Bài viết trình bày về biến đổi khí hậu ảnh hưởng ngày càng nghiêm trọng đối với con người và hệ thống Trái Đất. Việt Nam nằm trong nhóm các quốc gia có thu nhập bình quân đầu người ở mức trung bình thấp, nhu cầu tăng trưởng kinh tế cao. Tuy nhiên, nếu Việt Nam, cũng như các quốc gia đang phát triển khác, không tập trung thay đổi cách thức sản xuất, thực sự quan tâm đến giảm thải khí nhà kính và tăng lưu trữ carbon, thì nỗ lực chung của thế giới trong ứng phó biến đổi khí hậu khó đạt được thành công. Mời các bạn cùng tham khảo!
Trang 1Giảm nhẹ biến đổi khí hậu trong sản xuất nông nghiệp ở Việt Nam
Nguyễn Thị Vĩnh Hà
Trường Đại học Kinh tế, ĐHQGHN
1 ĐẶT VẤN ĐỀ
Việt Nam là một trong các quốc gia chịu ảnh hưởng nặng nề bởi biến đổi khí hậu (BĐKH) Theo đánh giá tại báo cáo Chỉ số rủi ro khí hậu toàn cầu (Global Climate Risk Index) của tổ chức Germanwatch năm 2021 thì Việt Nam xếp thứ 13 trên thế giới về mức độ rủi ro khí hậu, xếp thứ 15 về
số người tử vong và xếp thứ 11 về mức thiệt hại tính theo USD (PPP) do thời tiết cực đoan trong giai đoạn 2000-2019 (Eckstein và các cộng sự, 2021) BĐKH là mối đe dọa nghiêm trọng đối với con người và hệ thống
tự nhiên trên phạm vi toàn cầu, đòi hỏi tất cả các nước phải cùng nhau hành động để ứng phó (IPCC, 2014) Vì vậy, Việt Nam cần phải thực hiện các giải pháp nhằm giảm thải khí nhà kính (KNK), góp phần vào công cuộc bảo vệ hệ thống khí hậu Trái Đất cũng như cứu lấy chính mình
Việt Nam là quốc gia có thu nhập trung bình thấp, có mức thải KNK bình quân đầu người khá thấp (3,94 tấn/người năm 2018), xếp thứ 106 trong tổng số 191 quốc gia, vùng lãnh thổ trên thế giới (theo World Development Indicators, World Bank) Tuy nhiên, với vị trí là nước đông dân thứ 15 trên thế giới, tổng lượng thải KNK năm 2018 của nước ta xếp thứ 24, chiếm 0,82% tổng lượng KNK thải của toàn cầu
Trong vòng gần 30 năm từ 1990 đến 2018, lượng thải KNK của Việt Nam tăng nhanh chóng, với mức tăng cao nhất trong các quốc gia Đông Nam Á (Hình 1) Năm 2018, lượng thải KNK của Việt Nam tăng gấp 5,2 lần so với năm 1990 Mức thải KNK bình quân đầu người tăng 3,7 lần, từ mức 1,07 tấn CO2 tương đương/người vào năm 1990 lên 3,94 tấn CO2 tương đương/người vào năm 2018
Trang 21.5
2
2.5
3
3.5
4
4.5
5
1990 1991 1992 1993 1994 1995 1996 1997 1998 1999 2000 2001 2002 2003 2004 2005 2006 2007 2008 2009 2010 2011 2012 2013 2014 2015 2016 2017 2018 Vi?t Nam Thái Lan Myanmar Malaysia Lào Indonesia Brunei Campuchia Philippines
Hình 1: Mức tăng thải khí nhà kính của các quốc gia Đông Nam Á,
giai đoạn 1990-2018 (Nguồn: Tính toán của tác giả dựa trên dữ liệu World Development Indicators, World Bank)
(PPP, 2017) (Nguồn: Tính toán của tác giả dựa trên
dữ liệu World Development Indicators, World Bank)
Mức thải KNK cho mỗi đô la GDP (PPP, 2017) có xu hướng giảm trong giai đoạn 1990-2018 (Hình 2), từ 0,62 kg còn 0,52 kg CO2 tương đương cho mỗi USD trong GDP (PPP, 2017) Tuy nhiên, mức thải này vẫn khá cao so với các quốc gia có điều kiện kinh tế xã hội tương đồng như Bangladesh, Malaysia, Indonesia, Philipines, Thái Lan hay bình quân các nước có thu nhập trung bình thấp Mức thải KNK trên 1 USD của GDP ở Việt Nam cao gần gấp 3 lần so với các nước EU, gấp 2 lần các nước OECD
và bằng 1,5 lần so với bình quân thế giới (Hình 3)
Trang 3Hình 3: Mức thải khí nhà kính (kg CO 2 tương đương) cho mỗi USD GDP năm 2018 của một số quốc gia, nhóm quốc gia (PPP, 2017) (Nguồn: Tính toán của tác giả dựa
trên dữ liệu World Development Indicators, World Bank)
Những thông tin trên cho thấy Việt Nam cần phải cắt giảm lượng thải KNK Ở Việt Nam, ngành nông nghiệp chiếm 14,6% GDP năm 2018, tuy nhiên, ngành này chiếm đến 21,3% tổng lượng thải KNK trong cùng năm (theo số liệu thống kê của FAO) Việc lạm dụng phân bón hóa học, thuốc trừ sâu và nước tưới nhằm gia tăng năng suất đã khiến nông nghiệp trở thành nguồn thải KNK lớn thứ hai sau ngành năng lượng Do đó, việc giảm thải KNK trong sản xuất nông nghiệp là rất cần thiết Báo cáo này rà soát các chính sách giảm nhẹ BĐKH và tổng hợp các giải pháp nhằm giảm thải KNK trong ngành nông nghiệp ở Việt Nam
2 CÁC CHÍNH SÁCH GIẢM NHẸ BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU TRONG SẢN XUẤT NÔNG NGHIỆP Ở VIỆT NAM
Một trong những động thái sớm nhất của Chính phủ Việt Nam liên quan giảm nhẹ BĐKH là việc ký Nghị định thư Kyoto ngày 03/12/1998
và phê chuẩn Nghị định thư ngày 25/9/2002, sau đó chính thức đệ trình Thông báo đầu tiên của Việt Nam năm 2003 Nghị định thư Kyoto là một thỏa thuận về việc cắt giảm lượng thải KNK, gắn liền với Chương trình Khung Liên Hiệp Quốc về BĐKH (United Nations Framework Convention
on Climate Change – UNFCCC) Nghị định thư buộc các nước tham gia phải cam kết đạt được các mục tiêu về thải KNK được xác định cụ thể cho từng nước Việt Nam không nằm trong nhóm các quốc gia phải cam kết cắt giảm KNK, nhưng có thể tham gia cơ chế thị trường khí thải và cơ chế phát
Trang 4triển sạch, trong đó cho phép các quốc gia phát triển tài trợ các dự án giúp giảm lượng thải hoặc tăng hấp thu KNK tại các nước đang phát triển, đổi lại các nước tài trợ sẽ được gia tăng lượng hạn ngạch thải ở nước mình Đây được xem như một công cụ hiệu quả nhằm giúp các nước đang phát triển như Việt Nam có thể thực hiện giảm nhẹ BĐKH với sự hỗ trợ về tài chính và kỹ thuật từ các nước phát triển
Trong suốt hai thập kỷ qua, hoạt động ứng phó với BĐKH ở Việt Nam đã có những tiến triển đáng kể thông qua việc phê duyệt một loạt các chương trình nghị sự, chính sách và dự án về BĐKH Việt Nam chú ý nhiều hơn đến các chính sách nhằm thích nghi BĐKH, chẳng hạn như các Chương trình mục tiêu quốc gia ứng phó với BĐKH ban hành theo Quyết định số 158/2008/QĐ-TTg ngày 02/12/2008 và Quyết định số 1183/QĐ-TTg ngày 30/8/2012, Kế hoạch hành động quốc gia thực hiện Chương trình Nghị sự
2030 vì sự phát triển bền vững (Quyết định số 622/QĐ-TTg ngày 10/5/2017), Kế hoạch quốc gia thích ứng với BĐKH giai đoạn 2021-2030, tầm nhìn đến năm 2050 (Quyết định số 1055/QĐ-TTg ngày 20/7/2020),… Ngoài ra còn có các chính sách liên quan đến hoạt động cải thiện nghiên cứu khoa học và công nghệ nhằm đề xuất các giải pháp ứng phó BĐKH có hiệu quả (các Chương trình Khoa học và Công nghệ Quốc gia về BĐKH giai đoạn 2011-2015 và 2016-2020)
Tuy nhiên, các chính sách thúc đẩy lộ trình phát triển tăng trưởng xanh, giảm thải KNK cũng đã được Chính phủ quan tâm Chiến lược quốc gia về BĐKH ban hành theo Quyết định số 2139/QĐ-TTg ngày 05/12/2011, được cụ thể hóa thông qua Kế hoạch hành động quốc gia về BĐKH giai đoạn 2012-2020 và Chương trình mục tiêu quốc gia ứng phó với BĐKH giai đoạn 2012-2015 tập trung vào mục tiêu thích ứng và có lồng ghép mục tiêu giảm nhẹ Chiến lược quốc gia về Tăng trưởng xanh ban hành theo Quyết định số 1393/QĐ-TTg ngày 25/9/2012 tập chủ yếu trung vào mục tiêu giảm nhẹ tác động BĐKH Hầu hết các hoạt động trong
Kế hoạch hành động quốc gia về Tăng trưởng xanh giai đoạn 2014-2020 đặt trọng tâm vào tăng trưởng xanh, tiến tới nền kinh tế carbon thấp, giảm thải và tăng khả năng hấp thụ KNK
Việt Nam đã đẩy mạnh cam kết với thế giới về giảm thải KNK thông quan việc ban hành Quyết định 2053/QĐ-TTg ngày 28/10/2016 về Kế
Trang 5hoạch thực hiện Thoả thuận Paris về BĐKH và phê duyệt Thoả thuận Paris vào 03/11/2016 Việc đệ trình báo cáo Đóng góp dự kiến do quốc gia tự quyết định (INDC) cho UNFCCC vào tháng 9/2015 và phê chuẩn Đóng góp do quốc gia tự quyết định (NDC) vào tháng 11/2016 phản ánh những
nỗ lực của Việt Nam trong việc giảm thải KNK Theo NDC của Việt Nam, Chính phủ cam kết cắt giảm lượng KNK trong giai đoạn 2021-2030 khoảng
từ 8% đến 25% so với kịch bản phát triển trong điều kiện thông thường (BAU), tùy điều kiện sử dụng nội lực hay có sự hỗ trợ của quốc tế, đặc biệt
là về nguồn lực tài chính Để đạt được các mục tiêu giảm nhẹ tác động BĐKH như đã đề ra trong NDC, các giải pháp cần thực hiện trong lĩnh vực nông nghiệp là giảm thải KNK thông qua phát triển nông nghiệp bền vững, thay đổi sử dụng đất, sử dụng công nghệ đánh giá làm tăng các bể chứa carbon hiện tại thông qua việc bảo vệ rừng bền vững, trồng rừng và tái tạo rừng, phát triển các dịch vụ môi trường rừng (Government of Vietnam, 2015)
Nỗ lực mới nhất và rất quan trọng của Việt Nam là đưa ra các quy định về giảm nhẹ thải KNK vào Luật Bảo vệ Môi trường năm 2020, trong
đó thúc đẩy việc xây dựng, tổ chức thực hiện kế hoạch giảm nhẹ thải KNK hằng năm trong lĩnh vực năng lượng, nông nghiệp, sử dụng đất và lâm nghiệp, quản lý chất thải, các quá trình công nghiệp
Ngành nông nghiệp và phát triển nông thôn có Đề án giảm thải KNK trong nông nghiệp, nông thôn đến năm 2020 (Quyết định số 3119/QĐ-BNN-KHCN ngày 16/12/2011), Đề án tái cơ cấu ngành nông nghiệp theo hướng nâng cao giá trị gia tăng và phát triển bền vững (Quyết định số 899/QĐ-TTg ngày 10/6/2013), Kế hoạch hành động về ứng phó với BĐKH các giai đoạn 2011-2015, 2016-2020 với tầm nhìn 2050 (Quyết định số 543/QĐ-BNN-KHCN ngày 23/3/2011, Quyết định số 819/QĐ-BNN-HCN ngày 14/3/2016) và Kế hoạch hành động tăng trưởng xanh đến năm 2020 (Quyết định số 923/QĐ-BNN-KH ngày 24/3/2017) Các đề án, kế hoạch này nhằm mục tiêu thúc đẩy phát triển sản xuất nông nghiệp xanh, bền vững, sử dụng hiệu quả và tiết kiệm năng lượng, tài nguyên thiên nhiên hướng đến nền kinh tế carbon thấp, giảm thải và tăng cường khả năng hấp thụ KNK, tích hợp thích ứng và giảm thiểu để nâng cao hiệu quả, đáp ứng
đa mục tiêu trong ứng phó với BĐKH của ngành Các kế hoạch hoạt động
Trang 6giảm nhẹ thải KNK được đưa ra cho các lĩnh vực trồng trọt, chăn nuôi, thủy sản, lâm nghiệp, thủy lợi, diêm nghiệp và phát triển nông thôn nhằm giảm thải KNK 20% trong mỗi giai đoạn 10 năm
Trong lĩnh vực lâm nghiệp, các chính sách chính bao gồm Chương trình quốc gia về giảm thải KNK thông qua hạn chế mất và suy thoái rừng; bảo tồn, nâng cao trữ lượng carbon và quản lý bền vững tài nguyên rừng (Chương trình REDD+) giai đoạn 2011-2020 và đến năm 2030 ban hành theo các Quyết định số 799/QĐ-TTg ngày 27/6/2012, Quyết định số 419/QĐ-TTg ngày 05/4/2017 Chương trình REDD+ đưa ra mục tiêu đến năm 2030 góp phần giảm thải KNK thông qua các hoạt động REDD+, ổn định diện tích rừng tự nhiên, nâng cao độ che phủ rừng toàn quốc lên 45% Các đề án bảo vệ và phát triển rừng ven biển ứng phó với BĐKH giai đoạn 2015-2020, đề án trồng 1 tỉ cây xanh giai đoạn 2021-2025 cũng hướng tới việc gia tăng độ phủ rừng và hấp thu KNK
Danh mục các văn bản chính sách về giảm thải KNK liên quan đến ngành nông nghiệp của Việt Nam được liệt kê trong Bảng 1
Bảng 1 Các văn bản chính sách giảm nhẹ BĐKH liên quan đến sản xuất nông nghiệp ở Việt Nam
STT Số hiệu Ngày
ban hành
Tên văn bản
1 03/12/1998 Ký Nghị định thư Kyoto
2 25/9/2002 Phê chuẩn Nghị định thư Kyoto
3
2730/QĐ-BNN-KHCN
05/9/2008 Khung chương trình hành động thích ứng
với BĐKH của ngành nông nghiệp và phát triển nông thôn giai đoạn 2008-2020
4
158/2008/QĐ-TTg
02/12/2008 Chương trình mục tiêu quốc gia ứng phó với
BĐKH
5
99/2010/NĐ-CP
24/9/2010 Chính sách chi trả dịch vụ môi trường rừng
6 543/QĐ-
BNN-KHCN
23/3/2011 Kế hoạch hành động ứng phó với BĐKH của
ngành nông nghiệp và ptnt giai đoạn
2011-2015 và tầm nhìn đến năm 2050
7
2630/QĐ-BKHCN
29/8/2011 Chương trình Khoa học và công nghệ phục
vụ Chương trình mục tiêu quốc gia ứng phó
với BĐKH
8 2139/QĐ-TTg 05/12/2011 Chiến lược quốc gia về BĐKH
9
3119/QĐ-BNN-KHCN
16/12/2011 Đề án giảm thải khí nhà kính trong nông
nghiệp, nông thôn đến năm 2020
10 432/QĐ-TTg 12/4/2012 Chiến lược phát triển bền vững Việt Nam
giai đoạn 2011-2020
Trang 711 799/QĐ-TTg 27/6/2012 Chương trình hành động quốc gia về “giảm
thải khí nhà kính thông qua nỗ lực hạn chế mất rừng và suy thoái rừng, quản lý bền vững tài nguyên rừng, bảo tồn và nâng cao trữ lượng các bon rừng” giai đoạn 2011 –
2020
12 1183/QĐ-TTg 30/8/2012 Chương trình mục tiêu quốc gia ứng phó với
BĐKH giai đoạn 2012-2015
13 1393/QĐ-TTg 25/9/2012 Chiến lược quốc gia về tăng trưởng xanh
14 1474/QĐ-TTg 05/10/2012 Kế hoạch hành động quốc gia về BĐKH giai
đoạn 2012-2020
15 899/QĐ-TTg 10/6/2013 Đề án tái cơ cấu ngành nông nghiệp theo
hướng nâng cao giá trị gia tăng và phát triển
bền vững
16
1485/QĐ-KHĐT
17/10/ 2013 Khung hướng dẫn lựa chọn ưu tiên thích ứng
với BĐKH trong lập kế hoạch phát triển
kinh tế - xã hội
17 403/QĐ-TTg 20/3/2014 Kế hoạch hành động quốc gia về Tăng
trưởng xanh giai đoạn 2014-2020
18
639/QĐ-BNN-KH
02/4/2014 Quy hoạch nông nghiệp, nông thôn vùng
đồng bằng sông Cửu Long đến năm 2020, tầm nhìn đến năm 2030 trong điều kiện
BĐKH
19 55/2014/QH13 23/6/2014 Luật Bảo vệ môi trường 2014
20 120/QĐ-TTg 22/01/2015 Đề án bảo vệ và phát triển rừng ven biển ứng
phó với BĐKH giai đoạn 2015-2020
21
75/2015/NĐ-CP
09/9/2015 Cơ chế, chính sách bảo vệ và phát triển rừng,
gắn với chính sách giảm nghèo nhanh, bền vững và hỗ trợ đồng bào dân tộc thiểu số
giai đoạn 2015 – 2020
22
172/QĐ-BKHCN
29/01/2016 Chương trình Khoa học và Công nghệ Quốc
gia về BĐKH
23 819/QĐ-
BNN-KHCN
14/3/2016 Kế hoạch hành động ứng phó với BĐKH
ngành nông nghiệp và phát triển nông thôn giai đoạn 2016-2020, tầm nhìn đến năm
2050
24
1898/QĐ-BNN-TT
23/5/2016 Đề án tái cơ cấu ngành lúa gạo Việt Nam
đến năm 2020 và tầm nhìn đến năm 2030
25
119/2016/NĐ-CP
23/8/2016 Một số chính sách quản lý, bảo vệ và phát
triển bền vững rừng ven biển ứng phó với
BĐKH
26
38/2016/QĐ-TTg
14/9/2016 Một số chính sách bảo vệ, phát triển rừng và
đầu tư hỗ trợ kết cấu hạ tầng, giao nhiệm vụ công ích đối với các công ty nông, lâm
nghiệp
27 2053/QĐ-TTg 28/10/2016 Kế hoạch thực hiện Thỏa thuận Paris về
BĐKH
Trang 828 93/NQ-CP 31/10/2016 Phê duyệt Thỏa thuận Paris thực hiện Công
ước khung của Liên hợp quốc về BĐKH
29
147/2016/NĐ-CP
02/11/2016 Bổ sung chính sách chi trả dịch vụ môi
trường rừng
30
923/QĐ-BNN-KH
24/3/2017 Kế hoạch hành động tăng trưởng xanh của
ngành nông nghiệp và phát triển nông thôn
đến năm 2020
31 419/QĐ-TTg 05/4/2017 Chương trình quốc gia về giảm thải khí nhà
kính thông qua hạn chế mất và suy thoái rừng; bảo tồn, nâng cao trữ lượng carbon và quản lý bền vững tài nguyên rừng đến năm
2030
32 622/QĐ-TTg 10/5/2017 Kế hoạch hành động quốc gia thực hiện
Chương trình Nghị sự 2030 vì sự phát triển
bền vững
33 1670/QĐ-TTg 31/10/2017 Chương trình mục tiêu ứng phó với BĐKH
và tăng trưởng xanh giai đoạn 2016-2020
34 324/QĐ-TTg 02/3/2020 Chương trình tổng thể phát triển nông
nghiệp bền vững thích ứng với BĐKH vùng Đồng bằng sông Cửu Long đến năm 2030,
tầm nhìn đến năm 2045
35
891/QĐ-BNN-KHCN
17/3/2020 Kế hoạch thực hiện thỏa Thuận Paris về
BĐKH của Bộ Nông nghiệp và phát triển nông thôn giai đoạn 2021-2030
36 72/2020/QH14 17/11/2020 Luật Bảo vệ môi trường 2020
(Nguồn: Tổng hợp của tác giả)
3 CÁC GIẢI PHÁP GIẢM NHẸ BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU TRONG SẢN XUẤT NÔNG NGHIỆP Ở VIỆT NAM
Khái niệm “Nông nghiệp thông minh với khí hậu” (CSA) do Tổ chức Lương thực và Nông nghiệp Liên hiệp quốc (FAO, 2013) đề xuất đang được đưa vào áp dụng tại Việt Nam CSA được định nghĩa là phương thức sản xuất nông nghiệp có khả năng ứng phó (cả giảm thiểu và thích ứng) với tác động tiêu cực của BĐKH để ổn định an ninh lương thực và phát triển bền vững CSA dựa trên ba trụ cột chính là: tăng trưởng bền vững về năng suất và thu nhập của người sản xuất; thích ứng với sự thay đổi của khí hậu; giảm thiểu (hoặc loại trừ) thải KNK Hai mục tiêu chính của CSA là năng suất (an ninh lương thực) và thích ứng và giảm thiểu tác động của BĐKH (bao gồm cả cân bằng carbon cũng như giảm thải KNK) Việt Nam đã có một số hoạt động nhằm giảm thải KNK trong sản xuất nông nghiệp, ở các lĩnh vực trồng trọt, chăn nuôi, thuỷ sản và lâm nghiệp
Trang 93.1 Giảm thải KNK trong lĩnh vực trồng trọt
Trong trồng trọt, đặc biệt là canh tác lúa nước, khi ruộng ngập nước
ở chế độ yếm khí sẽ phân giải chất hữu cơ thải ra khí methane Đất nông nghiệp khi bón phân đạm bị chuyển hóa từ dạng này sang dạng khác cũng thải khí nitơ Đốt nương làm rẫy và đốt rơm rạ thải khí carbonic Đây là các nguồn thải KNK từ trồng trọt
Do nỗ lực thúc đẩy tăng năng suất cây trồng nên lĩnh vực trồng trọt
ở Việt Nam phụ thuộc nhiều vào sự thâm dụng các yếu tố đầu vào như giống, nước, phân bón, thuốc trừ sâu Tuy nhiên, ước tính có đến một nửa hoặc hai phần ba lượng chất dinh dưỡng từ phân bón không được cây trồng hấp thụ Việc sử dụng quá nhiều phân bón gây ra một lượng lớn khí nitơ oxit thải vào môi trường (World Bank, 2016) Việc chuyển đổi trồng trọt
từ dựa vào đất sang dựa vào công nghệ, kỹ thuật để làm tăng năng suất, chất lượng cây trồng giúp làm giảm các áp lực sử dụng phân bón, thuốc trừ sâu, năng lượng, từ đó giúp giảm thải KNK
Quản lý cây trồng tổng hợp (Integrated Crop Management – ICM) thúc đẩy các kỹ thuật canh tác giảm nguồn đầu vào, chẳng hạn các kỹ thuật
2 giảm 3 tăng (2G3T), hoặc 3 giảm 3 tăng (3G3T), 1 phải 5 giảm (1P5G) hay 1 phải 6 giảm (1P6G), trong đó các yêu cầu phải, giảm, tăng bao gồm: phải dùng giống cây trồng được xác nhận, giảm lượng phân hoá học bón thừa trên đồng ruộng, giảm sử dụng thuốc bảo vệ thực vật, giảm lượng nước tưới ở mức vừa đủ, giảm thất thoát sau thu hoạch, giảm lượng giống gieo
sạ, giảm khí thải nhà kính, tăng năng suất cây trồng, tăng chất lượng sản phẩm, tăng hiệu quả kinh tế Việc giảm sử dụng đầu vào sản xuất giúp lượng thải KNK cũng giảm theo
Hệ thống canh tác lúa cải tiến (System of Rice Intensification – SRI)
là phương pháp canh tác lúa sinh thái, mang lại hiệu quả và năng suất cao, giảm thải KNK dựa trên những tác động kỹ thuật nhằm giảm chi phí đầu vào như giống, phân bón, thuốc trừ sâu, tiết kiệm nước tưới Những kỹ thuật tác động bao gồm: thay đổi lịch gieo trồng, giảm mật độ gieo sạ/cấy thưa, quản lý nước, làm cỏ sục bùn, bón phân hữu cơ Nghiên cứu cho thấy
so với biện pháp canh tác lúa thông thường, việc áp dụng SRI giúp giảm 70-90% thóc giống, 20-25% phân bón, 30% nhu cầu nước tưới; năng suất
Trang 10tăng 9-15%; hạn chế dịch, bệnh, hại phát triển, nhất là bệnh khô vằn, ốc bươu vàng, bệnh nghẹt rễ, bó gốc, bọ trĩ…, đồng thời tăng khả năng chống chịu sâu, bệnh của cây lúa; giá thành sản phẩm (thóc) giảm do tiết kiệm được giống, phân bón, thuốc bảo vệ thực vật, chi phí về thủy lợi… Áp dụng SRI giúp cho cây lúa cứng, khỏe hơn nên ít bị đổ ngả trong điều kiện mưa bão Việc không giữ nước ngập mặt ruộng thường xuyên hạn chế thải KNK (Ngô Tiến Dũng, 2014) Biện pháp canh tác này được công nhận là tiến bộ
kỹ thuật ở Việt Nam, đạt giải thưởng Bông lúa vàng năm 2012
Các mô hình trồng rau an toàn, thực hành nông nghiệp tốt VietGAP
và GlobalGAP đảm bảo chất lượng sản phẩm trồng trọt, giảm lượng thuốc bảo vệ thực vật, sử dụng phân bón hợp lý, từ đó giảm thải KNK Kỹ thuật canh tác nông nghiệp hữu cơ, sử dụng phân ủ hữu cơ (compost), phân vi sinh trong canh tác lúa và các loại cây trồng không những làm tăng năng suất cây trồng mà còn cắt giảm chi phí sử dụng phân bón hóa học và làm giảm tổng lượng thải KNK Các kỹ thuật bảo vệ đất trồng trọt, làm đất tối thiểu, che phủ đất bằng thảm thực vật và kỹ thuật nâng cao hiệu quả sử dụng phân đạm giúp hạn chế thải khí N2O Các mô hình tưới tiết kiệm, rút nước mặt ruộng trong canh tác lúa, phương pháp tưới nhỏ giọt và tưới phun mưa cho các vùng sản xuất cà phê, cây ăn quả, cây trồng cạn và rau màu
có giá trị kinh tế cao tại các vùng chuyên canh, đồng thời giảm tiêu hao năng lượng phục vụ tưới tiêu
Ngoài ra, các mô hình xã hội hóa thu gom, xử lý và tái sử dụng chất thải trong trồng trọt (rơm rạ, thân ngô, lõi ngô, bã mía, lá mía, vỏ cà phê, vỏ sắn, ) làm phân bón hữu cơ, than sinh học (biochar), biogas, vật liệu, chất độn, giảm ô nhiễm môi trường và giảm thải KNK Việc tái sử dụng rơm rạ để trồng nấm, hoặc cày lật ngay tại ruộng giúp giảm tình trạng đốt rơm rạ sau các vụ thu hoạch
3.2 Giảm thải KNK trong lĩnh vực chăn nuôi
Trong lĩnh vực chăn nuôi, nguồn thải KNK quan trọng gồm sản xuất thức ăn và chế biến (45%), chất thải trong quá trình tiêu hóa của gia súc nhai lại (39%) và sự phân hủy của phân (10%) Phần còn lại là từ việc xử
lý và vận chuyển sản phẩm động vật (Gerber và các cộng sự, 2013) Khí sinh học là hỗn hợp khí methane (CH4) và một số khí khác phát sinh từ sự