1. Trang chủ
  2. » Y Tế - Sức Khỏe

Tài liệu Điều trị gãy mâm chày phức tạp bằng kết hợp xương tối thiểu và cố định ngoài Ilzarov docx

5 1,4K 13
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Điều trị gãy mâm chày phức tạP bằng kết hợp xương tối thiểu và cố định ngoài Ilizarov
Tác giả Hoàng Đức Thái, Đỗ Phước Hùng, Lương Đình Lâm
Trường học Trường Đại học Y Dược Thành phố Hồ Chí Minh
Chuyên ngành Y học
Thể loại Bài báo khoa học
Năm xuất bản 2005
Thành phố Thành phố Hồ Chí Minh
Định dạng
Số trang 5
Dung lượng 201,4 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Hồ Chí Minh * Tập 9 * Phụ bản của Số 1 * 2005ĐIỀU TRỊ GÃY MÂM CHÀY PHỨC TẠP BẰNG KẾT HỢP XƯƠNG TỐI THIỂU VÀ CỐ ĐỊNH NGOÀI ILZAROV Hoàng Đức Thái, Đỗ Phước Hùng, Lương Đình Lâm TÓM TẮT

Trang 1

Nghiên cứu Y học Y Học TP Hồ Chí Minh * Tập 9 * Phụ bản của Số 1 * 2005

ĐIỀU TRỊ GÃY MÂM CHÀY PHỨC TẠP BẰNG KẾT HỢP XƯƠNG TỐI THIỂU VÀ CỐ ĐỊNH NGOÀI ILZAROV

Hoàng Đức Thái, Đỗ Phước Hùng, Lương Đình Lâm

TÓM TẮT

Đối với gãy mâm chày phức tạp, điều trị không phẫu thuật còn nhiều hạn chế, điều trị phẫu thuật kết hợp xương kinh điển bằng nẹp vít cũng khó đạt được mục tiêu điều trị trong trường hợp tổn thương mô mềm lan rộng, vì sẽ làm tổn thương thêm hệ thống gấp duỗi gối và tỉ lệ nhiễm trùng cao

Mục tiêu của nghiên cứu này nhằm đánh giá bước đầu kết quả điều trị gãy mâm chày phức tạp bằng kết hợp xương tối thiểu bên trong và cố định ngoài Ilizarov

Từ tháng 06.2002 đến tháng 10.2003 chúng tôi đã điều trị 40 gãy mâm chày bằng phương pháp này, bao gồm 29 gãy loại VI và 11 loại V theo phân loại Schatzker Có 12 gãy hở và 28 gãy kín Đánh giá kết quả theo thang điểm của Hội khớp gối Hoa Kỳ

Thời gian theo dõi dài nhất là 21 tháng, ngắn nhất là 5 tháng, trung bình là 13,1 tháng Tất cả đều liền xương với thời gian trung bình là 16,6 tuần Không có nhiễm trùng ổ gãy Biên độ gấp gối trung bình là 129,6o (từ 100o-145o); 90% bệnh nhân gấp gối được từ 120o trở lên Điểm khớp gối: trung bình là 87,9 điểm; 90% bệnh nhân đạt loại tốt và rất tốt Điểm chức năng: trung bình là 85,1 điểm; 92,5% bệnh nhân đạt loại tốt và rất tốt

Phương pháp điều trị này đạt được mục tiêu cố định vững xương gãy, cho phép vận động sớm, và giảm đáng kể biến chứng nhiễm trùng vết mổ

SUMMARY

TREATMENT OF COMPLEX FRACTURES OF THE TIBIAL PLATEAU

WITH MINIMAL INTERNAL FIXATION AND THE ILIZAROV EXTERNAL FIXATOR

Hoang Duc Thai, Do Phuoc Hung, Luong Dinh Lam

* Y Hoc TP Ho Chi Minh * Vol 9 * Supplement of No 1 * 2005: 211 – 215

Background: Dealing with complex fractures of the tibial plateau, non-operative treatment has

achieved few good results, but operative treatment with conventional plates and screws also hardly got satisfactory results in the case of serious damage of soft tissue Because operative would injure more the extensor system and have high risk of infection

Purpose: To evaluate the preliminary results of treatment of complex fractures of the tibial plateau

using minimal internal fixation combined with Ilizarov external fixator

Materials and methods: From June, 2002 to October, 2003 we have treated 40 fractures of the tibial plateau with this method They included 29 type VI and 11 type V fractures (according to Schatzker’s classification), 12 open and 28 closed fractures The Knee Society clinical rating system was used to evaluate the final results

Results: The average follow-up time is 13.1 months (range 5 to 21 months) The union was achieved

with the duration of 16.6 weeks on average There was no deep-wound infection The average range of knee flexion was 129.6o (range 100o to 145o), 90% more than 120o The average knee score was 87.9,

Trang 2

motion, and reducing accountably complication of infection

ĐẶT VẤN ĐỀ

Gãy mâm chày là loại gãy phạm khớp mà việc

điều trị không tốt sẽ dẫn đến giới hạn gấp duỗi khớp

gối, thoái hóa khớp sớm sau chấn thương hoặc có khi

cứng khớp làm mất chức năng của khớp gối

Đối với loại gãy mâm chày phức tạp, điều trị

không phẫu thuật còn nhiều hạn chế vì khó nắn sửa

hết di lệch, không thể bất động vững chắc xương gãy,

và có thể phải bất động qua khớp gối, là một yếu tố

dẫn đến cứng khớp gối Điều trị phẫu thuật kết hợp

xương kinh điển bằng nẹp vít cũng khó đạt được mục

tiêu điều trị trong trường hợp tổn thương mô mềm

lan rộng, vì sẽ làm tổn thương thêm hệ thống gấp

duỗi gối và tỉ lệ nhiễm trùng cao

Điều trị gãy mâm chày phức tạp bằng kết hợp

xương bên trong tối thiểu cùng với cố định ngoài là

một phương pháp trung gian giữa điều trị bảo tồn và

phẫu thuật kết hợp xương kinh điển Theo y văn thế

giới, phương pháp này bước đầu đã thu được một số

kết quả khả quan vì giảm được sang chấn mô mềm

mà vẫn đạt được yêu cầu cố định xương gãy

MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU

Đánh giá bước đầu kết quả điều trị gãy mâm chày

loại V và VI theo phân loại Schatzker bằng kết hợp

xương tối thiểu bên trong và cố định ngoài Ilizarov

ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN

CỨU

Đối tượng nghiên cứu

Là các bệnh nhân gãy mâm chày loại V,VI theo

phân loại Schatzker được điều trị tại Khoa chấn

thương chỉnh hình bệnh viện Chợ Rẫy từ tháng

06.2002 đến tháng 10.2003

Không đưa vào nghiên cứu các bệnh nhân gãy

mâm chày loại V,VI là gãy hở độ IIIB trở lên hoặc có

kèm các tổn thương khác tại gối như: tổn thương

mạch khoeo, tổn thương dây chằng chéo hoặc dây

chằng bên, gãy đầu dưới xương đùi hoặc gãy xương bánh chè cùng bên Tất cả các bệnh nhân sau khi được cố định xương đều được khám lại các test ở gối, nếu có lỏng lẻo khớp gối rõ rệt do tổn thương dây chằng thì không được đưa vào lô nghiên cứu

Có 40 gãy mâm chày thỏa mãn các tiêu chuẩn chọn bệnh Thời gian theo dõi dài nhất là 21 tháng, ngắn nhất là 5 tháng, trung bình là 13,1 tháng Đánh giá kết quả theo thang điểm của Hội khớp gối Hoa Kỳ năm 1989

Phương pháp nghiên cứu

Thiết kế nghiên cứu

Đây là nghiên cứu tiền cứu mô tả cắt ngang

Kĩ thuật nắn chỉnh và cố định xương

Sau khi tê tủy sống hoặc gây mê toàn thân, khám lại khớp gối để có thể xác định thêm các tổn thương dây chằng Xác định khe khớp gối rồi dùng 2 kim tiêm găm vào khe khớp trong và khe khớp ngoài để đánh dấu vị trí khe khớp

Kéo dọc trục cẳng chân (có thể xuyên đinh xương gót) để nắn di lệch chồng ngắn và có thể nắn được một phần các mảnh gãy nhờ tác dụng định hướng của dây chằng bao khớp Khi có chồng ngắn nhiều thì dùng khung cố định ngoài với 1 đinh xuyên ngang qua thân xương đùi và 1 đinh xuyên ngang qua thân xương chày để căng ra

Nếu mâm chày có mảnh gãy tách ra, dùng băng thun quấn quanh mâm chày ngay dưới khe khớp gối, dùng búa gõ nhẹ vào vị trí mảnh gãy trong khi vẫn duy trì lực kéo dọc trục cẳng chân Hoặc dùng những cái kẹp có mũi nhọn để ép mảnh gãy vào

Nếu nắn kín khó khăn có thể mở tối thiểu ở hành xương ngay vị trí của mảnh gãy để nắn, vì có những trường hợp có chèn mô mềm vào giữa khe gãy Trường hợp khác cần phải mở tối thiểu là khi có lún mặt khớp nhiều, chúng tôi mở bao khớp gối tối thiểu theo đường rạch ngang dưới sụn chêm, kéo sụn chêm lên để quan sát mặt khớp mâm chày, nâng chỗ

Trang 3

Nghiên cứu Y học Y Học TP Hồ Chí Minh * Tập 9 * Phụ bản của Số 1 * 2005

lún xương của mâm chày, nếu cần thì ghép xương

mào chậu vào chỗ thiếu xương bên dưới chỗ lún

Sau khi đã nắn sửa tốt các di lệch, các mảnh gãy

được cố định tạm bằng kim Kirschner, liên kết các

mảnh gãy lớn với nhau bằng vít xốp 6,5mm Các vít

xốp được bắt song song với khe khớp gối

Trong quá trình nắn xương và bắt vít chúng tôi

dùng C-arm để kiểm tra với hai bình diện mặt và bên,

hoặc có thể chụp X-quang tại phòng mổ

Khung Ilizarov đã được chuẩn bị sẵn trước mổ với

4 vòng và 3 thanh dọc, vòng trên cùng chỉ là 2/3 vòng

vì 1/3 vòng phía sau đã được cắt bỏ Trong khi đặt

khung Ilizarov vẫn duy trì kéo dọc trục cẳng chân để

tránh gập góc ở hành xương chày

Sau khi đã cố định xong, thực hiện lại các test ở

khớp gối để đánh giá độ vững của khớp Lúc này có

thể xác định tương đối chính xác các tổn thương dây

chằng vì xương gãy đã được cố định vững

Săn sóc hậu phẫu và phục hồi chức năng

Kháng sinh sau mổ: sử dụng kháng sinh tiêm,

đối với gãy kín là cephalosporins thế hệ II hoặc III

trong 3 ngày, đối với gãy hở thì dùng phối hợp

cephalosporins và aminoglycosides trong 5-7 ngày

Chân đinh được rửa bằng nước muối sinh lí và

quấn gạc tẩm dung dịch betadine trong suốt thời gian

mang khung Ilizarov

Từ ngày thứ hai sau phẫu thuật, tập gập duỗi gối

thụ động và chủ động có trợ giúp một phần không

gây đau, giúp tăng dần biên độ gập duỗi gối nhưng

không cố đạt được biên độ vận động lớn trong những

tuần đầu

Vật lí trị liệu phòng ngừa co rút gân gót và co rút

các cơ gấp gối: chúng tôi dùng băng thun quấn từ

nửa trước bàn chân đến khung Ilizarov giúp giữ bàn

chân ở tư thế vuông góc trong thời gian đầu cho đến

khi bệnh nhân tập tì chống trên chân gãy

Từ tuần thứ 6 sau mổ bắt đầu tì đè lên chân gãy,

lực tì đè tăng dần dần Tì đè hoàn toàn chỉ được thực

hiện sau mổ khoảng 12 tuần tùy theo mức độ gãy nát

của mâm chày

KẾT QUẢ

Có 40 trường hợp gãy mâm chày ở 40 bệnh nhân trong nghiên cứu này Tuổi nhỏ nhất là 17, tuổi lớn nhất là 73, trung bình là 38,9 tuổi Lứa tuổi dưới 50 tuổi chiếm 85% bệnh nhân Tất cả đều bị chấn thương do tai nạn lưu thông

Có 12 gãy hở (chiếm 30%) và 28 gãy kín (chiếm 70%) Da nổi bóng nước xảy ra ở 9/40(22,5%) trường hợp, chỉ gặp trong các trường hợp gãy kín Có 29/40 gãy loại VI và 11/40 gãy loại V theo phân loại Schatzker

Bảng 1 Tổn thương mô mềm bao quanh mâm chày

Gãy hở Gãy kín Phân loại

Độ I Độ II Độ IIIA Độ 0 Độ 1 Độ 2 Độ 3 Tổng Số bệnh nhân 3 6 3 0 0 11 17 40

Tỉ lệ % 7,5% 15% 7,5% 0% 0% 27,5% 42,5% 100%

Bảng 2 Độ lún mặt khớp mâm chày

Mâm chày trong Mâm chày ngoài Tính chung Độ lún

Số lượngTỉ lệ % Số lượng Tỉ lệ % Số lượngTỉ lệ %

0 mm 26 65% 5 12,5% 31 38,75%

1 – 3 mm 8 20% 17 42,5% 25 31,25%

4 – 6 mm 4 10% 14 35% 18 22,5%

Tổng 40 100% 40 100% 80 100%

Có 26/40 mâm chày trong còn nguyên vẹn nên số mặt khớp không lún chiếm tỉ lệ cao Có70% mặt khớp lún dưới 4mm

Có 26 mâm chày được nắn kín, 9 mở tối thiểu ở hành xương và 5 mở tối thiểu bao khớp gối

Có 3 mâm chày được ghép xương mào chậu cùng thì và 4 được ghép xương thì 2

Bảng 3 So sánh các chỉ số X-quang trung bình

Chỉ số Trước mổ Sau mổ Lần khám cuối Giá trị p*

Độ khác biệt góc chày đùi (độ)

Không đánh giá

2,8

(0 – 7)

2,97

(0 – 8)

p = 0,012 <

0,05 Độ lún mâm

chày trong (mm)

1,25

(0 – 7)

0,63

(0 – 4)

0,68

(0 – 4)

p = 0,478 >

0,05 Độ lún mâm

chày ngoài (mm)

3,55

(0 – 8)

1,55

(0 – 3)

1,63

(0 – 3)

p = 0,074 >

0,05 Độ tăng bề

rộng

8,73

(0 – 20)

2,43

(0 – 6)

2,48

(0 – 6)

p = 0,478 >

0,05

Trang 4

(mm)

(*): Giá trị xác suất trong phép kiểm định sự khác biệt giữa

chỉ số X-quang sau mổ với chỉ số ở lần khám cuối

Giá trị trong ngoặc đơn là khoảng biến thiên

Bảng 4 Biên độ gấp duỗi gối

Gấp gối Số bệnh nhân Tỉ lệ %

Các biến chứng của điều trị

Nhiễm trùng

Không có trường hợp nhiễm trùng ổ gãy hay

nhiễm trùng khớp gối

Có 7/40 bệnh nhân có nhiễm trùng chân đinh cố

định ngoài Đây là các nhiễm trùng nông đều ổn

bằng cách săn sóc chân đinh với nước muối sinh lí và

dung dịch Betadin kết hợp với kháng sinh uống

Co rút gân gót

Có 9/40 bệânh nhân chiếm 22,5% co rút nhẹ gân

gót trong vài tuần đầu Tình trạng này được cải thiện

từ thời điểm cho bệânh nhân tì chống chân gãy Sau

khi tháo cố định ngoài không còn có trường hợp nào

co rút gân gót

Lượng giá kết quả theo thang điểm

Điểm khớp gối trung bình là 87,9 (từ 55 – 95

điểm)

Điểm chức năng trung bình là 85,1 (từ 60 – 90

điểm)

Bảng 5 Xếp loại kết quả điều trị theo thang điểm

Điểm khớp gối Điểm chức năng Xếp loại Số bệnh

nhân

Tỉ lệ

%

Số bệnh nhân

Tỉ lệ %

Rất tốt (90 – 100 điểm) 21 52,5% 25 62,5%

Tốt (80 – 89 điểm) 15 37,5% 12 30%

Trung bình (70 – 79 điểm) 2 5% 1 2,5%

Kém (dưới 70 điểm) 2 5% 2 5%

Tổng số 40 100% 40 100%

lớn, những trường hợp còn lại đều được thực hiện nắn kín Sau khi nắn kín, những di lệch nào còn lại không nắn được thì chúng tôi mới mở tối thiểu để nắn Chúng tôi thấy rằng những trường hợp mặt khớp mâm chày không nát nhiều và mảnh gãy lớn thì dễ thành công với nắn kín Phân tích những trường hợp nắn kín khó khăn chúng tôi nhận thấy rơi vào những tình huống sau:

- Mặt khớp gãy nát nhiều mảnh và lún nhiều, đặc biệt là ở những bệnh nhân lớn tuổi có chất lượng xương không còn tốt

- Khi có mảnh gãy ở bờ sau của mâm chày và mảnh gãy này di lệch ra sau

Khi rơi vào hai tình huống này chúng tôi mạnh dạn mở khớp tối thiểu để nắn và kiểm tra mặt khớp, nhằm tránh làm bầm dập thêm mô mềm do cố gắng nắn kín Đường rạch da thường là ngay vị trí mảnh xương được cho là nắn khó khăn nhất

Còn những trường hợp mở ở hành xương thì mặt khớp không nát nhiều, mảnh gãy tương đối lớn nhưng sau khi nắn kín vẫn không đưa được mảnh gãy về đúng vị trí của nó Sau khi mở ra chúng tôi thấy có chèn mô mềm, màng xương có khi là các gân

cơ chân ngỗng vào khe gãy Tình huống này hay gặp đối với mâm chày trong di lệch nhiều Một tình huống khác nếu không để ý cũng khó đưa mảnh gãy về đúng vị trí của nó khi nắn kín đó là trường hợp mảnh gãy trước ngoài của mâm chày ngoài bị dải chậu chày kéo lên trên

Tỉ lệ nhiễm trùng chân đinh ở khung cố định ngoài Ilizarov thấp hơn rất nhiều so với những khung cố định ngoài khác sử dụng đinh răng Đây là ưu điểm của khung Ilizarov

Biên độ gấp duỗi gối trung bình là 129,6o (từ

100o–145o) Không có hạn chế duỗi gối Đây là kết quả khác biệt rất rõ rệt khi so với các phương pháp khác điều trị gãy mâm chày loại V-VI Hầu hết các bệnh nhân của chúng tôi ở lần tái khám cuối cùng đều có thể ngồi xổm được Có 90% bệnh nhân biên

Trang 5

Nghiên cứu Y học Y Học TP Hồ Chí Minh * Tập 9 * Phụ bản của Số 1 * 2005

độ gấp gối từ 120o trở lên Kết quả đạt được như vậy

theo chúng tôi có 2 yếu tố:

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1 Kumar A., Whittle A.P (2000), “Treatment of complex (Schatzker Type VI) fractures of the tibial plateau with circular wire external fixation: retrospective case

review”, J Orthop Trauma,14(5), pp.339-344

- Vì là phẫu thuật can thiệp tối thiểu, ít tổn

thương mô mềm nên bệnh nhân có thể tập gấp duỗi

gối rất sớm từ ngày thứ hai sau mổ 2 Mikulak S.A., Gold S.M., Zinar D.M.(1998), “Small wire external fixation of high energy tibial plateau

fractures”, Clin Orthop, (356), pp.230-238

- Khung cố định ngoài Ilizarov và kết hợp xương

tối thiểu bên trong đủ vững cho phép bệnh nhân tập

gấp duỗi gối sớm

3 Stamer D.T., Schenk R., Staggers B., Aurori K., Aurori B., Behrens F.F.(1994), “Bicondylar tibial plateau fractures treated with a hybrid ring external fixator: a

preliminary study”, J Orthop Trauma, 8(6),

pp.455-461

KẾT LUẬN

4 Whittle A.P (1998), “Tibial plateau fractures”,

Campbell’s operative orthopaedics, Vol.3,

pp.2094-2111

Phương pháp điều trị này đạt được mục tiêu cố

định vững xương gãy, cho phép vận động sớm, và

giảm đáng kể biến chứng nhiễm trùng vết mổ 5 Wiss D.A., Watson J.T.(1996), “Fractures of the proximal tibia and fibula”, Fractures in adults, Vol.2,

pp.1919-1956

Mức độ hồi phục chức năng của bệnh nhân gãy

mâm chày điều trị theo phương pháp này là khá tốt 6 Young M.J., Barrack R.L (1994), “Complications of internal fixation of tibial plateau fractures”, Orthop

Rev, 23(2), pp.149-154

Ngày đăng: 16/01/2014, 17:20

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 2 Độ lún mặt khớp mâm chày. - Tài liệu Điều trị gãy mâm chày phức tạp bằng kết hợp xương tối thiểu và cố định ngoài Ilzarov docx
Bảng 2 Độ lún mặt khớp mâm chày (Trang 3)
Bảng 5 Xếp loại kết quả điều trị theo thang điểm. - Tài liệu Điều trị gãy mâm chày phức tạp bằng kết hợp xương tối thiểu và cố định ngoài Ilzarov docx
Bảng 5 Xếp loại kết quả điều trị theo thang điểm (Trang 4)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w