1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Kinh nghiệm phát triển nguồn nhân lực của hàn quốc trong lĩnh vực quản lý tài nguyên, môi trường biển, bài học cho việt nam

260 17 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Kinh Nghiệm Phát Triển Nguồn Nhân Lực Của Hàn Quốc Trong Lĩnh Vực Quản Lý Tài Nguyên, Môi Trường Biển, Bài Học Cho Việt Nam
Tác giả Dương Duy Đạt
Người hướng dẫn PGS.TS. Phạm Quý Long, TS. Trần Anh Tuấn
Trường học Học Viện Khoa Học Xã Hội
Chuyên ngành Kinh Tế Quốc Tế
Thể loại Luận Án Tiến Sĩ Kinh Tế
Năm xuất bản 2021
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 260
Dung lượng 1,05 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Xuất phát từ vai trò quan trọng, quyết định của NNL đối với phát triểnkinh tế, văn hóa, xã hội, nói chung, đối với phát triển kinh tế biển và giữ vững chủquyền biển đảo nói riêng; từ sự

Trang 1

VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

DƯƠNG DUY ĐẠT

KINH NGHIỆM PHÁT TRIỂN NGUỒN NHÂN LỰC CỦA HÀN QUỐC TRONG LĨNH VỰC QUẢN LÝ TÀI NGUYÊN, MÔI TRƯỜNG BIỂN,

BÀI HỌC CHO VIỆT NAM

Chuyên ngành đào tạo: Kinh tế quốc tế

Mã số: 9 31 01 06

LUẬN ÁN TIẾN SĨ KINH TẾ

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:

1 PGS.TS Phạm Quý Long

2 TS Trần Anh Tuấn

HÀ NỘI - 2021

Trang 2

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Biển là không gian sinh tồn, là nguồn sống, nguồn hy vọng tương lai củaloài người Trong điều kiện các nguồn tài nguyên trên đất liền ngày càng cạn kiệt,biển ngày càng có ý nghĩa sống còn đối với mỗi quốc gia, dân tộc Khai thác tiềmnăng biển, đảo là vấn đề quan trọng mang tính chiến lược ở hầu hết các quốc giatrên thế giới Vì vậy quản lý, khai thác và bảo vệ một cách hợp lý, khoa họcnguồn tài nguyên, môi trường biển để duy trì phát triển kinh tế - xã hội một cáchbền vững là mục tiêu, động lực mà các quốc gia có biển đều hướng tới

Việt Nam có vùng đặc quyền kinh tế biển rộng lớn trên 1 triệu km2, gấp 3lần diện tích đất liền; có bờ biển dài 3.260 km Dọc Bắc - Trung - Nam, có 28tỉnh, thành phố tiếp giáp với biển, trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ tổ quốc,biển Việt Nam có vị trí, vai trò đặc biệt quan trọng đối với phát triển kinh tế - xãhội, bảo đảm quốc phòng, an ninh, bảo vệ môi trường Ngày nay, để thực hiệnmục tiêu đưa nước ta trở thành quốc gia mạnh về biển, làm giàu từ biển, đảm bảomôi trường và bảo vệ vững chắc chủ quyền quốc gia trên biển, đảo, đang đòi hỏikhách quan, cấp bách phải nghiên cứu tìm các giải pháp đồng bộ, thiết thực đểtăng cường hơn nữa các nguồn lực cho đầu tư phát triển kinh tế, bảo vệ môitrường biển và giữ vững chủ quyền biển, đảo Trong các nguồn lực cần quan tâmđầu tư cho phát triển, thì NNL là quan trọng nhất, quyết định nhất, không có NNLchất lượng cao thì không thể phát triển kinh tế và bảo vệ môi trường, gắn với giữvững an ninh, và bảo vệ chủ quyền biển đảo được, thậm trí còn rơi vào tình trạng

bế tắc Đại hội XIII Đảng ta khẳng định vai trò quan trọng của việc phát triểnNNL chất lượng cao, thu hút và trọng dụng nhân tài, coi đây là động lực nâng caosức cạnh tranh và tính tự chủ của nền kinh tế, trong điều kiện hội nhập quốc tế

Chiến lược phát triển lĩnh vực quản lý tổng hợp tài nguyên và bảo vệ môitrường biển, hải đảo nước ta, cũng đã xác định “con người là trung tâm, là động lực

và là nhân tố quyết định của chiến lược phát triển Mọi hoạt động quản lý nhà nướctổng hợp tài nguyên biển và hải đảo, phải hướng tới con người, vì lợi ích chung củatoàn xã hội Chú trọng xây dựng cán bộ quản lý nhà nước tổng hợp tài nguyên biển

và hải đảo vừa có chuyên môn, nghiệp vụ cao, vừa có tinh thần, thái độ phục vụ tốt”[12] Vai trò của nguồn nhân lực ngày càng quan trọng, nhưng trước yêu cầu pháttriển kinh tế biển nói chung, yêu cầu quản lý nhà nước tổng hợp tài nguyên và

1

Trang 3

bảo vệ môi trường biển nói riêng, trong giai đoạn mới, NNL quản lý tài nguyên, môitrường biển từ Trung ương đến địa phương còn bộc lộ nhiều hạn chế, chưa đáp ứngđược yêu cầu quản lý nhà nước về biển một cách có hiệu quả Do vậy, nếu khôngsớm khắc phục được hiện trạng này thì mục tiêu chiến lược quốc gia phát triển kinh

tế gắn với bảo vệ môi trường, bảo vệ chủ quyền biển đảo sẽ khó thể đạt được Bởi,hiệu quả, hiệu lực quản lý nhà nước về tài nguyên, môi trường biển, xét cho cùngđược quyết định bởi NNL trong hệ thống các cơ quan quản lý tài nguyên, môi trườngbiển Trong khi đó, do mới được thành lập trên cơ sở tập hợp lại từ một số đơn vịkhác nhau, trước bối cảnh có những diễn biến phức tạp mới về biển, đảo hiện nay,làm cho những bất cập về NNL lĩnh vực này càng trở lên gay gắt hơn

Như vậy, trước yêu cầu từ thực tiễn đang đặt ra, việc phát triển về số lượng,nâng cao chất lượng, hợp lý về cơ cấu và sử dụng có hiệu quả NNL quản lý tàinguyên, môi trường biển giai đoạn hiện nay đòi hỏi phải là mối quan tâm hàngđầu của Đảng, Nhà nước, của các ngành, các cấp và của mỗi người dân Việt Nam,

để tạo ra sự phát triển đột phá trong lĩnh vực phát triển kinh tế biển gắn với bảo vệchủ quyền biển, đảo, bảo vệ tài nguyên môi trường biển Bên cạnh đó, cuộc cáchmạng công nghiệp lần thứ tư (CMCN 4.0) cũng đang tác động và ảnh hưởngmạnh tới nhiều lĩnh vực, ngành nghề, làm thay đổi sâu sắc thế giới Nền kinh tếViệt Nam đang hội nhập sâu rộng với nền kinh tế thế giới, tình hình đó lại càngđòi hỏi cần thiết khách quan phải nghiên cứu thấu đáo cả lý luận và thực tiễn, đặcbiệt là nghiên cứu kinh nghiệm phát triển NNL của các quốc gia có biển, đảo, rút

ra những bài học kinh nghiệm thiết thực, cụ thể về phát triển NNL quản lý tàinguyên, môi trường biển cho Việt Nam Để có những giải pháp đồng bộ, khả thi

và có hiệu quả phát triển nhanh NNL quản lý nguồn tài nguyên, môi trường biển,đáp ứng yêu cầu của tình hình mới

Trong các quốc gia có biển và thành công trong phát triển kinh tế biển, đảmbảo hài hòa lợi ích giữa phát triển kinh tế với bảo vệ môi trường biển, thì HànQuốc là một quốc gia thuộc Đông Á thành công và khá tương đồng với Việt Nam.Hàn Quốc có diện tích 100.339 km², dân số theo thống kê năm 2019 là51,146.039 triệu người Hàn Quốc vốn không được thiên nhiên ưu đãi, tài nguyênthiên nhiên nghèo, khí hậu khắc nghiệt, đất nước trải qua chiến tranh gặp vô vànkhó khăn Nên từng được biết đến như một trong những nước nghèo nhất thế giới,đến nay kinh tế Hàn Quốc đã đạt được những thành tựu mà cả thế giớ biết đến là

“kỳ tích Sông Hàn” Nền kinh tế Hàn Quốc được đánh giá đứng thứ 4 châu Á, thứ

11 trên thế giới và trở thành nền kinh tế đứng thứ 9 trong 46 quốc gia OCED.GDP bình quân đầu người của Hàn Quốc liên tục tăng qua các năm, năm 2019 đạt31.791 USD, năm 2020 dự kiến sẽ tăng 2,3% [83], [95]

2

Trang 4

Thành công của Hàn Quốc là sự kết hợp của rất nhiều yếu tố, trong đó phải

kể đến sự thành công của chính sách phát triển NNL quản lý tài nguyên, môitrường biển Hàn Quốc, đã khắc phục được những khó khăn do đặc thù của ngànhnhư: điều kiện, môi trường làm việc khắc nghiệt và yêu cầu về chất lượng NNLngày càng cao, đã duy trì được phát triển về số lượng, đảm bảo về chất lượng vàhợp lý về cơ cấu NNL Sự thành công của Hàn Quốc, không phải quốc gia có biểnnào cũng đạt được trong các mặt như: xây dựng kế hoạch NNL; tuyển dụng NNL;

bố trí, sử dụng NNL; tạo động lực làm việc cho NNL và đặc biệt là duy trì và thúcđẩy công tác giáo dục, đào tạo, thu hút NNL chất lượng cao đáp ứng yêu cầu pháttriển của lĩnh vực Kết quả phát triển NNL giúp cho lĩnh vực biển và các ngànhcông nghiệp đại dương Hàn Quốc đóng góp vai trò quan trọng trong nền kinh tếquốc dân trong đó, năm 2003 kinh tế biển đóng góp 7% GDP cả nước và dự kiếnđạt 8,6% GDP vào năm 2020 Đưa Hàn Quốc trở thành quốc gia giàu có nhờ khaithác các tiềm năng, thế mạnh của biển, phát triển nhanh kinh tế biển và trở thànhmột trong năm cường quốc biển [89] [84]

Bên cạnh những thành công trên, trong lĩnh vực phát triển NNL quản lý tàinguyên, môi trường biển Hàn Quốc cũng còn một số hạn chế cần được nghiên cứu đểtránh lặp lại Xuất phát từ vai trò quan trọng, quyết định của NNL đối với phát triểnkinh tế, văn hóa, xã hội, nói chung, đối với phát triển kinh tế biển và giữ vững chủquyền biển đảo nói riêng; từ sự tương đồng với Việt Nam trong các lĩnh vực nóichung, cũng như trong lĩnh vực biển nói riêng và những thành công, chưa thành côngcủa Hàn Quốc trong phát triển kinh tế biển nói chung, trong phát triển NNL quản lýtài nguyên, môi trường biển nói riêng, NCS lựa chọn chủ đề “Kinh nghiệm phát triển nguồn nhân lực của Hàn Quốc trong lĩnh vực quản lý tài nguyên, môi

trường biển, bài học cho Việt Nam” làm đề tài nghiên cứu viết luận án tiến sĩ.Nhằm góp phần làm phong phú hơn về mặt lý luận đối với phát triển NNL quản

lý tài nguyên, môi trường biển, từ đó đóng góp vào việc giải quyết những đòi hỏi

từ thực tiễn phát triển NNL đáp ứng yêu cầu công tác quản lý tài nguyên, môitrường biển mà Việt Nam đang phải đối mặt, thông qua nghiên cứu vận dụng cácbài học kinh nghiệm của Hàn Quốc

2 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của luận án

2.1 Mục đích nghiên cứu

Trên cơ sở hệ thống hóa và phát triển lý luận phát triển NNL nói chung, pháttriển NNL quản lý TNMT biển nói riêng, xây dựng khung lý luận để phân tích đánhgiá thực trạng và rút ra bài học kinh nghiệm về phát triển NNL quản lý TNMT biểncủa Hàn Quốc Từ đó, đề xuất một số giải pháp và kiến nghị nhằm vận

3

Trang 5

dụng kinh nghiệm phát triển NNL quản lý TNMT biển của Hàn Quốc vào ViệtNam giai đoạn 2020 - 2030 tầm nhìn 2045 góp phần đáp ứng những yêu cầu thựctiễn đặt ra.

2.2 Nhiệm vụ nghiên cứu

Để đạt được mục đích đề ra, luận án tập trung thực hiện một số nhiệm vụsau:

- Tổng quan tình hình nghiên cứu trong và ngoài nước liên quan đến chủ

đề luận án, đánh giá những thành công, kinh nghiệm và kết quả đạt được của các côngtrình để kế thừa vào nghiên cứu luận án, phát hiện những khoảng trống nghiên cứu đểlựa chọn, xác định các nội dung luận án cần tiếp tục nghiên cứu

- Hệ thống hóa, làm rõ hơn sở lý luận phát triển NNL quản lý tài nguyên,môi trường biển, cụ thể làm rõ: Khái niệm NNL, NNL quản lý tài nguyên, môi trườngbiển; phát triển NNL quản lý tài nguyên, môi trường biển; làm rõ đặc điểm NNL quản

lý tài nguyên, môi trường biển, nội dung phát triển NNL quản lý tài nguyên, môitrường biển, xây dựng các tiêu chí đánh giá phát triển NNL quản lý tài nguyên, môitrường biển, phân tích các nhân tố ảnh hưởng đến phát triển NNL quản lý tài nguyên,môi trường biển

- Phân tích đánh giá thực trạng phát triển NNL quản lý TNMT biển củaHàn Quốc, rút ra những bài học kinh nghiệm thành công, hạn chế và nguyên nhân củanhững hạn chế trong phát triển NNL quản lý TNMT biển cho Việt Nam

- Phân tích, đánh giá thực trạng phát triển NNL quản TNMT biển ViệtNam, rút ra những điểm tương đồng và khác biệt về phát triển NNL quản lý TNMTbiển của Hàn Quốc và Việt Nam

- Đề xuất một số giải pháp, điều kiện và khuyến nghị để vận dụng có hiệuquả kinh nghiệm phát triển NNL quản lý TNMT biển của Hàn quốc vào phát triểnNNL quản lý TNMT biển Việt Nam

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu luận án

3.1 Đối tượng nghiên cứu

Nghiên cứu kinh nghiệm phát triển NNL quản lý TNMT biển của Hàn Quốc, bài học kinh nghiệm cho Việt Nam

3.2 Phạm vi nghiên cứu

a Về nội dung

4

Trang 6

Luận án tiếp cận nghiên cứu kinh nghiệm phát triển NNL quản lý TNMT biểncủa Hàn Quốc, rút ra bài học kinh nghiệm cho Việt Nam, theo quan điểm quản trịnguồn nhân lực trong tổ chức và tiếp cận NNL theo hướng quản lý tổng hợp, khôngtiếp cận NNL theo hướng quản lý đơn ngành Tuy nhiên, do đây là vấn đề rộng vàphức tạp nên trong khuôn khổ luận án tiến sĩ, phạm vi nghiên cứu của luận án sẽ tậptrung vào đối tượng trực tiếp là nguồn nhân lực quản lý TNMT biển: gồm các cán

bộ, công chức, viên chức và người lao động đang thực hiện nhiệm vụ quản lý tổnghợp tài nguyên và bảo vệ môi trường biển với các nội dung sau:

- Làm rõ khái niệm NNL quản lý TNMT biển, đưa ra những nội dung pháttriển và các hoạt động phát triển NNL quản lý TNMT biển Xác lập các tiêu chí đánhgiá phát triển NNL quản lý TNMT biển và phân tích rõ các nhân tố ảnh hưởng đếnphát triển NNL quản lý TNMT biển

- Phân tích đánh giá thực trạng phát triển NNL quản lý TNMT biển củaHàn Quốc Rút ra những bài học kinh nghiệm về phát triển NNL quản lý TNMT biểncủa Hàn Quốc đối với Việt Nam

- Phân tích đánh giá thực trạng phát triển NNL quản lý TNMT biển ViệtNam, trên cơ sở đó làm rõ những điểm tương đồng và khác biệt về phát triểnNNL quản lý TNMT biển của Hàn Quốc và Việt Nam Đề xuất các giải pháp,điều kiện và kiến nghị vận dụng có hiệu quả kinh nghiệm phát triển NNL quản lýTNMT biển của Hàn Quốc vào phát triển NNL quản lý tài nguyên môi trườngbiển Việt Nam

4 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu của luận án

4.1 Phương pháp luận

Luận án tiếp cận nghiên cứu phát triển NNL quản lý TNMT biển theo quanđiểm quản trị NNL trong tổ chức, được thể hiện ở các hoạt động phát triển nguồn

5

Trang 7

nhân lực và đánh giá phát triển theo các nhóm tiêu chí chủ yếu sau: (i) Nhóm tiêuchí đánh giá phát triển về số lượng, hoàn thiện về cơ cấu; (ii) Nhóm tiêu chí đánhgiá phát triển về chất lượng, thể hiện ở mức độ phát triển về thể lực, trí lực, tâmlực; (iii) Nhóm tiêu chí đánh giá hoạt động phát triển NNL quản lý tài nguyênmôi trường biển.

4.2 Phương pháp nghiên cứu của luận án

Luận án kết hợp sử dụng các phương pháp nghiên cứu phổ biến được ápdụng cho nghiên cứu chuyên ngành khoa học xã hội và quản lý, gồm:

4.2.1 Phương pháp thu thập thông tin, dữ liệu

Luận án kế thừa có chọn lọc các công trình nghiên cứu về NNL, phát triểnNNL đã được công bố và kết hợp sử dụng một số phương pháp phổ biến trongnghiên cứu chuyên ngành khoa học xã hội và quản lý để nghiên cứu các vấn đề lýluận và thực tiễn phát triển NNL quản lý TNMT biển của cả Hàn Quốc và ViệtNam, cụ thể:

lý TNMT biển vào Việt Nam

4.2.1.2 Thu thập dữ liệu sơ cấp thông qua điều tra, phỏng vấn các chuyên gia và các đối tượng liên quan

Dữ liệu sơ cấp thu thập qua điều tra bằng bảng hỏi, được thực hiện trên cơ

sở phát phiếu trực tiếp và gián tiếp đến các đối tượng khảo sát

a Về đối tượng khảo sát

Luận án đã sử dụng 3 bảng câu hỏi cho các nhóm đối tượng: (1) Cán bộ,công chức, viên chức và người lao động Việt Nam đang làm việc trong lĩnh vựcbiển, đảo ở Trung ương và địa phương; (2) Cán bộ quản lý, các chuyên gia, làm

6

Trang 8

việc trong lĩnh vực quản lý TNMT biển Việt Nam và Hàn Quốc; (3) Chuyên gialàm việc tại một số tổ chức quốc tế, nhà khoa học, giảng viên tại một số trườngđại học liên quan đến biển, đảo.

b Về xây dựng bảng hỏi

Nguyên tắc xây dựng bảng hỏi: Bảng hỏi sử dụng thang đo định danh,

thang đo thứ tự và thang đo likert mức độ được xây dựng căn cứ vào khungnghiên cứu luận án đưa ra Trong thang đo likert năm bậc từ bậc 1 đến bậc 5 (bậc

1 là kém nhất và bậc 5 là tốt nhất)

Thiết kế bảng hỏi: Bảng hỏi được thiết kế dựa trên các nội dung nghiên cứu

cần thu thập của luận án Mẫu bảng hỏi được thiết kế sơ bộ sau đó xin ý kiến đónggóp của Giảng viên hướng dẫn và các chuyên gia, đồng nghiệp có kinh nghiệm Saukhi hoàn thiện, được tiến hành điều tra thử một số công chức, viên chức, người LĐthuộc Tổng cục Biển và Hải đảo Việt Nam, để hoàn thiện phiếu khảo sát

c Về mẫu điều tra và phương pháp chọn mẫu

- Kích thước mẫu: Kích thước của mẫu áp dụng trong nghiên cứu điều tra

NNL Việt Nam được dựa theo phương pháp của Hair, Anderson, Tatham và Black

(1998), theo đó kích thước mẫu áp dụng điều tra người lao động tối thiểu gấp 5lần tổng số biến quan sát và được tính theo công thức: n = 5 x m (n là kích thướcmẫu nghiên cứu, m là số biến độc lập)

n = 5 x 71= 355 (mẫu)

Như vậy, mẫu phiếu điều tra của luận án cần có số lượng tối thiểu là 355

- Phương pháp chọn mẫu: Mẫu được chọn ngẫu nhiên theo tiêu thức cán

bộ quản lý; chuyên gia; công chức, viên chức và người LĐ sau đó trong từng nhómđối tượng dùng cách chọn ngẫu nhiên đối tượng khảo sát Số mẫu chọn ở mỗi đơn vịtuân theo tỷ lệ nhóm đối tượng

- Quá trình tiến hành điều tra: Thời gian tiến hành điều tra từ tháng 6 năm

2019 đến tháng 03 năm 2020; Thông tin điều tra khảo sát, đánh giá phát triển NNLtrong 5 năm từ 2015 đến 2019

Trên cơ sở tính mẫu phiếu điều tra, NCS đã phát ra 450 phiếu, điều tracông chức, viên chức và người LĐ; 30 phiếu cán bộ quản lý/ người sử dụng LĐViệt Nam; 25 phiếu chuyên gia Việt Nam Mặt khác để đánh giá phát triển NNLquản lý TNMT biển Hàn Quốc, luận án đã tiến hành điều tra 30 phiếu cán bộ, nhàquản lý Hàn Quốc; 30 phiếu chuyên gia Hàn Quốc và Việt Nam

7

Trang 9

Số phiếu thu được: đối với công chức, viên chức và người LĐ Việt Nam là

355 phiếu; đối với cán bộ quản lý/người sử dụng LĐ Việt Nam là 28 phiếu; đối vớichuyên gia Việt Nam 23 phiếu Số phiếu thu được: đối với cán bộ, nhà quản lý HànQuốc là 12 phiếu; đối với chuyên gia Hàn Quốc và Việt Nam về phát triển NNL

quản lý tài nguyên môi trường Hàn Quốc là 19 phiếu (Phụ lục 01, tr167-176).

Như vậy, số phiếu thu được phù hợp với yêu cầu về kích thước mẫu điều

tra d Phỏng vấn sâu các chuyên gia và đối tượng liên quan

Để có cơ sở đánh giá, nhận xét và đề xuất giải pháp, luận án kết hợp thuthập dữ liệu sơ cấp với tiến hành phỏng vấn sâu và điều tra bằng bảng hỏi đối vớimột số chuyên gia, cán bộ quản lý Hàn quốc và Việt Nam có nhiều kinh nghiệm

về lĩnh vực phát triển NNL quản lý tài nguyên môi trường biển

Đặc biệt, được sự hỗ trợ, giúp đỡ của Trung tâm Nghiên cứu Hàn Quốc Triều Tiên; Viện Nghiên cứu Đông Bắc Á, Viện Hàn lâm Khoa học xã hội ViệtNam và Quỹ Giao lưu Quốc tế Hàn Quốc (Korea Foundation) NCS đã có cơ hộitham gia và trình bày kết quả nghiên cứu tại buổi Tọa đàm khoa học dành cho các

-nhà nghiên cứu Hàn Quốc tại Việt Nam có chủ đề “Thực trạng và bài học kinh nghiệm rút ra về phát triển nguồn nhân lực quản lý tài nguyên, môi trường biển của Hàn Quốc” Tại đây, NCS đã thu nhận được nhiều ý kiến đóng góp rất hữu

ích của các chuyên gia, nhà khoa học để hoàn thiện luận án

Những thông tin, ý kiến đóng góp của các chuyên gia giúp cho phân tíchsâu sắc và làm rõ hơn những đánh giá kết luận trong luận án

4.2.2 Khảo cứu và phân tích tại bàn

Phương pháp định lượng: Nguồn dữ liệu sơ cấp tiến hành điều tra bằng

bảng hỏi được tổng hợp bằng phần mềm xử lý số liệu thống kế xã hội học SPSS16.0 kết hợp với các dữ liệu thứ cấp thông qua thu thập, tổng hợp từ các báo cáocủa các cơ quan quản lý, các công trình nghiên cứu của các nhà khoa học, luận ántiến hành tổng hợp, phân tích để đánh giá thực trạng phát triển NNL rút ra bài họckinh nghiệm

Phân tích định tính: Luận án xây dựng các tiêu chí đánh giá phát triển NNL

quản lý TNMT biển, kết hợp với thang đo phát triển (thang đo Likert) dưới hìnhthức thang đo đơn từ bậc 1 đến bậc 5 (bậc 1 là kém nhất và bậc 5 là tốt nhất) Các

dữ liệu thu thập được từ các báo cáo, các đề tài khoa học, kết hợp với phỏng vấnsâu luận án tiến hành phân tích, mô tả nhận định, làm rõ những kết quả phân tíchđịnh lượng mà luận án đã chỉ ra trước đó

8

Trang 10

4.2.3 Phân tích, tổng hợp tài liệu

Các tài liệu liên quan đến đề tài luận án thu thập từ nhiều nguồn khác nhau,được NCS sắp xếp, kiểm tra về tính chính xác và sự phù hợp của nó, sau đó NCStiến hành đối chiếu, so sánh, đưa ra những phân tích đánh giá chính xác

Phương pháp thống kê mô tả: Được sử dụng để làm rõ những đặc tính của

các dữ liệu thu thập được, từ nghiên cứu khảo sát thực tế

4.2.4 Phương pháp thống kê, so sánh

Luận án sử dụng số liệu thống kê từ nguồn: Tổng cục thống kê, Bộ Tàinguyên và Môi trường, đồng thời kế thừa số liệu từ các tài liệu, các công trìnhnghiên cứu, các luận án để phân tích, so sánh, đánh giá những xu hướng tăng,giảm, trên cơ sở đó chỉ ra những thay đổi về phát triển NNL quản lý TNMT biển,làm cơ sở cho đề xuất các giải pháp vận dụng kinh nghiệm của Hàn Quốc về pháttriển NNL quản lý TNMT biển vào điều kiện cụ thể của Việt Nam

4.2.5 Phương pháp quan sát

Là người trực tiếp công tác tại Tổng cục Biển và Hải đảo Việt Nam nhiềunăm, NCS có điều kiện trực tiếp nghiên cứu, quan sát thực tế các đơn vị thuộc Tổngcục Biển và Hải đảo Việt Nam Đặc biệt, trong thời gian thực hiện luận án NCS đã

ba lần sang Hàn Quốc học tập, trực tiếp quan sát thực tế, tiếp xúc, trao đổi với cácchuyên gia, các nhà quản lý Hàn Quốc về lĩnh vực quản lý TNMT biển

4.2.6 Phương pháp xử lý số liệu.

Toàn bộ phiếu khảo sát thu về được phân loại, nhập vào phần mền Excel.Sau khi xem xét, loại bỏ các mẫu không phù hợp, số liệu điều tra được cập nhậtvào phần mềm SPSS 16.0 để xử lý Kiểm tra độ tin cậy và tính hợp lý của cácthang đo bằng hệ số tin cậy Cronbach’s Alpha cho kết quả 0,976; với kết quảkiểm định các thang đo trên có thể khẳng định các thang đo thành phần đảm bảo

độ tin cậy, đạt yêu cầu (Phụ lục 02, tr181).

4.3 Quy trình nghiên cứu

Luận án được thực hiện thông qua quy trình sau.

Bước một, nghiên cứu tổng quan các công trình nghiên cứu trong và ngoài

nước, có liên quan đến phát triển NNL quản lý TNMT biển, làm rõ những kết quảđạt được và khoảng trống tri thức, trên cơ sở đó lựa chọn và xác định hướngnghiên cứu, mục đích, nhiệm vụ, đối tượng, phạm vi và phương pháp nghiên cứu

Bước hai, hệ thống hóa và xây dựng khung lý luận về phát triển NNL quản

lý TNMT biển Cụ thể, luận án hệ thống hóa và phát triển lý luận về phát triển

9

Trang 11

NNL quản lý TNMT biển, như: làm rõ một số khái niệm liên quan, đặc điểmNNL quản lý TNMT biển, các hoạt động phát triển NNL, các tiêu chí đánh giáphát triển NNL quản lý TNMT biển và phân tích các nhân tố ảnh hưởng đến pháttriển NNL quản lý TNMT biển.

Bước ba, thu thập các tư liệu, số liệu thứ cấp, sơ cấp phục vụ cho viết luận

án

Tiến hành thu thập các số liệu trong và ngoài nước liên quan đến NNL lĩnhvực quản lý TNMT biển của Hàn Quốc Đặc biệt là tiên hành thu thập các dữ liệuthứ cấp, các công trình khoa học, các báo cáo tổng hợp nghiên cứu lĩnh vực quản

lý TNMT biển Hàn Quốc Thu thập các tư liệu sơ cấp, thông qua tiến hành điềutra bằng bảng hỏi các nhà quản lý, các chuyên gia Hàn quốc và các chuyên giatrong nước về phát triển NNL quản lý TNMT biên của Hàn Quốc

Bước bốn, toàn bộ số liệu điều tra được nhập vào phần mềm SPSS 16.0,

loại bỏ các mẫu không phù hợp; xử lý dữ liệu sơ cấp và thứ cấp, phân tích đánhgiá thực trạng phát triển NNL quản lý TNMT biển Hàn Quốc Rút ra bài học kinhnghiệm về phát triển NNL quản lý TNMT biển cho Việt Nam

Bước năm, thu thập xử lý các số liệu thứ cấp, các số liệu sơ cấp về phát

triển NNL quản lý TNMT biển Việt Nam, trong đó, thu thập các tư liệu sơ cấpphục vụ đánh giá phát triển NNL Việt Nam, thông qua tiến hành điều tra bằngbảng hỏi đối với chuyên gia, cán bộ quản lý, NNL của Việt Nam

Toàn bộ số liệu điều tra được nhập vào phần mềm SPSS 16.0, loại bỏ cácmẫu không phù hợp; xử lý dữ liệu, tiến hành phân tích, đánh giá thực trạng pháttriển NNL quản lý TNMT biển Việt Nam, rút ra những điểm tương đồng và khácbiệt về phát triển NNL quản lý TNMT biển giữa Hàn Quốc và Việt Nam

Bước sáu, đề xuất các giải pháp và điều kiện vận dụng kinh nghiệm của

Hàn Quốc về phát triển NNL quản lý TNMT biển vào phát triển NNL quản lý tàinguyên môi trường biển Việt Nam

Việc triển khai áp dụng các phương pháp nghiên cứu của luận án được mô

tả trong sơ đồ quy trình nghiên cứu.

10

Trang 12

Hình 1 Sơ đồ quy trình nghiên cứu

TỔ CHỨC

Cơ sở Lý luận về phát triển NNL trong tổ chức và thực tiễn vận dụng vào lĩnh vực QL tài nguyên, môi trường biển

Thực trạng phát triển NNL trong lĩnh vực quản lý tài nguyên, môi trường biển của Hàn Quốc

Hiện trạng công tác phát triển nguồn nhân lực lĩnh vực quản lý tài nguyên môi trường biển Việt Nam

Thu thập, tham khảo,

kế thừa các kết quả nghiên cứu trong và ngoài nước

Nội dung và các tiêu chí đánh giá phát triển NNL trong tổ

chức

Bài học kinh nghiệm rút

ra đối với Việt Nam về phát triển NNL quản lý TNMT biển

Điểm tương đồng và khác biệt về phát triển nguồn nhân lực quản lý tài nguyên, môi trường

2016

Vận dụng kinh nghiệm về phát triển NNL quản lý TNMT biển của Hàn Quốc vào Việt Nam

Chính sách tuyển dụng, thu hút NNL

Bố trí, sử dụng và đánh giá NNL

Nâng cao chất lượng công tác đào tạo, bồi dưỡng NNL

Khuyến nghị nhằm đảm bảo

Chính sách tạo động

nghiệm của Hàn Quốc trong lĩnh vực quản lý tài nguyên, môi trường biển vào Việt Nam

11

Trang 13

5 Đóng góp mới về khoa học của luận án

Luận án là công trình khoa học tập trung vào những vấn đề còn trống vềkhoa học và thực tiễn, đó là nghiên cứu một cách có hệ thống và toàn diện về cơ

sở lý luận phát triển NNL quản lý TNMT với nghiên cứu điển hình là Hàn Quốc

và Việt Nam và đã có một số những phát hiện, bổ sung mới như:

Đã hệ thống hóa và phát triển cơ sở lý luận về phát triển NNL quản lý TNMTbiển Cụ thể: đưa ra một số khái niệm liên quan, luận giải làm rõ đặc điểm, vai tròcủa NNL quản lý TNMT biển Xác định nội dung, hoạt động phát triển, đưa ra hệthống các tiêu chí đánh giá phát triển NNL quản lý TNMT biển và phân tích cácnhân tố chủ yếu ảnh hưởng đến phát triển NNL quản lý TNMT biển

Đã nghiên cứu, phân tích đánh giá trung thực thực trạng phát triển NNLquản lý TNMT biển của Hàn Quốc, chỉ ra những thành công, hạn chế từ đó rút ranhững bài học kinh nghiệm về phát triển NNL quản lý TNMT biển của HànQuốc Đồng thời thông qua nghiên cứu thực trạng phát triển NNL quản lý TNMTbiển của Hàn Quốc và Việt Nam, luận án chỉ ra những điểm tương đồng và khácbiệt về phát triển NNL quản lý TNMT biển của hai quốc gia

Đề xuất các giải pháp khả thi và điều kiện vận dụng các bài học kinhnghiệm về phát triển NNL quản lý TNMT biển của Hàn Quốc đồng thời đưa ramột số khuyến nghị với Bộ Tài nguyên và Môi trường và với Nhà nước để vậndụng có hiệu quả kinh nghiệm của Hàn Quốc vào phát triển NNL quản lý TNMTbiển của Việt Nam

6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận án

12

Trang 14

NNL quản lý TNMT biển của Hàn Quốc và Việt Nam Đây là tài liệu quan trọnggiúp cho các cơ quan của cả hai quốc gia có cái nhìn đúng đắn, khách quan vềthực trạng phát triển NNL quản lý TNMT biển của mình Đặc biệt là giúp cho các

cơ quan chức năng của Việt Nam nghiên cứu tham khảo các kinh nghiệm của HànQuốc về phát triển NNL quản lý TNMT biển của Hàn Quốc

Luận án đã đề xuất các điều kiện và giải pháp vận dụng những bài học kinhnghiệm của Hàn Quốc về phát triển NNL quản lý TNMT biển giúp các nhà quản

lý mà trực tiếp là Tổng cục Biển và Hải đảo Việt Nam tham khảo để đề ra chươngtrình, kế hoạch nghiên cứu vận dụng kinh nghiệm phát triển NNL quản lý TNMTbiển của Hàn Quốc vào phát triển NNL quản lý tài nguyên, môi trường biển ViệtNam, nhằm sớm đưa nước ta trở thành quốc gia mạnh về biển Luận án là tài liệutham khảo phục vụ cho công tác nghiên cứu, đào tạo, phát triển NNL

7 Kết cấu của luận án

Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, danh mục cácbiểu bảng, chữ viết tắt, bảng phụ lục, nội dung luận án được kết cấu gồm 04chương sau

Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài luận ánChương 2: Cơ sở lý luận về phát triển nguồn nhân lực quản lý tài nguyên,môi trường biển

Chương 3: Kinh nghiệm phát triển nguồn nhân lực quản lý tài nguyên, môitrường biển của Hàn Quốc

Chương 4: Vận dụng kinh nghiệm phát triển nguồn nhân lực quản lý tàinguyên, môi trường biển của Hàn Quốc vào phát triển nguồn nhân lực quản lý tàinguyên, môi trường biển Việt Nam

13

Trang 15

CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN

ĐẾN ĐỀ TÀI LUẬN ÁN

1.1 Tổng quan các nghiên cứu của tác giả ngoài nước và Việt Nam liên quan đến phát triển nguồn nhân lực quản lý tài nguyên, môi trường biển

1.1.1 Các nghiên cứu về phát triển nguồn nhân lực

1.1.1.1 Các nghiên cứu của các tác giả Hàn Quốc và các nước trên thế giới

Bàn về phát triển NNL, tầm quan trọng của phát triển NNL hai tác giả L

Nadler và Z Nadeler (1990 và 1992), sổ tay phát triển nguồn nhân lực (The Handbook of Human resource developmen) và Hướng dẫn cho các nhà quản lý

về phát triển NNL (Every Managers guide to human resource development) đưa

ra quan điểm “phát triển NNL bao gồm 3 loại chương trình ở 3 mức độ quan tâm

khác nhau: đào tạo, giáo dục và phát triển” [81], [82]; Marquardt và Engel (1993),

năng lực phát triển NNL trong bối cảnh một thế giới đang dần thu hẹp (HRD competencies for a shrinking world) đã xác định “phát triển NNL bao gồm 3 lĩnh

vực: đào tạo và phát triển; phát triển tổ chức và phát triển sự nghiệp để tăngcường kết quả của cá nhân, nhóm và tổ chức” Các tác giả đã đưa ra danh mụcgồm 35 năng lực được xếp thành 4 nhóm cần được phát triển là năng lực kĩ thuật,năng lực thực hiện công việc theo chuyên môn phụ trách; năng lực nhân cách vànăng lực trí tuệ [76]

Về mối quan hệ giữa phát triển con người (hay phát triển nguồn nhân lực)

với phát triển kinh tế (The Relationship between human development and economic growth) đã được thể hiện thông qua các báo cáo của UNDP (2013) và

Michael Boozer, Gustav Ranis, and Tavneet Suri (2003) với các bài nghiên cứucủa các tác giả ở trường Đại học Yale và Oxford trên thế giới Mối quan hệ mạnh

mẽ trong hai cách: phát triển NNL sẽ dẫn đến phát triển kinh tế và tăng trưởngkinh tế sẽ thúc đẩy phát triển NNL

Yoshihara Kunio (1999) trong tác phẩm Phát triển quốc gia và tăng trưởng kinh tế - trường hợp của Hàn Quốc và Thái Lan (The Nation and economic growth

- Korea and Thailand) cho rằng “phát triển NNL là các hoạt động đầu tư nhằm tạo ra

NNL với số lượng và chất lượng đáp ứng nhu cầu phát triển KTXH của đất nước, đồngthời đảm bảo sự phát triển của mỗi cá nhân [97] Adam Smith (1997), trong tác phẩm

Của cải của dân tộc (Wealth of Nations) chỉ ra phát triển NNL chịu sự tác động của năm

nhân tố: Thứ nhất, giáo dục và đào tạo; Thứ hai, sức khỏe và dinh dưỡng; Thứ ba, môitrường; Thứ tư, việc làm; Thứ năm, sự giải phóng con người Những nhân tố này luôngắn bó, hỗ trợ và phụ thuộc lẫn nhau, trong đó giáo dục, đào tạo là nhân tố nền tảng, là cơ

sở của tất cả các nhân tố khác Nhân tố sức khỏe và dinh dưỡng, môi trường, việc làm vàgiải phóng con người là nhân tố thiết

14

Trang 16

yếu, góp phần duy trì và đáp ứng sự phát triển bền vững NNL Khi sản xuất càngphát triển, thì đóng góp của trí tuệ thông qua GD&ĐT ngày càng chiếm một tỷtrọng lớn so với đóng góp của các yếu tố khác trong cơ cấu giá trị sản phẩn củalao động [1].

Theo Jerry W Gilley and Ann Maycunich (2002), trong tác phẩm Nguyên tắc phát triển nguồn nhân lực (Principles of human resource development) “phát triển NNL

là quá trình thúc đẩy việc học tập trong tổ chức và có tính hệ thống, nâng cao kết quảthực hiện công việc, tạo ra thay đổi thông qua việc tổ chức thực hiện các giải pháp,các sáng kiến và các hoạt động quản lý nhằm mục đích nâng cao năng lực, hiệu quảhoạt động của tổ chức, khả năng cạnh tranh và đổi mới [68]

Trong suốt chặng đường phát triển của những tư tưởng, trên cơ sở các cáchtiếp cận từ các góc độ chuyên ngành khác nhau, khái niệm về phát triển NNLđược các học giả đưa ra cũng có những điểm khác nhau, quá trình phát triển củacác nghiên cứu về phát triển NNL này được luận án tổng hợp tại Phụ lục 3, trang

196 Trong đó đáng chú ý có quan điểm về phát triển NNL được đưa ra tại Điều

2, Luật cơ bản về phát triển NNL của Hàn Quốc (sửa đổi ngày 26/7/2017), chorằng “phát triển NNL là các hoạt động được thực hiện bởi chính phủ quốc gia,chính quyền địa phương, tổ chức giáo dục, viện nghiên cứu, công ty, v.v để nuôidưỡng, phân phối, sử dụng NNL và hình thành các chuẩn mực xã hội, cũng nhưcác tổ chức liên quan đến họ” [101]

1.1.1.2 Các nghiên cứu về phát triển nguồn nhân lực của tác giả trong nước

Nghiên cứu một số công trình của các tác giả trong nước về phát triển NNLtiêu biểu như:

Theo các tác giả Nguyễn Ngọc Quân, Nguyễn Vân Điềm (2015), trong Giáo trình quản trị nhân lực, thì “theo nghĩa rộng, phát triển NNL là tổng thể các

hoạt động học tập có tổ chức, được tiến hành trong những khoảng thời gian nhấtđịnh nhằm tạo ra sự thay đổi hành vi nghề nghiệp của người lao động [40]; Bùi

Văn Nhơn (2006), Giáo trình Quản lý và phát triển NNL xã hội, cho rằng “phát

triển NNL là tổng thể các hình thức, phương pháp, chính sách và biện pháp nhằmhoàn thiện và nâng cao chất lượng NNL đáp ứng đòi hỏi về NNL cho phát triểnKTXH trong từng giai đoạn phát triển [33]; Theo Nguyễn Thế Phong (2010), luận

án tiến sĩ phát triển NNL trong các doanh nghiệp nhà nước kinh doanh nông sản khu vực phía Nam cho rằng “phát triển NNL trong doanh nghiệp là quá trình thực

hiện tổng thể các chính sách và biện pháp thu hút, duy trì và đào tạo NNL nhằmhoàn thiện, nâng cao chất lượng NNL, trên cả ba phương diện thể lực, trí lực, tâmlực, điều chỉnh hợp lý quy mô, cơ cấu NNL một cách bền vững và hiệu quả” [35]

Các tác giả Nguyễn Thị Thanh Quý (2016), phát triển NNL ngành hàng không Việt Nam [1]; Nguyễn Thị Lan Anh (2012), phát triển NNL quản trị của các

15

Trang 17

doanh nghiệp vừa và nhỏ trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên [1]; Nguyễn Thanh Vũ (2015), nghiên cứu các yếu tố ảnh hưởng đến phát triển NNL của các doanh nghiệp may tỉnh Tiền Giang [1] không chỉ đưa ra khái niệm phát triển NNL mà

còn làm rõ nội dung phát triển NNL và các tiêu chí đánh giá phát triển NNL LêThị Ánh Tuyết (2020), phát triển NNL quản lý đơn hàng tại các doanh nghiệpmay Việt Nam Nghiên cứu đưa ra khái niệm phát triển NNL quản lý đơn hàng tạicác doanh nghiệp may Việt Nam Tác giả đề xuất năm giải pháp phát triển NNLquản lý đơn hàng tai các doanh nghiệp may Việt Nam [1]

Các quan điểm của các học giả trong và ngoài nước đề cập đến khái niệm pháttriển NNL, tuy các khái niệm đưa ra có khác nhau, nhưng về cơ bản đều thống nhất

đó là sự biến đổi về số lượng, nâng cao năng lực, trình độ, có sức khỏe, hoàn thiện về

cơ cấu, nhằm tạo ra quy mô và cơ cấu ngày càng phù hợp với nhu cầu về NNL phục

vụ cho phát triển KTXH, đáp ứng yêu cầu của công việc hiện tại và thích ứng với sựphát triển trong tương lai Đồng thời đã đề cập đến nội dung (các hoạt động), các tiêuchí đánh giá phát triển NNL Tuy nhiên những nội dung, tiêu chí đánh giá đề cậpthường gắn với các ngành, địa phương, doanh nghiệp và chủ yếu tập trung vào tiêuchí đánh giá về chất lượng ít quan tâm đến các tiêu chí đánh giá về bố trí, sử dụng,tạo môi trường, điều kiện để NNL phát triển

1.1.2 Phát triển nguồn nhân lực quản lý tài nguyên, môi trường biển:

1.1.2.1 Các nghiên cứu của các tác giá nước ngoài

Theo nghiên cứu của PEMSEA (2010), Kiến thức cơ bản về quản lý tổng hợp ven biển (Basic knowledge on Integrated Coastal Management), cần khẩn

trương phát triển NNL chất lượng cao về quản lý tổng hợp ven biển (ICM), trong

đó chú trọng đội ngũ cán bộ có năng lực và kinh nghiệm thực tiễn tốt, đội ngũchuyên gia hàng đầu trong lĩnh vực ICM Để đạt được điều này, theo PEMSEAcần đẩy mạnh đào tạo, hợp tác, đẩy mạnh các chương trình giảng dạy đại học vàsau đại học về ICM… Giáo dục cộng đồng phải là một hoạt động lâu dài và liêntục trong chương trình ICM PEMSEA đã đề xuất thiết lập cơ chế điều phối liên

cơ quan, đa ngành cho một chương trình ICM Hiện nay, cơ chế điều phối này đã

và đang được nhiều quốc gia, đia phương và tổ chức đối tác thành viên củaPEMSEA áp dụng [85]

Dong- Oh Cho (2012), Hoạch định chính sách đại dương Hàn Quốc: tiến tới quản lý tổng hợp đại dương (Korea's Oceans policymaking: Toward integrated Ocean management) [1] và Seoung-Yong Hong (2010), Chính sách hàng hải Hàn

Quốc (Marine policy in the Republic of Korea) [1] Là hai công trình tiêu biểunghiên cứu về chính sách biển của Hàn Quốc, trong đó các tác giả đã đề cập đến cáclợi ích quốc gia từ lĩnh vực biển Hàn Quốc có bảy lĩnh vực được coi là chủ đạo gồm:Thủy sản, vận tải đường thủy, đóng tàu và phát triển cảng, cải tạo không gian, khaithác dầu khí, liên kết khai thác biển sâu, bảo tồn môi trường biển, và nghiên

16

Trang 18

cứu khoa học biển Về pháp luật quản lý tài nguyên, bảo vệ môi trường biển: HànQuốc có cả một hệ thống luật để phục vụ quản lý tổng hợp biển và hải đảo nhưLuật quản lý biển, Luật quản lý đảo và Luật quản lý vùng bờ… Về tổ chức, bộmáy: sau nhiều lần xây dựng, hoàn thiện Hàn Quốc đã tái lập Bộ Đại dương vàThủy sản giúp Chính phủ Hàn Quốc thực hiện quản lý nhà nước tổng hợp về biển

và hải đảo; đã ban hành nhiều chính sách góp phần phát triển NNL trong đó đẩymạnh thành lập nhiều các trường đại học chuyên ngành, mở các chuyên ngànhđào tạo về biển tại các trường đại học

Byung - Nak Song (1997), Kinh tế Hàn Quốc đang trỗi dậy (The rise of the Korean economy) Đã chỉ ra mười sáu đặc điểm chính của dân tộc Hàn Quốc,

trong đó đề cập đến người Hàn luôn khát khao học tập và có thể coi là dân tộchiếu học nhất thế giới; so với các nước Đông Á khác, Hàn Quốc là nước kết hợphài hòa bản sắc văn hóa phương Đông và phương Tây; xã hội Hàn Quốc là một xãhội có tôn ti, trật tự nhất thế giới; dân Hàn Quốc là những con người làm việcchăm chỉ nhất thế giới Về tôn giáo thì tác giả cho rằng Đạo Khổng và Đạo ThiênChúa có ảnh hưởng lớn và được truyền bá nhiều nhất ở Hàn Quốc [7];

Nền văn hóa và lịch sử của Hàn Quốc có ảnh hưởng to lớn đến phươngthức phát triển KT cũng như cách thức phân chia những thành quả do tăng trưởngmang lại Sự thành công trong phát triển KT của Hàn Quốc trong giai đoạn hiệnđại là có cội nguồn trong quá khứ Đặc biệt, Khổng giáo nhấn mạnh đến yếu tốgiáo dục và tính kỷ luật, truyền thống tiếp thu cái mới, tiềm ẩn trong con ngườiHàn Quốc đã tạo cơ sở cho những tiến bộ hiện nay của Hàn Quốc;

Luận án tiến sĩ chuyên ngành Quản lý hành chính công của Jung Gun Joung

(2016), Quản lý nhà nước về môi trường ở Hàn Quốc, những giá trị tham khảo cho Việt Nam Luận án phân tích, đánh giá, so sánh thực tiễn quản lý nhà nước về môi

trường ở cả Việt Nam và Hàn Quốc trong các giai đoạn phát triển KTXH khác nhau,nhằm rút ra bài học có giá trị tham khảo cho Việt Nam trong thời kỳ đẩy mạnh CNH,HĐH đất nước đến năm 2030 Luận án đã tổng quan phát triển và sử dụng hiệu quảcác nguồn lực, bao gồm NNL, tài chính, thông tin; và thu hút sự tham gia của cácbên có liên quan Đồng thời thực hiện nghiên cứu điển hình và tiến hành so sánh chitiết hệ thống, mô hình quản lý nhà nước về môi trường của Hàn Quốc và Việt Namtrong bối cảnh KTXH của từng giai đoạn phát triển [27]

Adam Smith (1997), Của cải của dân tộc (Wealth of Nations) Tác giả cho

rằng phát triển NNL chịu sự tác động của năm nhân tố: Thứ nhất, giáo dục và đàotạo; Thứ hai, sức khỏe và dinh dưỡng; Thứ ba, môi trường; Thứ tư, việc làm; Thứnăm, sự giải phóng con người Trong quá trình tác động đến sự phát triển NNL,những nhân tố này luôn gắn bó, hỗ trợ và phụ thuộc lẫn nhau, trong đó giáo dục,đào tạo là nhân tố nền tảng, là cơ sở của tất cả các nhân tố khác Nhân tố sức khỏe

và dinh dưỡng, môi trường, việc làm và giải phóng con người là nhân tố thiết yếu,

17

Trang 19

góp phần duy trì và đáp ứng sự phát triển bền vững NNL Khi nền sản xuất càngphát triển thì phần đóng góp của trí tuệ thông qua giáo dục và đào tạo ngày càngchiếm một tỷ trọng lớn so với đóng góp của các yếu tố khác trong cơ cấu giá trịsản phẩn của lao động [1].

Nghiên cứu của Marquardt và Engel (1993) trong tác phẩm Năng lực phát triển NNL trong bối cảnh thế giới đang dần thu hẹp (HRD competencies for a shrinking world) đã xác định phát triển NNL bao gồm 3 lĩnh vực: đào tạo và phát

triển; phát triển tổ chức và phát triển sự nghiệp để tăng cường kết quả của cá nhân,nhóm và tổ chức Các tác giả đã đưa ra danh mục gồm 35 năng lực được xếp thành 4nhóm cần được phát triển là năng lực kĩ thuật, năng lực thực hiện công việc theochuyên môn phụ trách, năng lực liên nhân cách và năng lực trí tuệ [1]

Nghiên cứu của Ủy ban Hải dương học liên Chính phủ (2007), Chính sách biển quốc gia (Ocean policy of countries), đã nghiên cứu chính sách biển của

Australia, Nhật Bản, Mỹ, Trung Quốc nhóm nghiên cứu đã rút ra sáu bài học vềxây dựng, hoạch định chiến lược phát triển biển nhằm quản lý hiệu quả và bềnvững tài nguyên và môi trường biển; nhấn mạnh tới việc phát triển và ứng dụngnhững thành tựu của khoa học, kỹ thuật, công nghệ hiện đại trong khai thác tàinguyên và bảo vệ môi trường biển hướng tới sự phát triển bền vững [1]

Chính phủ các nước đều coi trọng và đánh giá cao vai trò, tầm quan trọng củatri thức, sự hiểu biết khoa học về hệ sinh thái biển của nhân lực làm công tác quản lýnhà nước về biển Để phát triển NNL phục vụ quản lý biển các Chính phủ cho rằngcần thiết phải đẩy mạnh giáo dục về biển cả trong trường học và nâng cao nhận thứccộng đồng, phổ biển, tuyên truyền Công ước của Liên hợp quốc về Luật biển và cácthỏa thuận quốc tế khác, nhằm đạt được mục tiêu phát triển, khai thác bền vững biển;đặc biệt chú trọng đào tạo đội ngũ cán bộ nghiên cứu phát triển KHCN biển, thôngqua những giải pháp nhằm thúc đẩy giáo dục liên ngành và nghiên cứu ở các trườngđại học về biển và các cơ quan nghiên cứu khác, nhằm tạo dựng đội ngũ nhân sựphục vụ quản lý và thực thi chính sách quản lý biển quốc gia

Cuốn sách về Chính sách biển quốc gia đặc biệt đề cập sâu đến các chính sách

biển Trung Quốc được nêu trong sách trắng về xây dựng Chương trình biển quốc gia của Trung Quốc Trung Quốc đã xây dựng Chiến lược biển với bốn yếu tố cơ bản là:

xác định việc mở rộng quản lý biển là hạt nhân của chiến lược chính trị biển; khẳngđịnh việc xây dựng chiến lược cường quốc biển là hạt nhân của chiến lược phát triểnkinh tế biển; xác định an ninh biển và an ninh quốc gia là vấn đề trọng tâm trongchiến lược phòng vệ biển; khẳng định và coi trọng việc sử dụng kỹ thuật cao kết hợpvới kỹ thuật thông thường trong chiến lược khoa học - kỹ thuật biển Sách trắng vềxây dựng Chương trình biển quốc gia của Trung Quốc đề cập rất chi tiết về chínhsách phát triển NNL thực hiện nhiệm vụ quản lý nhà nước về biển như: phát triển hệthống giáo dục biển gồm hệ thống giáo dục chuyên nghiệp,

18

Trang 20

dạy nghề và phổ biến kiến thức phổ thông, trú trọng đào tạo NNL kỹ thuật, trongviệc phát triển và bảo vệ biển, chia sẻ, phổ biến kinh nghiệm, kiến thức về hảidương học cho công chúng, đào tạo nghề ; đưa ra một số biện pháp đặc thù đểnâng cao trình độ, kỹ năng quản lý nhà nước về biển của cán bộ, công chức, viênchức.

Về quy trình tuyển chọn, bổ nhiệm cán bộ thực hiện các nguyên tắc căn bảngồm: Thứ nhất, đối với trường hợp tuyển chọn, bổ nhiệm cán bộ lãnh đạo và côngchức quản lý nhà nước, phải căn cứ trên nguyên tắc Đảng quản lý cán bộ; nguyêntắc tài đức song toàn; nguyên tắc quần chúng công nhận, coi trọng thành tích thựctế; nguyên tắc công khai, bình đẳng, cạnh tranh, lựa chọn người có năng lực vàphẩm chất tốt; nguyên tắc chế độ dân chủ tập chung và nguyên tắc tuân thủ phápluật Về điều kiện được tuyển chọn, bổ nhiệm: người được tuyển chọn bổ nhiệmđảm nhận các nhiệm vụ trong cơ quan quản lý Nhà nước về biển phải đáp ứngtrước hết các tiêu chuẩn cán bộ, bên cạnh đó còn phải đáp ứng tốt các yêu cầu vềtiêu chuẩn công chức, viên chức tại các cơ quan quản lý về biển Về đánh giá cán

bộ, công chức, viên chức nói chung và công chức, viên chức lĩnh vực biển và hảiđảo nói riêng của Trung Quốc được đánh giá theo 5 tiêu chí cơ bản: Đức, năng,cần, tích, liêm Về hình thức và phương pháp đánh giá công chức, viên chức quản

lý nhà nước về biển của Trung Quốc được thực hiện theo hai hình thức Một là,hình thức đánh giá công chức, viên chức theo định kỳ; Hai là, đánh giá công chức,viên chức bằng khảo sát đột xuất

Về phương pháp đánh giá, Trung Quốc thực hiện hai loại, một là kết hợp giữađánh giá của lãnh đạo cấp trên và đánh giá của quần chúng; hai là kết hợp giữa đánhgiá định kỳ hàng năm và đánh giá bất thường khi có yêu cầu Về đào tạo nâng caotrình độ quản lý của đội ngũ công chức, viên chức quản lý nhà nước về biển củaTrung Quốc được thực hiện thông qua hai hình thức gồm: đào tạo chính quy và hìnhthức đào tạo, bồi dưỡng ngắn hạn được áp dụng thường xuyên và đa dạng

Về chế độ đãi ngộ, nhằm tạo động lực để khuyến khích đội ngũ cán bộ,công chức, viên chức lĩnh vực quản lý nhà nước về biển Trung Quốc thực hiệntheo các nguyên tắc như phân phối theo lao động, tiền lương phải tương xứng vớitrách nhiệm Căn cứ tính lương là dựa vào chức trách, trình độ, năng lực công tác,thành tích công tác thực tế, bên cạnh đó xem xét các yếu tố thâm niên và điềukiện khu vực biển và hải đảo Ngoài tiền lương, công chức quản lý nhà nước vềbiển và hải đảo còn được hưởng các khoản phụ cấp khác, tùy theo hình thức côngviệc công chức được đảm nhận, luân chuyển hoặc biệt phái về các khu vực địaphương có điều kiện biển, đảo khó khăn

1.1.2.2 Nghiên cứu của các tác giả Việt Nam

Ở Việt Nam, trước năm 2008 phần lớn các nghiên cứu về quản lý Nhà nướclĩnh vực TNMT biển, thường do các cơ quan, tổ chức của Chính phủ thực hiện và

19

Trang 21

chủ yếu tập trung vào điều tra, khảo sát nguồn tài nguyên, đánh giá tác động môitrường hay tập trung đánh giá những hạn chế, thiếu hụt trong quản lý Nhà nước

về TNMT biển, để xác định phương hướng, giải pháp tăng cường quản lý TNMTbiển trong giai đoạn tiếp theo

Từ năm 2008 đến nay, có nhiều nhà khoa học, nhà quản lý quan tâm nghiêncứu đến quản trị, phát triển NNL quản lý Nhà nước về TNMT biển và hải đảo như:

Tổng cục Biển và Hải đảo Việt Nam (2018), Báo cáo tổng kết 10 năm thực hiện Nghị quyết lần thứ tư Ban châp hành Trung ương Đảng khóa X về Chiến lược biển Việt Nam đến năm 2020, phần nội dung đánh giá các chương trình KHCN biển

cấp nhà nước mã số KC.09/06-10, KC09/11-15 và KC09/16-20 đã chỉ ra 09 kết quảđạt được nổi bật từ các chương trình KHCN biển Trong đó, thông qua các đề tàithuộc chương trình KHCN biển đã góp phần phát triển NNL, đào tạo được khốilượng lớn NNL trình độ cao (thạc sĩ, tiến sĩ) về KHCN biển, nâng cao được tiềm lực

và khả năng nghiên cứu KHCN biển cũng như ứng dụng thành tựu KHCN tiên tiếnvào phục vụ phát triển kinh tế xã hội cho các khu vực ven biển, đảo cả nước Bêncạnh đó, báo cáo cũng chỉ ra bốn vấn đề mà chương trình KHCN biển cấp nhà nướcchưa đạt được và ba nguyên nhân của hạn chế Trong đó, có nguyên nhân do thiếuNNL nghiên cứu KHCN biển trình độ cao và chính sách đãi ngộ, thu hút nhân tàitrong lĩnh vực KHCN biển còn chưa phù hợp; để khắc phục hạn chế, tồn tại báo cáo

đã đưa ra ba nhóm giải pháp chính (1) đẩy mạnh hoạt động đào tạo NNL biển cótrình độ kỹ thuật cao, lành nghề; (2) củng cố, mở rộng phát triển hệ thống cơ sở đàotạo, dạy nghề các ngành nghề kinh tế, kỹ thuật biển; (3) bổ sung đồng bộ cơ chế,chính sách về đào tạo, tiền lương, bảo hiểm, thuế thu nhập cá nhân đề thu hút NNLchất lượng cao vào làm việc trong lĩnh vực biển [1]

Tác giả Đặng Xuân Phương và Nguyễn Lê Tuấn (2014), trong cuốn sách

Quản lý Nhà nước tổng hợp và thống nhất về biển và hải đảo Hai tác giả đã đưa

ra quan điểm về hoàn thiện bộ máy tổ chức và phát triển NNL phục vụ quản lýNhà nước tổng hợp và thống nhất về biển, hải đảo, trên cơ sở nghiên cứu kinhnghiệm các quốc gia tiên tiến như: Hoa Kỳ, Trung Quốc, Canađa, Pháp, ThụyĐiển, Nhật Bản, Inđônêxia, từ đó đề xuất lộ trình hoàn thiện thể chế tổ chức quản

lý biển theo hai giai đoạn, đến năm 2020 và sau năm 2020 [37];

Tác giả Vũ Thanh Ca, trên Tạp chí Môi trường số 4/2016 về Bảo vệ môi trường biển trong luật pháp quốc tế và một số quốc gia trên thế giới đã tổng quan

luật pháp quốc tế về môi trường biển, như: Công ước Liên hợp quốc về Luật Biểnnăm 1982 (UNCLOS), Công ước quốc tế về trách nhiệm dân sự đối với thiệt hại do

ô nhiễm dầu (CLC 1992), Công ước MARPOL về phòng ngừa ô nhiễm môi trườngbiển do tàu gây ra; Công ước về ngăn chặn ô nhiễm môi trường biển do các hoạt độngnhấn chìm; Công ước đa dạng sinh học Đồng thời, tác giả đã hệ thống hóa các quy địnhcủa pháp luật Việt Nam về bảo vệ môi trường biển, như: Luật Biển

20

Trang 22

Việt Nam, Luật Tài nguyên, môi trường biển và hải đảo, Luật Hàng hải ViệtNam… Theo tác giả vấn đề quan trọng là con người, ngoài vai trò là đối tượngchịu tác động điều chỉnh của quy định pháp luật, còn là chủ thể giúp cho các quyđịnh pháp luật được triển khai và thực thi nghiêm trong đời sống xã hội Chính vìvậy cần được GD&ĐT bài bản, về chuyên môn, giáo dục sâu rộng ý thức cộngđồng bảo vệ TNMT biển Đặc biệt là các cán bộ, công chức, viên chức làm việctrong các cơ quan quản lý Nhà nước về môi trường biển, những người xây dựng

và ban hành chính sách, cũng như chịu sự chi phối của luật pháp quốc tế về bảo

vệ môi trường biển, sau đó là nâng cao ý thức của cộng đồng dân cư ven biểntrong bảo vệ TNMT biển [8];

Tại hội thảo với chủ đề Đào tạo nhân lực quản lý tổng hợp và thống nhất về biển, hải đảo do Tổng cục Biển và Hải đảo Việt Nam tổ chức, các nhà khoa học, nhà

quản lý đã tập trung bàn luận nhiều khía cạnh liên quan đến đào tạo NNL, trong đó

có đề cập đến phát triển NNL quản lý Nhà nước về biển và hải đảo Theo các tác giảphải đánh giá và dự báo đúng nhu cầu phát triển NNL của toàn bộ hệ thống quản lýNhà nước về biển và hải đảo, bao gồm: cán bộ nghiên cứu khoa học, cán bộ quản lý,cán bộ chuyên môn, nghiệp vụ, các chuyên gia và đội ngũ LĐ chuyên ngành kỹ thuậtthuộc lĩnh vực KT biển Trên cơ sở đó, lập kế hoạch phát triển NNL trung hạn và dàihạn, cùng với xây dựng cơ chế, chính sách đào tạo theo cơ chế cử tuyển để khuyếnkhích cán bộ ra công tác thực tế tại biển đảo Cũng tại Hội thảo này nhóm tác giả Vũ

Thanh Ca, Nguyễn Văn Cư, Hứa Chiến Thắng trong nghiên cứu tựa đề Phương hướng và giải pháp đào tạo, bồi dưỡng NNL khoa học kỹ thuật quản lý về biển và hải đảo Việt Nam đã đưa ra nhận định, công tác đào tạo NNL biển còn hạn chế, thiếu

về số lượng và chất lượng Vì vậy, theo các tác giả, thời gian tới cần tập trung vàođào tạo các chuyên ngành, như: hải dương học; trắc địa, bản đồ biển; sinh vật biển;

du lịch biển nhằm từng bước khắc phục sự thiếu hụt và bất cập về NNL quản lýtổng hợp TNMT biển, đảo ở nước ta hiện nay [9];

Tác giả Đinh Văn Ưu (2010) với nghiên cứu Đánh giá hiện trạng năng lực và khả năng đáp ứng của hệ thống đào tạo NNL khoa học, kỹ thuật về biển và hải đảo Việt Nam đã đưa ra một số giải pháp nâng cao năng lực khoa học kỹ thuật và quản lý

biển, chú trọng đến các vấn đề: trang bị các kiến thức cơ bản về sự hình thành vàbiến động của TNMT biển; thiết lập các quá trình quản lý bao gồm phân tích chiếnlược, chọn người tài vào hệ thống cơ quan quản lý; mở rộng giáo dục và khuyếnkhích sự tham gia của cộng đồng; tăng cường khả năng tiếp cận thông tin của quầnchúng, thông qua các phương tiện kỹ thuật như công nghệ thông tin, cơ sở dữ liệu vàcác công nghệ nghiên cứu khảo sát, giám sát biến động TNMT biển [20];

Tác giả Trần Bình trong bài Phát triển chuyên ngành khoa học biển, nhu cầu cấp thiết, đăng trên Tạp chí biển Việt Nam, cho rằng cần xây dựng và triển khai các

chương trình có tính liên ngành, đặc biệt các chương trình quản lý và chính sách

21

Trang 23

biển, đề xuất nâng cao năng lực theo hướng thông tin đánh giá và dự báo trung và dàihạn, nhu cầu NNL biển, lấy trọng tâm là phát triển đào tạo các chuyên ngành phục

vụ hoạt động thực tiễn; cải tiến chương trình đào tạo theo cấp học, chú trọng khảnăng nghiên cứu thực hành cho bậc đại học và sau đại học; việc đào tạo NNL quản lýbiển yêu cầu tính liên ngành cao và NNL chất lượng cao chỉ nên triển khai

ở bậc thạc sĩ [4];

Nguyễn Đăng Đạo (2012), luận án tiến sĩ Chất lượng đội ngũ công chức quản

lý nhà nước về biển và hải đảo của Tổng cục Biển và Hải đảo Việt Nam, Học Viện

chính trị - Hành chính Quốc gia Hồ Chí Minh Nghiên cứu chỉ ra nhóm tiêu chí đánhgiá năng lực, trình độ của công chức quản lý nhà nước về biển và hải đảo gồm: (1)Tiêu chí về trình độ học vấn; (2) Tiêu chí về trình độ chuyên môn; (3) Tiêu chí về kỹnăng nghề nghiệp; (4) Tiêu chí về kinh nghiệm công tác; (5) Tiêu chí về sức khỏe.(6) Nhóm tiêu chí thể hiện mức độ đảm nhận công việc (7) Nhóm tiêu chí thể hiệnkhả năng nhận thức và mức độ sẵn sàng đáp ứng về sự thay đổi công việc Trên cơ sởcác tiêu chí đề ra, tác giả đề xuất 07 nhóm giải pháp góp phần nâng cao chất lượngcông chức quản lý nhà nước về biển và hải đảo [19];

Lê Thị Hiếu Thảo (2017), một số giải pháp nhằm phát huy vai trò NNL trong phát triển kinh tế biển ở Việt Nam hiện nay, Tạp chí Công thương (số 4+5,

tr67-73) Tác giả kiến nghị tám giải pháp cơ bản trong thời gian tới [42];

Bùi Thị Diễm Phương (2012), Đào tạo NNL biển phục vụ quản lý tổng hợp

về biển và hải đảo Việt Nam Tác giả cho rằng nhu cầu về đào tạo, bồi dưỡng kiến

thức chuyên môn, nghiệp vụ quản lý biển - hải đảo đến năm 2020 là rất lớn.Trong đó bao gồm đào tạo lại, bồi dưỡng ngắn hạn, đào tạo dài hạn, đào tạo sauđại học theo hướng chuyên sâu, đào tạo kỹ năng nghiên cứu khoa học, công nghệbiển, giải quyết các vấn đề có tầm vĩ mô về động lực biển, khí tượng thủy vănbiển, động lực ven bờ và tương tác biển khí quyển Đồng thời tác giả đã đưa ramột số giải pháp để thực hiện tốt các yêu cầu này [36]

Nghiên cứu về NNL quản lý TNMT biển, đến nay chưa có nhà khoa học vàvăn bản chính thức nào đưa ra khái niệm về phát triển NNL quản lý TNMT biểnmột cách trực tiếp Tuy nhiên, trong quá trình nghiên cứu, luận án đã tổng hợpđược một số cách tiếp cận và một số quan điểm về phát triển NNL lĩnh vực quản

Trang 24

Quan điểm của Nguyễn Đăng Đạo (2012) khi nghiên cứu về chất lượng đội ngũ công chức quản lý nhà nước về biển và hải đảo của Tổng cục Biển và Hải đảo Việt Nam lại cho rằng, phát triển NNL quản lý TNMT biển và hải đảo là tổng

thể các hình thức, phương pháp, chính sách và biện pháp nhằm làm tăng lên về sốlượng và nâng cao chất lượng NNL (trí tuệ, thể chất và phẩm chất tâm lý xã hội)hợp lý về cơ cấu, đối với mỗi cá nhân, là quá trình làm cho họ trưởng thành, cónăng lực xã hội (thể lực, trí lực, nhân cách) và tính năng động xã hội cao, nhằmđáp ứng đòi hỏi, yêu cầu về NNL phục vụ cho phát triển bền vững lĩnh vực quản

lý TNMT biển và hải đảo trong mỗi giai đoạn [1]

Như vậy, các công trình nghiên cứu trong và ngoài nước về phát triển NNLquản lý TNMT biển đã khẳng định tầm quan trọng của phát triển NNL đề cập đếnnội dung, yêu cầu phát triển NNL quản lý TNMT biển Các nghiên cứu trên giúpNCS tham khảo có chọn lọc và là cơ sở khoa học để xây dựng khung lý thuyết,làm cơ sở nghiên cứu đánh giá thực trạng và đề xuất giải pháp phát triển NNLquản lý TNMT biển

1.2 Các nghiên cứu về kinh nghiệm phát triển nguồn nhân lực của các tác giả trong và ngoài nước

1.2.1 Các nghiên cứu của các tác giả nước ngoài

Theo nghiên cứu của tác giả Dae Chang Lee (1997), Tích hợp kế hoạch phát triển NNL: Trường hợp Hàn Quốc (Intergrated human resources development planning: the case of the Republic of Korrea) Đã đề cập nhiều kinh nghiệm trong phát triển NNL lĩnh vực công nghiệp ô tô và may mặc Nghiên cưu

cho rằng để phát triển các ngành công nghiệp và phát triển lực lượng LĐ trongcác ngành công nghiệp cần phải duy trì tính cạnh tranh Trong đó đề cao vai tròcủa chính sách công đối với phát triển NNL [61];

Glenn Miyataki and Art Whatley (1995), Phát triển NNL Hàn Quốc (Human Resources Development in South Korea) Theo hai tác giả, để đạt được

sự phát triển trong suốt hai thập kỷ, là do Hàn Quốc đã phát triển và phổ cập giáo

dục cho lực lượng LĐ của họ Hàn Quốc còn tập trung nguồn lực cho giáo dục,học tập kinh nghiệm quản lý, kinh doanh từ các quốc gia Phương Tây, Hàn Quốcluôn đặt trọng tâm vào giáo dục, đào tạo, phát triển NNL, tăng việc làm và tăngthu nhập cho người LĐ Chính phủ luôn quan tâm đến quyền lợi của cá nhân, tậpthể, hài hòa mối quan hệ giữa các cá nhân và nhấn mạnh sự đóng góp trực tiếpcủa nhóm vào năng suất và hiệu quả hoạt động [62];

Markus Pudelko (2005), Học giữa các quốc gia từ thực tiễn tốt nhất và các cuộc tranh luận trong các vấn đề quản trị NNL (Cross-national learning from best practice and the convergence-divergence debate in HRM) Trên cơ sở phân tích các

ý kiến của các nhà quản trị lĩnh quản lý NNL từ 500 công ty hàng đầu của Mỹ,

23

Trang 25

Nhật Bản, Hàn Quốc và Đức Trong đó Mỹ, Hàn Quốc là các quốc gia tiêu biểu

về phát triển KT và có mô hình quản lý NNL được đánh giá cao, có thể học hỏikinh nghiệm Tác giả đưa ra kết luận mấu chốt thành công của hệ thống quản trịnhân sự là dựa trên bẩy yếu tố [75];

Biliana Cicin-Sain, Robert W Knecht, Adalberto Vallega and Ampai

Harakunarak (2000) Quản lý tổng hợp vùng bờ: Bài học kinh nghiệm từ thương trường quốc tế (Integrated Coastal Management: Lessons from the International arena) Công trình nghiên cứu đã khảo sát, đánh giá kinh nghiệm giáo dục, năng

lực đào tạo về quản lý tổng hợp vùng bờ tại các trường đại học, viện nghiên cứu,trung tâm nghiên cứu của các quốc gia trên thế giới (trong đó có trường đại họcquốc gia Seoul, Viện Nghiên cứu biển Hàn Quốc) Trên cơ sở đó đưa ra cáckhuyến nghị về nội dung, chương trình đào tạo, khung thể chế chính sách về giáodục, đào tạo, về quản lý tổng hợp vùng bờ tại các trường đại học, viện, trung tâmnghiên cứu của các quốc gia trên thế giới [58];

Tatsuji Seki, Toshiomi Yoshida, Takuya Nihira, Edgar DaSilva (2004),

“Kinh nghiệm quốc tế về phát triển NNL công nghệ sinh học: thành tựu và bài học kinh nghiệm (International experience in human resource development in biotechnology: achievements and lessons learnt) Trên cơ sở nghiên cứu, đánh giá

thực tế các khóa đào tạo đại học và sau đại học Quốc tế của UNESCO về vi sinhhọc được thiết kế và tổ chức tại Nhật Bản, và sự tham gia tích cực của nhóm 8thành viên gồm các giáo sư từ mỗi trường đại học tham gia (với bốn đại diện từĐại học Osaka và một đại diện từ các trường đại học Tohoku, Tokyo, Kyoto vàKyushu Nhóm tác giả đưa ra một số kinh nghiệm về phát triển NNL cho cácnước đang phát triển ở châu Á [92]

1.2.2 Các nghiên cứu của các tác giả Việt Nam

Theo nghiên cứu của tác giả Phạm Quý Long (2008), trong cuốn sách

Quản lý NNL ở doanh nghiệp Nhật Bản và bài học kinh nghiệm cho doanh nghiệp Việt Nam Tác giả nghiên cứu về quản lý NNL trong các doanh nghiệp Nhật Bản giai đoạn 1953-1990 và từ 1990 đến năm 2008, đưa ra nhận định thực

hiện tốt các nội dung nhiệm vụ quản lý NNL về mặt KT: giúp cho tổ chức, doanhnghiệp khai thác các khả năng tiềm tàng, nâng cao hiệu quả hoạt động trên cácmặt Về mặt xã hội: đề cao vị thế và giá trị của người LĐ, chú trọng giải quyết hàihòa mối quan hệ lợi ích giữa tổ chức, doanh nghiệp và người lao động Theo tácgiả thì điểm nổi bật trong các doanh nghiệp Nhật Bản là sự độc đáo trong xử trímối quan hệ giữa quản lý và lao động mà động lực làm tăng năng suất LĐ và đạttới tính hài hòa giữa mục tiêu cá nhân và tổ chức [29];

Hoàng Minh Lợi (2018), sách Chính sách phát triển NNL chất lượng cao ở Nhật Bản và Hàn Quốc, bài học kinh nghiệm và gợi ý cho Việt Nam Tác giả đưa ra

bốn nhóm gợi ý giải pháp nhằm phát triển NNL chất lượng cao đối với Việt Nam,

24

Trang 26

đó là: (1) Cải cách hệ thống đào tạo đại học; (2) Thực hiện đào tạo suốt đời tại các

cơ sở đào tạo bậc cao; (3) Đẩy mạnh hợp tác quốc tế trong lĩnh vực phát triểnNNL chất lượng cao; (4) Triển khai chiến lược phát triển NNL chất lượng caotoàn cầu [30];

Phạm Mạnh Hùng (2018), thu hút kiều dân để phát triển khoa học và công nghệ: kinh nghiệm Hàn Quốc và hàm ý cho Việt Nam Trên cơ sở nghiên cứu, phân

tích, đánh giá hiện trạng thu hút kiều dân trình độ cao để phát triển KHCN trong từnggiai đoạn, tác giả rút ra năm bài học kinh nghiệm và cách làm thành công; ba bài họckinh nghiệm không thành công Cụ thể, bài học thành công là: (1) thu hút kiều dânthông qua xây dựng, thực hiện một số chính sách đặc thù, đột phá; (2) thu hút kiềudân thông qua chính sách kiến tạo môi trường xã hội tạo động lực và thuận lợi chophát triển KHCN, nuôi dưỡng và tạo sức hấp dẫn nhân tài KHCN; (3) chính sách xâydựng cơ sở dữ liệu về Hàn kiều trình độ cao và hỗ trợ hoạt động của các hội nghềnghiệp; (4) bài học về phát huy yếu tố văn hóa, giá trị tinh thần, mối liên hệ với đấtnước của kiều dân trình độ cao trong chính sách thu hút; (5) bài học về thực hiệnchính sách Bài học không thành công là: (1) Chính sách quá chú trọng và tập trungchủ yếu vào hình thức hồi hương trong thu hút, Hàn Quốc hầu như không có đượcnhiều lợi ích từ “tuần hoàn chất xám” toàn cầu mang lại; (2) quá chú trọng tiêu chíhọc vấn cao trong chính sách thu hút, giường như không còn phù hợp với bối cảnhhiện nay; (3) Hệ thống thứ bậc nghiêm ngặt cùng thứ văn hóa tuân phục và tôn trọngdành cho người có quyền thế, không còn phù hợp với nhận thức và đáp ứng được kỳvọng dành cho giới trẻ có trình độ cao [1]

Nghiên cứu về kinh nghiêm phát triển NNL lĩnh vực biển, hải đảo của hai

tác giả Đặng Xuân Phương và Nguyễn Lê Tuấn (2014), trong sách Quản lý Nhà nước tổng hợp và thống nhất về biển và hải đảo Hai tác giả đã nghiên cứu kinh nghiệm của Hoa Kỳ, Trung Quốc, Canađa, Pháp, Thụy Điển, Nhật Bản,

Inđônêxia từ đó đề xuất 3 giải pháp phát triển NNL quản lý nhà nước tổng hợp vàthống nhất về biển, hải đảo [37];

Phạm Văn Hà và cộng sự (2016), sách Phát triển lực lượng LĐ trong các

DN trên địa bàn Hà Nội đáp ứng yêu cầu CNH- HĐH Đã nghiên cứu kinh nghiệm của một số quốc gia như Singapore, Hàn Quốc, Trung Quốc, Thái Lan,

Malaysia, Ấn Độ, nhóm tác giả đã rút ra ba bài học kinh nghiệm chủ yếu về pháttriển lực lượng LĐ [22];

Võ Đại Lược (2013), Phát triển NNL hướng tới tăng trưởng bền vững, trung tâm Kinh tế Châu Á - Thái Bình Dương Qua nghiên cứu kinh nghiệm phát triển

NNL của các nước như Mỹ, Nhật Bản, Hàn Quốc, Cộng hòa Séc, Trung Quốc,Singapore, tác giả chỉ ra rằng các nước đều chú trọng công tác giáo dục từ phổ thông,dạy nghề đến giáo dục cao đẳng đại học; Một số quốc gia có chính sách đào

25

Trang 27

tạo trọng dụng, thu hút nhân tài; Lương cao, điều kiện làm việc tốt, được xemtrọng và tôn vinh cũng là một chính sách được nhiều quốc gia chú ý [32];

Cảnh Chí Hoàng, Trần Vĩnh Hoàng Trường (2013), Đào tạo và phát triển NNL ở một số nước và bài học kinh nghiệm cho Việt Nam Bài viết đã khảo sát kinh nghiệm phát triển NNL ở một số quốc gia như Mỹ, Nhật và một số nước có

những đặc điểm kinh tế, văn hóa tương đồng Việt Nam như Trung Quốc,Singapore hai tác giả đã đưa ra sáu bài học kinh nghiệm cho Việt Nam [24];

Nguyễn Ngọc Trung (2013), Phát triển NNL và đào tạo nhân tài ở Hàn Quốc, kinh nghiệm cho các nước đang phát triển Tác giả đã nghiên cứu và rút ra

bài học kinh nghiệm của Hàn Quốc là: Cần khuyến khích đầu tư nghiên cứu vàphát triển ở các doanh nghiệp; Thành lập các cơ quan chuyên trách nghiên cứu và

cố vấn về các chính sách phát triển NNL Có chế độ lương, thưởng hợp lý, đểthuê các chuyên gia quốc tế đến làm việc, nhằm nâng cao năng lực cho cácchuyên gia bản địa [56]

Như vậy, các nghiên cứu trên của các tác giả trong và ngoài nước đã đề cậpđến một số kinh nghiệm phát triển NNL, phát triển NNL quản lý TNMT biển Tuynhiên, những nghiên cứu đó chủ yếu dừng lại ở những kinh nghiệm trong phạm vicác loại hình doanh nghiệp, có một số nghiên cứu đề cập đến kinh nghiệm củangành, hoặc ở phạm vi quốc gia, nhưng nhìn chung các kinh nghiệm đó đã đượcnghiên cứu khá lâu và chưa được nghiên cứu một cách có hệ thống, toàn diện Dovậy, đầu tư nghiên cứu một cách có hệ thống, toàn diện kinh nghiệm phát triển NNLquản lý TNMT biển trong xu thế toàn cầu và hội nhập quốc tế và trong điều kiệnkhoa học kỹ thuật phát triển như hiện nay là cần thiết khách quan

1.3 Khoảng trống của các công trình nghiên cứu trong, ngoài nước và hướng nghiên cứu của tác giả trong luận án

1.3.1 Khoảng trống của các công trình nghiên cứu

Tổng thuật các công trình nghiên cứu trong và ngoài nước cho thấy, từ lâunghiên cứu về NNL, phát triển NNL, đặc biệt là nghiên cứu kinh nghiệm phát triểnNNL đã được các học giả trong và ngoài nước quan tâm và làm rõ các vấn đề sau:

- Những vấn đề lý luận cơ bản về NNL, phát triển NNL (như khái niệm, nộidung, tiêu chí đánh giá NNL, phát triển NNL);

- Đánh giá thực trạng NNL quản lý tài nguyên, môi trường biển Việt Nam ởmột vài góc độ;

- Đưa ra một số giải pháp có tính định hướng phát triển NNL quản lý tài nguyên, môi trường biển

Các công trình này là nguồn tài liệu quý để NCS tham khảo, kế thừa, phát triển cho luận án của mình, nhưng vấn đề NNL, phát triển NNL quản lý TNMT

26

Trang 28

biển là vấn đề lớn, do giới hạn nghiên cứu hoặc do cách tiếp cận nên vẫn còn một

số vấn đề mà các công trình chưa nghiên cứu hoặc ít đề cập đến đó là:

Thứ nhất, bàn về NNL, phát triển NNL quản lý TNMT đến nay vẫn có

nhiều quan điểm và cách hiểu khác nhau Do vậy, cách thức và tiêu chí đánh giáphát triển NNL quản lý TNMT biển cũng còn rất khác nhau Phần lớn các nghiêncứu chỉ mới tập trung tiếp cận theo hướng đánh giá phát triển NNL về số lượng vàchất lượng, ít tiếp cận đánh giá phát triển NNL theo hướng kết hợp với bố trí sửdụng có hiệu quả NNL

Thứ hai, các nghiên cứu kinh nghiệm phát triển NNL mới chủ yếu nghiên

cứu trong phạm vi doanh nghiệp, nếu có nghiên cứu ở cấp độ một quốc gia, hayngành, thì mới dừng lại ở những vấn đề chung nhất, nội dung nghiên cứu mới chỉdừng lại ở từng khía cạnh và những nghiên cứu này ở thời kỳ cách đây đã lâu Vềkinh nghiệm phát triển NNL quản lý TNMT biển, đến nay dường như chưa cónhững nghiên cứu tương xứng với vai trò và tầm quan trọng của nó Trong khi đóhiện nay nhân loại đã bước sang thời kỳ phát triển KT tri thức, trên nền tảng côngnghệ số, CMCN 4.0, toàn cầu hóa đang diễn ra như một xu thế khách quan, yêucầu quản lý, bảo vệ và khai thác TNMT biển ngày càng cao và đòi hỏi cấp bách.Những kinh nghiệm trong thời kỳ mới, của các quốc gia chưa được đầu tư nghiêncứu tổng kết một cách có hệ thống, để rút ra những bài học kinh nghiệm có giá trịtham khảo cho Việt Nam

Thứ ba, đặc biệt cho đến nay chưa có công trình nào nghiên cứu một cách

có hệ thống, sâu sắc về kinh nghiệm phát triển NNL quản lý TNMT biển của HànQuốc, một quốc gia phát triển mạnh và gặt hái được nhiều thành công về kinh tế

và quản lý TNMT biển Nên cần nghiên cứu một cách có hệ thống kinh nghiệmcủa Hàn quốc về phát triển NNL quản lý TNMT biển, nhằm rút ra những bài họckinh nghiệm vận dụng vào bối cảnh Việt Nam, để Việt Nam phát triển nhanhNNL quản lý TNMT biển góp phần sớm đưa Việt Nam trở thành quốc gia pháttriển biển mạnh, bền vững

1.3.2 Hướng nghiên cứu trong luận án của nghiên cứu sinh

Trên cơ sở kế thừa, phát triển những kết quả đạt được của các công trìnhnghiên cứu trước đây, phát hiện khoảng trống của các công trình về NNL, pháttriển NNL, kinh nghiệm phát triển NNL quản lý TNMT biển, NCS lựa chọnhướng nghiên cứu của luận án là:

(1) Tổng quan các công trình nghiên cứu trong và ngoài nước, phân tích làm

rõ những kết quả đạt được để tham khảo, kế thừa, phát triển; phát hiện khoảng trốngcủa các công trình nghiên cứu về NNL, phát triển NNL, kinh nghiệm phát triển NNLquản lý TNMT biển, để lựa chọn nội dung nghiên cứu của luận án

27

Trang 29

(2) Hệ thống và phát triển lý luận về phát triển NNL quản lý TNMT biểnnhư: làm rõ khái niệm, đặc điểm NNL quản lý TNMT biển; nội dung phát triển,tiêu chí đánh giá phát triển NNL quản lý TNMT biển và phân tích làm rõ các nhân

tố ảnh hưởng đến phát triển NNL quản lý TNMT biển

(3) Phân tích đánh giá trung thực thực trạng phát triển NNL quản lý TNMTbiển Hàn Quốc, rút ra những bài học kinh nghiệm thành công và chưa thành côngcho Việt Nam

(4) Phân tích, đánh giá thực trạng phát triển NNL quản lý TNMT biển ViệtNam, làm rõ những điểm tương đồng và khác biệt trong phát triển NNL quản lýTNMT biển của Việt Nam và Hàn Quốc

(5) Đề xuất một số giải pháp vận dụng kinh nghiệm phát triển NNL quản

lý TNMT biển của Hàn Quốc vào phát triển NNL quản lý TNMT biển Việt Nam,làm rõ điều kiện vận dụng, đưa ra một số khuyến nghị với các cơ quan chức năngNhà nước nhằm vận dụng những kinh nghiệm của Hàn Quốc có hiệu quả

28

Trang 30

CHƯƠNG 2

CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ PHÁT TRIỂN NGUỒN NHÂN LỰC QUẢN LÝ

TÀI NGUYÊN, MÔI TRƯỜNG BIỂN

2.1 Khái quát về nguồn nhân lực quản lý tài nguyên và môi trường biển

2.1.1 Các khái niệm liên quan

2.1.1.1 Khái niệm về nhân lực

Thuật ngữ “nhân lực” là đối tượng nghiên cứu của nhiều ngành khoa họckhác nhau, tùy theo cách tiếp cận mà có những quan niệm khác nhau về nhân lực

Theo từ điển Việt - Anh của Ngô Khả Kế (2002), nhà xuất bản Thế giới,thuật ngữ “nhân lực” có nghĩa là sức người và đồng nghĩa với từ “nhân công”;được dịch sang tiếng Anh là manpower

Trong kinh tế thị trường thuật ngữ “nhân lực”, “nguồn nhân lực” ngày càngđược sử dụng rộng rãi, nó thay cho thuật ngữ “lực lượng lao động” được sử dụngtrong kinh tế kế hoạch tập trung Thuật ngữ nhân lực, NNL thể hiện được tínhkhoa học và vai trò quan trọng của nguồn lực con người trong quá trình sản xuất,

nó bao hàm cả số lượng và chất lượng của nguồn lực con người Tuy thuật ngữnhân lực, NNL ngày càng được sử dụng rộng rãi, nhưng đến nay đang tồn tạinhiều quan điểm khác nhau

Theo tác giả Nguyễn Ngọc Quân, Nguyễn Vân Điều (2015) “Nhân lực làsức lực con người nằm trong mỗi con người và làm cho con người hoạt động Sứclực của mỗi con người ngày càng phát triển, cùng với sự phát triển của cơ thể conngười, để đến mức độ nào đó con người đủ điều kiện tham gia vào quá trình laođộng - đó là con người có sức lao động” [1]; Theo Nguyễn Đức Thành “Nhân lựcđược hiểu là nguồn lực của mỗi con người, gồm trí lực và thể lực, biểu hiện quavận dụng sức lực và khả năng tư duy sáng tạo của bản thân mỗi con người vàoquá trình lao động sáng tạo”

Xét ở phạm vi quốc gia, cũng có nhiều quan điểm khác nhau về nhân lực

Cụ thể có quan điểm cho rằng, “nhân lực là tổng thể các nguồn lực trong mỗi conngười, cấu thành năng lực làm việc của mỗi con người, được đưa vào sử dụngtrong quá trình LĐ” Quan điểm khác lại cho rằng “nhân lực là bộ phận dân sốtrong độ tuổi LĐ, có đủ năng lực tham gia vào quá trình LĐ Quy định về độ tuổilao động của nhân lực ở mỗi quốc gia phụ thuộc vào luật pháp của từng quốcgia”; Nguyễn Nam Phương (2018) cho rằng “Nhân lực là bộ phận dân số trong độtuổi quy định và có khả năng tham gia vào quá trình LĐ Nhân lực của quốc giaphụ thuộc vào quy định độ tuổi LĐ của Nhà nước và khả năng tham gia lao độngcủa từng cá nhân” [38]

Từ những khái niệm về nhân lực của các tác giả, cho thấy, tuy các khái niệm

có khác nhau, nhưng về cơ bản đều có điểm chung là coi nhân lực là nguồn lực

29

Trang 31

trong mỗi con người Trên cơ sở nghiên cứu, tiếp thu các quan điểm, NCS đưa rakhái niệm nhân lực, làm cơ sở cho nghiên cứu NNL và phát triển NNL của luận

án là: “Nhân lực là tổng thể số lượng, chất lượng nguồn lực của mỗi con người trong độ tuổi lao động theo quy định của nhà nước, có thể huy động, sử dụng vào quá trình lao động”.

Đưa ra khái niệm này, nhằm khắc phục những hạn chế của các khái niệmtrước, nó thể hiện rõ nhân lực không chỉ bao gồm về số lượng mà còn cả chấtlượng nguồn lực của mỗi con người trong độ tuổi LĐ, nhân lực này có thể huyđộng, sử dụng vào quá trình lao động

2.1.1.2 Khái niệm nguồn nhân lực

Bàn về khái niệm NNL, đến nay cũng có rất nhiều quan niệm khác nhau, sựkhác nhau này xuất phát từ sự khác nhau về cách tiếp cận nghiên cứu NNL Trên

cơ sở cách tiếp cận của các công trình nghiên cứu trước, luận án phân tích, sosánh và tổng hợp những khái niệm khác nhau về NNL, đưa ra quan điểm củaNCS về NNL

a Một số nghiên cứu lý luận về nguồn nhân lực

- Nghiên cứu NNL ở góc độ vĩ mô:

+ Ở ngoài nước

Tổ chức Liên hợp quốc đưa ra khái niệm “NNL là những kiến thức, kỹ năng,kinh nghiệm, năng lực và tính sáng tạo của con người có quan hệ tới sự phát triểncủa mỗi cá nhân và đất nước” trên cơ sở khái niệm NNL, Tổ chức Liên hợp quốc đãđưa ra yêu cầu cần có của NNL, đây thực chất là những yếu tố cấu thành và tiêu chíđánh giá chất lượng NNL đó là trình độ lành nghề, kiến thức và năng lực thực tế,cùng với những năng lực tồn tại dưới dạng tiềm năng của con người Điểm đượcquan tâm là coi tiềm năng của con người cũng là năng lực, khả năng của NNL, để từ

đó có cơ chế, chính sách thích hợp trong tổ chức, quản lý, sử dụng [14]

Ngân hàng thế giới cho rằng “NNL là toàn bộ vốn con người bao gồm thểlực, trí lực, kỹ năng nghề nghiệp của mỗi cá nhân” [96] Còn theo tổ chức Laođộng quốc tế (ILO) thì “NNL của một quốc gia là toàn bộ những người trong độtuổi LĐ có khả năng tham gia lao động” [46]

Theo các tác giả: Phạm Minh Hạc (2001) đã đưa ra khái niệm “NNL được thể

hiện thông qua số lượng dân cư, chất lượng con người (bao gồm thể lực, trí tuệ, nănglực, phẩm chất và đạo đức) Nó là tổng thể NNL hiện có thực tế và tiềm năng đượcchuẩn bị sẵn sàng để tham gia phát triển KTXH của quốc gia hay địa phương nào đó[23] Nguyễn Tiệp (2008), cho rằng “nguồn nhân lực bao gồm toàn bộ dân cư có khảnăng lao động [45] Trần Xuân Cầu, Mai Quốc Chánh (2008), đưa ra định nghĩa

“NNL là nguồn lực con người có khả năng sáng tạo ra của cải vật chất

30

Trang 32

và tinh thần cho xã hội được biểu hiện ra là số lượng và chất lượng NNL tại một thờiđiểm nhất định” [11] Chu Tiến Quang (2005), cho rằng “NNL bao gồm cả số lượng

và chất lượng dân số và LĐ của một quốc gia, vùng lãnh thổ, được chuẩn bị về nănglực làm việc và kỹ năng chuyên môn ở mức độ nhất định, đang và sẽ tham gia vàocác hoạt động kinh tế khác nhau trong xã hội [39] Nguyễn Hữu Dũng

(2003), đã luận giải bản chất của NNL theo cách tiếp cận sau: “NNL là tiềm năngcủa con người có thể khai thác cho phát triển KTXH; NNL là số lượng và chấtlượng con người, bao gồm cả thể chất và tinh thần, sức khỏe và trí tuệ, năng lực,phẩm chất và kinh nghiệm sống; là tổng thể những tiềm năng, thể hiện sức mạnh

và sự tác động của con người trong cải tạo tự nhiên, cải tạo xã hội; là sự kết hợpgiữa trí lực và thể lực của con người trong sản xuất, tạo ra năng lực sáng tạo vàchất lượng, hiệu quả của hoạt động lao động [17]

- Nghiên cứu NNL ở góc độ vi mô: + Ở nước ngoài:

Theo các tác giả: Milkovich T George và Boudreau John (1991), NNL là

tổng thể các yếu tố bên trong và bên ngoài của mỗi cá nhân, đảm bảo nguồn sáng tạo,cùng các nội dung khác cho sự thành công, đạt được mục tiêu của tổ chức [80];Stivastava M/P (1997), đưa ra định nghĩa về NNL dưới góc độ kinh tế: “NNL đượchiểu là toàn bộ vốn nhân lực bao gồm thể lực, trí tuệ, kỹ năng nghề nghiệp mà mỗi cánhân sở hữu Vốn nhân lực được hiểu dưới dạng một nguồn vốn quan trọng nhất, đốivới quá trình sản xuất, có khả năng sản sinh ra các nguồn thu nhập trong tương lai,hoặc như là nguồn của cải có thể làm tăng sự phồn thịnh về kinh tế Nguồn vốn này

là tập hợp những kỹ năng, kiến thức, kinh nghiệm tích lũy được nhờ vào quá trình

LĐ sản xuất Do vậy, các chi phí về giáo dục, đào tạo, chăm sóc sức khỏe và dinhdưỡng,… để nâng cao khả năng sản xuất của NNL được xem như chi phí đầu vàocủa sản xuất, thông qua đầu tư vào con người” [90]; Zorlu Senyucel (2009), cho rằng

“NNL được hiểu là toàn bộ trình độ chuyên môn mà con người tích lũy được, có khảnăng đem lại thu nhập trong tương lai [98]; Theo Nicholas Henry (2001), “NNL lànguồn lực con người của tổ chức (với quy mô, loại hình, chức năng khác nhau) cókhả năng và tiềm năng tham gia vào quá trình phát triển của tổ chức cùng với sự pháttriển KTXH của quốc gia, khu vực và thế giới” [65]

Cách tiếp cận về NNL của các học giả nước ngoài dưới góc độ vĩ mô, vi

mô rất đa dạng, nhưng nhìn chung dưới góc độ vĩ mô đều thống nhất: NNL lànguồn cung cấp sức LĐ cho xã hội, con người là nguồn lực quan trọng nhất củaquá trình sản xuất, quyết định sự phát triển của XH Dưới góc độ vi mô thì NNLkhông chỉ là bộ phận dân số trong độ tuôi LĐ mà còn cả các thế hệ con người vớinhững tiềm năng, kinh nghiệm tích lũy được trong quá trình sản xuất, nếu đượcthu hút, tổ chức và sử dụng tốt, nó không chỉ bao gồm số lượng, chất lượng màxem NNL bao gồm cả thể lực, trí lực và tâm lực

31

Trang 33

+ Ở trong nước

Bàn về khái niệm NNL được đông đảo các nhà khoa học, các nhà hoạtđộng thực tiễn quan tâm, một số nhà khoa học coi NNL không chỉ bao gồmnhững người trong độ tuổi LĐ có khả năng LĐ, mà cả những người ngoài độ tuổi

LĐ đang tham gia LĐ và không chỉ nhấn mạnh NNL về mặt chất lượng mà còn

đề cập đến những hàm ý rộng hơn

Theo tác giả Bùi Văn Nhơn (2006) cho rằng “NNL trong doanh nghiệp làlực lượng LĐ của từng doanh nghiệp, là số người có trong danh sách của doanhnghiệp do doanh nghiệp trả lương” [33]; Nguyễn Ngọc Quân và Nguyễn VânĐiềm (2015) đưa ra định nghĩa “NNL của một tổ chức bao gồm tất cả nhữngngười LĐ làm việc trong tổ chức đó, còn nhân lực được hiểu là nguồn lực của conngười mà nguồn lực này gồm có thể lực và trí lực” [40]; Trần Thị Thu, Vũ HoàngNgân (2013) cho rằng “NNL trong tổ chức công là những người làm việc trong cơquan hành chính nhà nước, ở Trung ương và địa phương; các đơn vị sự nghiệpcủa nhà nước cung cấp dịch vụ công: bệnh viện và các cơ sở y tế công, các cơ sởGD&ĐT công; các doanh nghiệp nhà nước cung cấp dịch vụ công [44]

Nguyễn Ngọc Quân “NNL của tổ chức bao gồm tất cả những người laođộng làm việc trong tổ chức, còn nhân lực được hiểu là NNL của mỗi con người,NNL này bao gồm cả thể lực và trí lực [40]; Trần kim Dung “NNL của tổ chứcđược hình thành trên cơ sở các cá nhân có vai trò khác nhau và được liên kết vớinhau theo một mục đích nhất định” [18]; Phạm Văn Đức “NNL chỉ khả năng vàphẩm chất của lực lượng LĐ, không chỉ là số lượng và khả năng chuyên môn, màcòn cả trình độ văn hóa, thái độ đối với công việc và mong muốn tự hoàn thiệncủa lực lượng LĐ Như vậy, NNL không chỉ bao hàm chất lượng NNL hiện tại

mà còn bao hàm cả nguồn cung cấp nhân lực trong tương lai, trình độ văn hóa,thái độ với công việc”; Đỗ Minh Cương và Mạc Văn Tiến lại cho rằng “NNLđược hiểu theo hai nghĩa, nghĩa rộng là: tổng thể tiềm năng của một con người(đó là sức LĐ) của một quốc gia, một vùng lãnh thổ, một địa phương được chuẩn

bị ở một mức độ nào đó, có khả năng huy động vào quá trình phát triển KTXHcủa đất nước (một vùng hay một địa phương) trong một thời kỳ nhất định (1 năm,

5 năm, 10 năm) phù hợp với chiến lược, kế hoạch phát triển [15]

- Theo nghĩa hẹp: NNL là tiềm năng của con người, được lượng hóa theo

một chỉ tiêu nhất định, do luật định hoặc chỉ tiêu thống kê, căn cứ vào độ tuôi và khảnăng LĐ có thể đo đếm được, quan trọng nhất đó là dân số hoạt động kinh tế thườngxuyên (gọi là lực lượng LĐ), đó là những người trong độ tuổi LĐ, theo luật định cókhả năng LĐ thực tế, đang có việc làm hoặc thất nghiệp” Khi nhìn nhận NNL lànguồn lực con người, được xem xét ở hai khía cạnh chủ yếu sau:

32

Trang 34

Trước tiên, NNL với ý nghĩa là nguồn gốc phát sinh ra nguồn lực con người

và nằm trong bản thân con người, đây là sự khác nhau căn bản giữa NNL với cácnguồn lực khác

Thứ hai, NNL là tổng thể các nguồn lực của cá nhân mỗi con người, trong

khi mỗi con người có vai trò khác nhau, được liên kết với nhau theo mục tiêu xácđịnh NNL có khả năng sử dụng các nguồn lực khác, sáng tạo ra của cải vật chấtcho xã hội Do vậy, khái niệm NNL thường được gắn với phạm vi nhất định vềđịa lý, về ngành, về tổ chức hay quốc gia Ở phạm vi tổ chức NNL bao gồm tất cảnhững người đang tham gia vào bất kỳ công việc nào của tổ chức Đây được coi

là nguồn tài nguyên quý giá nhất của tổ chức, để tổ chức hoạt động, phát triển đòihỏi phải biết khai thác, phát triển nguồn tài nguyên quý giá này

Như vậy, NNL ở góc độ vĩ mô, vi mô của các học giả trong nước, có rấtnhiều định nghĩa khác nhau, nhưng về cơ bản ở góc độ vĩ mô, các quan niệm nàyđều thống nhất với các quan điểm của các học giả nước ngoài đó là tổng hợpnhững tiềm năng LĐ của con người có trong một thời điểm xác định Tiềm năng

đó bao gồm thể lực, trí lực và tâm lực (đạo đức, lối sống, nhân cách và truyềnthống lịch sử, văn hoá dân tộc) của bộ phận dân số trong độ tuổi lao động quyđịnh, đang có việc làm và chưa có việc làm nhưng có khả năng làm việc Sốlượng NNL trong độ tuổi LĐ ở mỗi quốc gia phụ thuộc vào trình độ phát triển củanền KT, vào đặc điểm văn hóa, xã hội của từng quốc gia Chất lượng NNL đượcthể hiện bằng các tiêu chí về tình trạng thể lực, trình độ học vấn, kiến thức, taynghề, tác phong nghề nghiệp và ý thức tổ chức kỷ luật LĐ; cơ cấu về tuổi tác, giớitính, ngành nghề, phân bố theo lãnh thổ, khu vực thành thị - nông thôn Dưới góc

độ vi mô các quan điểm đều xem xét NNL là nguồn lực con người, bao gồm thểlực, trí lực, tâm lực Đây là nguồn lực quan trọng nhất, quyết định nhất trong quátrình sản xuất, tuy nhiên các quan điểm trên mới chỉ đề cập đến nguồn lực conngười trong độ tuổi LĐ, chưa đề cập đến nguồn lực con người ngoài độ tuổi LĐnhưng thực tế đang tham gia hoạt động KTXH

Từ các quan điểm trên cho thấy: Đầu tư vào NNL là đầu tư quan trọng và

có hiệu quả nhất, có tỷ lệ thu hồi vốn cao và lâu dài, do vốn nhân lực càng sửdụng nhiều, thì giá trị càng tăng lên, càng tạo ra nhiều của cải Vốn nhân lựckhông giống như các nguồn vốn khác, đó là: khấu hao vốn đã đầu tư vào các tàisản và loại hình vật chất khác; Đầu tư vào vốn nhân lực thường không gây áp lực

về khối lượng vốn lớn cần huy động trong khoảng thời gian ngắn, do quá trìnhđầu tư cho vốn nhân lực dài, sau khi đã đầu tư, thì vốn nhân lực tự duy trì và pháttriển lên; Hiệu ứng lan tỏa của đầu tư vào vốn nhân lực là rất lớn, và được xácđịnh là một trong những khâu đột phá quan trọng đối với phát triển KT - XH dođặc điểm của vốn nhân lực mang tính sáng tạo, tự phát huy tiềm năng mà cácnguồn vốn khác không có được

33

Trang 35

b Cách tiếp cận về nguồn nhân lực

Trong hơn một thế kỷ qua, NNL, quản lý NNL, được coi như một khoa họctrong quản lý, sử dụng con người và từng bước được hoàn thiện, phát triển Những lýluận về NNL, quản lý NNL đã trải qua quá trình thử nghiệm và gặt hái được nhiềuthành công Đặc biệt ngày nay cùng với sự tiến bộ, phát triển của xã hội, đã, đang tácđộng mạnh đến sự tiến bộ và phát triển của quản lý NNL; đòi hỏi quản lý NNL phảigắn với phát triển NNL góp phần nâng cao năng lực, kiến thức quản lý và sử dụngNNL nhằm đạt hiệu quả tốt nhất Trước đây, các nghiên cứu về NNL thường tiếp cậncác kỹ thuật quản lý nhân viên hoặc các phương pháp cải thiện sản xuất, giảm chiphí, phân phối dịch vụ, đồng thời đảm bảo sự sẵn sàng, ổn định lâu dài của các nhânviên thuộc thẩm quyền của tổ chức Ngày nay trước yêu cầu phát triển ngày càngcao, trên thế giới đang tồn tại bốn quan điểm chính về cách tiếp cận nghiên cứu NNLbao gồm: tiếp cận NNL theo hành vi; NNL được coi là vốn; NNL tri thức và NNL xãhội Cách tiếp cận này có những điểm tương đồng với cách tiếp cận [2] khi nghiên

cứu về NNL (Quá trình phát triển của các nghiên cứu về phát triển NNL được NCS tổng hợp tại Phụ lục 03, tr196) Cụ thể:

Thứ nhất, nguồn nhân lực tiếp cận theo hành vi: Cách tiếp cận NNL này theo

hướng phục vụ mục đích phát triển cũng như sử dụng NNL Sử dụng NNL là triểnkhai một cách có hiệu quả NNL sẵn có để đạt được tối đa các mục tiêu như: mục tiêucủa cá nhân, tập thể, tổ chức hoặc của quốc gia Theo cách tiếp cận này, lý thuyếtNNL thường xem NNL là đối tượng quản lý và hướng tới hành vi con người, tiêubiểu như Maslow (1943) khi tìm hiểu các đặc điểm nhu cầu, tâm, sinh lý và năng lựchành vi của người LĐ Ông cho rằng con người có nhiều nhu cầu khác nhau, cầnđược thoả mãn Ông chia hệ thống nhu cầu thành 5 nhóm khác nhau theo thứ tự từnhu cầu bậc thấp, đến nhu cầu bậc cao, (nhu cầu về sinh lý, nhu cầu an toàn, nhu cầu

xã hội, nhu cầu được tôn trọng, nhu cầu tự hoàn thiện) [77]

Sử dụng NNL hiệu quả có liên quan đến phân bổ NNL, duy trì và phát triểnhơn nữa [69] NNL tạo cơ sở tối ưu cho sự giàu có của các quốc gia Mục tiêu pháttriển NNL là khả năng sử dụng tối đa hóa NNL nhằm hoạt động hiệu quả hơn vàphát triển đầy đủ nhất các kỹ năng, kiến thức và năng lực của NNL… [63]

Theo cách tiếp cận hành vi trong quản lý NNL theo tác giả Jackson S vàcộng sự (1995), NNL là một loạt các hành vi của nhân viên, bao gồm các yêu cầuthực hiện các nhiệm vụ và các công việc cụ thể, cũng như các hành vi, tuy khôngđược quy định mô tả công việc của mọi người, nhưng đóng góp cho sự thànhcông bền vững của tổ chức [67]

Thứ hai, nguồn nhân lực tiếp cận như là vốn (hay NNL tiềm năng): Thuật

ngữ “nguồn nhân lực” bao gồm cả yếu tố định lượng (quy mô dân số, độ tuổi) vàcác yếu tố định tính [87] Schultz không đi sâu nghiên cứu mặt số lượng (địnhlượng) mà chỉ xem xét các yếu tố chất lượng, như kỹ năng, kiến thức và các thuộc

34

Trang 36

tính ảnh hưởng đến khả năng làm việc có hiệu quả của con người Quan điểm nàycũng được nghiên cứu bởi các tác giả Smith, Say, Mill, Bentham và List, các ôngcho rằng NNL hình thành bởi các yếu tố như nỗ lực thể chất, kỹ năng và sứcmạnh tinh thần được thể hiện trong thực hiện hành động của cơ thể (Bentham,được trích dẫn trong Kiker, 1966, trang 487) Ngược lại, Walras, von Thünen vàFisher coi con người là vốn khi xem xét, phản ánh khái niệm về NNL.

Về vốn NNL, Fisher cho rằng kỹ năng của một cá nhân không phải là vốn mà

kỹ năng đó phải được gắn với bản thân cá nhân cụ thể "Đó là một cá nhân có kỹnăng, nên được xếp vào loại vốn" [70] NNL tiếp cận dưới góc độ là vốn có nhiều ưuđiểm, bởi khi xem xét NNL người ta không chỉ tính đến NNL gắn với nhu cầu NNLcủa tổ chức ở hiện tại, mà còn đáp ứng yêu cầu phát triển của tổ chức trong tương lai.Chính những ưu điểm của cách tiếp cận này, mà đã thu hút được nhiều tác giả tậptrung nghiên cứu, tiêu biểu như các tác giả (Schuler và cộng sự, 1987; Jackson vàcộng sự, 1989; Wrigh P.M và cộng sự, 1991) Về cách tiếp cận NNL được coi làvốn, hay tiềm năng, được Tổ chức Ngân hàng thế giới đưa ra khái niệm “NNL làtoàn bộ vốn con người bao gồm thể lực, trí lực, kỹ năng nghề nghiệp của một cánhân” Theo đó NNL được coi là nguồn vốn, sự tham gia của nguồn vốn này hoàntoàn khác biệt với các nguồn vốn khác, như: vốn công nghệ, tài nguyên, tài chính…nguồn vốn này có khả năng đặc biệt khi đứng cạnh các nguồn vốn khác, nó khai thác

sử dụng và duy trì các loại vốn khác [96]

Quan điểm của Hàn Quốc về NNL được đưa ra tại Điều 2, Luật cơ bản vềphát triển nguồn nhân lực (sửa đổi ngày 26/7/2017) "nguồn nhân lực dùng để chỉnguồn lực con người có trình độ, kiến thức, kỹ năng và thái độ cần thiết cho sựphát triển của cá nhân, xã hội và quốc gia”

Thứ ba, nguồn nhân lực tiếp cận như là tri thức: Quan điểm này coi tri thức

và kỹ năng, nhận thức của NNL là nhân tố quan trọng nhất đối với năng suất, chấtlượng, hiệu quả thực hiện công việc Tiếp cận NNL là trí thức có tính đến mộtloạt các mối quan hệ, giữa khả năng và năng suất, chất lượng thực hiện công việccủa cá nhân Quan điểm này cho rằng con người được sinh ra với những khả năng

và cá tính khác nhau, có thể làm cho họ có những lợi thế, đem lại năng suất, chấtlượng, hiệu quả làm việc cao hơn, ở một số ngành nghề, công việc nhất định

Colclough (1982) nhấn mạnh vai trò của nhận thức hay ý thức, cũng như mức

độ tạo động lực và tâm lý của nguồn lực con người, đối với năng suất, chất lượng,hiệu quả thực hiện công việc; ông cho rằng giáo dục làm tăng năng suất LĐ và lợinhuận kinh tế cho đầu tư [60] Ngoài ra, giáo dục tác động làm giảm tỷ lệ sinh, cảithiện sức khỏe và dinh dưỡng, thúc đẩy các thay đổi hành vi và thái độ hữu ích chophát triển KTXH Giáo dục và đào tạo còn có thể tác động quan trọng đến giá trị,thái độ, tiêu chuẩn của một người, về động lực và kỳ vọng (ảnh hưởng tâm lý) vàhành vi Những yếu tố này ảnh hưởng đến khả năng của con người, cũng

35

Trang 37

như mức độ sẵn sàng làm việc hiệu quả của NNL và được coi là yếu tố quantrọng của NNL [79].

Matusik và cộng sự (1998) tiếp tục phát triển, mở rộng quan điểm, cáchtiếp cận này và cho rằng, phát triển NNL là phát triển dựa trên NNL tri thức của

tổ chức NNL tri thức được coi là đặc trưng riêng có của tổ chức, nhằm tạo lợi thếcạnh tranh, cũng có thể là tạo nên những thành tựu chung của cả quốc gia, nhưcác chủ trương, chính sách, quy định của nhà nước, hoặc là những kinh nghiệmtốt hữu ích, cần nhân rộng

Tri thức luôn có hai mặt, mặt tích cực, nếu được phát huy, nó mang lại hiệuquả KTXH cao Mặt tiêu cực nếu vận dụng không tốt, không đúng sẽ làm giảm khảnăng cạnh tranh và ảnh hưởng đến uy tín của tổ chức Matusik và cộng sự chỉ rarằng, có mối liên hệ giữa tri thức cụ thể (phụ thuộc vào vốn con người) và tri thứctổng thể (phụ thuộc vào vốn xã hội) để hình thành nên NNL của tổ chức Vì vậy,muốn đẩy mạnh phát triển NNL tri thức, cần tác động tới vốn con người và vốn xãhội trong tổ chức, theo một cách gọi khác là NNL mối quan hệ trong tổ chức

Thứ tư, tiếp cận NNL gắn với quan hệ xã hội (NNL xã hội): Trong khi tiếp

cận NNL dưới góc độ vốn nhân lực, chỉ đề cập đến giá trị sản xuất của con người,thì cách tiếp cận NNL xã hội lại chủ yếu đề cập đến các mục tiêu phát triển KT,chính trị và XH Theo Cohen (1994) phát triển và sử dụng NNL được coi làphương tiện để đáp ứng nhu cầu cơ bản của con người và góp phần vào sự pháttriển tổng thể, bằng cách giảm tỷ lệ sinh; truyền các giá trị văn hóa, tôn giáo,chính trị, công nghệ; và bảo tồn bản sắc dân tộc, sự gắn kết và ổn định [59]

Nguồn nhân lực gắn với mối quan hệ của tổ chức hay gọi là vốn xã hộiđược Leana và cộng sự (1999) đưa ra phản ánh các đặc tính của mối quan hệtrong tổ chức, là mức độ các thành viên chia sẻ cam kết, hướng tới mục tiêu, niềmtin, giúp tạo ra giá trị, thông qua tạo điều kiện cho từng thành viên thực hiệnthành công nhiệm vụ của mình Vốn XH trong tổ chức bao gồm vốn XH cấu trúc

là sự kết nối giữa các thành viên, hay nhóm thành viên trong tổ chức; vốn XHnhận thức là sự tin tưởng, mức độ chia sẻ mục tiêu, giá trị giữa các thành viên,nhóm thành viên Vốn XH trong tổ chức, vốn XH liên kết cũng có đóng góp nhấtđịnh vào sự tăng trưởng [73]

Ở phạm vi xã hội, NNL là nguồn lực hiện có, hoặc tiềm năng của nhữngngười làm việc trong xã hội và có thể hiểu theo hai nghĩa rộng và hẹp Theo nghĩa rộng,NNL là tổng hợp các tiềm năng LĐ, của mỗi con người trong một quốc gia, một vùng,lãnh thổ, hay một địa phương nhất định, có thể cung cấp sức LĐ cho sản xuất xã hội vàcung cấp nguồn lực cho phát triển KTXH Theo nghĩa hẹp, NNL là khả năng LĐ của xãhội, hay nói cách khác nó đồng nghĩa với nguồn LĐ cho phát triển KTXH, bao gồm tổngthể các yếu tố thể lực, trí lực và các kỹ năng nghề

36

Trang 38

nghiệp của những người trong độ tuổi LĐ, có khả năng LĐ và những người ngoài

độ tuổi LĐ, nhưng thực tế đang tham gia LĐ

Từ phân tích trên cho thấy, cùng với sự phát triển, tiến bộ của xã hội vàKHCN, NNL dần được coi là nguồn lực quan trọng nhất trong các nguồn lực,quản lý NNL không chỉ dừng lại ở mức độ quản lý hành chính, mà được nâng tầmtới mức quản lý chiến lược Rõ ràng là với các cách tiếp cận NNL khác nhau thìquan niệm về NNL, đối tượng nghiên cứu, phương pháp nghiên cứu, và hoạt độngquản lý NNL cũng khác nhau Như vậy, có nhiều cách tiếp cận khác nhau, nên cónhiều khái niệm khác nhau, nhưng nhìn chung đều thống nhất quan điểm, NNL lànguồn lực con người, bao gồm trí lực, thể lực và tinh thần, thái độ Bên cạnhnhững điểm thống nhất, thì cũng còn có nhiều điểm khác nhau về khái niệm NNL

Trên cơ sở đối tượng và phạm vi nghiên cứu của luận án, tham khảo các quanđiểm về NNL của các nhà khoa học trong và ngoài nước, luận án lựa chọn cách tiếpcận NNL dưới góc độ nguồn vốn (nhân lực tiềm năng) Bởi NNL tiếp cận dưới góc

độ là vốn có nhiều ưu điểm, vì khi xem xét NNL người ta không chỉ tính đến NNLgắn với nhu cầu về NNL của tổ chức ở hiện tại, mà còn đáp ứng yêu cầu phát triểncủa tổ chức trong tương lai Trong thời đại ngày nay, NNL được coi là một “tàinguyên đặc biệt”, một nguồn lực cho sự phát triển KTXH Đầu tư vào NNL có tỷ lệthu hồi vốn cao, do vốn nhân lực càng sử dụng nhiều, thì giá trị càng tăng lên, càngtạo ra nhiều của cải Vốn nhân lực không mang đặc điểm có tính quy luật như cácnguồn vốn khác, đó là: khấu hao vốn đã đầu tư vào các tài sản và loại hình vật chấtkhác Bởi vậy, việc phát triển NNL trở thành vấn đề có vị trí trung tâm trong pháttriển các nguồn lực Cách tiếp cận này phù hợp với vị trí, vai trò của NNL lĩnh vựcquản lý TNMT biển được đặt ra trong chiến lược phát triển bền vững kinh tế biểnViệt Nam đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045

Với cách tiếp cận trên, luận án đưa ra khái niệm NNL trong tổ chức như

sau: NNL của tổ chức là toàn bộ những người lao động trong biên chế của tổ chức đang làm việc theo một cơ cấu xác định với khả năng và tiềm năng lao động đáp ứng yêu cầu hiện tại, tương lai, được tổ chức quản lý, sử dụng theo quy định của pháp luật nhằm phát huy tối đa vai trò chủ đạo của nguồn nhân lực đối với

sự tồn tại và phát triển của tổ chức.

2.1.1.3 Khái niệm nguồn nhân lực quản lý tài nguyên, môi trường biển

Bàn về khái niệm NNL quản lý TNMT biển, đến nay chưa có nhà khoa học

và văn bản chính thức nào đưa ra khái niệm Do vậy, để nghiên cứu đưa ra kháiniệm NNL quản lý TNMT biển, theo NCS cần trên cơ sở khái niệm NNL và nộidung, yêu cầu, nhiệm vụ quản lý tổng hợp TNMT biển

Theo Luật Tài nguyên, môi trường biển và hải đảo, “Quản lý tổng hợp TNMT biển và hải đảo là hoạch định và tổ chức thực hiện các chính sách, cơ chế,

37

Trang 39

công cụ điều phối liên ngành, liên vùng để bảo đảm tài nguyên biển và hải đảo được khai thác, sử dụng hiệu quả, duy trì chức năng và cấu trúc của hệ sinh thái, nhằm phát triển bền vững, bảo vệ chủ quyền, quyền chủ quyền tài phán quốc gia của Việt Nam trên biển, bảo đảm quốc phòng, an ninh” [41].

Trên cơ sở quy định của pháp luật về quản lý tổng hợp TNMT biển và hảiđảo, Chính phủ quyết định thành lập Tổng cục Biển và Hải đảo Việt Nam và quyđịnh nhiệm vụ chủ yếu của Tổng cục Biển và Hải đảo Việt Nam là:

(1) Xây dựng, ban hành các văn bản quy phạm pháp luật về quản lý tổnghợp tài nguyên và bảo vệ môi trường biển, hải đảo; Lập quy hoạch, kế hoạch khaithác, sử dụng tài nguyên và bảo vệ môi trường biển, hải đảo

(2) Tham mưu cho Bộ Tài nguyên và Môi trường tham gia xây dựng chiếnlược, chính sách, đề án trong lĩnh vực quốc phòng, an ninh, ngoại giao liên quanđến phát triển KTXH, chủ quyền, quyền chủ quyền, quyền tài phán quốc gia củaViệt Nam trên biển, các cơ chế, chính sách khai thác, sử dụng tài nguyên biển docác bộ, ngành, địa phương chủ trì xây dựng

(3) Quản lý Nhà nước về điều tra cơ bản TNMT biển và hải đảo; khai thác,

sử dụng tài nguyên biển, đảo; Kiểm soát tài nguyên, bảo vệ môi trường biển vàhải đảo

(4) Thiết lập, quản lý và sử dụng hệ thống thông tin, cơ sở dữ liệu vềTNMT biển và hải đảo

(5) Tổ chức tuyên truyền, nghiên cứu khoa học, hợp tác quốc tế về biển,đảo

Từ khái niệm NNL và nội dung, nhiệm vụ quản lý TNMT biển, luận án đưa

ra khái niệm NNL quản lý TNMT biển: Là toàn bộ những người lao động trong biên chế của cơ quan quản lý tài nguyên, môi trường biển, đang thực hiện các công việc quản lý tài nguyên, môi trường biển với khả năng và tiềm năng lao động được tổ chức quản lý, sử dụng theo quy định của pháp luật, nhằm phát huy vai trò chủ đạo của NNL trong quá trình thực hiện các chức năng, nhiệm vụ về quản lý tài nguyên, môi trường biển.

2.1.2 Đặc điểm nguồn nhân lực quản lý tài nguyên, môi trường biển

Nguồn nhân lực quản lý TNMT biển có những đặc điểm cơ bản sau:

38

Trang 40

(2) Tham gia xây dựng chiến lược, chính sách, pháp luật trong lĩnh vực quốc phòng, an ninh, ngoại giao trên biển;

(3) Tiến hành điều tra cơ bản về tài nguyên, môi trường biển và hải đảo;(4) Khảo sát, thăm dò, nghiên cứu biển, hải đảo và đại dương;

(5) Bảo vệ môi trường biển và hải đảo;

(6) Thiết lập, quản lý và sử dụng hệ thống thông tin, cơ sở dữ liệu quốc gia

về TNMT biển và hải đảo;

(7) Tổ chức tuyên truyền về biển đảo; Làm đầu mối tổng hợp hoạt động hợp tác quốc tế về biển

Như vậy, mục đích, phạm vi hoạt động của NNL quản lý TNMT biển, đảo

là đa dạng, vừa quản lý tổng hợp, vừa quản lý ngành và chuyên ngành, liên quanđến quản lý nhà nước của hầu hết các ngành, lĩnh vực như: Công thương, xâydựng, giao thông vận tải, du lịch, nông nghiệp và phát triển nông thôn, tài nguyên

và môi trường, khoa học và Công nghệ, ngoại giao, quốc phòng, an ninh

Đặc điểm này một mặt cho thấy vai trò đặc biệt quan trọng của NNL quản

lý TNMT biển đối với phát triển KTXH, bảo vệ TNMT và an ninh quốc phòng.Mặt khác cho thấy tính đa dạng, phức tạp của lĩnh vực quản lý TNMT biển Dovậy, đòi hỏi NNL quản lý nhà nước về TNMT biển, phải bao gồm nhiều ngành,nghề, chuyên môn, để đảm nhận và thực hiện các nhiệm vụ được giao

b Đối tượng lao động

Đối tượng lao động của NNL quản lý TNMT biển là quản lý Nhà nước vềTNMT biển, hải đảo tại các vùng biển và đảo của Việt Nam, một lĩnh vực quản lý

đa ngành, được hình thành trên cơ sở hợp nhất nhiều lĩnh vực quản lý Nhà nướcbao gồm: địa chất khoáng sản biển; môi trường biển; khí tượng thuỷ văn biển; đođạc, bản đồ biển Đây là lĩnh vực vừa đòi hỏi phải nghiên cứu điều tra phát hiện,

đề xuất giải pháp khai thác, vừa phải tổ chức quản lý và bảo vệ TNMT, các hoạtđộng điều tra trên vùng biển, hải đảo ở khắp các tỉnh, thành phố có biển, hải đảo.Đồng thời là lĩnh vực liên quan và chịu ảnh hưởng của nhiều lĩnh vực, như:KHCN, an ninh, quốc phòng, địa chất, khoáng sản Do vậy, để quản lý TNMTbiển đảm bảo chất lượng, hiệu quả đòi hỏi phải có NNL chất lượng cao và có sựhợp tác, phối hợp chặt chẽ giữa các ngành, các cấp

c Môi trường làm việc

Môi trường làm việc của NNL quản lý TNMT biển rất khắc nghiệt, chịu ảnhhưởng lớn của môi trường thiên nhiên, như bão, sóng biển, nắng, nóng, địa bàn làmviệc khá phân tán, điều kiện làm việc thường xa đất liền có nhiều khó khăn, thiếuthốn và nguy hiểm do sóng, bão Nên đòi hỏi NNL quản lý TNMT biển phải có sứckhỏe, thể lực tốt, đặc biệt là phải chịu được tác động của sóng, gió biển, chịu được sựrung, lắc của tàu biển, cũng như điều kiện ăn uống, sinh hoạt thiếu thốn của

39

Ngày đăng: 21/10/2021, 13:59

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
2. Ngô Quỳnh An (2013). Cách tiếp cận nguồn nhân lực trong tổ chức. Tạp chí Kinh tế và Phát triển, số 193 tháng 7 năm 2013, 66–72 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cách tiếp cận nguồn nhân lực trong tổ chức
Tác giả: Ngô Quỳnh An
Năm: 2013
4. Trần Bình (2010). Phát triển chuyên ngành khoa học biển. Tạp chí biển Việt Nam, số 11 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phát triển chuyên ngành khoa học biển
Tác giả: Trần Bình
Năm: 2010
7. Byung - Nak Song (2002), Kinh tế Hàn Quốc đang trỗi dậy. Nxb Thống kê, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kinh tế Hàn Quốc đang trỗi dậy
Tác giả: Byung - Nak Song
Nhà XB: Nxb Thống kê
Năm: 2002
8. Vũ Thanh Ca (2016). Bảo vệ môi trường biển trong luật pháp quốc tế và một số quốc gia trên thế giới. Tạp chí Môi trường số 4/2016 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bảo vệ môi trường biển trong luật pháp quốc tế và một số quốc gia trên thế giới
Tác giả: Vũ Thanh Ca
Năm: 2016
9. Vũ Thanh Ca, Nguyễn Văn Cư, và Hứa Chiến Thắng (2015), Phương hướng và giải pháp đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực khoa học kỹ thuật và quản lý về biển và hải đảo Việt Nam. Hội thảo khoa học do Tổng cục Biển và Hải đảo Việt Nam tổ chức, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phương hướng và giải pháp đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực khoa học kỹ thuật và quản lý về biển và hải đảo Việt Nam
Tác giả: Vũ Thanh Ca, Nguyễn Văn Cư, và Hứa Chiến Thắng
Năm: 2015
10. Chu Văn Cấp và Trần Ngọc Tình (2014). Giáo dục - đào tạo với Phát triển nguồn nhân lực của Hàn Quốc và những gợi mở cho VN. Tạp chí Phát triển và Hội nhập Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo dục - đào tạo với Phát triểnnguồn nhân lực của Hàn Quốc và những gợi mở cho VN
Tác giả: Chu Văn Cấp và Trần Ngọc Tình
Năm: 2014
11. Trần Xuân Cầu và Mai Quốc Chánh (2008). Giáo trình kinh tế nguồn nhân lực. Nxb Đại học Kinh tế quốc dân Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình kinh tế nguồn nhânlực
Tác giả: Trần Xuân Cầu và Mai Quốc Chánh
Nhà XB: Nxb Đại học Kinh tế quốc dân
Năm: 2008
12. Chính phủ Việt Nam (2009). Nghị định số 25/2009/NĐ-CP của Chính phủ Về quản lý tổng hợp tài nguyên và bảo vệ môi trường biển, hải đảo. Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị định số 25/2009/NĐ-CP của Chính phủ Về quản lý tổng hợp tài nguyên và bảo vệ môi trường biển, hải đảo
Tác giả: Chính phủ Việt Nam
Năm: 2009
13. Chính phủ Việt Nam (2000). Nghị định số 68/2000/NĐ-CP của Chính phủ về việc thực hiện chế độ hợp đồng một số loại việc trong cơ quan hành chính nhà nước, đơn vị sự nghiệp. Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị định số 68/2000/NĐ-CP của Chính phủ về việc thực hiện chế độ hợp đồng một số loại việc trong cơ quan hành chính nhà nước, đơn vị sự nghiệp
Tác giả: Chính phủ Việt Nam
Năm: 2000
14. Chương trình phát triển liên hiệp quốc (2001), Báo cáo phát triển con người 2001 - Công nghệ mới vì sự phát triển con người. Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo phát triển con người 2001 - Công nghệ mới vì sự phát triển con người
Tác giả: Chương trình phát triển liên hiệp quốc
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 2001
15. Đỗ Minh Cương và Mạc Văn Tiến (2004), Phát triển lao động kỹ thuật ở Việt Nam - lý luận và thực tiễn. Nxb Lao động-xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phát triển lao động kỹ thuật ở Việt Nam - lý luận và thực tiễn
Tác giả: Đỗ Minh Cương và Mạc Văn Tiến
Nhà XB: Nxb Lao động-xã hội
Năm: 2004
16. Triệu Văn Cường (2016). Đào tạo, bồi dưỡng NNL quản lý nhà nước về biển và hải đảo ở Việt Nam: thực trạng và giải pháp. Hội thảo quốc tế“Quản lý nhà nước về biển và hải đảo: vấn đề và cách tiếp cận. Học viện Hành chính Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đào tạo, bồi dưỡng NNL quản lý nhà nước vềbiển và hải đảo ở Việt Nam: thực trạng và giải pháp
Tác giả: Triệu Văn Cường
Năm: 2016
17. Nguyễn Hữu Dũng (2003), Sử dụng hiệu quả nguồn lực con người ở Việt Nam. Nxb Lao động Xã hội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sử dụng hiệu quả nguồn lực con người ở Việt Nam
Tác giả: Nguyễn Hữu Dũng
Nhà XB: Nxb Lao động Xã hội
Năm: 2003
18. Trần Kim Dung (2006). Quản trị nguồn nhân lực. Nxb Thống Kê, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quản trị nguồn nhân lực
Tác giả: Trần Kim Dung
Nhà XB: Nxb Thống Kê
Năm: 2006
19. Nguyễn Đăng Đạo (2012). Chất lượng đội ngũ công chức quản lý nhà nước về biển và hải đảo của Tổng cục Biển và Hải đảo Việt Nam. Luận án tiến sĩ, Học Viện chính trị - Hành chính Quốc gia Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chất lượng đội ngũ công chức quản lý nhà nước về biển và hải đảo của Tổng cục Biển và Hải đảo Việt Nam
Tác giả: Nguyễn Đăng Đạo
Năm: 2012
20. Đinh Văn Ưu (2010). Đánh giá hiện trạng năng lực và khả năng đáp ứng của hệ thống đào tạo nguồn nhân lực khoa học, kỹ thuật về biển và hải đảo Việt Nam. Tổng cục Biển và Hải đảo Việt Nam Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đánh giá hiện trạng năng lực và khả năng đáp ứngcủa hệ thống đào tạo nguồn nhân lực khoa học, kỹ thuật về biển và hảiđảo Việt Nam
Tác giả: Đinh Văn Ưu
Năm: 2010
21. Nguyễn Thị Thu Hà và cộng sự (2019). Nghiên cứu cơ sở thực tiễn và đề xuất giải pháp tăng cường năng lực cho đội ngũ làm công tác quản lý tổng hợp tài nguyên và bảo vệ môi trường biển và hải đảo tại địa phương”.Báo cáo tổng kết đề tài Khoa học công nghệ, TCBHĐVN Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu cơ sở thực tiễn và đềxuất giải pháp tăng cường năng lực cho đội ngũ làm công tác quản lýtổng hợp tài nguyên và bảo vệ môi trường biển và hải đảo tại địaphương”
Tác giả: Nguyễn Thị Thu Hà và cộng sự
Năm: 2019
22. Phạm Văn Hà (2016). Phát triển lực lượng lao động trong các doanh nghiệp trên địa bàn Hà Nội đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa. Nxb Lao động Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phát triển lực lượng lao động trong các doanh nghiệp trên địa bàn Hà Nội đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa
Tác giả: Phạm Văn Hà
Nhà XB: Nxb Lao động
Năm: 2016
23. Hạc Phạm Minh Hạc (2001). Vấn đề con người trong sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa. Nxb Chính trị quốc gia Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vấn đề con người trong sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa
Tác giả: Hạc Phạm Minh Hạc
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 2001
3. Bách khoa toàn thư mở (https://vi.wikipedia.org/wiki/Kinh_tế Hàn Quốc) Link

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w