Văn học nói đến hoa không phải với tư cách một bộ phận sinh sản của cây mà nhìn hoa như một

người thường, coi hoa là hiện thân của cái đẹp, của sự nảy nở tươi tắn

Nói đến chức năng của văn học là nói đến mục đích sáng tác của văn chương, đến vấn đề viết để làm gì, đến ý nghĩa xã hội của nó Văn học là một hoạt động tinh thần không chỉ của người sáng tạo

mà của cả người tiếp nhận, thưởng thức Nó mang những chức năng có ý nghĩa xã hội rộng lớn bởi

chức năng là sự biểu hiện ra bên ngoài các đặc tính của một khách thể nào đó trong một hệ thống các quan hệ nhất định.

Tác phẩm văn học là sự biểu hiện về năng lực, trình độ, phẩm chất tinh thần của chủ thể trong sự

sáng tạo , phản ánh hiện thực đời sống khách quan, xã hội, con người, dựng nên hình ảnh chủ quan của thế giới khách quan  chức năng phản ánh hiện thực

Văn học là biểu hiện cái quan hệ mang tính người của con người trong quá trình chiếm lĩnh, đồng

hóa hiện thực bên ngoài và bên trong nó dưới hình thức nghệ thuật của ngôn từ Cái quan hệ người

ấy trong cuộc sống nhân loại thật phong phú, nhiều cung bậc, hình thái khó đếm bởi sự vận động không ngừng, bất tận

Văn học giúp người đọc hiểu biết cái nội dung, cái hình thức, cái hay, cái đẹp; giúp họ thư giãn tâm hồn, tạo trạng thái cân bằng tâm lí, tinh thần  Chức năng thưởng thức, thư giãn, giải trí

- Văn học giúp người đọc hiểu biết nhiều mặt về đời sống, chịu sự tác động nhiều cung bậc, đa diện vào nhận thức, tư tưởng, tâm lí, tình cảm  văn học trau dồi mặt tình cảm, hiểu biết cho con người

II Đặc trưng của văn học

Trang 2

1 Nguồn gốc của văn học

Văn học nói riêng và nghệ thuật nói chung đều bắt nguồn từ cuộc sống muôn màu muôn vẻ, nhất là cuộc sống nói chung của con người Bởi cuộc sống là cái có trước, văn học nghệ thuật là cái

có sau Hiện thực cuộc sống là mảnh đất màu mỡ cho văn học nghệ thuật sinh sôi nảy nở và phát triển, là nguồn sữa vô tận nuôi dưỡng văn học nghệ thuật lớn lên, vươn cành, trĩu quả Nếu tách rời mảnh đất của cuộc sống, văn học nghệ thuật sẽ khô héo và bật rễ Goethe, một nhà văn, một nhà tư

tưởng Anh từng nói: Đời sống xanh tươi là cội nguồn sâu xa của văn học Câu nói đó đã phản ánh đầy đủ và rõ ràng nguồn gốc hình thành văn học

2 Đối tượng nhận thức và phản ánh của văn học

Văn học nghệ thuật bắt nguồn từ cuộc sống Chính vì vậy, đối tượng nhận thức và phản ánh

của nó cũng chính là cuộc sống muôn màu muôn vẻ Chính vì vậy, Beieelinxki đã xác nhận: Tất cả thế giới, tất cả những bông hoa, màu sắc và âm thanh, tất cả những hình thức của tự nhiên và đời sống đều có thể là hiện tượng của thi ca.

Thế giới tự nhiên là vô cùng, vô tận vô thủy vô chung và vì vậy thế giới nghệ thuật cũng vô cùng phong phú Nhưng mãi mãi con người vẫn là trung tâm của hiện thực vì thế nghệ thuật luôn hướng đến con người Nếu các nhà khoa học quan tâm đến tự nhiên chủ yếu về bản chất, quy luật vận động thì nhà văn, nhà thơ lại chú trọng đến ý thức, tư tưởng, tình cảm… liên quan đến đời sống tinh thần của con người

Chẳng hạn, đối với mặt trời, nhà hóa học chú ý đến phản ứng hóa học, nhà vật lý quan tâm đến nhiệt năng, nhà sinh vật quan tâm đến nguồn sáng,… còn nhà thơ thì chú ý đến khả năng gây hứng thú, cảm xúc của nó với con người:

Thấy anh như thấy mặt trời Chói chang khó ngó trao lời khó trao.

Hay:

Mặt trời là trái tim anh Mặt trăng vành vạnh là tình của em.

Còn với mưa, nhà khoa học để ý và giải thích là quá trình ngưng tụ hơi nước, gặp lạnh rớt xuống Nhưng với nhà thơ thì mưa bao giờ cũng mang hồn người:

Nặng lòng xưa hạt mưa đau Mát lòng nay trận mưa mau quê nhà.

(Tố Hữu) Hoặc:

Đêm mưa làm nhớ không gian Lòng run thêm lạnh nỗi hàn bao la Tai nương nước giọt mái nhà Nghe trời nằng nặng nghe ta buồn buồn.

(Huy Cận) Còn với Lê Anh Xuân thì:

Ơi cơn mưa quê hương

Đã ru hồn ta thuở bé

Đã tắm nặng lòng ta tình yêu chớm hé Nghe tiếng mưa rơi trên tàu chuối bẹ dừa Thấy mặt trời lên khi tạnh những cơn mưa

Ta yêu quá nhưng lần đầu mới biết

Ta yêu mưa như yêu gì tha thiết.

Trang 3

Và thời tiết ở Trường Sơn đối với nhà văn, nhà thơ cũng khác hẳn với nhà thiên văn, địa lí Tố Hữu nghĩ về mưa- nắng Trường Sơn như sau:

Trường Sơn đông nắng tây mưa

Ai chưa đến đó như chưa rõ mình.

Còn Phạm Tiến Duật thì:

Anh lên xe trời đổ cơn mưa Cái gạt nước xua đi nỗi nhớ

Em xuống núi nắng về rực rỡ Cái nhành cây gạt mối riêng tư.

Chính vì vậy, không phải ngẫu nhiên mà M.Gorki lại khẳng định: Văn học là nhân học Văn

học là môn học về con người Đọc những tác phẩm văn học ta sẽ thấy được những quan niệm về cuộc sống, những tư tưởng, tình cảm, từ đó hiểu thêm về con người Nhờ đặc trưng này mà văn học

có tính nhân bản

3 Văn học biểu hiện thái độ chủ quan của tác giả

Trong văn chương, người nghê sĩ không chỉ phản ánh, tái hiện cuộc sống mà còn bày tỏ quan điểm, thái độ của mình về cuộc sống Qua hình tượng được xây dựng, nhà văn bày tỏ thái độ phẫn

nộ, căm thù trước biểu hiện xấu xa vô nhân đạo, ca ngợi vẻ đẹp của cuộc sống, ca ngợi tình thương, lòng nhân đạo,… Người nghệ sĩ chân chính luôn hướng đến cái CHÂN – THIỆN – MĨ của cuộc sống Vì vậy, khi độc giả tiếp nhận tác phẩm văn chương bao giờ lí trí cũng được mở rộng, nâng cao

Ví dụ: Trong Truyện Kiều, chúng ta cảm nhận được sự đồng cảm sâu sắc của Nguyễn Du

trước số phận bất hạnh, nỗi bạc mệnh của người con gái tài hoa là Thúy Kiều trước xã hội phong kiến xưa Cũng qua tác phẩm, độc giả cảm nhận được thái độ đả kích, phê phán mạnh mẽ của nhà văn trước những thế lực xấu xa chà đạp con người Đó chính là thế lực đồng tiền, thế lực nhà chứa,

giai cấp quan lại,… Còn ở Tắt đèn của Ngô Tất Tố, Lão Hạc, Chí Phèo của Nam Cao, độc giả cảm

nhận được thái độ châm biếm, đả kích mạnh mẽ và sự phê phán của tác giả trước xã hội Việt Nam trước Cách mạng Tháng Tám đã vùi dập và chà đạp nhân phẩm con người, tước đoạt cả nhân hình,

nhân tính, biến con người trở thành con quỷ dữ, thậm chí tước đoạt cả quyền được sống của họ.

4 Văn học - nghệ thuật nhận thức và phản ánh cuộc sống bằng hình tượng nghệ thuật

Nếu nhà văn không xây dựng được hình tượng thì tác phẩm của anh ta sẽ rơi vào lí thuyết khô khan, trừu tượng Trường Chinh đã có một sự so sánh thú vị:

Không long lanh hình tượng Chắp cánh ước mơ Thì thơ đó chỉ thua vè một chút.

(Vè là loại văn vần dùng để minh họa chủ trương, đường lối)

Vậy, hình tượng là gì? Tất cả các đối tượng của đời sống được tái hiện một cách sáng tạo trong tác phẩm văn học đều là hình tượng Đó có thể là một đồ vật, một phong cảnh thiên nhiên,

cảnh lao động chiến đấu,

Ví dụ: Câu ca dao :

Cày đồng đang buổi ban trưa

Mồ hôi thánh thót như mưa ruộng cày

tái hiện khung cảnh lao động của người dân lao động

Hay những câu thơ của Nguyễn Du:

Cỏ non xanh rợn chân trời Cành lê trắng điểm một vài bông hoa

đã vẽ nên một bức tranh thiên nhiên tràn đầy sức sống.

Trang 4

Tuy nhiên, trong những hình tượng mà văn học – nghệ thuật phản ánh thì hình tượng quan trọng nhất là hình tượng con người Đó là Tấm, Thạch Sanh,… trong truyện cổ tích, Thúy Kiều, Từ Hải, Tú Bà,… trong thơ trung đại, là Tnú, chị Út Tịch, chị Sứ,… trong tác phẩm văn học hiện đại,…

Hình tượng văn học có thể là những con vật mang tính tâm linh, tập thể con người, hình tượng thiên nhiên, đất nước,…mà thông qua hình tượng nghệ thuật đó, con người có xúc cảm mạnh

mẽ, hơn Chính những hình tượng nghệ thuật đó tạo cho người đọc sự tưởng tượng phong phú Ví dụ

đọc Tắt đèn của Ngô Tất Tố, trong đầu óc độc giả hiện lên cảnh làng Đông Xá của Chị Dậu thúc thuế, anh Dậu bị trói, Chị Dậu đánh lại tên cai lệ, cái Tí ở đợ cho nhà Nghị Quế,… Đọc Rừng xà nu

của Nguyễn Trung Thành, người đọc liên tưởng đến khung cảnh dân làng Xô-man quây quần bên bếp lửa trong nhà rông để nghe cụ Mết kể chuyện Tnú, hình ảnh mười ngón tay của Tnú bị đốt cháy bừng bừng bằng nhựa xà nu nhưng vẫn không kêu than, thấy những lần Tnú đưa thư liên lạc phải lội qua những con suối nước chảy cuồn cuộn để tránh sự phục kích của địch,…

Tóm lại: Hình tượng là những bức vẽ về cuộc đời và con người, cụ thể được nhà văn sáng tạo qua liên tưởng, tưởng tượng để thể hiện tư tưởng, tình cảm và khái quát hiện thực.

5 Văn học nghệ thuật mang tính biểu cảm, tính xúc động

Nhà văn, nhà thơ sáng tạo tác phẩm văn học bằng các giác quan của mình vì họ nhận thức thế giới bằng cảm xúc Và người đọc khi tiếp nhận tác phẩm văn chương cũng phải vận dụng hết các giác quan của mình để thưởng thức

Những câu thơ sau đây bắt chúng ta phải dùng thị giác để tiếp nhận màu sắc, hình khối của thiên nhiên:

Xập xè én liệng tầng không

Cỏ lan mặt đất rêu phong dấu giày.

Hay:

Sè sè nấm đất bên đàng Rầu rầu ngọn cỏ nửa vàng, nửa xanh.

Còn đây là những câu thơ buộc chúng ta phải dùng vị giác để thưởng thức:

Em ạ! Cu-ba ngọt lịm đường Mía xanh đồng bãi, biếc đồi nương Cam ngon, xoài ngọt vàng nông trại Ong lạc đường bay rộn bốn phương.

(Cu-ba – Tố Hữu) Hay: Tháng giêng ngon như một cặp môi gần (Xuân Diệu)

Và những câu thơ phải cảm nhận bằng thính giác:

Đùng đùng gió giục mây vần Một xe trong cõi hồng trần như bay.

Hoặc:

Thùng thùng trống đánh ngũ liên Bước chân xuống thuyền mà nước mắt như mưa

Hay:

Súng nổ rung trời giận dữ Người lên như nước vỡ bờ.

Và phải dùng cả xúc giác để cảm nhận: Đã nghe rét mướt luồn trong gió (Xuân Diệu)

Từ tác phẩm nghệ thuật, người đọc lại thấy được cảm xúc cho riêng mình ở nhiều góc độ Vì vậy, cái gốc của văn học chính là tình cảm Văn chương còn có khả năng lây lan cảm xúc từ nhà văn, nhà thơ (nói chung là tác giả) đến người đọc, người nghe (nói chung là độc giả) Nó khiến cho độc

Trang 5

giả cũng có cảm giác vui, buồn, yêu, ghét, tự hào, căm phẩn,… giống như tác giả đối với vấn đề được nói tới

Ví dụ, những câu thơ của Hoàng Cầm trong bài thơ Bên kia sông Đuống hay những câu thơ của bài thơ Chạy giặc của Nguyễn Đình Chiểu, Bình Ngô đại cáo của Nguyễn Trãi khiến ta có cảm

giắc căm thù giặc xâm lăng đến tột độ:

- Quê hương ta từ ngày khủng khiếp Giặc kéo lên ngùn ngụt lửa hung tàn.

Ruộng ta khô, nhà ta cháy Chó ngộ một đàn lưỡi dài lê sắt máu.

Kiệt cùng ngõ thẳm bờ hoang

Mẹ con đàn lợn âm dương chia lìa đôi ngã.

Đám cưới chuột đang tưng bừng rộn rã

Bây giờ tan tác về đâu.

(Bên kia sông Đuống- Hoàng Cẩm)

Và :

- Bên Nghé của tiền tan bọt nước Đồng Nai tranh ngói nhuốm màu mây.

(Chạy giặc – Nguyễn Đình Chiểu)

Và đây :

Nướng dân đen trên ngọn lửa hung tàn Vùi con đỏ xuống dưới hầm tai vạ.

(Đại cáo bình Ngô- Nguyễn Trãi) Hay những câu thơ của thi sĩ Đỗ Trung Quân trong bài thơ Quê hương làm ta thêm yêu quý và gắn

bó với mãnh đất gắn bó máu xương, nơi chôn nhau cắt rốn, với những điều đơn sơ giản dị nhất đối với mỗi con người :

Quê hương là chùm khế ngọt Cho con trèo hái mỗi ngày Quê hương là đường đi học Con về rợp bướm vàng bay,

Những câu thơ trong bài thơ Vội vàng như thúc giục chúng ta cũng vội vàng, cuống quýt muốn tận

hưởng trọn vẹn hương sắc của cuộc đời giống như Xuân Diệu:

Ta muốn ôm

Cả sự sống mới bắt đầu mơn mởn

Ta muốn riết Mây đưa và gió lượn

Ta muốn say Cánh bướm với tình yêu

Và đau cả nỗi đau của tác giả :

Đứng bên này sông sao nhớ tiếc Sao xót xa như rụng bàn tay.

(Hoàng Cầm) Hoặc :

Cháu buốt ở trong tim này Nơi tang đeo suốt đêm ngày Bác ơi !

(Trần Đăng Khoa)

Trang 6

Vì lẽ đó, nhà thơ Bạch Cư Dị- một nhà thơ lớn đời Đường từng nhận xét: Đối với thơ, tình là gốc, lời là cành, thành là hoa, nghĩa là quả.

6 Văn học nghệ thuật phải mang tính độc đáo, mới mẻ

Văn học phải là một hành động sáng tạo không ngừng nghỉ, không lặp lại những cái người

khác đã nói, đã làm Nhà văn Nam Cao đã mượn lời nhân vật Hộ trong truyện ngắn Đời thừa để thể hiện đặc trưng này của văn chương : Văn chương không cần đến những người thợ khéo tay, làm theo vài kiểu mẫu đưa sẵn Văn chương chỉ dung nạp cho những người biết đào sâu tìm tòi, khơi những nguồn chưa ai khơi và sáng tạo những gì chưa có Mỗi nhà văn là một bông hoa mang hương sắc

riêng biệt, mỗi nhà văn phải có ý thức làm mới mình, tạo cho mình một nét riêng, nét mới đó khiến

họ không dễ nhằm lẫn với những người khác Điều đó làm cho văn học nghệ thuật luôn mới mẻ, độc

đáo Nhà văn Nguyễn Tuân đã tạo được ấn tượng riêng cho mình nhờ phong cách ngông, cái ngông

đó là cơ sở để ông không ngừng tìm kiếm cái mới mẻ, cái độc đáo, thay đổi khẩu vị liên tục cho độc

giả

Nói tóm lại là sự độc đáo, mới mẻ vốn có ở văn học nghệ thuật là do sự sáng tạo, khả năng sáng tạo và niềm đam mê tìm tòi của tất cả những con người làm công việc nghệ thuật Sự độc đáo, mới mẻ đã làm nên phong cách của các tác giả Chỉ xét ngay ở phong trào Thơ mới 1932- 19945

chúng ta thấy : Chưa bao giờ thấy xuất hiện một hồn thơ rộng mở như Thế Lữ, mơ màng như Lưu Trọng Lư, hùng tráng như Huy Thông, trong sáng như Nguyễn Nhược Pháp, ảo não như Huy Cận, quê mùa như Nguyễn Bính, kì dị như Chế Lan Viên và thiết tha, rạo rực, băn khoăn như Xuân Diệu.

7 Văn học nghệ thuật mang đậm tính dân tộc

Một tác phẩm hay là một tác phẩm vượt trên bờ cõi, vượt qua biên giới, là tác phẩm chung cho cả loài người- nói như nhân vật Hộ trong Đời thừa của Nam Cao Tuy nhiên, tác phẩm đó lại

không thể không mang dấu ấn của xã hội, lịch sử, thời đại của họ

Ví dụ: Tác phẩm Truyện Kiều mang đậm dấu ấn của xã hộ phong kiến Việt nam thời suy tàn, Tắt đèn, Lão Hạc, Chí Phèo,… mang dấu ấn của xã hội Việt Nam trước Cách mạng tháng Tám, Chiến tranh hòa bình cuat L.Tônxtoi phản ánh đầy đủ lối sống của giai cấp quý tộc Nga,…

8 Văn học – một loại hình nghệ thuật ngôn từ

Ngôn từ là chất liệu duy nhất của văn chương, dùng để xây dựng hình tượng Đây là đặc điểm

cơ bản nhất và dễ thấy nhất khi so sánh văn chương với những loại hình nghệ thuật khác: Âm nhạc,

Mĩ Thuật, Điêu khắc,…Không có ngôn từ thì không có văn chương Ngôn từ là phương tiện chính để văn chương biểu đạt ý tưởng Không dùng đường nét, màu sắc như hội họa nhưng văn chương cũng

có thể phác họa lên một bức tranh thiên nhiên hùng vĩ, khúc khuỷu, hiểm trở với hiểm nguy rình rập:

Dốc lên khúc khuỷu dốc thăm thẳm Heo hút vồn mây súng ngửi trời Ngàn thước lên cao ngàn thước xuống.

Chỉ với màu trắng, văn chương có thể vẽ nên một bức tranh chất chứa nỗi xót xa mà không bức họa nào có thể vẽ nên được:

Một chiếc xe tang màu trắng đục Hai con ngựa trắng quấn song đôi Mang đi một chiếc quan tài trắng Với những vòng hoa trắng lạnh người Theo vết chân nàng khăn áo trắng Khóc hồn trinh trắng mãi không thôi.

(Viếng hồn trinh nữ- Nguyễn Bính).

Cũng với màu trắng, Nguyễn Duy lại vẽ nên một bức tranh mang tâm trạng khác:

Trang 7

Bên tê Cửa tùng cát trắng mênh mông Cát trắng bên ni sao trắng lạnh, trắng lùng Trắng đất, trắng tay, trắng một vùng đai trắng.

(Cát trắng)

Có nhà hội họa hay nhà điêu khắc nào có thể vẽ được tư thế của Mã Giám sinh khi đến hỏi mua Kiều tài tình cho bằng Nguyễn Du?

Ghế trên ngồi tót sỗ sàng.

Nguyễn Du đã giết chết nhân vật này chỉ bằng một chữ tót.

Vì tất cả những lẽ đó, Bieelinxki đã nhận định: Nhà thơ là người nghệ sĩ của từ.

II Chức năng của văn học

Có rất nhiều ý kiến khác nhau khi xác định chức năng của văn học Quan niệm truyền thống cho rằng văn học có 3 chức năng cơ bản: nhận thức, giáo dục, thẩm mĩ Lại có người cho rằng văn học có 4 chức năng: ngoài chức năng trên còn có thêm chức năng giao tiếp Cũng có người cho rằng văn học có đến 6 chức năng: ngoài 4 chức năng vừa kể còn có thêm chức năng giải trí và thanh lọc Thậm chí có người lại cho rằng văn học có đến 24 chức năng

Vậy, thực chất văn học có bao nhiêu chức năng? Muốn trả lời câu hỏi này thì cần phải hiểu rõ chức năng của văn học là gì? Chức năng của văn học là khái niệm xác định vai trò và ý nghĩa của văn học đối với đời sống xã hội Vì vậy nên đặt văn học trong mối quan hệ phong phú giữa con người với hiện thực đời sống Tránh hạ thấp vai trò của văn học, xem văn học thuần túy là công việc nhàn rỗi,

là trò mua vui giải trí tầm thường

Ba chức năng chủ yếu của văn học mà tất cả đều đồng tình đó là:

1 Chức năng nhận thức

Có người cho rằng, văn học là tấm gương phản ánh cuộc đời và nhà văn chính là thư kí trung thành của thời đại Làm được như vậy thì nhà văn phải có hiểu biết để nhận thức, để khám phá và để sáng tạo Tất cả những hiểu biết đó được nhà văn nhào nặn, gọt giũa, đem vào tác phẩm của mình

Và khi độc giả tiếp nhận, họ sẽ có thêm kiến thức đa dạng về cuộc sống: từ kinh tế, xã hội đến lịch

sử, văn hóa, chính trị,… Điều đó lí giải vì sao nhà phê bình văn học người Nga lại cho rằng Văn học

là cuốn sách giáo khoa về đời sống

2 Chức năng giáo dục

Văn học là nhân học

Văn chương có chức năng làm thay đổi hoặc nâng cao tư tưởng, quan điểm, nhận thức của con người theo chiều hướng tiến bộ hoặc cách mạng, giúp cho con người từ chỗ tán thành đến hành động theo lí tưởng nhân vật hoặc lí tưởng tác giả Hoặc bằng những hình tượng nghệ thuật sinh động

và hấp dẫn, tác giả giúp con người phân biệt được tốt - xấu, đúng - sai, từ đó liên hệ đến mình và xác

định cho mình một thái độ một lập trường nhất định Chẳng hạn với Truyện Kiều, Nguyễn Du đã

khơi dậy ở người đọc ước mơ về tự do, công lí Hình tượng Thúy Kiều giáo dục lòng hiếu nghĩa với

cha mẹ, lòng chung thủy vợ chồng và nhân cách, phẩm giá của con người Với Truyện Lục Vân Tiên của Nguyễn Đình Chiểu cũng vậy Còn với Người mẹ của M.Gorki, Lê-nin cho rằng đây là một quyển sách kịp thời bởi vì chính tác phẩm đã có sức mạnh cải tạo tinh thần, tư tưởng cho công nhân Nga lúc bấy giờ Theo lời của M.Gorki, nhiều công nhân đã tham gia cách mạng một cách vô ý thức

và tự phát, và bây giờ họ đọc Người mẹ, điều đó có lợi cho chính bản thân họ.

3 Chức năng thẩm mĩ của văn chương

Chức năng thẩm mĩ của văn chương bộc lộ ở chỗ: làm thỏa mãn nhu cầu thẩm mĩ, phát triển năng lực, thị hiếu thẩm mĩ của con người Cũng tức là, nghệ thuật làm thỏa mãn nhu cầu về lí tưởng, ước mơ, sự hoàn thiện hoàn mĩ của con người trước thế giới Nghệ thuật thực hiện chức năng thẩm

Trang 8

phản ánh cái đẹp trong tự nhiên và xã hội Cái đẹp là cái khả năng đưa đến cho người ta một khoái cảm, một thích thú, một niềm xúc động khi con người nhìn thấy hoặc thưởng thức Văn học rèn luyện năng lực thẩm mĩ cho con người, làm cho cảm xúc con người càng tinh tế, nhạy bén hơn Nó hình thành ở con người một nhận thức sâu sắc hơn về cái đẹp Chẳng hạn khi nói đến sen, nếu nhìn ở ngoài đời ta chưa thấy hết cái đẹp của nó Nhưng khi nhìn nó trong nghệ thuật ta mới thấy hết cái đẹp của nó Đẹp từ màu sắc, hương vị, hình thức, phẩm chất

Trong đầm gì đẹp bằng sen

Lá xanh, bông trắng, lại chen nhị vàng Nhị vàng, bông trắng, lá xanh Gần bùn mà chẳng hôi tanh mùi bùn.

Giải thích cái đẹp trong nghệ thuật có phần duy tâm, nhưng Hégel đã khẳng định: Ngay bây

giờ chúng ta có thể khẳng định rằng cái đẹp trong nghệ thuật cao hơn cái đẹp của tự nhiên Nghệ thuật không chỉ miêu tả, phản ánh cái đẹp trong tự nhiên, xã hội mà còn sáng tạo ra cái đẹp mới vốn

không có trong hiện thực - tác phẩm nghệ thuật

Khánh Bình Tây, ngày tháng năm 201

Hiệu phó CM

Ngày đăng: 21/10/2021, 20:03

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w