1. Trang chủ
  2. » Nông - Lâm - Ngư

Kết hợp khung lý thuyết chuyển đổi sinh thái - xã hội (SET) và khung phân tích Áp lực - Thực trạng - Đáp ứng (PSR) nghiên cứu nông nghiệp bền vững và an ninh lương thực

14 28 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 14
Dung lượng 311,01 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Bài viết nhằm mục tiêu đưa ra đề xuất về chuyển đổi mô hình sản xuất nông nghiệp để hướng tới phát triển nông nghiệp và hệ thống lương thực vì mục tiêu phát triển bền vững và thích ứng với các tác động của biến đổi khí hậu và Covid-19. Để hiểu rõ hơn mời các bạn cùng tham khảo nội dung chi tiết của bài viết này.

Trang 1

Kết hợp khung lý thuyết chuyển đổi

sinh thái - xã hội (SET) và khung phân tích

Áp lực - Thực trạng - Đáp ứng (PSR) nghiên cứu nông nghiệp bền vững và an ninh lương thực Nguyễn An Thịnh (1) , Nguyễn Thị Vĩnh Hà (1) , Nguyễn Đình Tiến (1) ,

Đào Thế Anh (2) , Đỗ Thị Minh Huệ (1) , Lê Ngọc Ánh (1)

(1) Trường Đại học Kinh tế, ĐHQGHN (2) Viện Khoa học nông nghiệp Việt Nam, Bộ NN&PTNT

1 ĐẶT VẤN ĐỀ

Lý thuyết sinh thái - xã hội (social-ecological theory, SET) đã được phát triển để tạo ra tri thức kết nối xã hội và tự nhiên, từ đó giúp con người

có thể xây dựng khung lý thuyết cho sự phát triển hài hoà giữa tự nhiên và

xã hội Chuyển đổi sinh thái - xã hội là cách tiếp cận phát triển mới trong

đó có sự dịch chuyển của hệ thống xã hội, vốn có sự tách biệt tương đối với

hệ thống tự nhiên, sang một hệ thống tích hợp hài hoà các yếu tố tự nhiên

và xã hội (Bruckmeier, 2016)

Tiếp cận chuyển đổi sinh thái - xã hội (social-ecologial tranformation, sau đây viết tắt là SET) đã được áp dụng trong nhiều hoạt động kinh tế xã hội cũng như trong các nghiên cứu học thuật trên thế giới và ở Việt Nam (Bruckmeier, 2016; Danso-Dahmen & Degenhardt, 2018; Nguyễn, 2019) Trong sản xuất nông nghiệp, tiếp cận SET cũng đã được áp dụng trong nhiều nghiên cứu và đề xuất chính sách (Partelow, 2018)

Theo tiếp cận SET, nông nghiệp được coi là một trong bốn lĩnh vực cấu thành bộ tứ tác nhân gây ô nhiễm môi trường nghiêm trọng nhất, liên quan đến nhiều yếu tố khác nhau từ đất, nước, không khí, động vật, con người, thực vật và thực phẩm Ngày nay, các phương pháp nông nghiệp đã được phát triển mạnh mẽ liên tục kể từ sau Cách mạng Công nghiệp lần thứ nhất, và thậm chí còn hơn thế nữa kể từ “cuộc cách mạng xanh” vào những thập kỷ giữa của thế kỷ 20 Tuy nhiên, ở quốc gia nông nghiệp như Việt Nam và một số quốc gia Đông Nam Á khác, những kỹ thuật và công nghệ

Trang 2

hiện đại mà nông dân áp dụng để tăng sản lượng cũng phần nào gây ra tình trạng ô nhiễm môi trường Từ góc độ sinh thái -xã hội, khủng hoảng sinh thái - xã hội trong nông nghiệp có thể tạo thành một cuộc khủng hoảng đa dạng về mối quan hệ của xã hội với tự nhiên Điều quan trọng là phải xem xét việc quản lý và tái cơ cấu để giải quyết khủng hoảng do nông nghiệp gây ra Vì vậy, cần phải tìm ra những cách tiếp cận và khung mô hình nghiên cứu mới (khung mẫu) trong định hướng phát triển nông nghiệp, đảm bảo cân bằng sinh thái - xã hội

Các nhà khoa học và những nhà hoạch định chính sách ngày càng nhận thức được những hạn chế của các hệ thống nông nghiệp thâm dụng đầu vào, đặc biệt trong bối cảnh đại dịch Covid-19 và những nỗ lực thích ứng với biến đổi khí hậu Ở một số quốc gia đang phát triển (trong đó có Việt Nam), đang đứng trước ngã ba đường của việc thực hiện các mục tiêu phát triển bền vững, việc lựa chọn thực hiện những cuộc cách mạng xanh trong nông nghiệp và vấn đề chủ quyền lương thực/chủ quyền thực phẩm đòi hỏi có những điểm cần thích ứng với những bối cảnh trên Tiếp cận SET có thể cung cấp nhiều ý tưởng và giải pháp giúp giải quyết những thách thức lớn về phát triển nông nghiệp với các khái niệm và quan điểm mới như an ninh lương thực và chủ quyền lương thực

2 KẾT HỢP KHUNG LÝ THUYẾT CHUYỂN ĐỔI SINH THÁI - XÃ HỘI (SET) VÀ KHUNG PHÂN TÍCH ÁP LỰC - THỰC TRẠNG - ĐÁP ỨNG (PSR)

2.1 Chuyển đổi sinh thái - xã hội (SET)

Cuối thế kỷ 20 và đầu thế kỷ 21 là giai đoạn đánh dấu sự ra đời và phát triển của tiến trình nhận thức về phát triển bền vững, mà BĐKH là một phần nguyên nhân của tiến trình này Đạt được tăng trưởng kinh tế trong khi sử dụng hiệu quả tài nguyên thiên nhiên và giảm lượng phát thải nhà kính, tạo môi trường trong đó con người chung sống hòa bình với thiên nhiên trở thành xu thế và mục tiêu của mọi quốc gia trên toàn cầu Quá trình chuyển đổi sinh thái - xã hội (Social-Ecological Transformation) được định hình để hướng tới hệ sinh thái mới theo chính những xu thế và mục tiêu này (Võ Thanh Sơn, 2021)

Trang 3

Phát triển bền vững (PTBV) được định hướng theo nhiều quan điểm khác nhau, tuy vậy quan điểm được biết đến và sử dụng rộng rãi nhất là quan điểm do Ủy ban Môi trường và Phát triển Thế giới WCED đưa ra Trong đó, PTBV được hiểu là quá trình “đáp ứng các nhu cầu hiện tại nhưng không ảnh hưởng đến khả năng để đáp đứng nhu cầu riêng của các thế hệ tương lai” Dưới góc độ kinh tế, PTBV trở thành sứ mệnh gắn liền và hướng tới tăng trưởng kinh tế Tuy vậy, các quốc gia đang phát triển chưa thực sự triển khai đồng bộ PTBV, khi mà tập trung tăng trưởng kinh tế, thu hẹp khoảng cách với các quốc gia khác đồng nghĩa với bên cạnh phát triển tiềm lực nội tại, cần phải thu hút các nhà đầu tư nước ngoài khai thác các nguồn tài nguyên bản địa Quá trình này làm ảnh hưởng lớn tới các giá trị xã hội

và sinh thái Các cấu trúc và quy trình mang tính hệ thống trong hệ thống kinh tế thế giới hiện đại bị coi là bóp méo sự phát triển bền vững Các nước công nghiệp phát triển chuyển một phần ô nhiễm liên quan đến việc tiêu thụ tài nguyên của họ thông qua việc di dời các ngành công nghiệp gây ô nhiễm đến các nước đang phát triển, nhờ đó có được khả năng bảo vệ thiên nhiên và giảm thiểu ô nhiễm trên lãnh thổ của họ (Bruckmeier, 2016; Kothari và cộng sự, 2015; Dale và cộng sự, 2015) Do vậy, khái niệm

“chuyển đổi kinh tế, xã hội và sinh thái” được hình thành, mô tả sự tách rời giữa kinh tế và xã hội theo quan điểm của Polanyi (1955) Sau đó, khái niệm về sự chuyển đổi này được phát triển thành một học thuyết chính trị, kinh tế và xã hội mang tên “Degrowth”, bắt nguồn từ mối lo ngại về hậu quả của chủ nghĩa sản xuất và tiêu thụ, với nội dung quan tâm đến một số vấn đề cụ thể: (1) Giảm sử dụng các nguồn năng lượng sẵn có; (2) Giảm chất lượng của môi trường; (3) Sự suy giảm sức khỏe và sự tồn tại của thực vật và động vật, những loại mà con người sử dụng/phụ thuộc; (4) Sự nổi lên của những vấn đề xã hội ngoại biên tiêu cực (giảm bền vững, suy giảm sức khỏe, nghèo đói); (5) Giảm sử dụng quá mức nguồn tài nguyên quốc gia Hiện nay, khái niệm này được hiểu là sự định hình các hình thức liên kết giữa các yếu tố kinh tế - xã hội - sinh thái trong chiến lược phát triển của một quốc gia nhằm đảm bảo mục tiêu phát triển bền vững Chuyển đổi

đã trở thành chủ đề chính của nghiên cứu tính bền vững (Görg và cộng sự, 2017)

Trang 4

Theo đó, SET là một thuật ngữ chung cho các chiến lược tập trung vào việc mang lại thay đổi chính trị xã hội sinh thái với mục tiêu phát triển bền vững Sự chuyển đổi này là nhằm mục đích tổ chức lại nguồn lực và

cơ sở năng lượng của xã hội, đánh giá lại và tổ chức lại công việc, khung chính trị, các mô hình sản xuất và tiêu dùng mới, thay đổi hướng đổi mới

và tổng hợp hiệu quả, nhất quán, đầy đủ (Hackmann and St Clair, 2012; Võ Thanh Sơn, 2021) SET là một quá trình mở, học tập lẫn nhau giữa các quốc gia, và cần có sự thích nghi với bối cảnh lịch sử, chính trị và xã hội liên tục thay đổi SET nhận được sự quan tâm của nhiều quốc gia, đặc biệt

là các quốc gia đang phát triển ở châu Á, châu Phi, châu Mỹ Latin và cả các nước châu Âu Các nghiên cứu về SET chủ yếu tập trung phân tích khía cạnh những thay đổi về sinh thái, xã hội và hệ quả của phát triển kinh tế gắn liền với những thay đổi này Một khái niệm liên quan khác tới SET là

“Nền văn minh sinh thái” (Ecological Civilization), đề xuất bởi Qingzhi (2018) Khái niệm này nhấn mạnh những thay đổi cần thiết để các quốc gia thích ứng và ứng phó với hiện tượng BĐKH diễn ra ngày càng sâu rộng trên toàn cầu cũng như các vấn đề xã hội đều phải dựa trên các nguyên tắc sinh thái

Nghiên cứu của Brand và Wissen (2017) cho thấy nhờ có khái niệm

và định hướng về SET mà nhiều khái niệm khác đã được đề cập tới nhiều hơn Nghiên cứu trình bày các hình thái, khái niệm khác nhau của SET trong những báo cáo hàng đầu trên thế giới Trong Hội nghị Rio+ 20 năm

2012 của Chương trình Môi trường Liên hợp quốc (UNEP), SET xuất hiện với khái niệm “kinh tế xanh” SET được đề cập đến với khía cạnh “chuyển đổi lớn về công nghệ xanh” trong Chương trình Phát triển Liên hợp quốc (UNDP) năm 2011, với nội dung chuyển hướng sử dụng công nghệ sach, giảm thiểu rác thải và nông nghiệp bền vững Ủy ban Châu Âu năm 2011

đã phát triển một kế hoạch cho tăng trưởng bền vững: thúc đẩy “nền kinh

tế sinh thái sử dụng ít tài nguyên và có tính cạnh tranh” SET được thảo luận ở cấp độ quốc gia trong báo cáo của Hội đồng Cố vấn về Thay đổi toàn cầu của Chính phủ Đức (WBGU) với tiêu đề “Cam kết xã hội vì sự bền vững” (WBGU 2011) Các báo cáo trên có xuất phát điểm giống nhau, đều coi tăng trưởng kinh tế là mục tiêu cần thiết, và có khả năng hòa hợp được với môi trường Các tổ chức này đều bày tỏ niềm tin vào việc các thể

Trang 5

chế kinh tế và chính trị hiện có, cũng như những tinh hoa trong xã hội có thể bị hấp dẫn và hòa cùng quá trình này, giúp lan tỏa rộng rãi tinh thần của SET và quá trình này là khả thi trong tương lai

Dưới góc độ học thuật, SET được các nhà khoa học tranh luận và đóng góp theo nhiều cách tiếp cận khác nhau Các đóng góp khác nhau nhấn mạnh, trước tiên, những thay đổi về kinh tế xã hội, chính trị và văn hóa phải vượt ra ngoài các bước tăng trưởng và hướng tới các lĩnh vực chính sách cụ thể, chẳng hạn như chính sách về biến đổi khí hậu hoặc đa dạng sinh học Thứ hai, phép biến đổi được hiểu là một quá trình phi tuyến tính đa dạng, vì nó xử lý các hệ thống động, đa chiều và phức tạp cũng như các điểm tiềm ẩn Thứ ba, đổi mới kỹ thuật được thừa nhận là cần thiết, nhưng chưa đủ, trong khi đổi mới xã hội là trọng tâm của quá trình chuyển đổi sinh thái - xã hội (Brand và cộng sự, 2013) Khái niệm về chuyển hóa

xã hội/chuyển đổi xã hội học được phát triển trong bối cảnh liên ngành của Viện Sinh thái xã hội Vienna SET được định nghĩa từ quan điểm của việc

sử dụng năng lượng và vật chất Trong khi khái niệm chuyển hóa xã hội chủ yếu được quan tâm đến cơ sở vật chất của quá trình chuyển đổi sinh thái - xã hội, các nghiên cứu chuyển tiếp và việc quản lý lại tập trung vào các khía cạnh xã hội và thể chế cũng như đổi mới công nghệ và xã hội Hơn nữa, phạm vi thời gian và chuyên đề của chúng hẹp hơn đáng kể so với học cách tiếp cận chuyển hóa xã hội/chuyển hóa xã hội học Bắt đầu từ việc phân tích các quá trình chuyển đổi cụ thể trong các lĩnh vực như năng lượng

và nông nghiệp, các nghiên cứu chuyển tiếp đã phát triển một “khái niệm

đa cấp độ” về những thay đổi xã hội chính theo hướng bền vững (Verbong

và Geels, 2010) Theo đó, chuyển đổi thường bắt nguồn từ các khía cạnh hẹp của xã hội, sau đó lan sang thể chế và cuối cùng góp phần chuyển đổi

“cảnh quan” (bao gồm bối cảnh xã hội, chính trị, kinh tế và văn hóa tổng thể) Sự tác động lẫn nhau của ba cấp độ là chìa khóa cho quá trình chuyển đổi bền vững được hiểu là “quá trình chuyển đổi lâu dài, đa chiều và cơ bản, qua đó các hệ thống công nghệ xã hội đã thiết lập chuyển sang các phương thức sản xuất và tiêu dùng bền vững hơn” (Markard và các cộng

sự, 2012) Quá trình chuyển đổi có thể là kết quả của sự phát triển và/hoặc của các mục tiêu rõ ràng

Trang 6

Những thập niên gần đây, SET là xu thế và yêu cầu cấp bách đặt ra trong quá trình xây dựng một xã hội bền vững khi mà trên thực tế phương thức sản xuất chủ yếu trên thế giới, đặc biệt là tư bản chủ nghĩa và lối sống

mà nó gây ra là không bền vững, cả về mặt xã hội hay sinh thái (Danso-Dahmen và cộng sự (Eds), 2019) Sự chuyển đổi này bao gồm những thay đổi về mặt thể chế, kinh tế - xã hội và quản lý môi trường nhằm xây dựng được một xã hội thân thiện với môi trường và sự phát triển hài hòa với thiên nhiên SET được khẳng định gắn với mục đích xây dựng một xã hội bền vững thông qua văn kiện của Liên Hợp Quốc về Chương trình Nghị sự

2030 với tiêu đề “Chuyển đổi thế giới của chúng ta: Chương trình nghị sự

2030 vì sự phát triển bền vững” (United Nations, 2015)

Hình 1 Khung lý thuyết chuyển đổi sinh thái - xã hội (SET) trong xem xét các tác động của BĐKH tới nông nghiệp và an ninh lương thực (Nguồn: Shivamurthy, 2015)

Tóm lại, tiếp cận SET là cách tiếp cận liên ngành, tập trung vào việc mang lại thay đổi xã hội sinh thái với mục tiêu phát triển bền vững Chuyển đổi nhằm mục đích tổ chức lại nguồn lực và cơ sở năng lượng của xã hội, hài hoà với điều kiện sinh thái Việc chuyển đổi cũng liên quan đến việc

Trang 7

đánh giá lại và tổ chức lại công việc, các mô hình sản xuất và tiêu dùng mới, thay đổi hướng đổi mới và tổng hợp hiệu quả, nhất quán và đầy đủ Tiếp cận chuyển đổi sinh thái - xã hội được áp dụng cho nghiên cứu về sản xuất nông nghiệp Việt Nam nhằm mục tiêu đưa ra đề xuất về chuyển đổi

mô hình sản xuất nông nghiệp để hướng tới phát triển nông nghiệp và hệ thống lương thực vì mục tiêu phát triển bền vững và thích ứng với các tác động của biến đổi khí hậu và Covid-19

2.2 Khung Áp lực - Thực trạng - Đáp ứng (PSR) trong nghiên cứu các hiện tượng theo chuỗi nhân quả

Khung Áp lực - Thực trạng - Đáp ứng (Pressures - States - Responses, PSR) do Rapport và Friend (1979) thuộc Cơ quan Thống kê Canada đề xuất, sau đó được phát triển thêm và được áp dụng trên phạm vi quốc tế ở nhiều quốc gia, điển hình như báo cáo về Môi trường của Hoa Kỳ

Sau đó khung PSR được Tổ chức Hợp tác và Phát triển Kinh tế (OECD) điều chỉnh và thúc đẩy cho báo cáo môi trường của mình Khung PSR cho rằng các hoạt động của con người gây áp lực (chẳng hạn như phát thải ô nhiễm hoặc thay đổi sử dụng đất) lên môi trường, có thể gây ra những thay đổi về trạng thái chất lượng và số lượng của môi trường (chẳng hạn như thay đổi về mức độ ô nhiễm xung quanh, sự đa dạng của môi trường sống, dòng nước) Sau đó, xã hội phản ứng với những thay đổi của áp lực hoặc trạng thái bằng các chính sách /chương trình môi trường và kinh tế nhằm ngăn ngừa, giảm thiểu hoặc giảm thiểu áp lực và/hoặc thiệt hại môi trường

Mô hình được khái quát hóa và không cố gắng chỉ rõ dạng tương tác giữa các hoạt động của con người và trạng thái của môi trường Vào đầu những năm 1990, OECD đã đánh giá lại mô hình PSR, đồng thời bắt đầu công việc với các chỉ số môi trường (OECD, 1993) Việc sử dụng nó đã được mở rộng sang nhiều quốc gia và tổ chức quốc tế và khung PSR vẫn trong trạng thái phát triển liên Cơ quan Bảo vệ Môi trường Hoa Kỳ (EPA, 1994) đã mở rộng khuôn khổ để bao gồm các tác động của sự thay đổi trạng thái lên môi trường (áp lực - trạng thái - phản ứng/ ảnh hưởng) OECD cũng

đã xây dựng bộ chỉ số cốt lõi để đánh giá hoạt động môi trường (OECD, 1994b) Một biến thể của khung PSR cũng đang được sử dụng bởi Ủy ban

Trang 8

Phát triển Bền vững của Liên hợp quốc để xây dựng các chỉ số phát triển bền vững, như đã đề cập trong phần trước Liên hợp quốc làm việc đáp ứng các khía cạnh xã hội, kinh tế, thể chế và môi trường của tính bền vững thông qua khuôn khổ PSR (UN, 1995)

Dựa trên việc sử dụng rộng rãi, khuôn khổ PSR có thể được xác định

là khuôn khổ được nhiều tổ chức và cơ quan thống nhất về báo cáo môi trường

Nghiên cứu của Rudd (2004) áp dụng khung PSR theo định hướng quy trình và khung chỉ số sinh kế bền vững theo định hướng cấu trúc, do

đó cung cấp một nền tảng cho việc thiết kế và giám sát thử nghiệm chính sách quản lý thủy sản dựa vào hệ sinh thái Cách tiếp cận thể chế đối với quản lý nghề cá tạo điều kiện thuận lợi cho việc kiểm tra quan trọng các vấn đề xuyên suốt quan trọng, bao gồm các giả định liên quan đến tính bền vững và cách các tổ chức thị trường, chính phủ và xã hội dân sự sử dụng các khoản đầu tư chiến lược vào tài sản vốn và thể chế để đạt được các mục tiêu bền vững Việc nhấn mạnh vào tài sản vốn chú ý đến giá trị tương đối của các lựa chọn đầu tư thay thế trong các thử nghiệm chính sách

Rao và cộng sự (2006) hệ thống đánh giá chính thức về tính bền vững của nông nghiệp thông qua khung PSR để có hiểu biết khoa học về chính sách và lập kế hoạch phát triển nông nghiệp bền vững Các khuôn khổ phân tích để đánh giá môi trường-tinh thần và đánh giá sinh kế nông thôn, được

hỗ trợ bởi các sáng kiến quốc tế quan trọng, đã có sẵn trong hơn một thập

kỷ qua Đánh giá tính bền vững nông nghiệp có thể được hưởng lợi rất nhiều từ sự hiểu biết về các khuôn khổ như vậy Đánh giá tính bền vững về môi trường, sinh kế và nông nghiệp tiên tiến nhất được đánh giá và một khung đánh giá tính bền vững nông nghiệp được đề xuất

Khuu Thi Phuong Dong và cộng sự (2019) áp dụng PSR để đánh giá phản ứng thực hiện các quy định về truy xuất nguồn gốc của các nước xuất khẩu nhằm đáp ứng các yêu cầu bắt buộc của thị trường toàn cầu Việc đánh giá dựa trên các câu hỏi đã chuẩn bị được xây dựng để cho phép so sánh các chỉ số cụ thể trong quy định truy xuất nguồn gốc của các nước nhập khẩu và của Việt Nam Cuộc kiểm tra cho thấy các nước nhập khẩu

đã đưa ra các quy định nghiêm ngặt về truy xuất nguồn gốc thông qua luật

Trang 9

pháp và thực hành đảm bảo chất lượng Về các biện pháp mà các nước xuất khẩu áp dụng, Việt Nam đã đưa ra các quy định về truy xuất nguồn gốc đối với cả tôm và các sản phẩm thủy sản khác Như vậy, các quy định của Việt Nam được cho là đáp ứng các quy định của nước nhập khẩu Tuy nhiên, việc thực hiện các quy định này gặp một số thách thức, chủ yếu là do kênh phân phối phức tạp, quy mô sản xuất nhỏ, phân biệt giá cả và thiếu vốn để xin các chứng chỉ quốc tế

Khung PSR làm nổi bật các mối quan hệ nguyên nhân - kết quả có thể giúp những người ra quyết định và công chúng thấy các vấn đề môi trường, kinh tế, xã hội và các vấn đề khác được kết nối với nhau như thế nào (OECD, 1999) Cụ thể:

- Áp lực lên môi trường từ các hoạt động kinh tế và con người, dẫn đến những thay đổi bên trong

- Trạng thái hoặc điều kiện môi trường chiếm ưu thế do áp lực đó, và

có thể gây ra

- Phản ứng của xã hội để thay đổi áp lực và trạng thái của môi trường

Ở quy mô lớn hơn, khung đánh giá PSR biểu thị chu trình: nhận định vấn đề → xây dựng → giám sát → đánh giá hiệu quả các chính sách môi trường được quan tâm

Hình 2 Khung phân tích PSR (Nguồn: RIVM/UNEP, 1995)

Trang 10

3 KẾT HỢP KHUNG SET VÀ KHUNG PSR NGHIÊN CỨU TÁC ĐỘNG KÉP CỦA BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU VÀ COVID-19 TỚI NÔNG NGHIỆP VÀ AN NINH LƯƠNG THỰC

3.1 Nghiên cứu nông nghiệp

Trên cơ sở ba trụ cột là Áp lực (P), Thực trạng (S) và Đáp ứng (R), các chỉ số được xây dựng dựa trên các yếu tố được xác định trong khung SET:

1) Các yếu tố Áp lực (Pressures): thông tin về các yếu tố áp lực tự

nhiên và kinh tế xã hội có ảnh hưởng tới sản xuất nông nghiệp tại Việt Nam

và Đông Nam Á

- Thông tin về biến đổi khí hậu

- Thông tin về dịch bệnh Covid-19

- Thông tin về các yếu tố kinh tế, xã hội, chính sách,…

2) Các yếu tố Thực trạng (States): thông tin về thực trạng sản xuất

nông nghiệp tại Việt Nam và Đông Nam Á trong bối cảnh chịu tác động của các yếu tố áp lực nêu trên:

- Tác động đến hệ thống sinh thái (nước, tưới tiêu, đất, xói mòn đất, năng lượng, dịch bệnh,…)

- Tác động đến hệ thống xã hội (lao động, dinh dưỡng, hệ thống phân phối, phân bón, thức ăn gia súc,…)

- Đứt gẫy chuỗi cung ứng nông sản

3) Các yếu tố Đáp ứng (Responses): thông tin về các giải pháp đảm

bảo phát triển nông nghiệp bền vững tại Việt Nam và Đông Nam Á chống chịu biến đổi khí hậu, Covid-19 và các khủng hoảng trong ngắn hạn và dài hạn

- Giải pháp giảm thiểu tác động của biến đổi khí hậu và Covid-19 trong sản xuất nông nghiệp

Ngày đăng: 21/10/2021, 13:45

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm