1. Trang chủ
  2. » Giáo án - Bài giảng

sáng kiến kinh nghiệm hướng dẫn học sinh lớp 3 học tốt phân môn tập làm văn

19 54 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 19
Dung lượng 0,99 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

PHẦN I: ĐẶT VẤN ĐỀ 1. Cơ sở lý luận : Trong công cuộc đổi mới hiện nay, ngành giáo dục nói chung và giáo dục Tiểu học nói riêng đòi hỏi sự đổi mới và nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện. Vì vậy cần phải có sự điều chỉnh mục tiêu, nội dung và phương pháp dạy học một cách phù hợp. Tập làm văn là một trong những phân môn có vị trí quan trọng trong môn Tiếng Việt, nó rèn cho học sinh tạo lập văn bản, góp phần dạy học sinh sử dụng Tiếng Việt trong đời sống sinh hoạt. Để làm được một bài văn không những học sinh phải sử dụng cả bốn kỹ năng: nghe nói đọc viết mà còn phải vận dụng các kỹ năng về Tiếng Việt, về cuộc sống thực tiễn. Vì vậy Tập làm văn là phân môn có tính tích hợp, có liên quan mật thiết đến các môn học khác. Trong quá trình dạy một tiết Tập làm văn, để đạt mục tiêu đề ra ngoài phương pháp của thầy, học sinh cần phải có vốn kiến thức ngôn ngữ về đời sống thực tế, khả năng nói và viết phải trôi chảy, lưu loát rõ ràng để người nghe hiểu được nội dung mình cần nói, cần viết. Đó chính là yêu cầu cần đạt trong việc rèn luỵên khả năng giao tiếp và góp phần đắc lực vào việc giữ gìn, phát huy sự trong sáng của Tiếng Việt và hình thành nhân cách con người Việt Nam. 2.Cơ sở thực tiễn : Ngôn ngữ giữ vai trò quan trọng trong sự tồn tại và phát triển xã hội. Chính vì vậy hướng dẫn cho học sinh nói đúng, viết đúng là hết sức cần thiết. Nhiệm vụ đó phụ thuộc phần lớn vào việc dạy Tiếng Việt nói chung và phân môn Tập làm văn nói riêng. Qua thực tế , tôi thấy phân môn Tập làm văn là một phân môn khá khó so với các phân môn khác của Tiếng Việt. Rất nhiều học sinh không hứng thú với tiết học này. Với định hướng quan trọng trong đổi mới PPDH ở Tiểu học hiện nay là phát huy tính tích cực, chủ động chiếm lĩnh kiến thức của người học. Điều đó khiến tôi luôn trăn trở, suy nghĩ: làm thế nào? bằng cách nào để khơi gợi ở học sinh niềm hứng thú, say mê học tập, để mỗi giờ dạy Tập làm văn của mình ngày càng đạt hiệu quả cao, thu hút, khơi gợi được năng lực làm văn của từng học sinh. Đó chính là lí do tôi chọn sáng kiến: Hướng dẫn học sinh lớp 3 học tốt phân môn Tập làm văn.” PHẦN II: GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ A.Thực trạng. Qua nhiều năm dạy tập làm văn lớp 3, tôi thấy học sinh thường mắc phải các lỗi sau: Vốn từ ngữ, vốn sống, vốn hiểu biết của các em còn hạn chế. Trí tưởng tượng chưa phong phú khiến cho một số đề văn có nội dung chưa gần gũi với học sinh như: lễ hội, buổi biểu diễn nghệ thuật, buổi thi đấu thể thao…càng trở nên khó khăn. Diễn đạt lủng củng, lộn xộn, tối nghĩa, từ ngữ lặp lại nhàm chán, còn sử dụng văn nói trong bài viết và không có sự sáng tạo trong bài văn. Lỗi về chính tả, sử dụng dấu câu tùy tiện khiến cho bài văn khó hiểu, tối nghĩa. Với những phát hiện trên, tôi quyết định áp dụng một số biện pháp mà tôi cảm thấy rất tâm đắc để hướng dẫn cho học sinh học học tốt phân môn Tập làm văn lớp 3. B. Các giải pháp thực hiện 1. Dạy học phát huy tính tích cực của học sinh trong các giờ học. a.Hướng dẫn học sinh tích lũy vốn từ và lồng ghép kiến thức ở các phân môn khác . Như chúng ta đã thấy, học sinh lớp 3 tư duy còn hạn chế, vốn từ, vốn hiểu biết nghèo nàn. Để khắc phục điều đó tôi luôn hướng dẫn học sinh tích lũy vốn từ và lồng ghép kiến thức ở các phân môn khác . Theo cấu trúc sách giáo khoa thì tập làm văn là phân môn được sắp xếp cuối cùng của tuần.Vì vậy, trong quá trình dạy tôi phải luôn chủ động nắm được nội dung của bài Tập làm văn sẽ học cuối tuần có liên quan gì đến các phân môn Tập đọc, Chính tả, Luyện từ và câu...để tôi có thể nhấn mạnh cho các em kiến thức cần ghi nhớ. Nhờ các phân môn ấy các em đã tích lũy được kiến thức và vận dụng tốt khi học tập làm văn. Ví dụ : Ở tuần 22 – chủ điểm Sáng tạo, tiết Tập làm văn có bài tập : +)Bài 1 : Hãy kể về một người lao động trí óc mà em biết. +)Bài 2: Viết những điều em vừa kể thành một đoạn văn từ 7 đến 10 câu. Để làm tốt bài tập làm văn này, tôi đã tiến hành các bước như sau: + Khi bắt đầu dạy chủ điểm Sáng tạo tôi cần phải nắm được đề Tập làm văn sẽ học là Kể về một người lao động trí óc mà em biết. +Từ đó, trong quá trình dạy tôi luôn nhấn mạnh đến các bài học có nội dung liên quan về những người lao động trí óc như: Nhà bác học và bà cụ, Chiếc máy bơm, Người trí thức yêu nước... + Đồng thời tôi luôn kết hợp đặt ra một số câu hỏi trong các bài học ấy nhằm mở rộng cung cấp vốn từ, vốn hiểu biết cho các em: Người đó làm việc làm việc trong lĩnh vực nào? Thái độ làm việc của người đó ra sao? Em học tập được ở người đó đức tính gì? Như vậy, để có một tiết tập làm văn thành công thì giáo viên cần hiểu rõ tính tích hợp giữa các phân môn Tập đọc, Kể chuyện, Chính tả, Luyện từ và câu. Các bài học được biên soạn theo chủ điểm. Lồng ghép kiến thức ở các phân môn trong cùng chủ điểm sẽ giúp học sinh tích lũy được rất nhiều vốn kiến thức, vốn từ ngữ, vốn hiểu biết. Bên cạnh đó, nhiều em còn diễn đạt chưa rõ ý ,câu văn chưa có hình ảnh hay. Có một số từ do được nghe và nói trong sinh hoạt hằng ngày thành quen thuộc, học sinh vẫn còn sử dụng trong bài văn của mình. Ví dụ: Trong bài Tập làm văn tuần 22 : “Nói, viết về người lao động trí óc”, có học sinh viết: “Người lao động trí óc mà em kể là bác em. Bác là người làm nghề chữa bệnh ở bệnh viện. Bác toàn mặc áo màu trắng khi làm việc”. Để tránh tình trạng sử dụng từ ngữ như vậy thì trong tiết Luyên từ và câu, tôi giúp học sinh hệ thống được các từ ngữ nói về chủ điểm “Sáng tạo” như những từ ngữ chỉ trí thức: bác sĩ, dược sĩ, nhà văn, nhà bác học,…và từ ngữ chỉ hoạt động của trí thức: nghiên cứu, chế tạo thuốc, khám bệnh....Qua đó, học sinh đã có thêm vốn từ để chuẩn bị cho bài nói, viết về người lao động trí óc. Sau khi có sự chuẩn bị kĩ lưỡng cho tiết học thì học sinh đã thay đổi trong cách viết văn của mình. Ví dụ: Bài văn của học sinh viết như sau: Bác Lan là một người lao động trí óc thầm lặng mà em kính trọng nhất. Bác là một bác sĩ làm việc ở Bệnh viện Đa khoa tỉnh. Hàng ngày bác đi làm từ 6 giờ sáng cho đến 7 giờ tối bác mới về. Công việc của bác là khám và chữa bệnh cho các bệnh nhân. Bác luôn tận tình hỏi han bệnh nhân nhẹ nhàng và kĩ lưỡng để tìm ra phác đồ điều trị cho bệnh nhân nhanh khỏi bệnh. Khi tan làm ,về nhà bác Lan lại là một người phụ nữ đảm đang luôn chăm lo đến bữa ăn, giấc ngủ cho mọi người trong nhà rất chu đáo. Đêm đêm, khi cả nhà đi ngủ bác lại nghiên cứu sách vở để học hỏi các phương pháp chữa bệnh tiên tiến ở trên thế giới. Nhờ sự tận tâm với nghề mà bác đã cống hiến rất nhiều công trình nghiên cứu cho ngành Y để phục vụ sức khỏe cho con người. Em rất tự hào về bác Lan và mong muốn sẽ học thật giỏi để trở thành một bác sĩ giỏi như bác.” Như vậy, ngoài việc hiểu rõ tính tích hợp của các phân môn trong môn Tiếng Việt thì những sự việc hoặc hoạt động các em không được chứng kiến hoặc tham gia, tôi luôn khuyến khích các em quan sát qua tranh ảnh, sách báo, trên tivi,… hoặc hỏi những người thân hay trao đổi với bạn bè. Khi được trang bị những kiến thức cơ bản như thế, học sinh sẽ có thói quen ghi nhớ và vận dụng kiến thức, vốn sống, vốn từ ngữ…vào các bài Tập làm văn. Các em có những ý tưởng độc lập, có thể trình bày được bài văn chân thực, sinh động và sáng tạo. b. Hướng dẫn học sinh tìm hiểu nội dung yêu cầu của bài Tập làm văn. Ở mỗi đề bài Tập làm văn, giáo viên cần cho học sinh tự xác định rõ yêu cầu bài tập. Việc nắm vững yêu cầu giúp học sinh khi thực hành đi đúng hướng, không bị lạc đề. Ví dụ: Tuần 26:“Kể về một ngày hội mà em biết.” Tôi cho học sinh xác định đề bài qua các câu hỏi sau: Bài tập yêu cầu gì? ( kể về một ngày hội). Em hãy kể tên một ngày hội nào đó mà em được chứng kiến hoặc được biết qua tivi, sách bảo? Trong các ngày hội em biết thì em thích và nhớ nhất ngày hội gì? Qua các câu hỏi đó, tôi đã định hướng để các em có thể lựa chọn được một trong những ngày hội mà em thích nhất, nhớ nhất, gần gũi nhất để kể trong bài văn của mình. Sau khi xác định rõ yêu cầu của đề, tôi đưa ra các câu hỏi gợi ý trong sách giáo khoa: Ví dụ: Tuần 26:“Kể về một ngày hội mà em biết. Gợi ý: a. Đó là hội gì? Hội đó được tổ chức khi nào? Ở đâu? c. Mọi người xem hội như thế nào? d. Hội bắt đầu bằng những hoạt động gì? e. Hội có những trò vui gì? ví dụ như: chơi cờ, đấu vật, kéo co, nhảy múa, đua thuyền..... g. Cảm tưởng của em về ngày hội đó như thế nào? Như vậy, để viết được một đoạn văn ở lớp 3 thì các em cần dựa vào các câu hỏi gợi ý. Các câu hỏi được sắp xếp hợp lí như một dàn bài của một bài Tập làm văn. Thông thường, tôi đã hướng dẫn cho học sinh tìm hiểu các câu hỏi gợi ý theo trình tự sau: Yêu cầu 3 học sinh đọc các câu hỏi gợi ý để hiểu và nắm vững nội dung . Học sinh trả lời các câu hỏi. Học sinh nhận xét, đánh giá bổ sung cho nhau. Luyện nói trước lớp hoặc trong nhóm. Giáo viên theo dõi uốn nắn, chỉnh sửa kịp thời. Khi có thể trả lời các câu hỏi thành thạo thì học sinh sẽ thực hành bằng cách viết đoạn văn ngắn. Tuy nhiên, tôi cũng không áp đặt rập khuôn máy móc theo gợi ý mà chỉ dựa vào gợi ý, các em có thể thay đổi trật tự nhưng hợp lí, đủ ý là được. Đối với học sinh khá giỏi, giáo viên có thể mở rộng, hướng dẫn các em viết được các câu văn giàu hình ảnh sáng tạo. Luôn sát sao tới từng em để hạn chế được việc trình bày ý trùng lặp, chồng chéo, không có sự liên kết giữa các ý với nhau trong đoạn văn. Tuy nhiên, để tránh sự nhàm chán và phát huy tính tích cực của học sinh trong các tiết học thì tôi luôn thay đổi các hình thức dạy học như thảo luận nhóm, đàm thoại với bạn hoặc với thầy cô ...để cuốn hút học sinh . Bên cạnh đó, trong một số tiết tôi cũng đang rất quan tâm việc áp dụng phương pháp viết văn bằng sơ đồ tư duy . Ví dụ: Cũng với đoạn văn Kể về một ngày hội mà em biết, thay vì cô hỏi trò trả lời thì tôi tôi hướng dẫn học sinh lập sơ đồ tư duy từ các gợi ý … Dựa vào sơ đồ tư duy, các em sẽ viết được một đoạn văn khoảng 7 10 câu, mỗi câu là một nhánh của sơ đồ. Ở bước này, giáo viên chỉ hướng dẫn, gợi ý còn lại để học sinh tự tư duy và viết. Ví dụ:

Trang 1

PHÒNG GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO THANH HÓA

TRƯỜNG THCS QUẢNG TÂM

SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM HƯỚNG DẪN HỌC SINH LỚP 3 HỌC TỐT PHÂN

MÔN TẬP LÀM VĂN

Người thực hiện:

Chức vụ:

Môn/lĩnh vực:

Khóa học:

1

Trang 2

PHẦN I: ĐẶT VẤN ĐỀ

1 Cơ sở lý luận :

Trong công cuộc đổi mới hiện nay, ngành giáo dục nói chung và giáo dục Tiểu học nói riêng đòi hỏi sự đổi mới và nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện Vì vậy cần phải có sự điều chỉnh mục tiêu, nội dung và phương pháp dạy học một cách phù hợp

Tập làm văn là một trong những phân môn có vị trí quan trọng trong môn Tiếng Việt, nó rèn cho học sinh tạo lập văn bản, góp phần dạy học sinh sử dụng Tiếng Việt trong đời sống sinh hoạt Để làm được một bài văn không những học sinh phải sử dụng cả bốn kỹ năng: nghe - nói - đọc - viết mà còn phải vận dụng các kỹ năng về Tiếng Việt, về cuộc sống thực tiễn Vì vậy Tập làm văn là phân môn có tính tích hợp, có liên quan mật thiết đến các môn học khác

Trong quá trình dạy một tiết Tập làm văn, để đạt mục tiêu đề ra ngoài phương pháp của thầy, học sinh cần phải có vốn kiến thức ngôn ngữ về đời sống thực tế, khả năng nói và viết phải trôi chảy, lưu loát rõ ràng để người nghe hiểu được nội dung mình cần nói, cần viết Đó chính là yêu cầu cần đạt trong việc rèn luỵên khả năng giao tiếp và góp phần đắc lực vào việc giữ gìn, phát huy sự trong sáng của Tiếng Việt và hình thành nhân cách con người Việt Nam

2.Cơ sở thực tiễn :

Ngôn ngữ giữ vai trò quan trọng trong sự tồn tại và phát triển xã hội Chính

vì vậy hướng dẫn cho học sinh nói đúng, viết đúng là hết sức cần thiết Nhiệm

vụ đó phụ thuộc phần lớn vào việc dạy Tiếng Việt nói chung và phân môn Tập làm văn nói riêng

Qua thực tế , tôi thấy phân môn Tập làm văn là một phân môn khá khó so với các phân môn khác của Tiếng Việt Rất nhiều học sinh không hứng thú với tiết học này Với định hướng quan trọng trong đổi mới PPDH ở Tiểu học hiện nay là phát huy tính tích cực, chủ động chiếm lĩnh kiến thức của người học Điều đó khiến tôi luôn trăn trở, suy nghĩ: làm thế nào? bằng cách nào để khơi gợi ở học sinh niềm hứng thú, say mê học tập, để mỗi giờ dạy Tập làm văn của mình ngày càng đạt hiệu quả cao, thu hút, khơi gợi được năng lực làm văn của

từng học sinh Đó chính là lí do tôi chọn sáng kiến: Hướng dẫn học sinh lớp 3 học tốt phân môn Tập làm văn.”

Trang 3

PHẦN II: GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ A.Thực trạng.

Qua nhiều năm dạy tập làm văn lớp 3, tôi thấy học sinh thường mắc phải các lỗi sau:

- Vốn từ ngữ, vốn sống, vốn hiểu biết của các em còn hạn chế Trí tưởng tượng chưa phong phú khiến cho một số đề văn có nội dung chưa gần gũi với học sinh như: lễ hội, buổi biểu diễn nghệ thuật, buổi thi đấu thể thao…càng trở nên khó khăn

- Diễn đạt lủng củng, lộn xộn, tối nghĩa, từ ngữ lặp lại nhàm chán, còn sử dụng văn nói trong bài viết và không có sự sáng tạo trong bài văn

- Lỗi về chính tả, sử dụng dấu câu tùy tiện khiến cho bài văn khó hiểu, tối nghĩa Với những phát hiện trên, tôi quyết định áp dụng một số biện pháp mà tôi cảm thấy rất tâm đắc để hướng dẫn cho học sinh học học tốt phân môn Tập làm văn lớp 3

B Các giải pháp thực hiện

1 Dạy học phát huy tính tích cực của học sinh trong các giờ học.

a.Hướng dẫn học sinh tích lũy vốn từ và lồng ghép kiến thức ở các phân môn khác

Như chúng ta đã thấy, học sinh lớp 3 tư duy còn hạn chế, vốn từ, vốn hiểu biết nghèo nàn Để khắc phục điều đó tôi luôn hướng dẫn học sinh tích lũy vốn

từ và lồng ghép kiến thức ở các phân môn khác

Theo cấu trúc sách giáo khoa thì tập làm văn là phân môn được sắp xếp cuối cùng của tuần.Vì vậy, trong quá trình dạy tôi phải luôn chủ động nắm được nội dung của bài Tập làm văn sẽ học cuối tuần có liên quan gì đến các phân môn Tập đọc, Chính tả, Luyện từ và câu để tôi có thể nhấn mạnh cho các

em kiến thức cần ghi nhớ Nhờ các phân môn ấy các em đã tích lũy được kiến thức và vận dụng tốt khi học tập làm văn

3

Trang 4

Ví dụ : Ở tuần 22 – chủ điểm Sáng tạo, tiết Tập làm văn có bài tập :

+)Bài 1 : Hãy kể về một người lao động trí óc mà em biết.

+)Bài 2: Viết những điều em vừa kể thành một đoạn văn từ 7 đến 10 câu.

Để làm tốt bài tập làm văn này, tôi đã tiến hành các bước như sau:

+ Khi bắt đầu dạy chủ điểm Sáng tạo tôi cần phải nắm được đề Tập làm văn sẽ học là Kể về một người lao động trí óc mà em biết

+Từ đó, trong quá trình dạy tôi luôn nhấn mạnh đến các bài học có nội dung liên quan về những người lao động trí óc như: Nhà bác học và bà cụ, Chiếc máy bơm, Người trí thức yêu nước

+ Đồng thời tôi luôn kết hợp đặt ra một số câu hỏi trong các bài học ấy nhằm mở rộng cung cấp vốn từ, vốn hiểu biết cho các em:

- Người đó làm việc làm việc trong lĩnh vực nào?

- Thái độ làm việc của người đó ra sao?

- Em học tập được ở người đó đức tính gì?

Như vậy, để có một tiết tập làm văn thành công thì giáo viên cần hiểu rõ tính tích hợp giữa các phân môn Tập đọc, Kể chuyện, Chính tả, Luyện từ và câu Các bài học được biên soạn theo chủ điểm Lồng ghép kiến thức ở các phân môn trong cùng chủ điểm sẽ giúp học sinh tích lũy được rất nhiều vốn kiến thức, vốn từ ngữ, vốn hiểu biết

Bên cạnh đó, nhiều em còn diễn đạt chưa rõ ý ,câu văn chưa có hình ảnh hay Có một số từ do được nghe và nói trong sinh hoạt hằng ngày thành quen thuộc, học sinh vẫn còn sử dụng trong bài văn của mình

Ví dụ: Trong bài Tập làm văn tuần 22 : “Nói, viết về người lao động trí

óc”, có học sinh viết: “Người lao động trí óc mà em kể là bác em Bác là người

làm nghề chữa bệnh ở bệnh viện Bác toàn mặc áo màu trắng khi làm việc”.

- Để tránh tình trạng sử dụng từ ngữ như vậy thì trong tiết Luyên từ và câu,

tôi giúp học sinh hệ thống được các từ ngữ nói về chủ điểm “Sáng tạo” như

những từ ngữ chỉ trí thức: bác sĩ, dược sĩ, nhà văn, nhà bác học,…và từ ngữ chỉ hoạt động của trí thức: nghiên cứu, chế tạo thuốc, khám bệnh Qua đó, học sinh

Trang 5

đã có thêm vốn từ để chuẩn bị cho bài nói, viết về người lao động trí óc Sau khi

có sự chuẩn bị kĩ lưỡng cho tiết học thì học sinh đã thay đổi trong cách viết văn của mình

Ví dụ: Bài văn của học sinh viết như sau:

Bác Lan là một người lao động trí óc thầm lặng mà em kính trọng nhất Bác là một bác sĩ làm việc ở Bệnh viện Đa khoa tỉnh Hàng ngày bác đi làm từ 6 giờ sáng cho đến 7 giờ tối bác mới về Công việc của bác là khám và chữa bệnh cho các bệnh nhân Bác luôn tận tình hỏi han bệnh nhân nhẹ nhàng và kĩ lưỡng

để tìm ra phác đồ điều trị cho bệnh nhân nhanh khỏi bệnh Khi tan làm ,về nhà bác Lan lại là một người phụ nữ đảm đang luôn chăm lo đến bữa ăn, giấc ngủ cho mọi người trong nhà rất chu đáo Đêm đêm, khi cả nhà đi ngủ bác lại nghiên cứu sách vở để học hỏi các phương pháp chữa bệnh tiên tiến ở trên thế giới Nhờ sự tận tâm với nghề mà bác đã cống hiến rất nhiều công trình nghiên cứu cho ngành Y để phục vụ sức khỏe cho con người Em rất tự hào về bác Lan

và mong muốn sẽ học thật giỏi để trở thành một bác sĩ giỏi như bác.”

Như vậy, ngoài việc hiểu rõ tính tích hợp của các phân môn trong môn Tiếng Việt thì những sự việc hoặc hoạt động các em không được chứng kiến hoặc tham gia, tôi luôn khuyến khích các em quan sát qua tranh ảnh, sách báo, trên tivi,… hoặc hỏi những người thân hay trao đổi với bạn bè Khi được trang

bị những kiến thức cơ bản như thế, học sinh sẽ có thói quen ghi nhớ và vận dụng kiến thức, vốn sống, vốn từ ngữ…vào các bài Tập làm văn Các em có những ý tưởng độc lập, có thể trình bày được bài văn chân thực, sinh động và sáng tạo

b Hướng dẫn học sinh tìm hiểu nội dung yêu cầu của bài Tập làm văn.

Ở mỗi đề bài Tập làm văn, giáo viên cần cho học sinh tự xác định rõ yêu cầu bài tập Việc nắm vững yêu cầu giúp học sinh khi thực hành đi đúng hướng, không bị lạc đề

Ví dụ: Tuần 26:“Kể về một ngày hội mà em biết.” Tôi cho học sinh xác

định đề bài qua các câu hỏi sau:

- Bài tập yêu cầu gì? ( kể về một ngày hội)

5

Trang 6

- Em hãy kể tên một ngày hội nào đó mà em được chứng kiến hoặc được biết qua tivi, sách bảo?

- Trong các ngày hội em biết thì em thích và nhớ nhất ngày hội gì?

Qua các câu hỏi đó, tôi đã định hướng để các em có thể lựa chọn được một trong những ngày hội mà em thích nhất, nhớ nhất, gần gũi nhất để kể trong bài văn của mình

Sau khi xác định rõ yêu cầu của đề, tôi đưa ra các câu hỏi gợi ý trong sách giáo khoa:

Ví dụ: Tuần 26:“Kể về một ngày hội mà em biết.

Gợi ý:

a. Đó là hội gì? Hội đó được tổ chức khi nào? Ở đâu?

c Mọi người xem hội như thế nào?

d Hội bắt đầu bằng những hoạt động gì?

e Hội có những trò vui gì? ví dụ như: chơi cờ, đấu vật, kéo co, nhảy múa, đua thuyền

g Cảm tưởng của em về ngày hội đó như thế nào?

Như vậy, để viết được một đoạn văn ở lớp 3 thì các em cần dựa vào các câu hỏi gợi ý Các câu hỏi được sắp xếp hợp lí như một dàn bài của một bài Tập làm văn Thông thường, tôi đã hướng dẫn cho học sinh tìm hiểu các câu hỏi gợi ý theo trình tự sau:

- Yêu cầu 3 học sinh đọc các câu hỏi gợi ý để hiểu và nắm vững nội dung

- Học sinh trả lời các câu hỏi

- Học sinh nhận xét, đánh giá bổ sung cho nhau

- Luyện nói trước lớp hoặc trong nhóm

- Giáo viên theo dõi uốn nắn, chỉnh sửa kịp thời

- Khi có thể trả lời các câu hỏi thành thạo thì học sinh sẽ thực hành bằng cách viết đoạn văn ngắn

- Tuy nhiên, tôi cũng không áp đặt rập khuôn máy móc theo gợi ý mà chỉ dựa vào gợi ý, các em có thể thay đổi trật tự nhưng hợp lí, đủ ý là được

- Đối với học sinh khá giỏi, giáo viên có thể mở rộng, hướng dẫn các em viết được các câu văn giàu hình ảnh sáng tạo Luôn sát sao tới từng em để

Trang 7

hạn chế được việc trình bày ý trùng lặp, chồng chéo, không có sự liên kết giữa các ý với nhau trong đoạn văn

Tuy nhiên, để tránh sự nhàm chán và phát huy tính tích cực của học sinh trong các tiết học thì tôi luôn thay đổi các hình thức dạy học như thảo luận nhóm, đàm thoại với bạn hoặc với thầy cô để cuốn hút học sinh Bên cạnh đó,

trong một số tiết tôi cũng đang rất quan tâm việc áp dụng phương pháp viết văn

bằng sơ đồ tư duy

- Ví dụ: Cũng với đoạn văn Kể về một ngày hội mà em biết, thay vì cô hỏi trò trả lời thì tôi tôi hướng dẫn học sinh lập sơ đồ tư duy từ các gợi ý … Dựa vào sơ đồ tư duy, các em sẽ viết được một đoạn văn khoảng 7- 10 câu, mỗi câu

là một nhánh của sơ đồ Ở bước này, giáo viên chỉ hướng dẫn, gợi ý còn lại để học sinh tự tư duy và viết

Ví dụ:

Sơ đồ tư duy giúp chúng ta dễ dàng hình dung cấu trúc bài văn, hiểu rõ mạch

tư duy viết trong đoạn văn, nắm được trình tự, và nhanh chóng học được cách viết đoạn văn theo yêu cầu Đó cũng là một trong những hình thức dạy học phát huy tính tích cực của học sinh trong học tập mà tôi rất tâm đắc Song để làm

Kể về

một

ngày

hội mà

em biết

a Đó là hội gì? Được

tổ chức khi nào ? Ở đâu ?

VD : Hội đua thuyền đầu xuân trên sông Trà Lý

b Mọi người xem hội như thế nào ?

Đông vui, nhộn nhịp, hào hứng, háo hức

c Hội bắt đầu bằng những hoạt động gì ?

Tiếng trống, tiếng còi của Ban tổ chức

d Hội có những trò vui gì ?

Thuyền đua hối hả, các VDV vạm vỡ, tiếng cổ vũ

e Cảm tưởng của em

về ngày hội đó ?

Em rất thích hội và khâm phục các vận động viên

7

Trang 8

được điều này với học sinh lớp 3 quả không dễ nên tôi cũng sẽ từng bước thử nghiệm áp dụng sơ đồ tư duy trong mỗi tiết học ở các môn học khác chứ không riêng gì với phân môn Tập làm văn Nó sẽ là nền tảng để các em học ở các lớp trên một cách dễ dàng hơn

2 Hướng dẫn học sinh nắm được trình tự các bước khi viết một đoạn văn.

- Khi viết đoạn văn học sinh thường viết lộn xộn, nghĩ gì viết nấy Để khắc phục tình trạng này tôi đã hướng dẫn học sinh hình thành đoạn văn theo trình tự các phần như sau:

+ Phần mở đầu: Giới thiệu đối tượng cần viết (có thể diễn đạt bằng một câu) + Phần phát triển đoạn văn: Kể về đối tượng: Có thể dựa theo gợi ý (mỗi gợi ý có thể diễn đạt bằng 2 – 3 câu tùy theo năng lực học sinh)

+ Phần kết thúc: Thường là nói về tình cảm, suy nghĩ, mong ước của em về đối tượng được nêu trong bài hoặc nêu ý nghĩa, ích lợi của đối tượng đó với cuộc sống, với mọi người (có thể diễn đạt bằng 1,2 câu)

Ví dụ: Hãy kể về một người lao động trí óc mà em biết

Như vậy, sau khi tìm hiểu đề bài qua các câu hỏi gợi ý theo sơ đồ trên thì tôi sẽ cho học sinh xác định rõ câu hỏi gợi ý nào thuộc phần mở đoạn, câu hỏi gợi ý nào thuộc phần thân đoạn và câu hỏi gợi ý nào thuộc phần kết đoạn? Tôi luôn nhắc nhở học sinh khi viết đoạn văn, dù hay hay chưa hay nhưng bố cục của đoạn văn phải đủ 3 phần thì mới tạo được một đoạn văn trọn vẹn

3 Hướng dẫn học sinh tìm ý cho bài văn.

- Do đặc điểm tâm sinh lí lứa tuổi của học sinh khác nhau nên đa số bài văn của học sinh lớp 3 có ý tưởng chưa phong phú, sáng tạo, các em thường

4 Tình cảm suy nghĩ

của em về người đó ?

1 Người đó là ai ? Làm nghề gì ?

3 Người đó làm việc

như thế nào ?

2 Hằng ngày, người

đó làm những việc gì

gì ?g ggìgìggi giggì ? NGƯỜI LAO ĐỘNG

TRÍ ÓC

Trang 9

trình bày hạn hẹp trong khuôn khổ nhất định Giáo viên cần giúp các em tìm ý

để thực hành một bài văn nói- viết hoàn chỉnh về nội dung với những ý tưởng trong sáng giàu hình ảnh và ngây thơ chân thật Để thực hiện được điều đó, giáo viên cần hướng dẫn học sinh hồi tưởng, liên tưởng về các sự vật, các hoạt động

Từ đó học sinh dễ dàng tìm ý và diễn đạt bài văn rõ ràng, mạch lạc hơn

a.Hướng dẫn học sinh biết hồi tưởng:

- Trong một tiết Tập làm văn với một đề tài nào đó, học sinh có thể quên một số hình ảnh, sự việc… mà các em đã quan sát hoặc tìm hiểu qua thực tế Giáo viên khơi gợi cho học sinh nhớ lại bằng những câu hỏi nhỏ,hình ảnh thực

tế có liên quan đến yêu cầu bài tập, phù hợp với thực tế và trình độ học sinh để các em dễ dàng diễn đạt được đúng yêu cầu của đề bài

- Ví dụ: Ở tuần 22 bài “Kể về một người lao động trí óc”, giáo viên gợi ý

người đó làm nghề gì? Bao nhiêu tuổi? Công việc em thường thấy là gì?

a. Hướng dẫn học sinh tưởng tượng, liên tưởng dựa trên kết quả đã quan sát:

- Nếu trong một bài Tập làm văn, học sinh chỉ biết diễn đạt nội dung bằng những gì đã quan sát; hoặc thực hành một cách chính xác theo các gợi ý; bài làm như thế tuy đủ ý nhưng không có sức hấp dẫn, lôi cuốn người đọc, người nghe

Vì vậy, với từng đề bài giáo viên nên có những câu hỏi gợi ý, khuyến khích học sinh liên tưởng, tưởng tượng thêm những chi tiết một cách tự nhiên, chân thật và hợp lí qua việc sử dụng các biện pháp so sánh, nhân hoá, để từ đó học sinh biết trình bày bài văn giàu hình ảnh, sinh động, sáng tạo

Ví dụ: Ở tuần 29 : Kể lại một trận thi đấu thể thao

- Xem ảnh chụp buổi thi chạy đó, có học sinh nói:“Các vận động viên bắt

đầu xuất phát với các bước chạy khỏe khoắn.” Cũng có học sinh khác nói:“Khi gần tới đích, các vận động viên dồn sức vào các bước chạy cuối cùng để cán đích.”

Như vậy, cùng một tấm ảnh chụp nhưng mỗi học sinh lại có các cách liên tưởng khác nhau Vậy để hướng dẫn học sinh tưởng tượng, liên tưởng có hiệu quả thì tôi thực hiện các bước sau:

- Cho học sinh quan sát tranh ảnh mà các em sưu tầm được

9

Trang 10

- Trước khi học, tôi giao bài về nhà các em có thể xem một số trận thi đấu thể thao và có thể kể lại cho các bạn nghe

- Tiết học nên sử dụng máy chiếu để cả lớp cùng được xem một số trận thi đấu thể thao nào đó

Tất cả những điều trên đều là những yếu tố rất quan trọng để các em hứng thú với tiết học Từ đó khích lệ trí tưởng tượng của các em bằng các câu hỏi gợi ý sẽ giúp các em lĩnh hội kiến thức một cách chủ động, chân thật và sinh động

4 Hướng dẫn học sinh diễn đạt khi nói và viết

a) Rèn kĩ năng nói cho học sinh:

- Do khả năng sử dụng từ ngữ và giao tiếp của các em trước đám đông chưa được tự tin, mạch lạc, còn nhiều sai sót về kĩ năng nói như: nói nhỏ, ấp úng, ngọng, nói lặp từ, nói ê a…Các ý văn rời rạc, không thoát ý khiến cho người nghe cảm thấy khó chịu, không hiểu được nội dung văn bản Vì vậy tôi yêu cầu học sinh trình bày bài nói theo các bước phù hợp với từng đối tượng: + Bước 1: Nói dưới hình thức trả lời theo các câu hỏi gợi ý (dành cho những học sinh trung bình)

+ Bước 2: Nói gộp từ 2 – 3 câu hỏi một lúc, có liên kết các câu với nhau (dành cho học sinh khá)

+ Bước 3: Nói thành bài văn (dành cho học sinh giỏi)

- Khi học sinh nói tôi nhắc các em khác tập trung theo dõi, lắng nghe, tôn trọng người nói để cho bạn trình bày không bị mất bình tĩnh, nói được liền mạch, học sinh có thể theo dõi được lời nói của bạn trên cơ sở đó các em phát hiện ra những lỗi sai để sửa giúp bạn Ngoài ra khi bạn nói thì các em có thể học tập những câu văn hay, sáng tạo để vận dụng vào bài làm của mình

b) Rèn kĩ năng viết cho học sinh:

- Nói được là sẽ viết được Tuy nhiên giữa nói và viết một văn bản cũng có

sự khác nhau Khi nói, học sinh có thể được phép ê a, sử dụng các từ :“à, ờ, thì,

là, mà…”nhưng khi viết không cho phép học sinh sử dụng các từ như vậy, mỗi

câu văn cần phải rõ ý, đủ thành phần chính của câu

Ngày đăng: 21/10/2021, 14:51

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w