1. Trang chủ
  2. » Y Tế - Sức Khỏe

Tài liệu Điều trị viêm mũi xoang mãn tính có Políp mũi bằng phẫu thuật nội soi triệt để pptx

4 1,2K 6
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Điều trị viêm mũi xoang mãn tính có Políp mũi bằng phẫu thuật nội soi triệt để
Tác giả Nguyễn Ngọc Minh
Chuyên ngành Tai Mũi Họng - Mắt
Thể loại Bài báo khoa học
Năm xuất bản 2004
Thành phố Thành phố Hồ Chí Minh
Định dạng
Số trang 4
Dung lượng 129,78 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Hồ Chí Minh * Tập 8 * Phụ bản của Số 1 * 2004 Nghiên cứu Y họcĐIỀU TRỊ VIÊM MŨI XOANG MÃN TÍNH CÓ POLÍP MŨI BẰNG PHẪU THUẬT NỘI SOI TRIỆT ĐỂ Nguyễn Ngọc Minh* TÓM TẮT Viêm mũi xoang

Trang 1

Y Học TP Hồ Chí Minh * Tập 8 * Phụ bản của Số 1 * 2004 Nghiên cứu Y học

ĐIỀU TRỊ VIÊM MŨI XOANG MÃN TÍNH CÓ POLÍP MŨI

BẰNG PHẪU THUẬT NỘI SOI TRIỆT ĐỂ

Nguyễn Ngọc Minh*

TÓM TẮT

Viêm mũi xoang mạn tính (VMXMT) thường rất nặng ở Việt Nam Thường bệnh nhân đến khám bác

sĩ Tai mũi họng với tình trạng VMX có políp lan toả Vì thế chúng tôi phải đối mặt với nhưõng tình trạng bệnh lý vô cùng khó khăn đó là phải điều trị mà không đđể cho políp tái phát sau phẫu thuật và điều trị nội khoa Theo nhiều nghiên cứu, những phẫu thuật quy ước và ngay cả với phẫu thuật nội soi chức năng (FESS) củng đã có tỉ lệ thất bại rất cao trong việc điều trị políp mũi, do đó, chúng tôi cố gắng hết sức để giảm tỉ lệ tái phát lâu dài nếu có thể được bằng phương pháp ngoại khoa, đó là phẫu thuật nội soi triệt để (RESS) Trong nghiên cứu 72 trường hợp được phẫu thuật bằng phương pháp RESS, chúng tôi ghi nhận tỉ lệ tái phát của políp rất thấp sau 3 năm theo dõi Trong tương lai chúng tôi hy vọng rằng phương pháp này sẽ được dùng rộng rải để điều trị VMXMT có políp với cấp độ thành công cao hơn

SUMMARY

RADICAL ETHMOIDAL SINUS SURGERY IN TREATMENT OF DIFFUSE NASAL

POLYPOSIS : A LONG TERM FOLLOW UP STUDY ON 72 SURGICAL CASES

Nguyen Ngoc Minh * Y Hoc TP Ho Chi Minh * Vol 8 * Supplement of No 1 * 2004: 124 – 127

Chronic rhinosinusopathy is very severe in Vietnam Usually patients consult E.N.T doctors with a diffuse polypoid rhinosinusitis So we must deal with a very difficult pathological status it’s to treat without the returning of polyps after operations and medical treatment According to many studies, the conventional surgeries and even FESS have also had a highly failed rate in treatment of nasal polyps, therefore, we try the best to reduce the long-term recurrent rate as the most possible with a surgical procedure, radical endoscopic sinus surgery (RESS) In our report of 72 cases operated with RESS, we have a very low recurrent rate of nasal polyps after 3 year follow-up In future, we hope that this method will be widely used to treat the chronic rhinosinusopathy with polyps in high successful range

ĐẶT VẤN ĐỀ

Viêm mũi xoang mãn tính (VMXMT) là 1 bệnh lý

khó điều trị, kéo dài, dễ tái phát

Viêm mũi xoang mãn tính có polyps mũi 1 bên

hoặc 2 bên lại càng khó điều trị hơn

Với phương pháp phẫu thuật kinh điển, tỷ lệ tái

phát khá cao trong một thời gian ngắn (>95%) trong

thời gian 1 năm

Phương pháp mổ nội soi mang lại kết quả tốt hơn

so với phương pháp cũ Hiện nay phẫu thuật nội soi

dần dần thay thế hẳn phương pháp củ, chủ yếu là

phẫu thuật nội soi chức năng (FESS)

Tuy nhiên phương pháp này không thể giải quyết tốt bệnh lý viêm mũi xoang mãn tính có polyps nhất là đối với bệnh lý này tại Việt Nam, thường bệnh nhân để bệnh ở giai đoạn nặng lúc đến điều trị Vì vậy chúng tôi dùng một một phương pháp mổ nội soi triệt để nhằm không để polyps tái phát mà vẩn duy trì được những chức năng sinh lý tự nhiên của mũi xoang, chúng tôi gọi là phương pháp mổ nội soi mũi xoang triệt để (radical endoscopic sinus surgery, viết tắt là RESS) Trong nghiên cứu này chúng tôi nhằm nghiên cứu lại sự ưu việt của RESS trong điều trị viêm mũi xoang mãn tính (VMXMT) có polyps trên 72 bệnh nhân

* Khoa Tai Mũi Họng - Bệnh Viện An Bình TP Hồ Chí Minh

Chuyên đề Tai Mũi Họng - Mắt 124

Trang 2

Nghiên cứu Y học Y Học TP Hồ Chí Minh * Tập 8 * Phụ bản của Số 1 * 2004

ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN

CỨU

Đối tượng nghiên cứu

72 bệnh nhân từ 18 tuổi đến 70 tuổi

51 nam và 21 nữ

Phương pháp nghiên cứu

Bệnh nhân cần làm các bước như sau:

- Khám tai mũi họng tổng quát

- Chỉ định nội soi tai mũi họng, chọn ra những

bệnh nhân VMXMT có polyps mũi

- Điều trị nội khoa TMH từ 2-4 tuần bao gồm

kháng sinh, kháng viêm, steroids tại chổ và toàn

thân, thuốc chống cương tụ niêm mạc

- Chỉ định phẫu thuật với những bệnh nhân

thất bại với phương pháp điều trị nội khoa hoặc với

những bịnh nhân có chỉ định rõ ràng

- Bệnh nhân được chụp hình nội soi trước và

mổi lần tái khám và theo dõi từ 6/1999 đến 12/2002

- CT scan trước mổ tất cả các trường hợp

- Chúng tôi loại trừ những ca viêm mũi xoang

mãn tính không có polyps mũi trong nghiên cứu này

Những ca không theo dõi được đủ thời gian củng

không đưa vào số liệu

- Chụp hình nội soi trước mổ và sau mổ mổi

vài tháng

- XN tiền phẫu

KẾT QUẢ

Chúng tôi tiến hành RESS các ca VMXMT có

polyps mũi: 72 ca

Trong đó nữ có 20 ca(29,20%) và nam có 52 ca

(70,80%)

Vị trí phẫu thuật: bên trái 5 nam, 6 nữ

Beân phải 4 nam, 0 nữ

Hai bên 43 nam, 14 nưõ

Biến chứng và di chứng sau mổ (các biến chứng

khác không có):

Dây dính 10/72 ca( 14 %)

Tụ máu hốc mắt 3 ca(4%)

BÀN LUẬN

Chúng tôi nhận thấy cần nêu ra một số điểm cần nhấn mạnh trong phẫu thuật một bệnh lý khá đặc thù này:

+ Chẩn đoán tương đối dễ nhưng cần tìm những yếu tố bệnh sinh sâu xa hơn về cơ địa, thay đổi CTH tại chổ củng như ảnh hưởng toàn thân trên từng bệnh nhân trước khi có chỉ định phẫu thuật, loại phẫu thuật, mức độ phẫu thuật Đừng coi polyps như một bệnh lý đơn độc và vì vậy cần phối hợp điều trị hợp lý và đầy đủ

+ Quan điểm điều trị và chỉ định phẫu thuật polyps mũi thay đổi tùy thuộc nhiều yếu tố:

- Trước tiên khác nhau do quan điểm cá nhân củng như định hướng riêng trong tactic điều trị

- Kinh nghiệm, kiến thức và khả năng của từng bác sĩ

- Điều kiện cơ sở, trang thiết bị trong chẩn đoán và phẫu thuật

- Các XN hỗ trợ như nội soi, CTscan

- Tình trạng bệnh lý polyps, tổng trạng và khả năng tài chính của bệnh nhân

+ Trong phẫu thuật VMXMT có polyps mũi chúng tôi thường tiến hành phẫu thuật triệt để (RESS) trong những trường hợp sau đây:

* Polyps lan toã 1 bên ở các xoang trước và sau

* Polyps lan toả 2 bên

* Polyps nhiều

* Polyps dễ tái phát sau mổ

Nhưng khác với phẫu thuật De Lima kinh điển là RESS chỉ can thiệp xoang trán khi thật cần thiết, không mở khe dưới, mổ dưới gây mê

+ Về mặt kỹ thuật mổ chúng tôi tiến hành với những đặc điểm:

- Chủ yếu Tb sàng trước và sau, xoang bướm, ít khi can thiệp xoang trán

- Cố gắng lấy tất cả niêm mạc thoái hoá ở các vùng quanh ostium, gần phểu xoang, trong Tb sàng và bướm, thậm chí niêm mạc vách ngăn thoái hóa

Trang 3

Y Học TP Hồ Chí Minh * Tập 8 * Phụ bản của Số 1 * 2004 Nghiên cứu Y học

-Polyps có thể từ TB sàng tràn vào xoang hàm và

xoang bướm, và ta không cần phẫu thuật xoang hàm

hoặc bướm

-Chúng ta có thể mổ trán-sàng-hàm-bướm 2 bên

một thì trong khi với phẫu thuật kinh điển khó mà

làm được

-Mở rộng lỗ thông tự nhiên xoang hàm 10-12mm

đường kính

-Không giống như FESS (kỹ thuật

Messerklinger): chúng tôi có thể cắt bỏ một phần

hoặc toàn bộ cuốn giữa bệnh lý, cắt một phần niêm

mạc cuốn dưới khi cần thiết nhất là phần niêm mạc

phì đại làm tắc ostium Trong bệnh lý polyps mũi

xoang FESS không thể mang lại tỉ lệ thành công cao

được(Stamberger)

+Thông thường polyps mũi nặng đáp ứng it với

kháng dị ứng và corticoid tại chổ Dù vậy polyps mũi

phải được xem như một bệnh toàn thân và nên có

điều trị nội khoa đi kèm trước và sau mổ

+Kết quả điều trị phẫu thuật khó so sánh vì tiêu

chuẩn đánh giá và chỉ định khác nhau Theo

Stamberger, trong phẫu thuật VMXMT có polyps, ông

nhận thấy FESS thất bại nhiều, còn phẫu thuật triệt

để (RESS) mang lại kết quả nhiều hơn, nhưng kết

quả lâu dài, theo ông, lại không có khác biệt trên

thống kê, mà vấn đề hậu phẫu lại nhiêu khê hơn

+Trong chẩn đoán chúng tôi nhận thấy:

-Cần phân biệt VMXMT polyps lan toả và VMX

niêm mạc phù nề khu trú dạng polyps Loại sau dễ trị

và kết quả tốt lâu dài hơn

-Với dạng VMX xuất tiết phẫu thuật triệt để

giúp giảm tiết, bớt nghẹt mũi, giảm nhức đầu sau

mổ Tuy nhiên mở cửa sổ khe dưới nhằm dẩn lưu

dịch tiết vẩn còn giá trị trong trường hợp này và

đôi khi không cần RESS

-Trong những ca có kèm hen phế quản hoặc đã

mổ trước gây sẹo dính và không còn mốc phẫu thuật,

nên chẩn đoán chính xác và phẫu thuật thận trọng

-Chính polyps đã làm chỉ định phẫu thuật các loại

VMXMT tăng lên Nhiều trường hợp chúng tôi chỉ

phát hiện polyps ngay trong cuộc mổ mặc dù trước

đó có khám nội soi kỹ càng

-Triệu chứng xoang hàm và xoang trán không liên quan hoàn toàn với toàn bộ khối polyps Có thể chỉ viêm vài tế bào sàng khu trú nhưng làm mờ cả xoang hàm và trán

-Đánh giá bệnh lý xoang hàm và trán tốt nhất là ngay trong lúc mổ qua ostium mở rộng hoặc qua trocard xuyên qua hố nanh

-Những bệnh nhân có hội chứng xoang-phế quản (sino-bronchial syndrome) có thể có những cục đàm nhầy tròn giống polyps

-VMXMT polyps lan toả (diffuse polypoid rhinosinopathy=DPSRP) chúng ta cần chú ý trong chẩn đoán và phẫu thuật vì:

+Niêm mạc thường thoái hoá rất nặng vì vậy cần tiến hành RESS

+Sau mổ polyps tái fát rất nhanh thậm chí vài tuần

+Nguyên nhân đến nay không rõ Nó không thuộc nhóm dị ứng qua trung gian igE mà thường liên quan đến asthma, cystic fibroma, và nhóm phản ứng với aspirin

Nhiều tác giả so sánh kết quả sau mổ hai phẫu thuật quy ước kinh điển và phẫu thuật nội soi:

Thôøi gian theo dõi

Với phẫu thuật cũ tỉ lệ có kết quả tốt: 2 năm 63% (Kilder), 3 năm 73%(Lawson), trên 4 năm 69% (Sogg), 85%(Friedman)

Với phẫu thuật nội soi có kết quả tốt: 2 năm 92% (Kennedy), 3 năm 85%(Vleming), trên 4 năm 91% (Schaitkin)

Trong nghiên cứu chúng tôi 100% chưa ghi nhận tái phát polyps Tuy nhiên triệu chứng VMXMT như sổ mũi, nhức đầu, nghẹt mũi, ách xì vẩn thấy tái phát và với điều trị nội khoa vài ngày thì giảm

So sánh kết quả điều trị nội khoa

-Virloainen & Pahakka 1980 thấy rằng 80% ca không có tái phát triệu chứng khi dùng corticoid tại chổ trong khi không dùng thì chỉ 60% tốt

-Smith 1993 88% ca mổ nội soi có kết quả tốt thì trong đó có 41,5% có điều trị nội khoa sau mổ

Chuyên đề Tai Mũi Họng - Mắt 126

Trang 4

Nghiên cứu Y học Y Học TP Hồ Chí Minh * Tập 8 * Phụ bản của Số 1 * 2004

- Nắm kỹ cơ thể học mũi xoang nhất là vách bên và những thay đổi của nó

Trong nghiên cứu của chúng tôi việc điều trị sau

mổ gồm những điểm sau:

- Đòi hỏi phẫu thuật viên khéo léo và nhiều kinh nghiệm

+Trong khỏang một tuần đầu: Kháng sinh,

kháng viêm, giảm đau

- Trước khi phẫu thuật trên người cần thao tác trên xác nhuần nhuyễn dưới sự hướng dẫn hoặc video hướng dẫn

+ Corticoid dùng sau khi bớt vẩy mũi và thông

thường với Fluticasone 50mcg, hoặc Budesonide 200

mcg trong 2 3 tuần Với những ca polyps nặng có

thể 2 3 tháng sau mổ - Kết quả điều trị do sự kết hợp giữa phẫu

thuật và điều trị nội khoa sau mổ

+ Để tránh dây dinh và xử trí kịp thời dạng phù

nề niêm mạc dạng polyps (polypoid mucosal eodema)

sau mổ cần theo dõi và hút rửa, lấy vẩy mũi cho bệnh

nhân

- Khả năng thất bại và tái phát polyps khá cao, cần có theo dõi lâu dài sau mổ

TÀI LIỆU THAM KHẢO

Lawson 1994 so sánh:

1/ Casiano R Using the medial orbital floor as a landmark in ESS Laryngoscope 2001; 111:964-974

_Phẫu thuật môû khe giữa: 86-94% còn thoâng

thoaùng 2/ Maru J K; Gupta Y Significance of concha bullosa in Chronic sinusitis Indian Journal of Otolaryngology

and Head and Neck Surgery 2001; 52:1: 40-44

_Phẫu thuật môû khe dưới: 55-92% còn thông

thoáng 3/ Damn M, Quante G, Jungehuelsing, M; Stennert, E Impact of FESS on symptomsand quality of life in

Chronic rhinosinusitis Larygoscope 2002;112:310-315

Trong 72 ca mổ của chúng tôi theo dõi được chưa

ghi nhận bít tằc (100%) các lỗ mở khe giữa 4/ Stewart MG., Middle turbinate resection Archives of Otolaryngology-Head and Neck Surgery 1998;124:104

5/ Yung MW., Gould J, Graham J G Upton, Nasal polyposis in children with cystic fibrosis: A long term follow-up study Ann Otol Rhinol Laryngol

2002:1081-1086

KẾT LUẬN

- Cần có đánh giá chính xác trước phẫu thuật

mức độ polyps mũi và tình trạng các xoang từ đó đưa

ra chỉ định mổ thích hợp

6/ Nicola Y Busaba, MD; David Kieff, MD Endoscopic sinus surgery for inflammatory maxillary sinus disease Laryngoscpe 2002; 112:1378-1383

7/ Bachmann G, Djenabi U, Med C; Yungehuelsing M; Petereit H, Olaf M, Incidence of occult cerebrospinal fluid fistula during paranasal sinus surgery Arch Otolaryngol Head and Neck Surg 2002; 128:

1299-1302

- RESS được chỉ định trong những trừơng hợp

polyps trung bình hoặc nặng Với polyps nhẹ, tùy tình

trạng thoái hóa niêm mạc được đánh giá trong lúc

mổ để có chỉ định thích hợp 8/ Jones A.S; Phillips E D; Hilgers F JM Disease of The

Head and Neck, Nose and Throat Arnold 1998 Disease of the nose p.689-868

- RESS giúp điều trị lâu dài sau mổ đơn giản

hơn Việc sử dụng corticoid tại chổ không cần thiết

quá lâu và lỉều lượng mạnh do đó rất thích hợp cho

những bệnh nhân không theo dõi nhiều và ở xa

9/ Stanley RE., FRCS Current management of rhinosinositis International Herald Tribune November 28, 1996, Health Science

10/ Stamberger H Functional endoscopic sinus surgery The Messerklinger Technique B.C Decker Philadelphia 1991 p.145-473

- Để đảm bảo kết quả tốt và tránh những biến

chứng nguy hiểm cần có chế độ huấn luyện kỹ

Ngày đăng: 16/01/2014, 17:20

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w