Nghiên cứu vai trò, vị trí của cây tính tẩu trong đời sống văn hóa tín ngưỡng cũng như sự biến đổi chức năng của nó của nó dưới sự tác động của các chủ trương chính sách của nhà nước qua
Trang 1VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
NGUYỄN THỊ THANH THẢO
TÍNH TẨU TRONG ĐỜI SỐNG VĂN HÓA
NGƯỜI TÀY TUYÊN QUANG
Ngành: Văn hóa học
Mã số: 9.22.90.40
TÓM TẮT LUẬN ÁN TIẾN SĨ VĂN HÓA HỌC
Trang 2Công trình đã được hoàn thành tại:
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS NGUYỄN THỊ YÊN
Phản biện 1: PGS.TS Nguyễn Thị Hiền
Phản biện 2: PGS.TS Trần Đức Ngôn
Phản biện 3: GS.TS Từ Thị Loan
Luận án được bảo vệ trước Hội đồng chấm luận án tiến sĩ, họp tại Học viện
Khoa học xã hội, 477 Nguyễn Trãi, Thanh Xuân, Hà Nội
Vào lúc h phút, ngày tháng năm 2021
Có thể tìm hiểu luận án tại:
Thư viện Quốc gia
Thư viện Học viện Khoa học xã hội
Trang 3MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Tính tẩu, một nhạc cụ gắn liền với nghi lễ Then trong đời sống tín
ngưỡng của người Tày từ lâu đời Trong thực hành nghi lễ Then, thầy Then
– thầy cúng kiêm nghệ nhân đàn hát đã dùng tiếng tính tẩu đưa điệu nhạc
cùng lời Then để mô tả hành trình thầy Then dẫn đoàn âm binh dâng lễ vật lên mường Trời
Sau năm 1945, với chủ trương bảo tồn chọn lọc và phát huy tinh
hoa văn hóa dân tộc, tính tẩu được tách ra khỏi nghi lễ Then mà trước đó
vốn bị cho là mê tín để trở thành nhạc cụ phục vụ nhu cầu văn nghệ quần chúng với các nội dung mới Từ đó, các phong trào sinh hoạt văn hóa quần chúng của người có thêm loại hình hát Then mới với đa dạng về hình thức
biểu diễn Tuy nhiên, do nhu cầu tâm linh của người dân nên tính tẩu vẫn
được sử dụng âm thầm trong đời sống tín ngưỡng của người Tày
Sau Đổi mới, cùng với chủ trương bảo tồn bản sắc văn hóa dân tộc
và tự do tôn giáo tín ngưỡng, nghi lễ Then chính thức được phục hồi Các hoạt động về bảo tồn văn hóa các dân tộc được Nhà nước và Chính quyền địa phương hết sức quan tâm và đầu tư, trong đó có văn hóa của người Tày nói chung và Then Tày nói riêng Thời gian qua, cùng với sự đổi mới trong
“chiến lược phát triển” con người nông thôn miền núi, tỉnh Tuyên Quang và các tỉnh bạn đã cùng tham gia bảo tồn di sản Then Hát Then mà gắn với nó
là cây cây tính tẩu đã được xem như một đại diện tiêu biểu cho văn hóa
truyền thống của người Tày Trong quá trình bảo vệ di sản thực hành Then nghi lễ của người Tày, người dân cùng Chính quyền các địa phương đã
đồng lòng đưa tính tẩu từ Then nghi lễ dần đến với sinh hoạt thường ngày
của người dân Tày ở khắp mọi nơi
Năm 2013, cùng với thực hành nghi lễ Then, tính tẩu của người Tày đã được công nhận là di sản văn hóa phi vật thể cấp quốc gia Cùng
với sự kiện này, các địa phương có tộc người Tày, Nùng, Thái sinh sống tại khu vực phía Bắc đã cùng hoàn thiện hồ sơ trình Chính phủ đề nghị trình UNESCO xác nhận, ghi danh thực hành nghi lễ Then là di sản văn hóa phi vật thể của nhân loại Sau 6 năm, dưới sự hỗ trợ của Viện Âm nhạc Việt
Nam, tháng 12 năm 2019, Thực hành Then Tày, Nùng, Thái cùng cây tính
tẩu của 3 tộc người chính thức được UNESCO ghi danh là di sản văn hóa phi vật thể nhân loại
Trang 4Nghiên cứu vai trò, vị trí của cây tính tẩu trong đời sống văn hóa
tín ngưỡng cũng như sự biến đổi chức năng của nó của nó dưới sự tác động của các chủ trương chính sách của nhà nước qua các thời kỳ, từ đó làm cơ
sở bàn luận về “số phận” của tính tẩu trong đời sống văn hóa của người Tày
Tuyên Quang theo diễn trình lịch sử, đặc biệt là trong bối cảnh giao lưu hội nhập quốc tế hiện nay
2.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
Từ mục đích trên, nhiệm vụ nghiên cứu đặt ra cho đề tài là:
1.Tìm hiểu, phân tích vai trò của cây tính tẩu trong văn hóa tín
ngưỡng của người Tày và trong nghi lễ Then của người Tày nói chung và người Tày Tuyên Quang nói riêng ở các phương diện: biểu tượng văn hóa tín ngưỡng, vật thiêng của thầy Then và vai trò chuyển tải âm nhạc trong nghi lễ Then
2 Từ kết quả khảo sát thực trạng tồn tại của cây tính tẩu trong đời sống
văn hóa tín ngưỡng của người Tày Tuyên Quang hiện nay sẽ chỉ ra những nguyên
nhân tác động tới sự biến đổi vị thế của cây tính tẩu trong nghi lễ Then của người
Tày hiện nay
3 Phân tích bối cảnh hình thành Then văn nghệ của người Tày Tuyên
Quang trước và sau Đổi mới, trên cơ sở đó tìm hiểu về vị thế của cây tính tẩu trong
đời sống văn nghệ của người Tày Tuyên Quang ở các phương diện: nghệ nhân, chế tác, sử dụng, truyền dạy phổ biến, sưu tầm, sáng tác,
4 Thảo luận về những vấn đề đương đại của cây tính tẩu, đặc biệt là vấn
đề hậu vinh danh của cây tính tẩu trong bối cảnh thực hành nghi lễ Then của người
Tày Tuyên Quang đã và đang bị mai một
3 Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu của luận án
3.1 Đối tượng nghiên cứu
Nghiên cứu cây tính tẩu của người Tày Tuyên Quang trong đời
sống văn hóa (tín ngưỡng và văn nghệ) của người Tày Tuyên Quang qua các mục đích sử dụng, đối tượng sử dụng và cách sử dụng, cách chế tác và bảo quản, đặc điểm âm nhạc, cách thức khai thác, bảo tồn và phát huy, v.v
để qua đó phân tích làm rõ vai trò, vị trí của tính tẩu trong đời sống văn hóa
người Tày Tuyên Quang
Trang 53.2 Phạm vi nghiên cứu
Đề tài chọn bốn địa bàn nghiên cứu chính sau đây:
+ Thành phố Tuyên Quang với Câu lạc bộ Hát Then Thành Tuyên + Xã Tân An, huyện Chiêm Hóa
+ Xã Lăng Can, huyện Lâm Bình
+ Xã Năng Khả, huyện Na Hang
Ngoài ra, chúng tôi có đi khảo sát các địa bàn khác trong tỉnh và tỉnh Lạng Sơn làm cơ sở cho các phân tích dữ liệu cho việc giữ gìn và phát huy giá trị văn hóa người Tày Tuyên Quang
4 Phương pháp nghiên cứu
Luận án vận dụng phương pháp nghiên cứu liên ngành, như: Văn hóa dân gian, Dân tộc học, âm nhạc học
Phương pháp nghiên cứu văn hóa dân gian và Phương pháp điền dã dân tộc học về cơ bản không có sự khác biệt mà một trong những nhiệm vụ
cụ thể là đi điền dã lấy tư liệu Đây là phương pháp được sử dụng phổ biến trong nghiên cứu văn hóa nói chung
Phương pháp nghiên cứu âm nhạc học được vận dụng bằng cách căn cứ vào cơ sở âm luật, tiết luật một số điệu nhạc trong Then để phân tích
so sánh, xác định vai trò của âm thanh, tiết tấu, tính chất âm nhạc của tính
tẩu trong Then nghi lễ và Then văn nghệ của người Tày Tuyên Quang, từ
đó làm cơ sở so sánh đối chiếu với âm nhạc tính tẩu của người Tày ở các
địa phương Việt Bắc khác
5 Đóng góp mới về khoa học của luận án
Đây là luận án đầu tiên nghiên cứu một cách hệ thống về cây tính
tẩu trong đời sống văn hóa của người Tày Tuyên Quang ở cả phương diện
đời sống tín ngưỡng cũng như đời sống văn nghệ Thông qua đó góp phần
nhận diện vị thế của cây tính tẩu trong đời sống văn hóa của người Tày nói
chung và người Tày ở Tuyên Quang nói riêng trong diễn trình lịch sử, đặc biệt là từ sau 1986 đến nay
6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận án
6.1 Ý nghĩa lý luận
Từ kết quả nghiên cứu thực tế về cây tính tẩu trong đời sống văn
hóa của người Tày Tuyên Quang, đề tài đã chỉ ra vai trò chủ động, tích cực
và sáng tạo của nghệ nhân – đặc biệt là vai trò hạt nhân trong việc trong
việc khai thác, bảo tồn và phát huy vai trò của tính tẩu trong đời sống văn
Trang 64
nước qua các giai đoạn lịch sử Từ đó làm cơ sở đặt ra các vấn đề thảo luận
xung quanh việc bảo tồn phát huy vai trò tính tẩu trong bối cảnh giao lưu và
hội nhập với thế giới, đặc biệt là trong bối cảnh thực hành nghi lễ Then được UNESCO ghi danh là di sản văn hóa phi vật thể đại diện của nhân loại Kết quả đề tài vì vậy đã đóng góp cơ sở dữ liệu cần thiết cho việc nghiên cứu về vấn đề bảo vệ, phát huy giá trị di sản văn hóa phi vật thể thuộc loại hình văn hóa tín ngưỡng của của các tộc người thiểu số Việt Nam nói chung và của người Tày nói riêng
6.2 Ý nghĩa thực tiễn
Đề tài cung cấp những thông tin cụ thể về vị trí và vai trò của cây
tính tẩu trong đời sống văn hóa của người Tày ở trường hợp địa bàn tỉnh
Tuyên Quang, qua đó có thể làm tài liệu cho các nhà hoạch định chính sách tham khảo vận dụng trong việc đề xuất các giải pháp bảo vệ, phát huy di sản văn hóa phi vật thể thuộc loại hình văn hóa tín ngưỡng của người Tày nói riêng, các tộc người thiểu số nói chung
7 Cấu trúc của luận án
Chương 1 Tổng quan tình hình nghiên cứu, cơ sở lý luận và địa bàn nghiên cứu
Chương 2 Tính tẩu trong đời sống văn hóa tín ngưỡng của người
Tày Tuyên Quang
Chương 3 Tính tẩu trong đời sống văn hóa văn nghệ của người Tày
Tuyên Quang
Chương 4 Tính tẩu trong đời sống văn hóa người Tày Tuyên
Quang: Những vấn đề bàn luận
CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU, CƠ SỞ LÝ
LUẬN VÀ ĐỊA BÀN NGHIÊN CỨU
1 1 Tổng quan tình hình nghiên cứu
1.1.1 Những nghiên cứu về biến đổi âm nhạc nghi lễ trong đời sống văn hóa của một số tộc người
Việt Nam là một Quốc gia đa sắc tộc, mỗi tộc người lại có những loại hình nghệ thuật khác nhau Sau Cách mạng tháng 8 năm 1945 đã có nhiều công trình nghiên cứu về âm nhạc dân gian của từng tộc người, như: Hát ru, hát giao duyên, hát đồng dao,… Các thể loại như: Chèo, Xẩm, Quan
họ, Trống quân, Cò lả, Hát đố vui, Lý, Hò, Bài chòi,… Trong nghi lễ tín ngưỡng có Hát Chầu văn, Hát Xoan, Sử thi, Hát Then, Hát cung đình,
Trang 7Phần lớn đó là những loại hình hát có nhạc cụ đệm, như: Hát Chèo thường có đàn tranh, bầu, sáo, nhị, trống con phụ họa cho phần hát; Hát Trống quân có phần hỗ trợ của trống cơm; Hát Xẩm có đàn nhị, phách, trống con;
Với hình thức hát trong những nghi lễ tín ngưỡng như: Hát Chầu văn có phần nhạc của nguyệt, trống cái, trống con, tranh, sáo,…; Hát nhạc cung đình có đàn tranh, đàn bầu, sáo, nhị, chũm chọe, trống cái, trống con, não bạt,…; Hát Xoan có phần hỗ trợ của trống cái, trống con và thanh phách; Đối với Hát Then của người Tày, Nùng, Thái ở Việt Nam phần
nhạc hỗ trợ có tính tẩu, trống, thanh la, chùm xóc,
Tương tự như tính tẩu, Hát văn, Đuống, Xắc bùa, Sình ca đều là
nhưng loại hình nghệ thuật dân gian nhưng phục vụ cho các nghi lễ tín ngưỡng, cố kết cộng đồng; sau chiến tranh những biến đổi về lịch sử, tiếp biến văn hóa đã đưa các hình thức sinh hoạt nghi lễ trở lại đời thường với cách thức mới, đa dạng hơn
Có thể thấy: Các nghiên cứu trên đều hướng vào các loại hình âm nhạc dân gian cụ thể, cho thấy âm nhạc có vai trò quan trọng trong việc cố kết cộng đồng thông qua sinh hoạt văn hóa tập thể Đặc biệt, các loại hình
âm nhạc này đều dần trở thành một đại diện văn hóa cho một nhóm cộng đồng hoặc tộc người - chủ nhân của những giá trị văn hóa đó
1.1.2 Những nghiên cứu đề cập đến tính tẩu trong nghi lễ Then
Trong các nghiên cứu về văn hóa, tính tẩu của người Tày thường được
nhắc đến cùng Then, với vai trò là một nhạc cụ không thể thiếu khi thực hành nghi lễ Then Tuy nhiên, các nghiên cứu mới chỉ đề cập qua chứ chưa có được
những nghiên cứu cụ thể về vai trò của tính tẩu trong đời sống của họ
1.1.3 Những nghiên cứu về đặc điểm âm nhạc của tính tẩu
Trong những nghiên cứu liên quan đến tính tẩu người Tày có bài
viết của Đỗ Minh “Về phần âm nhạc trong Then Việt Bắc” đã trình bày khá chi tiết về đặc điểm âm nhạc trong nghi lễ Then; đặt Then trong môi trường
diễn xướng Then nói chung; đưa ra một cái nhìn rõ nét hơn về tính tẩu
trong nghi lễ Then thông qua những nhận định về Then [69], ông cho rằng:
Tính tẩu - một cây đàn độc đáo trong nghệ thuật hát Then là nhạc cụ chính
đệm cho hát Then, độc tấu nối các câu, các chương – đoạn và là đạo cụ để múa Kỹ thuật đánh đàn, gảy đàn, tư thế đánh đàn; được tác giả mô tả chi tiết Sự sinh động, phong phú của Then được sinh ra từ các nghệ nhân có tài hoa biết khai thác và vận dụng từ cây đàn [69,tr.173-177] Đồng thời, ông
Trang 86
đưa ra ý kiến về khả năng phát triển "tiếng đàn, điệu hát Then của dân tộc Tày – Nùng và các dân tộc anh em khác" [69,tr.181]
Nông Thị Nhình trong cuốn Âm nhạc dân gian các dân tộc Tày –
Nùng – Dao Lạng Sơn, cho biết: “Cây đàn tính của người Tày là "Tính
Then", là nhạc cụ họ dây, chi gẩy Từ góc độ âm nhạc, tác giả đã chỉ ra:
“Tính Then được dùng để đánh nhạc đệm trong các nghi lễ Then Các ông
bà Then vừa hát vừa đàn đệm cho mình, nhiều đoạn "Tính Then" trình diễn như một nhạc cụ độc tấu" [66,tr.136]
Trong nghiên cứu Nét chung và riêng của âm nhạc trong diễn
xướng Then Tày – Nùng, Nông Thị Nhình cho rằng: "Then là loại diễn
xướng thường một người hát với cây tính Then và chùm xóc nhạc" [67,tr.27] Đặc biệt, nhạc cụ trong Then được tác giả gọi là "Tính Then" [67,tr.126], là nhạc cụ gắn liền với nghi lễ Then “Nhạc đệm trong Then bao giờ cũng được đệm bằng hai nhạc cụ chính là tính và chùm xóc với nhiều hình thức đệm khác nhau: Nhạc đệm dạo đầu, nhạc đệm lưu không, nhạc đệm cho hát, nhạc đệm cho múa” [67,tr.90]
Trong cuốn Âm nhạc Tày, nhạc sĩ Hoàng Tuấn có bàn về nguồn gốc,
sự ra đời của tính tẩu,và xác định vai trò âm nhạc của tính tẩu trong Then:
"Đàn tính gẩy lên theo suốt thời gian hát Then diễn tấu dạo đầu để chuẩn bị
và dẫn dắt cho Then bắt vào câu hát, đệm giữ nhịp cho câu hát, đánh lưu
không 1 để bắc cầu nối giữa câu hát hoặc kết thúc đoạn hát, chuẩn bị cho phần hát tiếp theo hoặc ngưng nghỉ" [112,tr.128] Theo ông: Trong xã hội cũ, cây
đàn "Tính" (đồng nghĩa) của người Tày gắn liền với âm nhạc của cúng lễ, ít có vai trò trong âm nhạc đời thường; Đàn "Tính" đánh độc tấu chỉ có trong nhạc cúng lễ của Then hoặc đệm múa "Sluông" cũng nằm trong chương đoạn của
hát Then [112,tr.141-143]
Trong luận văn Thạc sĩ Văn hóa học Âm nhạc trong lễ đầy tháng của
Then Tày ở huyện Bạch Thông tỉnh Bắc Cạn (2011) của Nguyễn Văn Thiều cho
rằng: Tính tẩu chỉ có 2 dây dùng để đệm khi hát Then "Đàn tính còn gọi là đàn
Then hay đàn Giàng được coi là nhạc cụ chủ đạo trong nghi lễ Then được thầy
Then sử dụng khá điêu luyện để đệm cho lời hát" [105,tr.64]
1.1.4 Những nghiên cứu về tính tẩu của người Tày ở Tuyên Quang
Tính tẩu của người Tày Tuyên Quang trong những năm gần đây đã
được các nhiều nhà nghiên cứu quan tâm trên cơ sở nghiên cứu về Then qua
1
Lưu không là cách gọi trong Chèo, sử dụng nối những đoạn nhạc câu hát
Trang 9các bài viết, báo cáo khoa học, Hội thảo, công trình nghiên cứu để hoàn
thiện hồ sơ đưa Then Tày trình UNESCO công nhận Di sản văn hóa phi vật
thể Trong các bài viết nghiên cứu vể tính tẩu của người Tày Tuyên Quang
đều đề cập đến Nghệ nhân Nhân dân Hà Thuấn Ông được coi như một đại diện tâm huyết với câu hát điệu nhạc của Then Trong kế hoạch bảo tồn và
phát huy giá trị di sản văn hóa phi vật thể Quốc gia nghi lễ Then dân tộc
Tày, Sở Văn hóa – Thể dục – Thể thao tỉnh phối hợp với hợp với Viện Âm nhạc Quốc gia Việt Nam tổ chức hội nghị kiểm kê di sản và lập hồ sơ
"Then Tày - Nùng - Thái Việt Nam” Riêng "cái nôi” hát Then tỉnh Tuyên Quang hiện quy tụ được 50 câu lạc bộ hát Then, đàn Tính với người yêu Then tham gia… Những hoạt động tích cực này giúp cho hát Then, đàn
Tính từng bước đáp ứng tiêu chí của UNESCO, là Di sản văn hóa phi vật
thể [84]
Hát Then, Cọi là nghiên cứu của nhóm tác giả Nguyễn Ngọc Thanh
và Ma Thị Thanh Minh đã khẳng định những giá trị tâm linh trong Then qua các bài hát Then được sưu tầm; Khẳng định sự tồn tại của Then và âm nhạc Then trong đời sống văn hóa người Tày Tuyên Quang [88] Tuy nhiên,
tính tẩu cũng chỉ được đề cập đến là một nhạc cụ đệm cho hát Then trong
đời sống văn hóa của người Tày
1.1.5.Nhận xét chung
Từ tình hình nghiên cứu về âm nhạc Then cho thấy cần thiết phải có
những nghiên cứu xem xét một cách đầy đủ hơn về sức sống của tính tẩu trong đời sống văn hóa cộng đồng để từ đó làm cơ sở xem xét về vị thế của tính tẩu
như là một biểu tượng cho văn hóa của tộc người Tày trong giai đoạn hiện nay
Vì vậy, vấn đề cơ bản đặt ra cho đề tài này sẽ là:
a) Nghiên cứu tính tẩu với tư cách là một nhạc cụ thiêng trong văn hóa tín ngưỡng của người Tày, đồng thời xác định vai trò của tính tẩu trong
chủ trương khai thác tinh hoa văn hóa dân tộc gắn với việc hình thành loại hình Then văn nghệ của người Tày Tuyên Quang trước và sau Đổi mới
1986
b) Nghiên cứu tính tẩu trong đời sống văn hóa thường ngày của người Tày ở Tuyên Quang trong mối liên hệ so sánh với tính tẩu trong đời
sống văn hóa tín ngưỡng người Tày Tuyên Quang; sức lan tỏa và vai trò
của tính tẩu trong đời sống văn hóa cũng như thực tiễn bảo tồn, phát huy
tính tẩu của người Tày Tuyên Quang trong giai đoạn hiện nay
Trang 108
1.2 Cơ sở lý luận
1.2.1 Giới thuyết một số khái niệm cơ bản
1.2.1.1 Khái niệm “đời sống văn hóa”, “đời sống văn hóa tín ngưỡng”,
“đời sống văn hóa văn nghệ”
* Khái niệm đời sống văn hóa
Đời sống văn hóa chính là những sản phẩm văn hóa của con người, phục vụ cho các nhu cầu trong đời sống của họ Đời sống văn hóa được
chia thành 3 nhóm hoạt động, đó là: “Hoạt động tiếp nhận - hưởng thụ văn hóa; các hoạt động thực hành - truyền bá văn hóa; và các hoạt động sáng tạo văn hóa [63]” Ba nhóm hoạt động này có mối quan hệ chặt chẽ với nhau và thể hiện được toàn bộ diện mạo đời sống văn hóa
* Khái niệm đời sống văn hóa tín ngưỡng
Theo Patrick B.Mullen (1941) trong bài viết “Tín ngưỡng dân gian”
cho rằng: "Tín ngưỡng dân gian là một thể loại lớn bao gồm sự biểu cảm và cách ứng xử mà người ta gọi là mê tín, tín ngưỡng bình dân, làm phép và các hiện tượng siêu tự nhiên" [99,tr.273] Từ đây có thể thấy: Văn hóa tín ngưỡng là các hoạt động văn hóa liên quan đến nghi lễ và là “một phần hoạt động văn hóa của con người” [99,tr.276], tạo nên “diện mạo đời sống sinh hoạt tín ngưỡng” [133,tr.102], gắn liền với phong tục tập quán của họ
Khái niệm đời sống văn hóa văn nghệ
Khái niệm đời sống văn hóa văn nghệ thuộc về văn hóa giải trí, thưởng thức nghệ thuật (thế tục), khác với “tín ngưỡng” thuộc về văn hóa tâm linh (cái thiêng) Theo đó, nếu trong đời sống văn hóa tín ngưỡng các yếu tố văn hóa nghệ thuật chỉ là yếu tố phụ trợ phục vụ cho mục đích thực hành nghi lễ thì trong đời sống văn hóa văn nghệ nó lại là yếu tố chính phục
vụ nhu cầu giải trí hoặc thưởng thức văn hóa nghệ thuật của người dân với các hoạt động này được khai phóng, biểu hiện đa dạng, phong phú hơn cả
về nội dung và hình thức
1.2.1.2 Khái niệm “Then văn nghệ” - ”Then mới"
Đi kèm với “Hát Then” là tính tẩu - nhạc cụ đệm cho lời hát Vì
vậy nói đến “Then văn nghệ” hay “Then mới” là nói đến nghệ thuật trình
diễn hát Then – tính tẩu được khai thác từ nghệ thuật hát Then – tính tẩu
trong diễn xướng nghi lễ Then
1.2.1.3 Khái niệm diễn xướng và diễn xướng nghi lễ Then
"Diễn xướng là tổng thể các phương thức nghệ thuật, cùng thể hiện đồng nhất giữa ca hát và hành động của con người theo chiều thẩm mỹ"
Trang 11[99] Diễn xướng là khi nội dung giữa lời ca hay một giai điệu hoàn chỉnh của một nhạc cụ được trình bày phải đảm bảo đủ các yếu tố mà các nhà
nghiên cứu đã đúc rút lại và gọi đó là Những đặc trưng cơ bản của âm nhạc
dân gian Diễn xướng là một công cụ đặc biệt hiệu nghiệm và được đề cao
trong việc đóng vai người khác và nhìn lại bản thân từ góc độ đó" [99,tr.78] Diễn xướng được gắn liền với môi trường sống cụ thể của con người
1.2.1.4 Khái niệm cộng đồng và cộng đồng bảo vệ, phát huy tính tẩu
Cộng đồng là nhóm xã hội với các cá thể người sống cùng nhau trong một môi trường và có cùng các mối quan tâm chung "Cộng đồng bao gồm 4 yếu tố: (1) tương quan cá nhân mật thiết với nhau, mặt đối mặt, thẳng thắn chân tình, trên cơ sở các nhóm nhỏ kiểm soát các mối quan hệ cá nhân; (2) Có sự liên hệ chặt chẽ với nhau về tình cảm, cảm xúc khi cá nhân thực hiện được các công việc hoặc nhiệm vụ cụ thể; (3) Có sự hiến dâng về mặt tinh thần hoặc dấn thân thực hiện các giá trị xã hội được cả xã hội ngưỡng mộ; (4) Có ý thức đoàn kết tập thể"
1.2.2 Vấn đề khai thác, phát huy tinh hoa của văn nghệ dân tộc qua trường hợp nghi lễ Then của người Tày
“Văn hoá bao gồm cả tư tưởng, học thuật, nghệ thuật chủ trương
“khai thác, phát huy tinh hoa văn nghệ dân tộc” hay còn gọi là “gạn đục khơi trong” chính là tiền đề cho sự ra đời của mô hình hát Then mới - Then văn nghệ ở Việt Bắc với việc sử dụng ngôn ngữ phổ thông; lời ca tiếng hát
là những nội dung mới gắn bó với đời sống của nhân dân; không gian diễn
xướng, trang phục được mở rộng; điệu nhạc của tính tẩu cùng lời ca mới
dần thoát khỏi nghi lễ Then vốn bị coi là một hình thức mê tín dị đoan với nhiều yếu tố tiêu cực ảnh hưởng đến xã hội,
1.3 Tổng quan về người Tày và văn hoá của người Tày Tuyên Quang
1.3.1 Người Tày Tuyên Quang trong mối liên hệ lịch sử với người Tày ở Việt Nam
Người Tày nằm trong cộng đồng nhóm ngôn ngữ Tày - Thái thuộc
"khối Bách Việt" [133], có "cùng nguồn gốc, gồm hai ngành: ngành phía Tây và ngành phía Đông" [133] Người Tày cư trú chủ yếu tại các tỉnh Lạng Sơn, Cao Bằng, Bắc Kạn, Yên Bái, Thái Nguyên, Lào Cai, Tuyên Quang
Về cơ bản người Tày sinh sống chủ yếu ở ven núi, gần khe suối – ruộng, rất thuận tiện cho lao động sản xuất là vừa trồng lúa nước vừa trống lúa trên đồi; chăn thả gia súc, gia cầm,
Trang 1210
Người Tày, Nùng cư trú ở khu vực thượng du Bắc bộ thuộc về phía Đông Căn cứ vào các đặc điểm văn hóa của người Tày, Nùng thì các nhà nghiên đã phân tích và dự đoán: "Có thể vào khoảng thế kỷ thứ VI đến thế
kỷ XI-XII, từ khối tộc người Tày - Thái đã có sự phân tách ra từng nhóm nhỏ riêng biệt với các tên gọi riêng và có những đặc trưng văn hóa riêng" [129,tr.16], có nguồn gốc từ một bộ phận tộc người có tên gọi là Man - Lão thuộc bộ phận người Choang ở khu vực Lưỡng Quảng Trung Quốc Năm
1085 được xem như là cái mốc phân tách khối Tày - Choang và dần hình thành khối Tày - Nùng ở Việt Nam Bên cạnh số người Tày bản địa còn có một bộ phận người Tày gốc Kinh, một bộ phận người Nùng hóa Tày, một
bộ phận người Tày thuộc các nhóm cộng đồng tộc khác đến từ Trung Quốc
Có nhiều nguyên nhân trong biến cố lịch sử để họ trở thành người Tày và
do quá trình sinh tồn lâu năm, qua nhiều thế hệ nên về cơ bản, văn hóa của
họ bị Tày hóa, lâu dần đều được xác định: Đó là người Tày
Dân số người Tày đông thứ hai, đứng sau người Kinh (Việt) Theo thống kê dân số Tuyên Quang đến tháng 4 năm 2019, người Tày có 205624, chiếm trên 26,2% tổng dân số trong toàn tỉnh [15] Tộc người Tày ở đây cư trú tập trung thành làng, bản, ở ven các thung lũng, triền núi thấp, lòng chảo huyện Lâm Bình, Na Hang và Chiêm Hóa - thích nghi với điều kiện sinh hoạt nông nghiệp lúa nước và chăn nuôi
1.3.2 Những nét văn hóa tiêu biểu của người Tày Tuyên Quang
Do sinh sống ở địa hình đồi núi nên nhà ở truyền thống của người Tày Tuyên Quang trước đây là nhà sàn, đáp ứng điều kiện cơ sở vật chất và điều kiện sống nông nghiệp miền núi Quá trình tiếp biến văn hóa, giao thông đi lại thuận tiện, người Tày đã thích nghi với việc ở nhà sát mặt đất, nhà xây cho thuận tiện với sinh hoạt Trang phụ truyền thống của người Tày được làm từ vải sợi bông tự dệt, nhuộm chàm, đồng nhất trên trang phục nam và nữ, hầu như không có hoa văn trang trí Trang phục của nam giới có quần chân què, đũng rộng, cạp lá tọa, áo ngắn cũng may năm thân, cổ đứng Nam cũng có áo dài như cái áo ngắn kéo dài vạt xuống quá đầu gối Ngày
nay sự kết hợp bộ trang phục truyền thống với hát then, tính tẩu vào những
dịp như vậy chính là cách mà người Tày thể hiện bản sắc tộc người của họ
Tín ngưỡng của người Tày Tuyên Quang được thể hiện qua các phong tục truyền thống gắn với các nghi lễ như: Thờ cúng gia tiên, cưới xin, sinh đẻ, ma chay, đặc biệt là tín ngưỡng thờ thờ Mẻ Va (Mẹ Hoa) vẫn được
Trang 13người Tày giữ gìn, lưu truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác tuy đã đơn giản hóa, thay đổi phù hợp với sự tiến bộ của thời đại
Hôn lễ truyền thống của người Tày cũng được tiến hành qua các nghi thức: Lễ dạm, lễ ăn hỏi, lễ sêu tết, lễ báo ngày cưới, lễ cưới, lễ đón dâu, đưa dâu…, thể hiện bản sắc văn hoá của một tộc người
Hệ thống tín ngưỡng của người Tày Tuyên Quang có các hình thức: Then, Tào, Pụt và Phù thủy Những người thực hành tín ngưỡng này có những mối quan hệ chặt chẽ với nhau về ngành nghề Có thể nhận diện đội ngũ những người thực hành tín ngưỡng ở người Tày Tuyên Quang, gồm: Thầy Tào, thầy Phù thủy, Pụt và Then Mối quan hệ giữa Then với các loại hình tín ngưỡng Tào, Phù thủy, Pụt trong hệ thống tín ngưỡng của người Tày là mối quan hệ tương hỗ, cùng hỗ trợ nhau trong thực hiện các nghi lễ
cụ thể
Người Tày có chữ viết riêng, bao gồm "cả hệ thống chữ viết cổ và chữ viết mới theo hệ chữ Latinh" [58,tr.9] Mặc dù chữ Latinh có sau nhưng chữ Nôm Tày vẫn được lưu hành trong cộng đồng Ngày nay phần lớn người Tày Tuyên Quang dùng chữ Quốc ngữ để lưu giữ văn bản Bên cạnh việc sử dụng chữ Nôm Tày, họ sử dụng chữ Nho trong thực hành tín ngưỡng, dựa vào hệ thống chữ tượng hình làm căn cứ để suy luận ý nghĩa của các câu khấn cổ
Văn hóa nghệ thuật của người Tày Tuyên Quang đa dạng, phong phú, như: Lượn, Phong slư Lượn gồm: Lượn cọi (ở Tuyên Quang gọi là Cọi;
Hà Giang gọi là Ién), Lượn slương, Lượn Then, Lượn nàng ới, là lối hát giao duyên được phổ biến rộng rãi ở nhiều vùng trong đó có người Tày Tuyên Quang Người ta thường hát Cọi trong lễ hội Bên cạnh đó họ còn tổ chức các trò chơi dân gian: ném còn, đánh pao, đánh yến, chơi ô, trong các buổi lễ hội Ngày nay, trong các hoạt đông văn hóa văn nghệ, phong trào của
trường học, địa phương ở Tuyên Quang có Hát Then cùng tính tẩu là một nội
dung trong chương trình hoạt động của họ Họ hát dịp Tết, hội, lễ, chúc thọ, khai giảng, giao lưu, Một số nghệ nhân đi làm xa cũng mang theo tiếng hát, câu nhạc để thể hiện văn hóa truyền thống của mình
Ngôn ngữ của người Tày rất phong phú bởi quá trình "dung hợp văn hóa" [78,tr.37] giữa người Tày và người Nùng cùng cư trú trong khu vực, dần dần nó trở thành ngôn ngữ chung cho các cộng đồng cùng sinh sống trong khu vực Điều này cho thấy họ rất chú trọng tới bảo vệ bản sắc văn hóa của dân tộc mình Đặc biệt là những người dân nơi đây giao tiếp