Thực tế cho thấy, việc tổ chức thực hiện chính sách, quy định pháp luật quản lý viên chức ngành giáo dục tiểu học thời gian qua trong cả nước nói chung, ở huyện Thanh Trì nói riêng đã đạ
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ NỘI VỤ
LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN LÝ CÔNG
Hà Nội – 2021
Trang 2BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ NỘI
Chuyên ngành: Quản lý công
Mã số: 8 34 04 03
LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN LÝ CÔNG
Người hướng dẫn khoa học: TS Bùi Thị Thanh Thúy
Hà Nội – 2021
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu và kết quả trình bày trong luận văn là trung thực và chưa từng được ai công bố trong bất cứ công trình nào khác, các thông tin trích dẫn trong luận văn đều đã được chỉ rõ nguồn gốc
Hà Nội, ngày…….tháng…….năm 2021
Người cam đoan
Lê Thị Ngọc Liên
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Trước tiên, tôi xin bày tỏ sự cảm ơn sâu sắc đến người hướng dẫn khoa học TS Bùi Thị Thanh Thuý đã tận tình hướng dẫn và đóng góp nhiều ý kiến khoa học trong quá trình nghiên cứu và thực hiện luận văn này
Tôi cũng xin chân thành cảm ơn Ban Giám đốc Học viện Hành chính Quốc gia, Ban quản lý đào tạosau đại học cùng toàn thể các thầy, cô giáo đã nhiệt tình giảng dạy và tạo điều kiện cho tôi hoàn thành nhiệm vụ học tập của mình
Cuối cùng tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành nhất tới cơ quan, gia đình, bạn bè và đồng nghiệp Sự động viên giúp đỡ của thầy, cô giáo, cơ quan, gia đình, bạn bè và đồng nghiệp là nguồn động viên quý báu cho tôi hoàn thành luận văn này
Hà Nội, ngày…….tháng….….năm 2021
Người cam đoan
Lê Thị Ngọc Liên
Trang 5MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1 CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA TỔ CHỨC THỰC HIỆN PHÁP LUẬT VỀ QUẢN LÝ VIÊN CHỨC GIÁO DỤC TIỂU HỌC 9 1.1 Quan niệm tổ chức thực hiện pháp luật về quản lý viên chức giáo dục tiểu học 9
1.1.1 Quan niệm viên chức và viên chức giáo dục tiểu học 91.1.2 Quan niệm quản lý viên chức giáo dục tiểu học 131.1.3 Quan niệm tổ chức thực hiện pháp luật về quản lý viên chức giáo dục tiểu học 17
1.2 Pháp luật về quản lý viên chức giáo dục tiểu học và nội dung tổ chức thực hiện pháp luật về quản lý viên chức giáo dục tiểu học 18
1.2.1 Pháp luật về quản lý viên chức giáo dục tiểu học 181.2.2 Nội dung tổ chức thực hiện pháp luật về quản lý viên chức giáo dục tiểu học 22
1.3 Các yếu tố tác động đến tổ chức thực hiện pháp luật về quản lý viên chức giáo dục tiểu học 26
1.3.1 Xu hướng đổi mới tổ chức, quản lý đơn vị sự nghiệp công lập 261.3.2 Mức độ tự chủ của các đơn vị sự nghiệp công lập 27
Tiểu kết chương 1 29 CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG TỔ CHỨC THỰC HIỆN PHÁP LUẬT VỀ QUẢN LÝ VIÊN CHỨC GIÁO DỤC TIỂU HỌC TRÊN ĐỊA BÀN HUYỆN THANH TRÌ, THÀNH PHỐ HÀ NỘI 30 2.1 Tổng quan về huyện Thanh Trì, thành phố Hà Nội và đội ngũ viên chức giáo dục tiểu học trên địa bàn huyện Thanh Trì, thành phố Hà Nội 30
2.1.1 Khái quát tình hình tự nhiên - xã hội huyện Thanh Trì, thành phố
Hà Nội 302.1.2 Khái quát tình hình giáo dục huyện Thanh Trì, thành phố Hà Nội 32
2.2 Khái quát tình hình tổ chức thực hiện pháp luật về quản lý viên chức giáo dục tiểu học trên địa bàn huyện Thanh Trì, thành phố Hà Nội 36
2.2.1 Lập kế hoạch, ban hành văn bản, chính sách để triển khai pháp luật
về quản lý viên chức ngành giáo dục 362.2.2 Xây dựng tổ chức bộ máy thực hiện pháp luật về quản lý viên chức giáo dục tiểu học 39
2.2.3 Triển khai thực hiện các nội dung quản lý viên chức giáo dục
tiểu học 41
Trang 62.2.4 Tuyên truyền phổ biến pháp luật để nâng cao nhận thức của các
viên chức giáo dục tiểu học 45
2.2.5 Tiến hành kiểm soát và xử lý vi phạm về quản lý viên chức giáo dục tiểu học 47
2.2.6 Sơ kết, tổng kết việc thực hiện pháp luật quản lý viên chức giáo dục tiểu học 47
2.3 Đánh giá chung 48
2.3.1 Ưu điểm và nguyên nhân 48
2.3.2 Hạn chế và nguyên nhân 49
CHƯƠNG 3: QUAN ĐIỂM VÀ GIẢI PHÁP TĂNG CƯỜNG TỔ CHỨC THỰC HIỆN PHÁP LUẬT VỀ QUẢN LÝ VIÊN CHỨC GIÁO DỤC TIỂU HỌC TRÊN ĐỊA BÀN HUYỆN THANH TRÌ, THÀNH PHỐ HÀ NỘI 57
3.1 Bối cảnh và quan điểm tăng cường tổ chức thực hiện pháp luật về quản lý viên chức giáo dục tiểu học trên địa bàn huyện Thanh Trì, thành phố Hà Nội 57
3.1.1 Bối cảnh tác động đến việc tăng cường tổ chức thực hiện pháp luật về quản lý viên chức giáo dục tiểu học 57
3.1.2 Quan điểm tăng cường tổ chức thực hiện pháp luật về quản lý viên chức giáo dục tiểu học 59
3.2 Giải pháp tăng cường tổ chức thực hiện pháp luật về quản lý viên chức giáo dục tiểu học trên địa bàn huyện Thanh Trì, thành phố Hà Nội 61
3.2.1 Hoàn thiện chính sách, pháp luật về tổ chức thực hiện pháp luật quản lý viên chức giáo dục tiểu học 61
3.2.2 Đổi mới về tổ chức, nhân sự 73
3.2.3 Nâng cao nhận thức và tăng cường trách nhiệm người đứng đầu trong tổ chức thực hiện quản lý viên chức giáo dục tiểu học 78
Tiểu kết chương 3 80
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 83
PHỤ LỤC 876
Trang 7DANH MỤC BẢNG
Bảng 2.1 Số lượng đội ngũ viên chức giáo dục Huyện Thanh Trì 43
Trang 9MỞ ĐẦU 1.Tính cấp thiết của đề tài
Sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn quan tâm sâu sắc đến công tác cán
bộ, tư tưởng của Người về công tác cán bộ là di sản vô cùng quý báu của Đảng
ta Chủ tịch Hồ Chí Minh đánh giá vai trò quan trọng của cán bộ trong thực hiện công việc cách mạng Người khẳng định: “Cán bộ là cái gốc của mọi công việc” [5;tr.452], “Muôn việc thành công hay thất bại đều do cán bộ tốt hoặc kém” [5;tr.487]
Viên chức nói chung và viên chức ngành giáo dục Việt Nam nói riêng có vai trò quan trọng trong sự nghiệp đào tạo các nguồn nhân lực phục vụ cho việc phát triển đất nước Trong đời sống xã hội của bất kỳ một quốc gia nào, giáo dục và đào tạo là lĩnh vực có vai trò quan trọng Đặc biệt trong nền kinh
tế tri thức hiện nay, tri thức là tài sản quý giá nhất của con người và xã hội
Để có một nền kinh tế tri thức tiên tiến hiện đại, để có nguồn nhân lực chất lượng cao do rất nhiều yếu tố khác nhau trong đó trước hết phụ thuộc vào chất lượng viên chức ngành giáo dục - nhân tố trồng người
Từ nhận thức đầy đủ vai trò quan trọng của viên chức ngành giáo dục, Nhà nước đã ban hành nhiều chính sách, pháp luật để quản lý viên chức Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII Đảng Cộng sản Việt Nam đã xác định:
“Tạo đột phá trong đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo, phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao, thu hút và trọng dụng nhân tài”; “ Phát triển nguồn nhân lực, nhất là nguồn nhân lực chất lượng cao; ưu tiên phát triển nguồn nhân lực cho công tác lãnh đạo, quản lý và các lĩnh vực then chốt trên cơ sở nâng cao, tạo bước chuyển biến mạnh mẽ, toàn diện, cơ bản về chất lượng giáo dục, đào tạo gắn với cơ chế tuyển dụng, sử dụng, đãi ngộ nhân tài, đẩy mạnh nghiên cứu, chuyển giao, ứng dụng và phát triển mạnh khoa học - công nghệ, đổi mới sáng tạo; khơi dậy khát vọng phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc, phát huy giá trị văn hoá, sức mạnh con người Việt Nam, tinh thần đoàn kết, tự hào
Trang 10dân tộc trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc” [4]
Trong hệ thống giáo dục quốc dân, giáo dục tiểu học là cấp học nền tảng, đặt cơ sở ban đầu cho việc hình thành và phát triển toàn diện nhân cách con người, đặt nền móng vững chắc cho giáo dục phổ thông và cho toàn bộ hệ thống giáo dục quốc dân Trong chiến lược phát triển giáo dục, phát triển nguồn nhân lực của mỗi quốc gia, vấn đề đầu tiên bao giờ cũng nói tới giáo dục tiểu học, vì đó là nền tảng cơ bản của hệ thống giáo dục quốc dân, là cấp học đầu tiên, đặt cơ sở cho sự phát triển nhân cách toàn diện cho trẻ, đặt nền móng vững chắc cho giáo dục phổ thông cũng như toàn bộ hệ thống giáo dục quốc dân và chính nó sẽ là cơ sở đem đến chất lượng cho cả hệ thống giáo dục Vì vậy quản lí viên chức giáo dục tiểu học chính là nhân tố quan trọng góp phần quyết định trong việc thực hiện hoạt động dạy và học có chất lượng, thực hiện phổ cập giáo dục tiểu học Như vậy, với mục đích nâng cao chất lượng, hiệu quả giáo dục tiểu học, trước hết chúng ta cần phải tập trung chăm
lo, nâng cao chất lượng viên chức giáo dục tiểu học
Thực tế cho thấy, việc tổ chức thực hiện chính sách, quy định pháp luật quản lý viên chức ngành giáo dục tiểu học thời gian qua trong cả nước nói chung, ở huyện Thanh Trì nói riêng đã đạt được các thành tựu, các kết quả đáng ghi nhận Huyện Thanh Trì là một huyện thuộc Thành phố Hà Nội, nằm dọc phía bờ nam của sông Hồng Phía Đông giáp sông Hồng, phía Nam giáp huyện Thương Tín, phía Tây giáp quận Hà Đông, phía Bắc giáp quận Hoàng Mai.Huyện Thanh Trì có diện tích tự nhiên 6.317,27 ha diện tích tự nhiên và 274.347 nhân khẩu Với điều kiện thuận lợi là một trong những huyện được thành lập từ lâu thuộc thủ đô Hà Nội – trung tâm chính trị, văn hoá, giáo dục, kinh tế của cả nước, đội ngũ viên chức giáo dục tiểu học huyện Thanh Trìcó trình độ chuyên môn, chuyên môn sâu được quản lý một cách khoa học đã đáp ứng được với yêu cầu, nhiệm vụ trong tình hình mới
Song bên cạnh các thành tựu, kết quả đã thu được còn bộc lộ các hạn chế
Trang 11bất cập như vị trí việc làm chưa phù hợp với trình độ chuyên môn được đào tạo, chế độ, chính sách với đội ngũ viên chức chưa đảm bảo, hoạt động đào tạo, bồi dưỡng nhiều khi mang tính hình thức… Nguyên nhân của các hạn chế bất cập có nhiều nhưng chủ yếu do quy định và tổ chức thực hiện pháp luật về quản lý viên chức ngành giáo dục còn có những hạn chế bất cập, ảnh hưởng trực tiếp đến hiệu quả, động lực làm việc của viên chức giáo dục nói chung trong đó có viên chức ngành giáo dục huyện Thanh Trì, thành phố Hà Nội
Xuất phát từ những lý do đó tác giả đã lựa chọn đề tài: “Tổ chức thực hiện
pháp luật về quản lý viên chức giáo dục tiểu học trên địa bàn huyện Thanh Trì, thành phố Hà Nội” để triển khai nghiên cứu đề tài luận văn thạc sỹ Quản lý công
2.Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài
Nghiên cứu về tổ chức thực hiện pháp luật nói chung và tổ chức thực hiện pháp luật về quản lý viên chức giáo dục tiểu học đã có nhiều công trình nghiên cứu của các tác giả đề cập với các góc độ khác nhau Có thể xem xét:
Một là,những công trình nghiên cứu về tổ chức thực hiện pháp luật ở các lĩnh vực khác nhau:
Nguyễn Hữu Tiến (2017), Tổ chức thực hiện pháp luật về tiếp công dân
và xử lý đơn thư khiếu nại tố cáo, kiến nghị phản ánh – từ thực tiễn thành phố
Đà Nẵng, Luận văn thạc sỹ Luật học, Học viện Khoa học xã hội[19]
Nguyễn Văn Quảng (2018), Tổ chức thực hiện pháp luật về giải quyết khiếu nại trong lĩnh vực đất đai ở đô thị - từ thực tiễn quận Bắc Từ Liêm, thành phố Hà Nội, Luận văn thạc sỹ Luật Hiến pháp - Luật Hành chính, Học
viện Hành chính Quốc gia [16]
Phạm Thị Liên (2018), Tổ chức thực hiện pháp luật về hộ tịch từ thực tiễn huyên Kim Động tỉnh Hưng Yên, Luận văn thạc sỹ Luật Hiến pháp - Luật
Hành chính, Học viện Hành chính Quốc gia [9]
Hai là, những công trình nghiên cứu về viên chức và quản lý viên chức Nguyễn Thu Hằng (2013), Quản lý nhà nước đối với viên chức y tế
Trang 12ngành xây dựng ở Việt Nam hiện nay, Luận văn thạc sỹ Quản lý công, Học
viện Hành chính [6] Luận văn đã hệ thống hóa cơ sở lý luận về VC y tế nói chung và VC y tế ngành xây dựng nói riêng: Sự cần thiết, nội dung, phương pháp, công cụ của QLNN đối với VC y tế; Tổng kết kinh nghiệm của ngành khác trong quản lý VC y tế đưa ra những bài học cho ngành xây dựng Trên
cơ sở lý luận và những phân tích về thực trạng QLNN đối với đội ngũ VC y tế ngành xây dựng từ đó chỉ ra những kết quả đạt được, những hạn chế, yếu kém, nguyên nhân của công tác quản lý đội ngũ VC y tế và đề ra phương hướng và hệ thống giải pháp tăng cường QLNN đối với VC y tế ngành xây dựng trong giai đoạn tiếp theo
Nguyễn Ngọc Thuý (2018), Quản lý viên chức ngành y tế - từ thực tiễn bệnh viện Phụ sản Trung ương, Luận văn thạc sỹ Quản lý công, Học viện
Hành chính Quốc gia [17] Luận văn đã nghiên cứu cơ sở lý luận và thực trạng từ đó đề xuất các giải pháp góp phần tăng cường quản lý viên chức ngành y tế tại bệnh viện Phụ sản Trung ương Qua việc nghiên cứu luận văn giúp đề tài công cụ lý luận về viên chức và quản lý viên chức
Ba là, những công trình nghiên cứu về quản lý viên chức giáo dục và tổ chức thực hiện pháp luật về quản lý viên chức giáo dục
"Quản lý nhà nước về giáo dục và đào tạo – Thực trạng và giải pháp hoàn thiện" của tác giả Hoàng Thị Tú Oanh (Luận văn thạc sỹ Quản lý hành chính công, 2007)[12] Luận văn đã nêu các vấn đề lý luận về giáo dục và đào tạo, nói lên thực trạng giáo dục Việt Nam Sau đó đưa ra các giải pháp nhằm hoàn thiện GD&ĐT nước ta
Khắc Thị Chi (2013): “Quản lý đội ngũgiáo viên trường tiểu học Uy Nỗ -Đông Anh dựa vào chuẩn nghề nghiệp giáo viên tiểu học”, trường Đại học
giáo dục, Đại họcQuốc gia Hà Nội[2] Luận văn đã hệ thống hóa những vấn
đề lý luận cơ bản về quản lý đội ngũ giáo viên dựa vào chuẩn, hai là khảo sát,
Trang 13phân tích, đánh giá thực trạng quá trình quản lý đội ngũ giáo viên dựa vào chuẩn ở trường tiểu học Uy Nỗ - Đông Anh từ năm 2010 đến nay, ba là đề xuất biện pháp quản lý đội ngũ giáo viên trường Tiểu học Uy Nỗ - Đông Anh dựa vào chuẩn trong giai đoạn hiện nay
Trần Văn Long (2018), Quản lý nhà nước về viên chức giáo dục từ thực tiễn quận Lê Chân, thành phố Hải Phòng Luận văn thạc sỹ Luật Hiến pháp –
Luật Hành chính, Học viện Khoa học xã hội[10] Luận văn đã nghiên cứu những vấn đế lý luận và thực tiễn về QLNN về viên chức giáo dục quận Lê Chân, thành phố Hải Phòng từ đó đề xuất các giải pháp tăng cường QLNN về viên chức giáo dục
Lê Thị Mai Lam (2019) “Quản lý nhà nước về giáo dục Tiểu học trên địa bàn huyện Krông Buk, tỉnh Đăk Lăk” Luận văn Thạc sỹ chuyên ngành Quản lý công, Học viện Hành chính Quôc gia[7] Luận văn đã xác định những thành tựu
và hạn chế trong QLNN về giáo dục Tiểu học trên địa bàn huyện Krông Buk, tỉnh Đăk Lăk, luận văn đề xuất những giải pháp nhằm đổi mới và hoàn thiện hơn nữa công tác QLNN về giáo dục Tiểu học trên địa bàn huyện
Luận văn chuyên ngành Quản lý công, Học viện Hành chính Quốc gia:
“Quản lý nhà nước về phát triển đội ngũ giáo viên các trường tiểu họctrên địa bàn huyện Đan Phượng, thành phố Hà Nội” của tác giả Nguyễn
ThịHuyền Trang [20] Trên cơ sở nghiên cứu thực trạng QLNN về phát triển ĐNGV các trường tiểu học trên địa bàn, tác giả đã xác định được hạn chế và nguyên nhân của những hạn chế trong QLNN về phát triển ĐNGV các trường tiểu học trên địa bàn Căn cứ vào đó, tác giả đã đề xuất được một số giải pháp góp phần khắc phục những hạn chế và nâng cao hiệu quả QLNN về phát triển ĐNGV tiểu học tại huyện Đan Phượng
Nguyễn Thị Thuý (2019), Tổ chức thực hiện pháp luật về quản lý viên chức ngành giáo dục – từ thực tiễn quận Bắc Từ Liêm, thành phố Hà Nội,
Trang 14Luận văn thạc sỹ Quản lý công, Học viện Hành chính Quốc gia[18] Luận văn
đã phân tích cơ sở lý luận và đánh giá thực trạng của tổ chức thực hiện pháp luật về quản lý viên chức ngành giáo dục trên địa bàn quận Bắc Từ Liêm, thành phố Hà Nội, Luận văn đề xuất các giải pháp về bảo đảm tổ chức thực hiện pháp luật về quản lý viên chức ngành giáo dục trên địa bàn quận Bắc Từ Liêm, thành phố Hà Nội Mặc dù khác biệt về địa bàn, nhưng khung lý thuyết của luận văn là một trong những cơ sở để đề tài tham khảo
Nhìn chung những công trình nghiên cứu trên đều có giá trị tham khảo nhất định đối với tác giả luận văn ở các nội dung có liên quan đến đề tài Tuy nhiên qua khảo sát, nghiên cứu trực diện về tổ chức thực hiện pháp luật về quản lý viên chức ngành giáo dục trên địa bàn huyện Thanh Trì, thành phố Hà Nội dưới góc độ Luận văn thạc sỹ Quản lý côngthì lại không có công trình nào kể trên đề cập đến
3.Mục đích và nhiệm vụ của luận văn
3.1.Mục đích của luận văn
Từ sự phân tích cơ sở lý luận và đánh giá thực trạng củatổ chức thực hiện pháp luật về quản lý viên chức ngành giáo dục trên địa bàn huyện Thanh Trì, thành phố Hà Nội, luận văn đề xuất các giải pháp về bảo đảmtổ chức thực hiện pháp luật về quản lý viên chức ngành giáo dục trên địa bàn huyện Thanh Trì, thành phố Hà Nội
3.2.Nhiệm vụ của luận văn
-Phân tích khung lý thuyết liên quan đến đề tài thông qua việc giải mã các khái niệm, đặc điểm viên chức và viên chức ngành giáo dục; Phân tích và đưa ra khái niệm, đặc điểm, vai trò, nội dung, chủ thể tổ chức thực hiện pháp luật về quản lý viên chức ngành giáo dục
-Nghiên cứu, đánh giáthực trạng tổ chức thực hiện pháp luật về quản lý viên chức giáo dục tiểu học trên địa bàn huyện Thanh Trì, thành phố Hà Nội;
Trang 15chỉ ra những kết quả đạt được, hạn chế và nguyên nhân của thực trạng
-Phân tích các quan điểm và đề xuất các giải pháp nhằm bảo đảmtổ chức thực hiện pháp luật về quản lý viên chức giáo dục tiểu học trên địa bàn huyện Thanh Trì, thành phố Hà Nội
4.Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của luận văn
4.1.Đối tượng nghiên cứu của luận văn
Luận văn nghiên cứu tổ chức thực hiện pháp luật về quản lý viên chức giáo dục tiểu học
5 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu của luận văn
5.1 Phương pháp luận của luận văn
Luận văn được nghiên cứu dựa trên cơ sở lý luận của chủ nghĩa Mác - Lênin
và tư tưởng Hồ Chí Minh và các quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam về lý luận chung về nhà nước và pháp luật nói chung và vấn đề viên chức nói riêng
5.2.Phương pháp nghiên cứu của luận văn
Các phương pháp tác giả sử dụng trong luận văn gồm: Phương pháp phân tích, tổng hợp, diễn dịch, quy nạp, phương pháp lịch sử, phương pháp hệ thống, phương pháp so sánh, phương pháp xã hội học
6.Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn
-Kết quả nghiên cứu của luận văn bổ sung quan trọng vào sự phát triển của khoa học quản lý công, góp phần nâng cao nhận thức lý luận về tổ chức thực hiện pháp luật và tổ chức thực hiện pháp luật về quản lý viên chức giáo
Trang 16dục tiểu học
-Luận văn có thể làm tài liệu tham khảo cho các nhà nghiên cứu, giảng dạy, những người làm công tác thực tế và sinh viên, học viên cơ sở đào tạo cử nhân luật, cử nhân hành chính, các trường đào tạo, bồi dưỡng cán bộ của Đảng và Nhà nước
7.Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, nội dung của luận văn gồm 3 chương:
Chương 1: Cơ sở lý luận của tổ chức thực hiện pháp luật về quản lý viên chức giáo dục tiểu học
Chương 2: Thực trạng tổ chức thực hiện pháp luật về quản lý viên chức giáo dục tiểu học trên địa bàn huyện Thanh Trì, thành phố Hà Nội
Chương 3: Quan điểm và giải pháp bảo đảm tổ chức thực hiện pháp pháp luật về quản lý viên chức giáo dục tiểu học trên địa bàn huyện Thanh Trì, thành phố Hà Nội
Trang 17CHƯƠNG 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA TỔ CHỨC THỰC HIỆN PHÁP LUẬT VỀ
QUẢN LÝ VIÊN CHỨC GIÁO DỤC TIỂU HỌC
1.1 Quan niệm tổ chức thực hiện pháp luật về quản lý viên chức giáo dục tiểu học
1.1.1 Quan niệm viên chức và viên chức giáo dục tiểu học
Từ trước đến nay đã có nhiều quan niệm khác nhau về khái niệm viên
chức Theo Từ điển Tiếng Việt của Nhóm việt ngữ: “Viên chức là một từ Hán
- Việt, theo nguyên nghĩa của từ này, thì viên là người giữ một chức vụ, chức
là các việc về phần mình, viên chức là người giữ một chức nghiệp nhất định, thường là trong bộ máy chính quyền” [8] Theo từ điển Hán - Việtcủa Đào Duy Anh, thì viên chức là “người làm việc ở công thự, ở học hiệu hoặc ở các
cơ quan công thương” [1]
Ở Việt Nam, một thời gian dài, chúng ta quan niệm khái niệm “cán bộ, công nhân, viên chức nhà nước” được dùng để chỉ tất cả những người làm việc trong các cơ quan hành chính, đơn vị sự nghiệp công lập, các tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội, các nông, lâm, trường quốc doanh
Khái niệm về viên chức dần được hình thành và bước đầu có sự phân biệt với các đối tượng khác kể từ khi Pháp lệnh cán bộ công chức 1998 (sửa đổi, bổ sung năm 2003) Tuy nhiên, sự phân định vẫn chưa làm rõ được thuật ngữ “công chức”, “viên chức” nên những vấn đề liên quan đến cơ chế quản lý, tuyển dụng,
bổ nhiệm, đào tạo, bồi dưỡng, tiền lương, chính sách đãi ngộ… phù hợp với tính chất hoạt động đối với từng đối tượng chưa được giải quyết triệt để
Khái niệm viên chức chỉ thực sự được làm rõ và quy định chi tiết trong Luật Viên chức được Quốc hội khóa XII thông qua ngày 15/11/2010 và có hiệu lực
thi hành từ ngày 01/01/2012 ( sửa đổi, bổ sung năm 2019) cụ thể: “Viên chức là
Trang 18công dân Việt Nam được tuyển dụng theo vị trí việc làm, làm việc tại đơn vị sự nghiệp công lập theo chế độ hợp đồng làm việc, hưởng lương từ quỹ lương của đơn vị sự nghiệp công lập theo quy định của pháp luật”
Theo định nghĩa nêu trên, viên chức là công dân Việt Nam tức là người
có quốc tịch Việt Nam; Làm việc trong các đơn vị sự nghiệp công lập; Có trình độ chuyên môn, năng lực phù hợp với vị trí việc làm Như vậy một trong những điểm đặc thù của viên chức là làm việc tại các đơn vị sự nghiệp công
lập Theo đó, "Đơn vị sự nghiệp công lập là tổ chức do cơ quan có thẩm quyền của Nhà nước; Tổ chức chính trị; Tổ chức chính trị - xã hội thành lập theo quy định của pháp luật, có tư cách pháp nhân, cung cấp dịch vụ công, phục vụ quản lý Nhà nước"
Luật Viên chức cũng đã làm rõ khái niệm viên chức, phân biệt viên chức với cán bộ và công chức, xác định rõ các vấn đề chung nhất trong hoạt động nghề nghiệp của viên chức: Các nguyên tắc cơ bản trong hoạt động nghề nghiệp của viên chức; Các nguyên tắc quản lý viên chức phù hợp với thể chế chính trị của Việt Nam và tính chất, đặc điểm lao động của viên chức.Luật Viên chức đã làm rõ các khái niệm như vị trí việc làm, tuyển dụng, hợp đồng
làm việc, đơn vị sự nghiệp công lập, quy tắc ứng xử, đặc biệt là “chức danh nghềnghiệp” của viên chức để phân biệt với “ngạch” của cán bộ, công chức
Để làm rõ khái niệm viên chức giáo dục tiểu học, cần tìm hiểu về các thuật ngữ “giáo dục” và “giáo dục tiểu học”
Bất kỳ một xã hội nào muốn tồn tại và phát triển đều phải tổ chức thực hiện các hoạt động giáo dục liên tục đối với các thế hệ con người Giáo dục là nhu cầu tất yếu của xã hội loài người, một lịch sử khách quan không thể tách rời của lịch sử loài người Những kinh nghiệm mà loài người tích lũy trong quá trình phát triển lịch sử được lưu giữ từ thế hệ này sang thế hệ khác, nhằm duy trì và phát triển xã hội loài người Sự truyền thụ lại kiến thức đó được gọi là giáo dục
Trang 19Theo từ điển Tiếng Việt, "Giáo dục là hoạt động nhằm tác động một cách có hệ thống đến sự phát triển tinh thần, thể chất của đối tượng nào đó, làm cho đối tượng ấy dần dần có được những phẩm chất và năng lực như yêu cầu đề ra”[8]
GS.TS Hà Thế Ngữ cho rằng: “Giáo dục được hiểu là quá trình đào tạo con người một cách có mục đích, nhằm chuẩn bị cho con người tham gia đời sống xã hội, tham gia lao động sản xuất, được thực hiện bằng tổ chức việc truyền thụ và lĩnh hội những kinh nghiệm lịch sử - xã hội của loài người, cùng với sự tác động một cách có hệ thống đến sự phát triển tinh thần, thể chất làm cho đối tượng dần dần có được những phẩm chất và năng lực như yêu cầu đề ra” [11]
Như vậy, có rất nhiều cách tiếp cận và định nghĩa khác nhau về giáo dục, trong khuôn khổ luận văn này, giáo dụcđược hiểu là quá trình hình thành và phát triển nhân cách dưới ảnh hưởng của tất cả các hoạt động từ bên ngoài, được thực hiện một cách có ý thức của con người trong nhà trường, gia đình
và ngoài xã hội, là hoạt động có mục đích, có định hướng, có tổ chức, có nội dung, yêu cầu nhằm đào tạo thế hệ trẻ thành lớp người kế tiếp lực lượng lao động mới có phẩm chất chính trị, đạo đức, có trình độ văn hóa, khoa học, kỹ thuật, có năng lực đảm đương và hoàn thành các nhiệm vụ xây dựng, bảo vệ
và phát triển đất nước trong tương lai Giáo dục là quá trình tiếp thu và biến đổi sức mạnh bản chất của con người được đối tượng hóa trong nền văn hóa -
xã hội
Giáo dục tiểu học là quá trình trang bị kiến thức cơ bản, thông thường cần nhất cần có về khoa học xã hội, khoa học tự nhiên…đối với mỗi con người Tuy là kiến thức tiểu học nhưng nó lại bao gồm trong đó nhiều lĩnh vực, nhiều tổ hợp kiến thức khác nhau xuất hiện trong đời sống xã hội, do đó kiến thức tiểu học là một kho kiến thức vô cùng to lớn mà không ai có thể
Trang 20nắm bắt được, nhất là trong giai đoạn hiện nay với sự phát triển như vũ bão của khoa học công nghệ và hình thành tính cách, nền móng cho sự phát triển kiến thức về sau
Giáo dục tiểu học (tiếng Anh: primary education, elementary education)
là giai đoạn thứ nhất của giáo dục bắt buộc Đây là bậc giáo dục cho trẻ em từ lớp một (5 hoặc 6 tuổi) tới hết lớp năm (hoặc lớp sáu, tùy theo các quốc gia) Đây là bậc học quan trọng đối với sự phát triển của trẻ em, thời gian hình thành nhân cách và năng lực (trí tuệ và thể chất) Ở Việt Nam, tiểu học là bậc học cao hơn mầm non và thấp hơn trung học cơ sở Trước đây ở miền Bắc (Việt Nam), tiểu học còn được gọi là phổ thông cơ sở cấp một
Theo Điều 26, Luật Giáo dục năm 2005: Giáo dục tiểu học được thực hiện trong năm năm học, từ lớp một đến lớp năm Tuổi của học sinh vào học lớp một là sáu tuổi; Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo quy định những trường hợp có thể học trước tuổi đối với học sinh phát triển sớm về trí tuệ; học ở tuổi cao hơn tuổi quy định đối với học sinh ở những vùng có điều kiện KT-XH khó khăn, học sinh người dân tộc thiểu số, học sinh bị tàn tật, khuyết tật, học sinh kém phát triển về thể lực và trí tuệ, học sinh mồ côi không nơi nương tựa, học sinh trong diện hộ đói nghèo theo quy định của Nhà nước, học sinh ở nước ngoài về nước; những trường hợp học sinh học vượt lớp, học lưu ban; việc học tiếng Việt của trẻ em người dân tộc thiểu số trước khi vào học lớp một
Theo Điều lệ trường tiểu học năm 2010: Trường tiểu học là cơ sở giáo dục đầu tiên trong hệ thống giáo dục phổ thông, có tư cách pháp nhân, có tài khoản và con dấu riêng Giáo dục tiểu học được thực hiện trong năm năm học, từ lớp một đến lớp năm Tuổi của học sinh vào học lớp một là sáu tuổi Ở tuổi này các em rất hiếu động, tò mò, tư duy và suy nghĩ còn mang tính cụ thể, trực quan, thích khen hơn chê trong các hoạt động Kinh nghiệm còn hạn
Trang 21chế Các em rất hồn nhiên, trong sáng Các em tin gần như tin tuyệt đối vào thầy cô, hoạt động chủ đạo là hoạt động học tập
Theo Điều lệ trường tiểu học năm 2010: Trường tiểu học là cơ sở giáo dục đầu tiên trong hệ thống giáo dục phổ thông, có tư cách pháp nhân, có tài khoản và con dấu riêng Giáo dục tiểu học được thực hiện trong năm năm học, từ lớp một đến lớp năm Tuổi của học sinh vào học lớp một là sáu tuổi Ở tuổi này các em rất hiếu động, tò mò, tư duy và suy nghĩ còn mang tính cụ thể, trực quan, thích khen hơn chê trong các hoạt động Kinh nghiệm còn hạn chế Các em rất hồn nhiên, trong sáng Các em tin gần như tin tuyệt đối vào thầy cô, hoạt động chủ đạo là hoạt động học tập [28]
Như vậy từ sự phân tích trên có thể hiểu viên chức giáo dục tiểu học là:
Là công dân Việt Nam được tuyển dụng theo vị trí việc làm, làm việc tại đơn vị
sự nghiệp công lập cụ thể là các trường tiểu học theo chế độ hợp đồng làm việc, hưởng lương từ quỹ lương của trường tiểu học theo quy định của pháp luật
Như vậy viên chức tiểu học theo quy định pháp luật bao gồm đội ngũ giáo viên tiểu học, cán bộ quản lý trưởng, viên chức hành chính Trong đó lực lượng chủ chốt là giáo viên tiểu học (trong nội dung luận văn chủ yếu bàn về tổ chức thực hiện pháp luật về quản lý giáo viên tiểu học và cán bộ quản lý trường) Viên chức tiểu học là một trong những lực lượng quan trọng trong các trường học là người đặt nền móng cho sự hình thành và phát triển nhân cách học sinh Do đó, việc quản lý, phát triển đội ngũ viên chức tiểu học để đảm bảo đáp ứng đầy đủ các tiêu chuẩn chuyên môn, nghiệp vụ, đạo đức là cần thiết
1.1.2 Quan niệm quản lý viên chức giáo dục tiểu học
Thuật ngữ “quản lý” là đối tượng nghiên cứu của nhiều ngành khoa học
khác nhau Mỗi lĩnh vực khoa học có định nghĩa về quản lý dưới góc độ riêng của mình
Trang 22Theo quan niệm của C.Mác: “Bất kỳ lao động xã hội trực tiếp hay lao động chung nào đó mà được tiến hành tuân theo một quy mô tương đối lớn đều cần có sự quản lý ở mức độ nhiều hay ít nhằm phối hợp những hoạt động
cá nhân và thực hiện những chức năng chung phát sinh từ sự vận động của toàn bộ cơ thể sản xuất, sự vận động này khác với sự vận động của các cơ quan độc lập của cơ thể đó Một nhạc công tự điều khiển mình, nhưng một dàn nhạc phải có nhạc trưởng” [18, tr.14]
Một quan điểm khác thì quản lý được định nghĩa là “sự tác động có tổ chức, có hướng đích của chủ thể quản lý tới đối tượng quản lý nhằm đạt mục tiêu đề ra” [29, tr.11,12]
Như vậy, theo cách hiểu chung nhất thì quản lý là sự tác động của chủ thể quản lý lên đối tượng quản lý nhằm đạt được mục tiêu quản lý Quản lý có nhiều cách phân loại, theo cách phổ quát có thể chia thành: quản lý nhà nước
và quản lý xã hội Trong phạm vi luận văn này, quản lý viên chức giáo dục tiểu học được hiểu dưới góc độ quản lý nhà nước
Quản lý nhà nước xuất hiện cùng với sự ra đời của nhà nước, bởi vì các hoạt động của xã hội đều do nhà nước quản lý Quản lý nhà nước là tổng thể các thể chế, tổ chức bộ máy nhà nước, thực hiện chức năng, nhiệm vụ và quyền hạn được giao trong việc điều chỉnh các quan hệ xã hội Nói đến quản
lý nhà nước là nói đến quyền lực nhà nước
Trong hệ thống các chủ thể quản lý xã hội, Nhà nước là chủ thể duy nhất quản lý xã hội toàn dân, toàn diện bằng pháp luật Cụ thể như sau:
Nhà nước quản lý toàn dân là nhà nước quản lý toàn bộ những người sống và làm việc trên lãnh thổ quốc gia, bao gồm công dân và những người nước ngoài, người không quốc tịch sinh sống và làm việc trên lãnh thổ Việt
Nam
Nhà nước quản lý toàn diện là nhà nước quản lý toàn bộ các lĩnh vực
Trang 23của đời sống xã hội theo nguyên tắc kết hợp quản lý theo ngành với quản lý
theo lãnh thổ trên cơ sở pháp luật quy định
Nhà nước quản lý bằng pháp luật là nhà nước sử dụng pháp luật làm công cụ điều chỉnh các quan hệ xã hội và xử lý các hành vi vi phạm pháp luật theo luật định một cách nghiêm minh
Từ quan niệm về quản lý như trên, quản lý nhà nước được hiểu là sự tác động có tổ chức và điều chỉnh bằng quyền lực nhà nước của các cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền đối với các quá trình xã hội và hành vi hoạt động của con người để duy trì và phát triển các mối quan hệ xã hội theo các trật tự pháp luật nhằm thực hiện những chức năng và nhiệm vụ của nhà nước Vậy quản lý nhà nước là dạng quản lý xã hội mang tính quyền lực nhà nước, được sử dụng quyền lực nhà nước để điều chỉnh các quan hệ xã hội và hành vi hoạt động của con người để duy trì, phát triển các mối quan hệ xã hội, trật tự pháp luật nhằm thực hiện chức năng và nhiệm vụ của nhà nước
Từ khái niệm quản lý nhà nước và khái niệm viên chức giáo dục tiểu
học, ta có thể hiểu quản lý đối với viên chức giáo dục tiểu học là việc nhà nước thực hiện quyền lực công để điều hành, điều chỉnh toàn bộ các hoạt động của giáo viên tiểu học nhằm thực hiện mục tiêu giáo dục tiểu học của nhà nước; là sự tác động có tổ chức và điều chỉnh bằng quyền lực nhà nước đối với các hoạt động của giáo viên tiểu học do các cơ quan quản lý có trách nhiệm về giáo dục của nhà nước từ trung ương đến cơ sở để tiến hành thực hiện chức năng, nhiệm vụ theo quy định của nhà nước
Điều 61 Hiến pháp nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam 2013 quy
định: “Phát triển giáo dục là quốc sách hàng đầu nhằm nâng cao dân trí, phát triểnnguồn nhân lực, bồi dưỡng nhân tài”
Luật Giáo dục 2019cũng quy định: “Nhà nước thống nhất quản lý hệ thống giáo dục quốc dân về mục tiêu, chương trình, nội dung, kế hoạch giáo
Trang 24dục, tiêu chuẩn nhà giáo, quy chế thi cử, hệ thống văn bằng, chứng chỉ; tập trung quản lý chất lượng giáo dục, thực hiện phân công, phân cấp quản lý giáo dục, tăng cường quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm của cơ sở giáo dục”[14].Mục tiêu QLNN về giáo dục – đào tạo là phát triển các thành tố của
hệ thống giáo dục trên các mặt: Quy mô, cơ cấu, chất lượng; Bảo đảm trật tự,
kỷ cương trong hoạt động giáo dục; Nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài; Hoàn thiện nhân cách công dân
Chủ thể QLNN về đối với đội ngũ viên chức giáo dục tiểu học là toàn bộ
hệ thống cơ quan trong bộ máy nhà nước Tuy nhiên trong phạm vi luận văn này chủ thể quản lý nhà nước chủ yếu tiếp cận là hệ thống cơ quan hành chính nhà nước bao gồm: Chính phủ, Bộ Nội vụ, Bộ GD&ĐT, Bộ, cơ quan ngang
Bộ có liên quan và UBND các cấp.Hoạt động quản lý viên chức trong ngành giáo dục được thực hiện bởi các cơ quan quản lý nhà nước, các cơ quan tổ chức quản lý các đơn vị này và của chính các đơn vị sự nghiệp với tư cách là người sử dụng trực tiếp viên chức Trên cơ sở đó các cơ quan quản lý viên chức bao gồm:
Bộ GD&ĐT chịu trách nhiệm trước Chính phủ thực hiện QLNN về giáo dục với nhiều lĩnh vực khác nhau như: mục tiêu, chương trình, nội dung, kế hoạch, chất lượng giáo dục đào tạo; tiêu chuẩn nhà giáo, cán bộ quản lý giáo dục, quy chế thi, tuyển sinh, hệ thống văn bằng, chứng chỉ, cơ sở vật chất, trang thiết bị trường học Vì vậy việc quản lý viên chức giáo dục tiểu học đòi hỏi phải có sự phối kết hợp giữa Bộ Nội vụ và Bộ Giáo dục và Đào tạo
Trang 25UBND tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương;
Các đơn vị sự nghiệp công lập
Lưu ý: Nếu các đơn vị sự nghiệp thuộc tổ chức chính trị xã hội - nghề nghiệp, tổ chức xã hội, tổ chức xã hội - nghề nghiệp, đơn vị sự nghiệp thuộc đơn
vị sự nghiệp công lập, đơn vị sự nghiệp thuộc công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên do Nhà nước làm chủ sở hữu sẽ chịu sự quản lý của các tổ chức này
1.1.3 Quan niệm tổ chức thực hiện pháp luật về quản lý viên chức giáo dục tiểu học
Pháp luật là công cụ quản lý nhà nước và điều chỉnh các quan hệ xã hội Vai trò điều chỉnh đó trước hết và chủ yếu thể hiện thông qua các văn bản quy phạm pháp luật Văn bản quy phạm pháp luật về quản lý viên chức được thể chế hóa trên các quan điểm, đường lối của Đảng, chính sách pháp luật của Nhà nước nhằm điều chỉnh các quan hệ về quản lý, sử dụng, tuyển dụng viên chức phát sinh trong quá trình tổ chức và hoạt động của các cơ quan, tổ chức, đơn vị Cũng như các quy phạm pháp luật khác, quy phạm pháp luật về quản
lý viên chức có tính bắt buộc chung do cơ quan nhà nước có thẩm quyền ban hành và lặp đi lặp lại nhiều lần trong cuộc sống cho đến khi quy phạm đó được sửa đổi, bổ sung hoặc huỷ bỏ
Thực hiện pháp luật là quá trình các tổ chức, cá nhân và các chủ thể pháp luật khác khi gặp phải tình huống thực tế mà quy phạm pháp luật đã dự liệu, trên cơ sở nhận thức của mình chuyển hóa một cách sáng tạo quy tắc xử sự chung mà Nhà nước đã quy định vào tình huống cụ thể đó thông qua hành vi thực tế hợp pháp của mình, những đòi hỏi cấm đoán hay cho phép của pháp luật đối với các tổ chức, cá nhân đã được biểu hiện thành các hành vi thực tế thực hiện quyền, nghĩa vụ của các chủ thể pháp luật Dưới góc độ pháp lý thì, thực hiện pháp luật là hành vi pháp luật (hành động hoặc không hành động) hợp pháp, nghĩa là nó được tiến hành phù hợp với những yêu cầu, đòi hỏi trong phạm vi các quy định của pháp luật
Trang 26Trên phương diện lý luận, tổ chức thực hiện pháp luật là hoạt động có mục đích nhằm hiện thực hóa các quy định của pháp luật, làm cho chúng đi vào cuộc sống, trở thành những hành vi thực tế hợp pháp của các chủ thể pháp luật Tổ chức thực hiện pháp luậtkhông thể phát huy được hiệu lực trong hoạt động thực tế của các chủ thể pháp luật khi thiếu sự bảo đảm của Nhà nước, các cơ chế cũng như cơ sở pháp lý của nó
Nhà nước và pháp luật có quan hệ mật thiết với nhau, gắn bó chặt chẽ và ràng buộc lẫn nhau Nhà nước cần có pháp luật để thể hiện ý chí của mình, để
tổ chức bộ máy và quản lý xã hội Còn pháp luật do nhà nước đặt ra hoặc thừa nhận, được nhà nước bảo đảm thực hiện, tồn tại cùng với nhà nước thì pháp luật mới phát huy được vai trò của mình
Những phân tích trên có thể xác định: Tổ chức thực hiện pháp luật về quản lý viên chức giáo dục tiểu học là hoạt động có mục đích của cơ quan nhà nước và người có thẩm quyền nhằm hiện thực hóa các quy định của pháp luật về quản lý viên chức giáo dục tiểu học, làm cho các quy định pháp luật vận hành trong đời sống xã hội
Từ quan niệm trên có thể xác định tổ chức thực hiện pháp luật về quản
lý viên chức giáo dục tiểu học có những đặc điểm như sau:
Một là, chủ thể thực hiện là cơ quan nhà nước và người có thẩm quyền
cơ quan nhà nước mà cụ thể là hệ thống cơ quan hành chính nhà nước
Hai là, đối tượng là viên chức giáo dục tiểu học mà trong phạm vi
nghiên cứu của luận văn là các giáo viên tiểu học và cán bộ quản lý
Ba là, nội dung của tổ chức thực hiện bao gồm 6 nội dung ( được phân
tích kỹ ở mục 1.2.2.)
1.2 Pháp luật về quản lý viên chức giáo dục tiểu học và nội dung tổ chức thực hiện pháp luật về quản lý viên chức giáo dục tiểu học
1.2.1 Pháp luật về quản lý viên chức giáo dục tiểu học
Để làm rõ nội dung tổ chức thực hiện pháp luật về quản lý viên chức
Trang 27giáo dục tiểu học cần làm rõ pháp luật về quản lý viên chức giáo dục tiểu học Căn cứ vào Luật Viên chức 2012 (sửa đổi, bổ sung năm 2019) và Nghị định 115/2020/NĐ-CP quy định về tuyển dụng, sử dụng, quản lý viên chức thì quản lý viên chức giáo dục tiểu học bao gồm 11 nội dung như sau:
(1) Xây dựng kế hoạch, quy hoạch viên chức
Việc xây dựng kế hoạch, quy hoạch viên chức có thể tổ chức thường xuyên theo năm hoặc trong trường hợp đột xuất
(2) Quy định tiêu chuẩn chức danh nghề nghiệp viên chức, xác định vị trí việc làm, cơ cấu viên chức theo chức danh nghề nghiệp và số lượng người làm việc tương ứng
Tiêu chuẩn chức danh nghề nghiệp viên chức là căn cứ, cơ sở để tiến hành lựa chọn, tuyển dụng, sử dụng viên chức vào vị trí phù hợp năng lực, sở trường Đây là cơ sở cho việc xác định vị trí việc làm và cũng như rà soát lại
tổ chức bộ máy, đội ngũ viên chức và xác định từng vị trí trong tổ chức gắn với việc thực hiện chức năng, nhiệm vụ của cơ sở giáo dục Điều này giúp chuẩn hoá đội ngũ viên chức, góp phần nâng cao chất lượng nguồn nhân lực
(3) Thực hiện việc tuyển dụng, ký hợp đồng làm việc, bố trí, phân công nhiệm vụ, biệt phái, kiểm tra và đánh giá viên chức
Tổ chức thực hiện việc tuyển dụng, ký hợp đồng làm việc, bố trí, phân công nhiệm vụ, biệt phái, kiểm tra và đánh giá viên chức là hoạt động thường xuyên của nhà quản lý và theo phân cấp về thẩm quyền giữa các cơ quan trung ương và địa phương, giữa các cơ quan chuyên môn
(4) Thực hiện thay đổi chức danh nghề nghiệp
Thay đổi chức danh nghề nghiệp là việc viên chức được bổ nhiệm một chức danh nghề nghiệp khác phù hợp với chuyên môn, nghiệp vụ của vị trí việc làm đang đảm nhiệm Việc thay đổi chức danh nghề nghiệp của viên chức được thực hiện như sau: Khi chuyển từ chức danh nghề nghiệp này sang
Trang 28chức danh nghề nghiệp khác cùng hạng phải thực hiện thông qua việc xét chuyển chức danh nghề nghiệp; Khi thăng hạng từ hạng thấp lên hạng cao hơn liền kề trong cùng ngành, lĩnh vực phải thực hiện thông qua việc thi hoặc xét thăng hạng chức danh nghề nghiệp
(5) Thực hiện chế độ đào tạo, bồi dưỡng đối với viên chức
Việc đào tạo, bồi dưỡng được thực hiện đối với viên chức trước khi bổ nhiệm chức vụ quản lý, thay đổi chức danh nghề nghiệp hoặc nhằm bổ sung, cập nhật kiến thức, kỹ năng phục vụ hoạt động nghề nghiệp
Nội dung, chương trình, hình thức, thời gian đào tạo, bồi dưỡng viên chức phải căn cứ vào tiêu chuẩn chức vụ quản lý, chức danh nghề nghiệp, yêu cầu bổ sung, cập nhật kiến thức, kỹ năng phục vụ hoạt động nghề nghiệp
(6) Thực hiện chế độ tiền lương và các chế độ, chính sách đãi ngộ đối với viên chức
Viên chức làm việc trong đơn vị sự nghiệp là đơn vị có thu nên ngoài lương, viên chức còn hưởng thu nhập tăng thêm từ nguồn thu của đơn vị; ngoài ra còn các hệ số phụ cấp, hệ số nghề Nhìn chung lương, chế độ, chính sách đãi ngộ viên chức là cơ sở để thu hút nguồn lao động, là một trong những động lực để viên chức làm việc
(7) Thực hiện việc khen thưởng, kỷ luật đối với viên chức
Việc khen thưởng được thực hiện theo quy định của Luật Thi đua khen thưởng, tạo động lực thúc đẩy viên chức cống hiến
Viên chức vi phạm các quy định của pháp luật trong quá trình thực hiện công việc hoặc nhiệm vụ thì tùy theo tính chất, mức độ vi phạm, phải chịu một trong các hình thức kỷ luật sau: Khiển trách; Cảnh cáo; Cách chức; Buộc thôi việc Viên chức bị kỷ luật bằng một trong các hình thức này còn có thể bị hạn chế thực hiện hoạt động nghề nghiệp theo quy định của pháp luật có liên quan Hình thức kỷ luật cách chức chỉ áp dụng đối với viên chức quản lý
Trang 29Quyết định kỷ luật được lưu vào hồ sơ viên chức
(8) Giải quyết thôi việc và nghỉ hưu đối với viên chức
Viên chức được giải quyết thôi việc trong các trường hợp sau: Viên chức
có đơn tự nguyện xin thôi việc được cơ quan, đơn vị có thẩm quyền đồng ý bằng văn bản; Viên chức đơn phương chấm dứt hợp đồng làm việc; Đơn vị sự nghiệp công lập đơn phương chấm dứt hợp đồng làm việc với viên chức
Viên chức chưa được giải quyết thôi việc nếu thuộc một trong các trường hợp sau: Đang bị xem xét xử lý kỷ luật hoặc bị truy cứu trách nhiệm hình sự; Chưa làm việc đủ thời gian cam kết với đơn vị sự nghiệp công lập khi được
cử đi đào tạo hoặc khi được xét tuyển; Chưa hoàn thành việc thanh toán các khoản tiền, tài sản thuộc trách nhiệm của viên chức đối với đơn vị sự nghiệp công lập; Do yêu cầu công tác và chưa bố trí được người thay thế
Nghỉ hưu là việc viên chức hết tuổi lao động theo quy định của pháp luật Viên chức được hưởng chế độ hưu trí theo quy định của pháp luật về lao động và pháp luật về bảo hiểm xã hội.Theo quy định của Bộ luật lao động 2020 , tuổi nghỉ hưu của nam kéo dài từ 60 tuổi thành 62 tuổi; nữ từ 55 tuổi thành 58 tuổi
(9) Thực hiện chế độ báo cáo, thống kê và quản lý hồ sơ viên chức Định kỳ hàng năm, hoặc theo yêu cầu đột xuất của Bộ Nội vụ, cơ quan quản lý viên chức chỉ đạo các cơ quan, tổ chức, đơn vị thuộc và trực thuộc lập báo cáo thống kê số lượng, chất lượng công chức, danh sách và tiền lương công chức của năm trước báo cáo cơ quan quản lý công chức vào ngày 31/3 của năm sau theo biểu mẫu thống nhất
(10) Thanh tra, kiểm tra việc thi hành quy định của pháp luật về viên chức Đối với việc thanh tra được thực hiện theo Luật Thanh tra 2010 Thông qua thanh tra để phòng ngừa, phát hiện và xử lý vi phạm pháp luật trong lĩnh vực giáo dục
(11) Giải quyết khiếu nại, tố cáo đối với viên chức
Việc giải quyết khiếu nại, tố cáo việc thi hành quy định của pháp luật
Trang 30về viên chức Luật Khiếu nại 2012, Luật Tố cáo 2018, Luật Viên chức 2012
1.2.2 Nội dung tổ chức thực hiện pháp luật về quản lý viên chức giáo dục tiểu học
Tổ chức thực hiện pháp luật về quản lý viên chức giáo dục tiểu học là hoạt động của cơ quan nhà nước có thẩm quyền Để tiến hành tổ chức thực hiện pháp luật về quản lý viên chức giáo dục đòi hỏi cơ quan nhà nước có thẩm quyền phải tiến hành những hoạt động sau:
Một là, lập kế hoạch, ban hành văn bản, chính sách để triển khai văn bản
pháp luật về quản lý viên chức giáo dục Hoạch định và tổ chức thực thi chính sách, pháp luật về giáodục tiểu học; Xây dựng hành lang pháp lý trong quản
lý giáo dục tiểu học Trong hoạt động quản lý của mình về giáo dục tiểu học, Nhà nước đã xây dựng và chỉ đạo thực hiện nhiều chiến lược, quy hoạch, kế hoạch, chính sách phát triển giáo dục Để đưa các quy định pháp luật về quản
lý viên chức ngành giáo dục do cơ quan lập pháp ban hành, đòi hỏi hệ thống
cơ quan hành chính phải thực hiện quyền lập quy và quyền hành chính Cụ thể, trong thẩm quyền do pháp luật quy định ban hành văn bản, chính sách để hướng dẫn triển khai Luật Viên chức Đồng thời lên kế hoạch để triển khai thực hiện Đây là hoạt động đầu tiên trong nội dung tổ chức thực hiện pháp luật về quản lý viên chức giáo dục
Hai là, xây dựng tổ chức bộ máy thực hiện pháp luật về quản lý viên chức
giáo dục Tổ chức bộ máy quản lýgiáo dụctiểu học Theo quy định, Nhànước thống nhất quản lý hệ thống giáo dục quốc dân về hoạt động giáo dục như mục tiêu, chương trình, nội dung, kế hoạch hoạt động, quy chế thi cử, hệ thống văn bằng, chứng chỉ các loại, quản lý chất lượng giáo dục, phân cấp quản lý
Tổ chức bộ máy và con người sẽ quyết định chất lượng, cách thức tiến hành tổ chức thực hiện pháp luật về về quản lý viên chức giáo dục Trong hệ thống bộ máy nhà nước việc phân công trách nhiệm cơ quan, con người nào
Trang 31tham gia tiến hành thực hiện pháp luật về quản lý viên chức giáo dụcchính là một nội dung trong công tác tổ chức Cụ thể đối với việc thực hiện pháp luật
về quản lý viên chức giáo dụcdo hệ thống cơ quan hành chính nhà nước tiến hành mà đứng đầu là Chính phủ - thống nhất quản lý nhà nước về quản lý viên chức giáo dục đồng thời là cơ quan hành chính nhà nước cao nhất, chịu trách nhiệm tổ chức thực hiện pháp luật về giải quyết khiếu nại đất đai Bộ Nội vụ với chức năng giúp Chính phủ quản lý nhà nước về quản lý viên chức nói chung trong đó có viên chức giáo dục Bộ Giáo dục và đào tạo phối hợp
Bộ Nội vụ quản lý viên chức ngành Theo phân cấp hành chính, ở địa phương
là UBND các cấp và hệ thống cơ quan chuyên môn tổ chức thực hiện pháp luật về quản lý viên chức giáo dục
Ba là, triển khai thực hiện các nội dung quản lý viên chức ngành giáo
dục Trên cơ sở các nội dung đã phân tích ở mục 1.2.1 có 11 nội dung về quản
lý viên chức nói chung và viên chức giáo dục tiểu học nói riêng Vì vậy, các chủ thể có thẩm quyền để tổ chức thực hiện pháp luật về quản lý giáo dục cần
tổ chức để triển khai 11 nội dung đó trên thực tế
Bốn là, tuyên truyền phổ biến pháp luật về quản lý viên chức ngành giáo
dục.để nâng cao nhận thức của các chủ thể và đối tượng chịu sự điều chỉnh của pháp luật Đây là hình thức quan trọng trong việc tổ chức thực hiện pháp luật về quản lý viên chức giáo dục thể hiện bản chất Nhà nước của nhân dân,
do nhân dân và vì nhân dân; Thể hiện hình thức quản lý thuyết phục giáo dục trong quản lý hành chính nhà nước
Năm là, Thanh tra, kiểm tra việc chấp hành pháp luật về giáo dục; Giải
quyết khiếu nại, tố cáo và xử lý các hành vi vi phạm pháp luật về giáo dục Đây là một nội dung trong công tác tổ chức thực hiện Bởi lẽ khi ban hành những chính sách, pháp luật và thực hiện; một nội dung không thể thiếu
đó là giám sát, kiểm tra, theo dõi việc triển khai những chính sách, pháp luật
Trang 32để đảm bảo những quy định đó được thực hiện đúng đắn trên thực tế Thanh tra, kiểm tra là hoạt động thường xuyên của cấp trên với cấp dưới (trong mối quan hệ trực thuộc) nhằm xem xét, đánh giá mọi mặt hoạt động của cấp dưới khi thấy cần thiết hoặc trong trường hợp cần kiểm tra một vấn đề cụ thể nào
đó Vì vậy khi tiến hành kiểm tra, thanh tra, cơ quan cấp trên hoặc thủ trưởng
cơ quan có quyền áp dụng các biện pháp kỷ luật, biện pháp bồi thường thiệt hại vật chất hoặc áp dụng các biện pháp tác động tích cực với đối tượng kiểm tra như động viên, khen thưởng về vật chất hoặc tinh thần
Sáu là, sơ kết, tổng kết đánh giá việc thực hiện pháp luật quản lý viên
chức ngành giáo dục Đây cũng là một nội dung trong hoạt động tổ chức thực hiện nhằm rút kinh nghiệm thực tế triển khai, đánh giá tình hình và đề ra giải pháp khắc phục
Sơ kết, tổng kết đánh giá là nhìn nhận đánh giá chung và rút ra những kết luận về những việc đã làm được, chưa làm được, nguyên nhân và bài học kinh nghiệm để có phương hướng tổ chức tiếp theo
Năng lực quản lý của Nhà nước ảnh hưởng rất lớn đến công tác quản lý viên chức Năng lực quản lý thể hiện ở việc hoạch định chính sách, kế hoạch thực hiện chính sách đó có phù hợp với tình hình thực tiễn đối với từng ngành, lĩnh vực
Nhànước thống nhất quản lý hệ thống giáo dục quốc dân về hoạt động giáo dục như mục tiêu, chương trình, nội dung, kế hoạch hoạt động, quy chế thi cử, hệ thống văn bằng, chứng chỉ các loại, quản lý chất lượng giáo dục, phân cấp quản lý giáo dục, giao quyền tự chủ cho các cơ sở giáo dục Việc tổ chức hợp lý tổ chức bộ máy là cơ sở bảo đảm hiệu quả quản lý nhà nước về giáo dục trung học cơ sở
Chính phủ trình Quốc hội trước khi quyết định những chủ trương lớn có ảnh hưởng đến quyền và nghĩa vụ học tập của công dân trong phạm vi cả
Trang 33nước, những chủ trương về cải cách nội dung chương trình của một cấp học; Hằng năm báo cáo Quốc hội về hoạt động giáo dục và việc thực hiện ngân sách giáo dục
Bộ GD&ĐT chịu trách nhiệm trước Chính phủ thực hiện QLNN về giáo dục với nhiều lĩnh vực khác nhau như: Mục tiêu, chương trình, nội dung, kế hoạch, chất lượng giáo dục đào tạo; Tiêu chuẩn nhà giáo, cán bộ quản lý giáo dục, quy chế thi, tuyển sinh, hệ thống văn bằng, chứng chỉ, cơ sở vật chất, trang thiết bị trường học QLNN đối với các dịch vụ công thuộc lĩnh vực giáo dục của mình
Bộ, cơ quan ngang bộ phối hợp với Bộ GD&ĐT thực hiện QLNN về giáo dục theo thẩm quyền
Uỷ ban nhân dân các cấp thực hiện QLNN về giáo dục theo sự phân cấp của Chính phủ và có trách nhiệm bảo đảm các điều kiện về đội ngũ nhà giáo, tài chính, cơ sở vật chất, thiết bị dạy học của các trường công lập thuộc phạm quản lý, đáp ứng yêu cầu mở rộng quy mô, nâng cao chất lượng và hiệu quả giáo dục tại địa phương
Sở giáo dục ở tỉnh, thành phố, phòng GD&ĐT ở quận, huyện là các cơ quan chuyên môn thuộc UBND tỉnh và huyện, có chức năng tham mưu, giúp UBND, thực hiện chức năng QLNN về lĩnh vực giáo dục đào tạo Về các dịch
vụ công thuộc phạm vi quản lý của Sở hay Phòng Giáo dục - Đào tạo trên địa bàn theo quy định của pháp luật Thực hiện một số nhiệm vụ, quyền hạn theo
sự ủy quyền của UBND
Trong đó, UBND cấp huyện có trách nhiệm thực hiện chức năng quản
lý nhà nước về giáo dục trên địa bàn huyện; Chịu trách nhiệm trước UBND cấp tỉnh về phát triển giáo dục mầm non, tiểu học, trung học cơ sở và xây dựng xã hội học tập trên địa bàn huyện
Phòng GD&ĐT có trách nhiệm tham mưu giúp UBND cấp huyện thực hiện chức năng QLNN về giáo dục trên địa bàn huyện; Chủ trì, phối hợp với
Trang 34các cơ quan có liên quan trong các hoạt động QLNN về giáo dục
Năng lực quản lý của bộ máy quản lý ảnh hưởng rất lớn đến công tác quản lý viên tiểu học Năng lực quản lý thể hiện ở việc hoạch định, đưa ra các chính sách, quyết đoán phù hợp với thực tiễn ngành Đồng thời, nói lên khả năng am hiểu các chủ trương, chính sách, có tài thuyết phục, tuyên truyền viên giáo dục tự chấp hành các quy định pháp luật của nhà nước
1.3 Các yếu tố tác động đến tổ chức thực hiện pháp luật về quản lý viên chức giáo dục tiểu học
1.3.1 Xu hướng đổi mới tổ chức, quản lý đơn vị sự nghiệp công lập
Quá trình đổi mới đơn vị sự nghiệp công lập bắt nguồn từ việc thực hiện thí điểm chế độ tài chính áp dụng cho đơn vị sự nghiệp công lập có thu theo Nghị định 10/2002/NĐ-CP ngày 16/01/2002 của Chính phủ, tiếp theo đó là Nghị định 43/2006/NĐ-CP ngày 25/4/2006 quy định quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm về thực hiện nhiệm vụ, tổ chức bộ máy, biên chế và tài chính đối với đơn vị sự nghiệp công lập và hiện nay là thực hiện theo Nghị định số 16/2015/NĐ-CP ngày 14/02/2015 của Chính phủ quy định cơ chế tự chủ của đơn vị sự nghiệp công lập
Trong những năm qua, cơ chế tự chủ, tự chịu trách nhiệm về thực hiện nhiệm vụ, tổ chức bộ máy, biên chế và tài chính đối với các đơn vị sự nghiệp công lập không ngừng được đổi mới Bên cạnh tự chủ về tài chính, đơn vị sự nghiệp còn được tự chủ, tự chịu trách nhiệm về thực hiện nhiệm vụ, tổ chức bộ máy, biên chế; Góp phần nâng cao tính chủ động, sáng tạo của các đơn vị sự nghiệp công lập; Nhờ đó làm tăng nguồn thu sự nghiệp và tăng thu nhập cho công chức, viên chức; Tính công khai, minh bạch và dân chủ trong các quyết định và hoạt động tại các đơn vị sự nghiệp công lập cũng được tăng cuờng Việc đổi mới tổ chức, quản lý đơn vị sự nghiệp công lập là xu hướng tất yếu của nền kinh tế thị trường khi mà Việt Nam từng bước gia nhập các hiệp hội
Trang 35kinh tế trong khu vực và trên thế giới Hội nghị Trung ương 6 (khóa XII) Đảng
đã ban hành Nghị quyết số 19/NQ-TW ngày 25 tháng 10 năm 2017 về tiếp tục đổi mới hệ thống tổ chức và quản lý, nâng cao chất lượng và hiệu quả hoạt động của các đơn vị sự nghiệp công lậpđã nhận định: “Đổi mới hệ thống tổ chức và quản lý, nâng cao chất lượng và hiệu quả hoạt động của các đơn vị sự nghiệp công lập là một trong những nhiệm vụ trọng tâm ưu tiên hàng đầu, là nhiệm
vụ chính trị vừa cấp bách, vừa lâu dài của tất cả các cấp uỷ đảng, chính quyền và toàn hệ thống chính trị”[3]
Việc đổi mới quản lý tổ chức đơn vị sự nghiệp công lập cũng sẽ tác động rất lớn đến hệ thống các quy phạm pháp luật liên quan đến đội ngũ viên chức
- đối tượng bị quản lý của đơn vị sự nghiệp công lập, như: Đổi mới cơ chế xác định và giao biên chế tại các đơn vị sự nghiệp công lập do ngân sách nhà nước bảo đảm toàn bộ hoặc một phần chi thường xuyên; Đẩy mạnh thí điểm việc thi tuyển và thực hiện thuê giám đốc điều hành tại các đơn vị sự nghiệp công lập; Thực hiện chế độ hợp đồng viên chức có thời hạn trong đơn vị sự nghiệp công lập đối với những trường hợp tuyển dụng mới; Không thực hiện chế độ công chức trong đơn vị sự nghiệp công lập (trừ các đơn vị sự nghiệp công lập phục vụ nhiệm vụ chính trị và quản lý nhà nước)
1.3.2 Mức độ tự chủ của các đơn vị sự nghiệp công lập
Trong những năm qua, việc triển khai thực hiện tự chủ, tự chịu trách nhiệm được thực hiện hầu hết tại các đơn vị sự nghiệp công lập Việc mở rộng trao quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm cho đơn vị sự nghiệp công lập trong tổ chức công việc, sắp xếp lại bộ máy, sử dụng lao động và nguồn lực tài chính đã phát huy mọi khả năng của đơn vị, góp phần nâng cao số lượng
và chất lượng dịch vụ công; Tạo điều kiện cho người dân có thêm nhiều cơ hội lựa chọn, tiếp cận các dịch vụ công với chất lượng ngày càng cao, góp phần cải thiện từng bước thu nhập của người lao động tại các đơn vị sự
Trang 36nghiệp
Theo Nghị định 16/2015/NĐ-CP ngày 14/02/2015 của Chính phủ quy định cơ chế tự chủ của đơn vị sự nghiệp công lập thì việc tự chủ về tài chính của các đơn vị được quy định tương ứng với từng loại hình đơn vị sự nghiệp, trên nguyên tắc các đơn vị tự đảm bảo kinh phí hoạt động càng nhiều thì mức
độ tự chủ càng cao Quy định này nhằm khuyến khích các đơn vị tăng thu, giảm dần bao cấp từ ngân sách nhà nước, trong đó có bao cấp tiền lương tăng thêm, để dần chuyển sang các loại hình đơn vị tự đảm bảo chi thường xuyên, đơn vị tự đảm bảo chi thường xuyên và chi đầu tư
Nâng cao quyền tự chủ của đơn vị sự nghiệp công lập là một chủ trương đúng đắn, phù hợp với yêu cầu thực tế Thực hiện tốt chính sách này, sẽ có tác động rất lớn đến việc tạo động lực, thúc đẩy sự phát triển của việc cung cấp sản phẩm dịch vụ công, thỏa mãn tốt hơn nhu cầu của dân cư; hơn nữa nó sẽ tác động tích cực đến đời sống của đội ngũ viên chức như: thu nhập tăng thêm, các khoản chi phúc lợi, lễ tết được nâng cao
Để chính sách pháp luật liên quan đến đội ngũ viên chức được đồng bộ với mức độ tự chủ của đơn vị sự nghiệp công lập thì pháp luật về quản lý viên chức cũng được điều chỉnh phù hợp theo nguyên tắc các đơn vị sự nghiệp tự chủ kinh phí hoạt động càng nhiều thì mức độ tự chủ càng cao cả về tuyển dụng, sử dụng, tổ chức thăng hạng chức danh nghề nghiệp viên chức…
Trang 37Tiểu kết chương 1
Chương 1 luận văn đã giải quyết những nội dung cơ bản của lý luận về
tổ chức thực hiện pháp luật về quản lý viên chức giáo dục tiểu học như sau:
1 Các khái niệm công cụ liên quan đến đề tài như: Viên chức, viên chức ngành giáo dục, quản lý viên chức giáo dục tiểu học, thực hiện pháp luật Và từ
đó luận văn xác định: Tổ chức thực hiện pháp luật về quản lý viên chức giáo dục tiểu học là hoạt động có mục đích của cơ quan nhà nước và người có thẩm quyền nhằm hiện thực hóa các quy định của pháp luật về quản lý viên chức ngành giáo dục tiểu học, làm cho các quy định pháp luật vận hành trong đời sống xã hội
2 Luận văn nghiên cứu các nội dung tổ chức thực hiện quản lý viên
chức giáo dục tiểu học bao gồm: Một là, lập kế hoạch, ban hành văn bản,
chính sách để triển khai văn bản pháp luật về quản lý viên chức giáo dục tiểu
học Hai là, xây dựng tổ chức bộ máy thực hiện pháp luật về quản lý viên chức giáo dục tiểu học Ba là, triển khai thực hiện các nội dung quản lý viên chức giáo dục tiểu học Bốn là, tuyên truyền phổ biến pháp luật về quản lý
viên chức giáo dục tiểu học để nâng cao nhận thức của các chủ thể và đối
tượng chịu sự điều chỉnh của pháp luật Năm là, tiến hành kiểm soát và xử lý
vi phạm về quản lý viên chức giáo dục tiểu học Sáu là, sơ kết, tổng kết việc
thực hiện pháp luật quản lý viên chức giáo dục tiểu học
3 Luận văn xem xét một số yếu tố tác động đến tổ chức thực hiện pháp luật về quản lý viên chức giáo dục tiểu học bao gồm: Xu hướng đổi mới tổ chức, quản lý đơn vị sự nghiệp công lập; Năng lực quản lý của Nhà nước, Mức độ tự chủ của các đơn vị sự nghiệp công lập
Trang 38CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG TỔ CHỨC THỰC HIỆN PHÁP LUẬT VỀ
QUẢN LÝ VIÊN CHỨC GIÁO DỤC TIỂU HỌC TRÊN ĐỊA BÀN
HUYỆN THANH TRÌ, THÀNH PHỐ HÀ NỘI
2.1 Tổng quan về huyện Thanh Trì, thành phố Hà Nội và đội ngũ viên chức giáo dục tiểu học trên địa bàn huyện Thanh Trì, thành phố Hà Nội
2.1.1 Khái quát tình hình tự nhiên - xã hội huyện Thanh Trì, thành phố
Hà Nội
Huyện Thanh Trì là một huyện thuộc Thành phố Hà Nội, nằm ở vị trí cửa ngõ phía nam của thủ đô, dọc phía bờ nam của sông Hồng; phía đông giáp Sông Hồng và huyện Gia Lâm, huyện Vân Giang tỉnh Hưng Yên, phía nam giáp huyện Thanh Oai và huyện Thường Tín, phía tây giáp quận Hà Đông, phía bắc giáp quận Hoàng Mai
Trước năm 1945, huyện Thanh Trì thuộc Phủ Thường Tín, tỉnh Hà Đông Năm 1956, huyện Thanh Trì thuộc tỉnh Hà Đông (sau thuộc Hà Tây) Ngày 20/4/1961, Quốc hội ban hành Nghị quyết về việc mở rộng thành phố
Hà Nội, theo đó huyện Thanh Trì được sáp nhập vào Hà Nội trừ 4 xã: Liên Ninh, Việt Hưng ( Ngọc Hồi), Đại Thanh ( Tả Thanh Oai) Thanh Hưng (Đại Áng) nhập vào Thường Tín, 4 xã: Hữu Hoà, Kiến Hưng, Cự Khê, Mỹ Hưng nhập vào huyện Thanh Oai
Ngày 31/5/1961, Hội đồng Chính Phủ ban hành Quyết định 78-CP về việc phân chia khu vực nội và ngoại thành Hà Nội Căn cứ Quyết định 78-CP, huyện Thanh Trì thành lập trên cơ sở hợp nhất huyện Thanh Trì cũ và quận VII cũ gồm thị trấn Văn Điển và 21 xã: Ngũ Hiệp, Tam Hiệp, Tân Triều, Thanh Liệt, Thanh Trì, Thịnh Liệt, Trần Phú, Tứ Hiệp, Vạn Phúc, Vĩnh Quỳnh, Vĩnh Tuy, Yên Mỹ, Yên Sở, Đại Kim, Định Công, Đông Mỹ, Duyên
Hà, Hoàng Liệt, Hoàng Văn Thụ, Khương Đình, Lĩnh Nam
Trang 39Ngày 17/2/1979, Hội đồng Chính phủ ban hành Quyết định 49-CP điều chỉnh địa giới một số xã, thị trấn thuộc huyện Thanh Trì; theo đó 4 xã: Liên Ninh, Ngọc Hồi, Đại Áng, Tả Thanh Oai của huyện Thường Tín và xã Hữu Hoà của huyện Thanh Oai sáp nhập vào huyện Thanh Trì nâng tổng số lên 26
Năm 2003 Huyện được chia tách 9 xã của huyện Thanh Trì gồm Đại Kim, Định Công, Hoàng Liệt, Thịnh Liệt, Yên Sở, Vĩnh Tuy, Thanh Trì, Lĩnh Nam, Trần Phú để thành lập quận Hoàng Mai Sau khi chia tách huyện Thanh Trì còn lại:15 xã và 01 thị trấn: thị trấn Văn Điển, Vĩnh Quỳnh, Thanh Liệt, Tân Triều, Hữu Hòa, Tả Thanh Oai, Tam Hiệp, Tứ Hiệp, Ngũ Hiệp, Ngọc Hồi, Đại Áng, Liên Ninh, Đông Mỹ, Yên Mỹ, Duyên Hà, Vạn Phúc với diện tích còn là 6.317,27 ha và dân số 147.788 người ( năm 2003) [31]
Việc địa giới hành chính của huyện thường xuyên thay đổi cũng ảnh hưởng đến hoạt động quản lý nhà nước nói chung và tổ chức thực hiện pháp luật về quản lý viên chức giáo dục tiểu học nói riêng
Huyện Thanh Trì có tốc độ đô thị hóa nhanh Đây là yếu tố bao trùm, tác động sâu sắc và toàn diện đến mọi hoạt động từ công tác chỉ đạo điều hành đến triển khai các kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội và đảm bảo đời sống của nhân dân trên địa bàn: Tốc độ tăng trưởng kinh tế cao, theo định hướng phát triển đô thị, đời sống văn hóa tinh thần của người dân ngày càng được hưởng thụ và nâng cao Song bên cạnh đó cũng còn có những khó khăn thách thức không nhỏ như vấn đề giải quyết lao động và việc làm, dân số cơ học
Trang 40tăng nhanh, cơ sở hạ tầng, công trình công cộng phục vụ hoạt động cộng đồng chưa đáp ứng so với nhu cầu; Vệ sinh môi trường còn nhiều bất cập, tệ nạn xã hội diễn biến phức tạp; Các vấn đề về đất đai, đô thị, giải phóng mặt bằng… phát sinh cần được giải quyết Tốc độ đô thị hóa nhanh, các khu vực tập chung dân cư đông đúc là cho hệ thống giáo dục (cơ sở trường lớp, đội ngũ giáo viên…) luôn trong tình trạng thừa học sinh, thiếu cơ sở vật chất làm ảnh hưởng đến các công tác giảng dạy học tập và các vấn đề khác phát sinh
2.1.2 Khái quát tình hình giáo dục huyện Thanh Trì, thành phố Hà Nội
Là một huyện có truyền thống giáo dục trên địa bàn thủ đô, trong những năm vừa qua quy mô giáo dục huyện Thanh Trì tiếp tục được ổn định và phát triển Mạng lưới trường, lớp được mở rộng, cơ sở vật chất được tăng cường đầu
tư xây dựng kiên cố hóa, chuẩn hóa và hiện đại, đáp ứng nhu cầu học tập của con
em nhân dân trong toàn huyện và yêu cầu đào tạo nhân lực trong thời kỳ mới
Huyện Thanh Trì tính đến năm học 2018 -2019 hiện có 79 trường (gồm 69 trường công lập, trong đó 01 trường chuyên biệt; 10 trường tư thục) và 139 nhóm, lớp mầm non độc lập tư thục với 64.654 học sinh và 4.742 cán bộ, giáo viên, nhân viên Bao gồm 1.164 cán bộ, giáo viên, nhân viên ngoài công lập; 3.578 cán bộ, giáo viên, nhân viêncông lập với 2.406 biên chế [26] Trong đó:
- Mầm non: 30 trường công lập với 1667 cán bộ, giáo viên, nhân viên; Bao gồm 388 lớp với 14.610 trẻ; 10 trường tư thục và 139 nhóm, lớp tư thục trên tổng số 1.164 cán bộ, giáo viên, nhân viên của514 lớp với 9.397 trẻ
- Trung học cơ sở: 17 trường/894 CB, GV, NV/373 lớp/14.776 HS Năm học 2018-2019, toàn huyện có 53/68trường học đạt chuẩn Quốc gia
(đạt tỷ lệ 77,94%) Trong đóấp tiểu học có 14/21 trường đạt chuẩn quốc gia – đạt
tỷ lệ 66,7
Đối với giáo dục Tiểu học: Năm học 2016- 2017 huyện thành lập trường Tiểu học Ngô Sỹ Kiện, năm 2018 - 2019 huyện thành lập trường Tiểu học Phạm Tu Tính đến tháng 01/2020: Toàn huyện có 22 trường tiểu học Tổng