1. Trang chủ
  2. » Nông - Lâm - Ngư

Nông nghiệp tại các quốc gia Đông Nam Á: phân tích định tính và phân tích định lượng số liệu thống kê cấp vùng

27 31 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 27
Dung lượng 703,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Nghiên cứu này trình bày kết quả phân tích định tính và định lượng dựa trên số liệu thống kê nông nghiệp cấp vùng cung cấp một bức tranh tổng thể, cập nhật đến 2019 về thực trạng phát triển của ngành nông nghiệp của các quốc gia Đông Nam Á. Để hiểu rõ hơn mời các bạn cùng tham khảo nội dung chi tiết của bài viết này.

Trang 1

Phần 1

CÁC LÝ THUYẾT PHÁT TRIỂN TRONG NGHIÊN CỨU CHUỖI GIÁ TRỊ NÔNG NGHIỆP

VÀ HỆ THỐNG LƯƠNG THỰC BỀN VỮNG

Trang 2

Nông nghiệp tại các quốc gia Đông Nam Á: phân tích định tính và phân tích định lượng

số liệu thống kê cấp vùng Nguyễn An Thịnh, Nguyễn Thị Vĩnh Hà,

Đỗ Thị Minh Huệ, Lê Ngọc Ánh

Trường Đại học Kinh tế, ĐHQGHN

1 ĐẶT VẤN ĐỀ

Việt Nam và các nước Đông Nam Á khác có nền nông nghiệp lâu đời, sản xuất nông nghiệp chiếm tỉ trọng quan trọng trong GDP (trừ Singapore và Brunei) Cambodia, Myanmar, Lào, Việt Nam, Indonesia và Philippines là các quốc gia có tỉ trọng nông nghiệp trong GDP đạt trên 10% vào năm 2020, trong đó cao nhất là Cambodia và Myanmar đạt 22,8% (databank.worldbank.org)

Nền nông nghiệp của các quốc gia Đông Nam Á chịu tác động của các khủng hoảng trong cả dài hạn và ngắn hạn, bao gồm suy thoái kinh tế, biến đổi khí hậu, dịch bệnh, đại dịch Covid-19,… Biến đổi khí hậu đang đặt ra những thách thức to lớn đối với các quốc gia và các hệ sinh thái, đặc biệt là sản xuất nông nghiệp - ngành sản xuất vốn chịu tác động lớn của các yếu tố khí hậu, thời tiết và môi trường (Kurukulasuriya & Rosenthal, 2013) Đại dịch Covid-19, bùng nổ từ đầu năm 2020, đang và sẽ tiếp tục gây ra ảnh hưởng nặng nề đối với các nền kinh tế toàn cầu, trong ngắn hạn và dài hạn, ở tất cả mọi lĩnh vực, bao gồm cả sản xuất nông nghiệp Ảnh hưởng kép của biến đổi khí hậu và đại dịch Covid-19 đã gây nhiều tác động tiêu cực đối với sản xuất nông nghiệp, đòi hỏi ngành này phải có những điều chỉnh phù hợp với các điều kiện kinh tế, xã hội, sinh thái của từng quốc gia

và địa phương Nghiên cứu này sử dụng bộ số liệu thống kê nông nghiệp công bố năm 2021 của Công ty Statica (https://www.statista.com/) và FAO phân tích định tính và định lượng thực trạng phát triển nông nghiệp tại các quốc gia Đông Nam Á, cung cấp cơ sở khoa học cho việc hoạch định chính

Trang 3

sách phát triển nông nghiệp bền vững, ứng phó với các khủng hoảng tại khu vực này

2 PHÂN TÍCH ĐỊNH TÍNH SỐ LIỆU VỀ HIỆN TRẠNG NÔNG NGHIỆP ĐÔNG NAM Á

2.1 Nông nghiệp ở Campuchia

Nông nghiệp vẫn là ngành quan trọng nhất của nền kinh tế Campuchia xét về tỷ trọng trong tổng sản phẩm quốc nội (GDP), và nó sử dụng phần lớn lực lượng lao động

- Trồng trọt: Gạo là cây trồng chính, lương thực chính của

Campuchia và trong thời bình, là mặt hàng xuất khẩu quan trọng nhất của Campuchia Lúa được trồng trên hầu hết tổng diện tích đất canh tác của cả nước Các vùng lúa chính bao quanh sông Mekong và sông Tonle Sap, đặc biệt thâm canh ở các tỉnh Bătdâmbâng, Kâmpóng Cham, Takêv và Prey Vêng Campuchia theo truyền thống chỉ sản xuất một vụ lúa mỗi năm vì nước này thiếu hệ thống tưới tiêu rộng rãi cần thiết để trồng hai vụ Theo các mô hình nông nghiệp truyền thống, việc trồng trọt thường bắt đầu vào tháng 7 hoặc tháng 8, và thời kỳ thu hoạch kéo dài từ tháng 11 đến tháng

1 Nơi có ít nước tưới, lượng mưa quyết định quy mô và chất lượng của cây trồng

Chính phủ Campuchia đã có nhiều nỗ lực xây dựng hệ thống thủy lợi trên khắp đất nước Kết quả đôi khi rất đáng chú ý, và ở một số vùng của đất nước, nông dân có thể trồng hai hoặc hiếm hơn là ba vụ lúa mỗi năm

Có trường hợp các công trình thủy lợi được hình thành sơ sài, xây dựng vội

vã nên nhanh chóng bị sụp đổ Hầu hết những mỏ còn sống sót đều bị bỏ hoang sau năm 1979 Một vấn đề quan trọng khác là hàng triệu quả mìn vẫn còn trên các cánh đồng Campuchia từ những năm chiến tranh; điều này

đã hạn chế nghiêm trọng số lượng đất có sẵn để canh tác

Ngoài gạo, các sản phẩm lương thực khác bao gồm sắn, ngô, mía, đậu tương và dừa Các loại cây ăn quả chính, tất cả đều được tiêu thụ tại địa phương, bao gồm chuối, cam và xoài, và được bổ sung bởi nhiều loại trái cây nhiệt đới khác, bao gồm trái cây bánh mì, măng cụt và đu đủ

Trang 4

- Chăn nuôi: Gia súc, đặc biệt là trâu nước, được sử dụng chủ yếu

như động vật kéo trên ruộng lúa và đồng ruộng Sản xuất thịt lợn cũng đóng một vai trò lớn trong nông nghiệp Những nỗ lực để bổ sung số lượng vật nuôi - đã cạn kiệt do nhiều năm chiến tranh - đã bị cản trở bởi các điều kiện

xã hội không chắc chắn và sự phổ biến của dịch bệnh động vật

- Thủy sản: Đóng vai trò quan trọng trong nền kinh tế trong nước Cá

ở nhiều dạng khác nhau - tươi, khô, hun khói và muối - tạo thành nguồn protein quan trọng nhất trong chế độ ăn của người Campuchia và đánh bắt

tự cung tự cấp là một phần trong hoạt động của mọi nông dân Sản lượng nước ngọt đánh bắt hàng năm bao gồm cá rô, cá chép, cá phổi và cá chép

Để đánh bắt quy mô lớn hơn, chính phủ bán hợp đồng thuê hai năm để khai thác các đoạn sông Tonle Sap và sông nội địa Doanh thu từ việc bán hàng này đôi khi rất đáng kể, nhưng chương trình đã đầy rẫy tham nhũng Đánh bắt quá mức và suy thoái môi trường xung quanh Tonle Sap đã làm giảm nguồn cung cá và đẩy giá lên, và tính bền vững của nghề cá nước ngọt đã trở thành một vấn đề được công chúng quan tâm

Campuchia có thể được sử dụng như một hình mẫu trong phát triển kinh tế bắt đầu từ nông nghiệp với sự hợp tác lớn giữa các bộ/ngành liên quan, chính quyền địa phương, các đối tác và cơ quan phát triển, các tổ chức phi chính phủ trong nước và quốc tế, khu vực tư nhân và cộng đồng

về sự hợp tác và hỗ trợ xây dựng kế hoạch hành động và tổ chức thực hiện nhằm nâng cao hiệu quả, chất lượng và đẩy nhanh tiến độ trong lĩnh vực nông nghiệp Những nỗ lực và tinh thần đóng góp này là chất xúc tác lớn

để hiện thực hóa tầm nhìn của ngành nông nghiệp

Để phát triển nông nghiệp, Chính phủ không thể thực hiện một mình

Nó cần sự tham gia của khu vực tư nhân, Tổ chức Phi Chính phủ và các đối tác phát triển Tất cả các tác nhân phải làm việc cùng nhau với sự hợp tác

và hỗ trợ lẫn nhau với kế hoạch và chiến lược rõ ràng Campuchia thực sự

có tiềm năng xuất khẩu nông sản, đặc biệt là gạo Tuy nhiên, để chuyển từ sản xuất tự túc lương thực hoặc tự cung tự cấp sang nước xuất khẩu lương thực không phải là việc dễ dàng Đó là một công việc tốn nhiều thời gian

và kiên trì Thay đổi hành vi của mọi người từ doanh nghiệp tư nhân và gia

Trang 5

đình sang một doanh nghiệp thương mại hoặc cộng đồng sản xuất vẫn là một nhiệm vụ khó khăn

2.2 Nông nghiệp ở Indonesia

Indonesia là một trong những nhà sản xuất và xuất khẩu nông sản lớn nhất thế giới, cung cấp các mặt hàng quan trọng như dầu cọ, cao su tự nhiên,

ca cao, cà phê, gạo và gia vị cho phần còn lại của thế giới Trong những thập kỷ qua, đây cũng là lĩnh vực tạo việc làm lớn nhất trong cả nước Tuy nhiên, tỷ trọng của khu vực nông nghiệp GDP của Indonesia đã giảm dần khi đất nước chuyển dịch theo hướng công nghiệp hóa Các phân ngành nông nghiệp chủ chốt của Indonesia bao gồm:

- Trồng trọt: Dù là nhà sản xuất cây trồng rừng lớn nhất thế giới như

dầu cọ và cao su tự nhiên, sản lượng cây trồng của Indonesia đóng vai trò quan trọng đối với nền kinh tế quốc gia Tuy nhiên, sản lượng của thức ăn

và chất dinh dưỡng nuôi cấy ở Indonesia tương đối thấp Những thập kỷ qua đã chứng kiến sự gia tăng trong các sản phẩm trồng trọt nhập khẩu, cho thấy rằng người Indonesia hiện được hưởng nguồn cung cấp thực phẩm đa dạng hơn trước Do đó, có tiềm năng lớn trong việc mở rộng thị trường trong nước bằng cách trồng các loại trái cây và rau quả mang lại nhiều lợi nhuận hơn

- Thủy sản: Nhu cầu về thịt cá cũng tăng lên hàng năm Indonesia là

nước sản xuất gia cầm lớn thứ hai ở Châu Á Thái Bình Dương, đứng thứ hai trong số các nước sản xuất thủy sản lớn nhất trên thế giới Tuy nhiên,

có một khoảng cách lớn giữa thu nhập từ ngành thủy sản so với nông nghiệp trên đất liền Ngành thủy sản đóng góp dưới 3% GDP của Indonesia mặc

dù 77% diện tích lãnh thổ của quốc gia này là đại dương

- Lâm nghiệp: Indonesia là một trong những nước xuất khẩu các sản

phẩm gỗ nhiệt đới lớn nhất thế giới, từ ván ép, bột giấy và giấy đến đồ nội thất và thủ công mỹ nghệ Tuy nhiên, sản lượng lâm sản dự kiến sẽ tăng trưởng chậm hơn trong tương lai khi Indonesia nỗ lực giảm tỷ lệ phá rừng

* Những thách thức mà ngành nông nghiệp Indonesia phải đối mặt

Trang 6

- Bất chấp quy mô đáng kể của ngành nông nghiệp Indonesia, một số rào cản để tối đa hóa tiềm năng vẫn tồn tại, chẳng hạn như tiến bộ công nghệ và thách thức chuỗi cung ứng Những thách thức này càng tăng thêm

do thời tiết xấu kéo dài, chẳng hạn như hạn hán, dẫn đến tình trạng thiếu hụt các mặt hàng cơ bản như gạo, lúa mì, đậu tương và đường

- Các doanh nghiệp nông nghiệp Indonesia và chính phủ đã tiến hành thay đổi ngành nông nghiệp bằng cách thành lập các tập thể và sử dụng các phương pháp canh tác hiện đại trong những năm gần đây Tuy nhiên, với những thách thức đang nổi lên như nhu cầu về truy xuất nguồn gốc thực phẩm ngày càng tăng và tác động của biến đổi khí hậu đã và đang gây thiệt hại cho nền nông nghiệp của Indonesia Quốc gia này bắt đầu đổi mới và

áp dụng các công nghệ kỹ thuật số mới nổi vào thực tiễn nông nghiệp của mình nhanh hơn trước Cải thiện ngành nông nghiệp thông qua công nghệ

có thể giúp rút ngắn chuỗi phân phối dài từ nông dân đến người tiêu dùng, giảm lượng khí thải carbon lớn của nó và phân bổ đồng đều tăng trưởng kinh tế ở Indonesia

2.3 Nông nghiệp ở Lào

Hơn 3/4 người dân Lào sống ở các vùng nông thôn và phụ thuộc vào nông nghiệp và tài nguyên thiên nhiên để sinh tồn Nghèo đói chủ yếu ở nông thôn, đặc biệt tập trung ở các vùng sâu, vùng xa, vùng núi giáp biên giới Đông Bắc và Đông Bắc với Việt Nam Nông nghiệp và tài nguyên thiên nhiên chiếm 24,8% GDP và hơn 70% việc làm vào năm 2018 Hơn 75% dân số phụ thuộc vào nông nghiệp để kiếm sống, trong khi hơn một nửa số hộ gia đình là nông dân tự cung tự cấp với thu nhập hàng năm dưới

Trang 7

Mặc dù những thiên tai như vậy ảnh hưởng đến vùng đồng bằng nghiêm trọng hơn, nhưng những vùng này có năng suất cao hơn vùng cao, phần lớn là do khả năng tiếp cận công nghệ mới, thuốc trừ sâu, phân bón,

cơ sở hạ tầng kiên cố hơn và mạng lưới thị trường Nhiều nông dân ở vùng cao thực hành nông nghiệp tự cung tự cấp; tuy nhiên, sự chuyển hướng sang sản xuất dựa trên thị trường đã và đang được thúc đẩy, chủ yếu được thúc đẩy bởi các sáng kiến hiện đại hóa của chính phủ Trong những năm

có thu hoạch “bình thường”, Lào tự túc được sản xuất lúa gạo

- Trồng trọt: Ngoài lúa bao gồm khoai lang, mía, ngô (ngô), các loại

rau và trái cây với số lượng ít hơn và thuốc lá Cà phê được trồng chủ yếu trên Cao nguyên Bolovens và là cây trồng duy nhất được sản xuất để xuất khẩu với khối lượng đáng kể Sản lượng thuốc phiện bắt đầu giảm mạnh vào cuối thế kỷ 20 do kết quả của các chương trình diệt trừ tích cực do chính phủ thực hiện Mặc dù cây thuốc phiện vẫn được trồng ở một số vùng đồi, nhưng việc trồng cây thuốc phiện để xuất khẩu là bất hợp pháp

- Lâm nghiệp: Khoảng hai phần năm diện tích của Lào là rừng và tài

nguyên rừng của đất nước đã cung cấp cho một số ngành công nghiệp chế biến gỗ quan trọng Tuy nhiên, việc khai thác gỗ đã bị chính phủ cấm định

kỳ vì lý do môi trường Nạn phá rừng nhanh chóng chủ yếu là do hoạt động khai thác gỗ và đốn gỗ làm nhiên liệu - các hoạt động được cho là nguyên nhân dẫn đến xói mòn sườn đồi, bồi lấp các dòng sông, và cuối cùng là sự gia tăng mức độ nghiêm trọng của hạn hán và lũ lụt Chính phủ cũng đã xem canh tác du canh du cư ở vùng cao như một đóng góp lớn cho việc phá rừng và đã áp dụng biện pháp khuyến khích chuyển đổi sang hoạt động nông nghiệp ít vận động

- Thuỷ sản: Đánh bắt cá đặc biệt quan trọng đối với cư dân vùng đồng

bằng, và nuôi trồng thủy sản đã gia tăng vào đầu thế kỷ 21 Cá nuôi chính trong ao bao gồm cá rô phi và các loại cá chép Việc chăn nuôi gia súc - đặc biệt là lợn, trâu, bò và gà - cũng ngày càng có ý nghĩa

Nông nghiệp đóng một vai trò quan trọng trong nền kinh tế Lào và

sử dụng khoảng 75% lực lượng lao động của nước này Cho đến nay, lúa gạo là cây trồng chính và chiếm khoảng 80% sản lượng nông nghiệp của đất nước Tuy nhiên, Lào đang phải vật lộn với vấn đề an ninh lương thực,

Trang 8

phần lớn là do năng suất nông nghiệp thấp, và chỉ 17% diện tích đất canh tác thực sự được canh tác

2.4 Nông nghiệp ở Malaysia

Malaysia ở vị trí thứ 28 trên bảng xếp hạng các quốc gia có khả năng

tự chủ về thực phẩm (Global Food Security Index) trong năm 2019, tăng

20 bậc so với năm 2018 Ngành nông nghiệp đóng góp 99,5 tỷ ringgit vào GDP của Malaysia trong năm 2018, trong đó, ngành chế biến dầu có chiếm

tỷ trọng cao nhất, lên đến 37,9% Tuy nhiên, hiện nay ngành sản xuất dầu

cọ của Malaysia đang gặp nhiều khó khăn khi Liên minh châu Âu đang hạn chế sử dụng các loại nhiên liệu sinh học, bên cạnh đó là những căng thẳng giữa Malaysia với “khách hàng” lớn nhất là Ấn Độ

Ngành nông nghiệp đóng góp 7,1% (101,5 tỷ RM) vào Tổng sản phẩm quốc nội (GDP) năm 2019 Cây cọ dầu là ngành đóng góp chính vào giá trị gia tăng của ngành nông nghiệp với 37,7%, tiếp theo là nông nghiệp khác (25,9%), chăn nuôi (15,3%), đánh bắt (12,0%), lâm nghiệp và khai thác gỗ (6,3%) và cao su (3,0%)

Xuất khẩu của ngành nông nghiệp năm 2019 đạt 115,5 tỷ RM so với 114,5 tỷ RM năm 2018, tăng 0,9% Tổng giá trị nhập khẩu đạt 93,5 tỷ RM

so với năm 2018 là 93,3 tỷ RM, tăng 0,2% Cán cân thương mại của khu vực này tăng 4,1% từ 21,1 tỷ RM năm 2018 lên 22,0 tỷ RM năm 2019

- Trồng trọt: Sản lượng các loại cây hàng hóa chính là cọ dầu (chùm

quả tươi) và cao su tự nhiên tăng lần lượt 646,0 nghìn tấn (0,7%) và 36,5 nghìn tấn (6,1%) trong năm 2019 so với năm trước Ngược lại, sản lượng thóc giảm 11,0% từ 2.639,2 nghìn tấn xuống 2.348,9 nghìn tấn cùng kỳ

- Chăn nuôi: Đàn vịt tăng 7,6% lên 10,4 triệu con vào năm 2019, tiếp

theo là gà (5,8%) và dê (3,5%) Trong khi đó, số lượng cả lợn và cừu lần lượt giảm 0,8% và 0,4%

- Thuỷ sản: Tổng sản lượng cá biển khai thác năm 2019 là 1.455,4

nghìn tấn, tăng 0,2% so với 1.452,9 nghìn tấn năm 2018 Sản lượng nuôi nước lợ và nước ngọt cũng tăng lần lượt là 17,0 nghìn tấn (5,9%) và 3,3 nghìn tấn (3,3%)

Trang 9

Số người có việc làm trong lĩnh vực nông nghiệp là 1.541,1 nghìn người vào năm 2019 và chủ yếu là nam giới với 79,2% (1.220,9 nghìn người)

Malaysia đang phải đối mặt với những thách thức trong nông nghiệp như: (i) quy mô trang trại không kinh tế, hạn chế cơ giới hóa; (ii) các vấn

đề về thuê đất ở hầu hết các trang trại trái cây và rau quả; (iii) hạn chế tiếp cận R&D và cơ sở hạ tầng; và (iv) hỗ trợ thể chế không đầy đủ từ các hợp tác xã vì thiếu tinh thần kinh doanh; điều này làm trầm trọng thêm khả năng thương lượng yếu kém đối với ngành nông nghiệp

2.5 Nông nghiệp ở Myanmar

Nông nghiệp là ngành kinh tế chính của Myanmar, sử dụng hơn một nửa lực lượng lao động Mặc dù nông nghiệp đóng góp đáng kể vào tổng sản phẩm quốc nội (GDP) của Myanmar trong suốt những năm qua, năm

2018 đã chứng kiến một bước ngoặt lớn về sản lượng kinh tế đối với ngành nông nghiệp của Myanmar Ngành nông nghiệp Myanmar đã phải gánh chịu hậu quả gần đây, cộng thêm mức đóng góp thấp bất thường vào GDP của nước này trong năm 2018 Trong khi đóng góp vào GDP từ khu vực công nghiệp và dịch vụ cao hơn đáng kể so với nông nghiệp, thì năm 2018,

họ cũng bị ảnh hưởng bởi GDP lên tới xấp xỉ một phần ba giá trị GDP của năm trước Tuy nhiên, đã có những gợi ý rằng trên thực tế, Myanmar có thể tăng gấp 4 lần nền kinh tế của mình vào năm 2030, nếu nước này tăng cường đầu tư vào các ngành công nghệ hơn Nếu đất nước tiếp tục dựa vào nông nghiệp như một ngành kinh tế quan trọng, thì quốc gia này có thể phải giải quyết các vấn đề trong ngành bằng cách nâng cấp các phương pháp canh tác nông nghiệp:

- Trồng trọt: Cây trồng chủ đạo là gạo, mía, đậu khô và rau Myanmar

đã từng là nước xuất khẩu gạo lớn nhất ở châu Á, hiện nay gạo vẫn là mặt hàng nông nghiệp quan trọng nhất của quốc gia này Sản lượng gạo sản xuất đã giảm đều từ năm 2010 trong khi sản lượng mía đường và đậu khô lại tăng lên

- Chăn nuôi và thủy sản: Myanmar không chỉ sản xuất nhiều cây

trồng mà còn sản xuất gia súc - cho mục đích lương thực và lao động và

Trang 10

phụ thuộc vào đánh bắt cá Do đó, cả hai ngành đều có đóng góp vào GDP tăng lên cho đến năm 2018 Đánh bắt cá là một ngành công nghiệp không thể thiếu trên khắp đất nước, vì cá vẫn là nguồn cung cấp protein quan trọng cho người dân, cũng như là một phần của ẩm thực đặc trưng của Myanmar Các phương pháp đánh bắt thông thường bao gồm kéo lưới, trong đó lưới đánh cá được kéo sau thuyền trên mặt nước để đánh bắt một lượng lớn cá

Để tăng số lượng cá đánh bắt được, chính phủ đã cố gắng khuyến khích đánh bắt cá biển sâu trong những năm 1980

- Lâm nghiệp: Myanmar hiện nay áp dụng phương thức canh tác đốt

nương làm rẫy, bao gồm đốt cháy các khu rừng để tạo ra những cánh đồng

có thể trồng trọt Một khi các chất dinh dưỡng đã được sử dụng từ ruộng

cụ thể, đất sẽ bị bỏ hoang Điều này có thể được xem là gây tranh cãi vì nó được coi là một quá trình phá rừng gây xói mòn đất Tuy nhiên, các lập luận phản bác lại được đưa ra rằng đốt nương làm rẫy tốt hơn các phương pháp canh tác khác vì đất không bị phá hủy sau khi sử dụng Tuy nhiên, chính phủ đã tăng cường nỗ lực để cố gắng điều chỉnh các phương pháp canh tác Bất chấp những tranh luận, diện tích rừng dự trữ vẫn tăng đều đặn

2.6 Nông nghiệp ở Philippines

Philippines là một quốc gia nông nghiệp quan trọng Cả tài nguyên thực vật và động vật đều đóng góp chính vào Tổng sản phẩm quốc dân của đất nước Các sản phẩm chính của nông trại là gạo, ngô, dừa và đường Thông thường, gạo là lương thực chính của con người trong nước Một lượng ngô đáng kể cũng được hình thành, mặc dù 60% tổng sản lượng được

sử dụng làm thức ăn cho gia súc Một số loại trái cây như chuối, dứa, xoài được sản xuất để xuất khẩu Các loại rau và cây ăn củ của nó được sản xuất

để tiêu thụ trong nước Các sản phẩm khác như gỗ, ván mỏng và hoa cắt cành cũng được sản xuất

- Thủy sản: Các vùng biển rộng lớn trong và xung quanh đất nước

làm cho việc đánh bắt cá trở nên rất quan trọng đối với cả chế độ ăn uống

và ngành công nghiệp của người Philippines Mặc dù vậy, các sản phẩm nước mặn, nước ngọt và nước lợ đóng vai trò quan trọng đối với nền kinh

tế của nhiều vùng

Trang 11

Ngành thủy sản lần lượt chiếm 15 và 18,6% tổng giá trị gia tăng (GVA) trong khu vực nông nghiệp, thủy sản và lâm nghiệp theo giá thực tế

và giá cố định, với tỷ trọng lớn thứ hai chỉ sau cây trồng Ngành thủy sản cung cấp việc làm trực tiếp và gián tiếp cho hơn 1 triệu người, chiếm khoảng 5% lực lượng lao động cả nước, trong đó 65% làm nghề thủy sản thành phố, 26% nghề nuôi trồng thủy sản và 6% nghề cá thương mại Bởi chính sách tiếp cận mở trong sử dụng nguồn lợi thủy sản, sự gia tăng nhanh chóng về quy mô dân số của các cộng đồng ngư dân nghèo đói và chính phủ không có khả năng cung cấp một môi trường có thể hỗ trợ ngành thủy sản phát triển

- Chăn nuôi: Sản xuất chăn nuôi đóng góp 12,7% vào tổng sản lượng

nông nghiệp Gia súc được chăn nuôi ở Philippines bao gồm gà thịt, gia súc, vịt, dê và lợn Các trang trại lợn, gà, gia súc, trâu, dê và vịt được thuần hóa chủ yếu đại diện cho ngành chăn nuôi của nông nghiệp Philippines Cừu, chim cút và ngựa cũng đang trở nên phổ biến Ngoại trừ trâu cũng cung cấp một lượng sức kéo đáng kể ngoài thịt và sữa của nó, các sản phẩm chính của các loài động vật trang trại là để làm thực phẩm như thịt, sữa và trứng Trong các hệ thống canh tác tưới tiêu và sử dụng nước mưa ở vùng đất thấp, các hộ gia đình nuôi một đàn gà, vịt, ngan và một hoặc hai con lợn Mặt khác, bò và trâu nước là những vật nuôi khác mà các hộ gia đình nuôi Ngành sữa chủ yếu tham gia vào việc vệ sinh thiết bị và cơ sở sản xuất sữa; vệ sinh chuồng trại, bãi chăn thả gia súc và môi trường xung quanh; và chuyển đổi sữa tươi nguyên liệu thành các sản phẩm sữa

Những thách thức mà ngành nông nghiệp Philippines phải đối mặt

Philippines là quốc gia nông nghiệp cần đầu tư vào việc thúc đẩy phát triển bao trùm, và xây dựng các hệ thống nông nghiệp bền vững hơn và ứng phó với tác động của biến đổi khí hậu Mục tiêu chính là phát triển ngành nông nghiệp ở Philippines có thể tự túc lương thực và tăng thu nhập cho nông dân

Philippines phải đặc biệt theo đuổi các mục tiêu chấm dứt/giảm thiểu nạn đói, đạt được an ninh lương thực, cải thiện dinh dưỡng và thúc đẩy nông nghiệp bền vững Những thách thức được xác định là thiếu các điều khoản quan trọng đảm bảo an ninh lương thực và sau đó là giảm nghèo ở

Trang 12

nông thôn, thiếu các chương trình liên kết nông nghiệp với công nghiệp và sau thu hoạch, và một số công nghệ cho các bên liên quan, trong số những chương trình khác

2.7 Nông nghiệp ở Thái Lan

Nông nghiệp là một ngành kinh tế có tính cạnh tranh và đa dạng cao

ở Thái Lan Vì nông nghiệp là một phần chính trong sự phát triển của Thái Lan, ngành này đã mang lại nhiều cơ hội việc làm cho người dân Thái Lan, cùng với ngành dịch vụ Xét về tác động của ngành đối với tăng trưởng kinh tế của Thái Lan, tỷ trọng GDP từ ngành nông nghiệp là nhỏ nhất so với các ngành khác, đồng thời tăng trưởng chậm trong những năm gần đây Mặc dù có một số suy thoái kinh tế, Thái Lan vẫn là một xã hội nông nghiệp thành công do đất nước có nguồn tài nguyên thiên nhiên dồi dào, từ các loại cây trồng đa dạng đến trồng trọt và thủy sản

- Trồng trọt: Với khoảng 127 triệu mẫu đất, khoảng 52% thích hợp

cho nông nghiệp Mặc dù canh tác cây trồng ở Thái Lan rất đa dạng, nhưng cây lúa vẫn đóng vai trò quan trọng trong nông nghiệp truyền thống của Thái Lan Sản lượng gạo của nước này nằm trong số mười quốc gia hàng đầu ở khu vực Châu Á Thái Bình Dương, chỉ sau Việt Nam trong những năm gần đây Ngoài lúa, các loại cây chủ lực khác bao gồm cao su, mía, sắn và các cây trồng chính khác như hẹ tây, khoai tây, tỏi và hành Trong những năm gần đây, sản lượng mía ở Thái Lan là cao nhất trong số các cây trồng chính khác

- Chăn nuôi và thủy sản: So với trồng trọt, chăn nuôi chiếm tỷ trọng

tương đối nhỏ Trước đây, trâu bò chủ yếu được sử dụng để trồng lúa và ngày càng được nuôi nhiều hơn sau năm 1985 để đáp ứng với xu hướng lương thực Sản xuất gia cầm ở Thái Lan là một trong mười nước hàng đầu

ở khu vực Châu Á Thái Bình Dương Ngoài chăn nuôi gia súc, nuôi trồng thủy sản cũng đóng vai trò quan trọng trong an ninh lương thực của Thái Lan và đóng góp vào GDP nhiều hơn so với chăn nuôi, với khoảng 108 tỷ baht Thái trong những năm gần đây

- Lâm nghiệp: lâm nghiệp ở Thái Lan cũng đóng góp lớn cho nền

kinh tế Thái Lan Thái Lan là một trong những quốc gia màu mỡ nhất về

Trang 13

mặt địa lý ở Đông Nam Á, diện tích rừng của Thái Lan chiếm khoảng 1/3 tổng diện tích đất Với nguồn tài nguyên môi trường phong phú, Thái Lan

đã tận dụng và biến những lợi thế tự nhiên thành lợi nhuận Ví dụ, rừng trồng gỗ cây cao su và gỗ tếch là một trong những sản phẩm gỗ có sản lượng cao nhất

2.8 Nông nghiệp ở Việt Nam

Quá trình phát triển kinh tế - xã hội của Việt Nam kể từ sau Đổi mới đến nay đã chứng kiến vai trò đặc biệt quan trọng của nông nghiệp trong phát triển kinh tế cũng như đảm bảo sự ổn định cân bằng kinh tế - xã hội Trong giai đoạn mới, nông nghiệp Việt Nam đã và đang vươn lên trở thành nền kinh tế năng động, phát triển bền vững, tham gia sâu vào hội nhập kinh

tế thế giới Các đóng góp lớn nhất của ngành nông nghiệp Việt Nam vào nền kinh tế quốc gia bao gồm: đảm bảo vững chắc an ninh lương thực quốc gia trong mọi tình huống; tạo sinh kế, việc làm và thu nhập ổn định cho người dân nông thôn, góp phần quan trọng ổn định chính trị - xã hội và phát triển đất nước

Thời kỳ những năm 1990, cải tiến hình thức sản xuất và gia tăng năng suất trong nông nghiệp đóng vai trò động lực chính cho tăng trưởng GDP tại Việt Nam So sánh với năm 1986 khi đất nước thực hiện Đổi mới, kim ngạch xuất khẩu toàn ngành nông nghiệp chỉ đạt mức 486.2 triệu USD, năm

2019 đã đánh dấu mức kim ngạch xuất khẩu toàn ngành cao vượt trội, đạt 41.3 tỷ USD (gấp 84.94 lần); thặng dư thương mại đạt mức 9.5 - 10 tỷ USD, trong đó có 10 mặt hàng nông sản đạt giá trị xuất khẩu trên 1 tỷ USD Năm

2019, nông nghiệp đóng góp 11.33% tổng giá trị xuất khẩu và 13.96% GDP quốc gia Năm 2020, đóng góp của ngành nông nghiệp vào GDP quốc gia tăng lên, giữ mức 14.85% 6 tháng đầu năm 2021, mức đóng góp này giảm còn 12.15%

Nông sản Việt Nam có chỗ đứng nhất định trên thị trường quốc tế và

có thành tựu nổi bật trong xuất khẩu một số mặt hàng: gạo, cà phê, hạt điều… Cụ thể, năm 2019, xuất khẩu gạo Việt Nam đứng thứ 2 thế giới (sau

Ấn Độ), xuất khẩu cà phê đứng thứ 5 thế giới (sau Brazil, Thụy sĩ, Đức và Colombia), xuất khẩu hạt điều đứng thứ nhất thế giới Nông nghiệp là ngành duy trì tốt thặng dư thương mại qua các năm, đóng góp lớn vào làm

Ngày đăng: 21/10/2021, 13:45

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình 3. So sánh chỉ số sản xuất nông nghiệp Đông Nam Á với châ uÁ và Thế giới năm 2019 (Nguồn: Tổng hợp bởi nhóm tác giả theo dữ liệu của FAO)  - Nông nghiệp tại các quốc gia Đông Nam Á: phân tích định tính và phân tích định lượng số liệu thống kê cấp vùng
Hình 3. So sánh chỉ số sản xuất nông nghiệp Đông Nam Á với châ uÁ và Thế giới năm 2019 (Nguồn: Tổng hợp bởi nhóm tác giả theo dữ liệu của FAO) (Trang 16)
Hình 2. Đóng góp của sản xuất nông nghiệp các nước Đông Nam Á năm 2018 (Nguồn: Tổng hợp bởi nhóm tác giả theo dữ liệu của FAO)  - Nông nghiệp tại các quốc gia Đông Nam Á: phân tích định tính và phân tích định lượng số liệu thống kê cấp vùng
Hình 2. Đóng góp của sản xuất nông nghiệp các nước Đông Nam Á năm 2018 (Nguồn: Tổng hợp bởi nhóm tác giả theo dữ liệu của FAO) (Trang 16)
Hình 4. Tổng giá trị sản xuất nông nghiệp của một số quốc gia Đông Nam Á năm 2019 (Nguồn: Tổng hợp bởi nhóm tác giả dựa trên dữ liệu của FAO)  - Nông nghiệp tại các quốc gia Đông Nam Á: phân tích định tính và phân tích định lượng số liệu thống kê cấp vùng
Hình 4. Tổng giá trị sản xuất nông nghiệp của một số quốc gia Đông Nam Á năm 2019 (Nguồn: Tổng hợp bởi nhóm tác giả dựa trên dữ liệu của FAO) (Trang 17)
Hình 5. Thế mạnh sản xuất nông nghiệp của các quốc gia Đông Nam Á (Nguồn: Tổng hợp bởi nhóm tác giả dựa trên dữ liệu của FAO)  - Nông nghiệp tại các quốc gia Đông Nam Á: phân tích định tính và phân tích định lượng số liệu thống kê cấp vùng
Hình 5. Thế mạnh sản xuất nông nghiệp của các quốc gia Đông Nam Á (Nguồn: Tổng hợp bởi nhóm tác giả dựa trên dữ liệu của FAO) (Trang 18)
Hình 6. Dòng thương mại tạo ra bởi ngành nông nghiệp năm 2019 (Nguồn: Tổng hợp bởi nhóm tác giả theo dữ liệu thống kê của FAO)  - Nông nghiệp tại các quốc gia Đông Nam Á: phân tích định tính và phân tích định lượng số liệu thống kê cấp vùng
Hình 6. Dòng thương mại tạo ra bởi ngành nông nghiệp năm 2019 (Nguồn: Tổng hợp bởi nhóm tác giả theo dữ liệu thống kê của FAO) (Trang 19)
Hình 7. Tỷ lệ đóng góp vào GDP của ngành nông nghiệp và thuỷ sản ở các nước Đông Nam Á giai đoạn 1985 - 2020   - Nông nghiệp tại các quốc gia Đông Nam Á: phân tích định tính và phân tích định lượng số liệu thống kê cấp vùng
Hình 7. Tỷ lệ đóng góp vào GDP của ngành nông nghiệp và thuỷ sản ở các nước Đông Nam Á giai đoạn 1985 - 2020 (Trang 20)
Hình 8. Tỷ lệ lao động trong đánh bắt và nuôi trồng thuỷ sản năm 2020 (Nguồn: Tổng hợp và tính toán bởi nhóm tác giả theo dữ liệu của FAO)  - Nông nghiệp tại các quốc gia Đông Nam Á: phân tích định tính và phân tích định lượng số liệu thống kê cấp vùng
Hình 8. Tỷ lệ lao động trong đánh bắt và nuôi trồng thuỷ sản năm 2020 (Nguồn: Tổng hợp và tính toán bởi nhóm tác giả theo dữ liệu của FAO) (Trang 20)
Hình 9. Tỷ lệ diện tích đất nông nghiệp năm 2020 - Nông nghiệp tại các quốc gia Đông Nam Á: phân tích định tính và phân tích định lượng số liệu thống kê cấp vùng
Hình 9. Tỷ lệ diện tích đất nông nghiệp năm 2020 (Trang 21)
Hình 11. Tốc độ tăng trưởng của 5 mặt hàng lương thực chính ASEAN giai đoạn 2010 - 2019 (Nguồn: ASEAN Food Security Information System (AFSIS))  - Nông nghiệp tại các quốc gia Đông Nam Á: phân tích định tính và phân tích định lượng số liệu thống kê cấp vùng
Hình 11. Tốc độ tăng trưởng của 5 mặt hàng lương thực chính ASEAN giai đoạn 2010 - 2019 (Nguồn: ASEAN Food Security Information System (AFSIS)) (Trang 23)
Hình 12. Thị phần các thị trường nông sản xuất khẩu chính của ASEAN, 2019 (Nguồn: ASEAN Food Security Information System (AFSIS))  - Nông nghiệp tại các quốc gia Đông Nam Á: phân tích định tính và phân tích định lượng số liệu thống kê cấp vùng
Hình 12. Thị phần các thị trường nông sản xuất khẩu chính của ASEAN, 2019 (Nguồn: ASEAN Food Security Information System (AFSIS)) (Trang 23)
Hình 13. Tỷ trọng xuất xứ hàng hóa nông sản nhập khẩu chính của ASEAN, 2019 (Nguồn: ASEAN Food Security Information System (AFSIS))  - Nông nghiệp tại các quốc gia Đông Nam Á: phân tích định tính và phân tích định lượng số liệu thống kê cấp vùng
Hình 13. Tỷ trọng xuất xứ hàng hóa nông sản nhập khẩu chính của ASEAN, 2019 (Nguồn: ASEAN Food Security Information System (AFSIS)) (Trang 24)
Hình 14. Tỷ lệ nhập khẩu thuốc trừ sâu của các quốc gia Đông Nam Á giai đoạn 1961-2019 (Nguồn: Tổng hợp và tính toán bởi nhóm tác giả theo dữ liệu của FAO)  - Nông nghiệp tại các quốc gia Đông Nam Á: phân tích định tính và phân tích định lượng số liệu thống kê cấp vùng
Hình 14. Tỷ lệ nhập khẩu thuốc trừ sâu của các quốc gia Đông Nam Á giai đoạn 1961-2019 (Nguồn: Tổng hợp và tính toán bởi nhóm tác giả theo dữ liệu của FAO) (Trang 24)
Hình 15. Thống kê tình hình sử dụng đất đai khu vực Đông Nam Á năm 2019 (Nguồn: Tổng hợp bởi nhóm tác giả theo dữ liệu thống kê của FAO)  - Nông nghiệp tại các quốc gia Đông Nam Á: phân tích định tính và phân tích định lượng số liệu thống kê cấp vùng
Hình 15. Thống kê tình hình sử dụng đất đai khu vực Đông Nam Á năm 2019 (Nguồn: Tổng hợp bởi nhóm tác giả theo dữ liệu thống kê của FAO) (Trang 25)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w