Nội dung mở đầu: Trong các văn kiện của Đảng, đặc biệt là Nghị quyết Đại hội IX của Đảng đã khẳng định nhiệm vụ xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân dưới sự lãnh đạo của Đảng. Đó chính là sự tiếp tục phát triển tư tưởng Hồ Chí Minh về Nhà nước pháp quyền trong điều kiện mới. Ngay từ buổi đầu được thành lập và trong suốt quá trình xây dựng, phát triển, Nhà nước ta đã mang những yếu tố của Nhà nước pháp quyền của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân, gắn bó chặt chẽ và phục vụ lợi ích của nhân dân, của dân tộc. Nhà nước đã từng bước thực hiện việc quản lý xã hội bằng pháp luật, không ngừng phát huy dân chủ, tăng cường pháp chế xã hội chủ nghĩa.
Trang 1HỌC VIỆN BÁO CHÍ VÀ TUYÊN TRUYỀN
KHOA TUYÊN TRUYỀN
*
TIỂU LUẬNMÔN: HỆ THỐNG CHÍNH TRỊ THẾ GIỚI ĐƯƠNG ĐẠI
ĐỀ TÀI:
NHÀ NƯỚC NHÀ NƯỚC PHÁP QUYỀN XÃ HỘI CHỦ NGHĨA
Ở VIỆT NAM HIỆN NAY
Học viên :
Lớp : Cao học QLHĐTT-VH K26.2
Hà Nội – 2021
Trang 2MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 2
NỘI DUNG 3
CHƯƠNG I: LÝ LUẬN CHUNG VỀ NHÀ NƯỚC PHÁP QUYỀN 3
1.1 Những tiền đề tư tưởng cho việc xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam 3
1.1.1 Tư tưởng nhà nước pháp quyền trong lịch sử tư tưởng phương Tây 3
1.1.2 Nhà nước pháp quyền trong lịch sử tư tưởng phương Đông 5
1.1.3 Những nhân tố nhà nước pháp quyền trong học thuyết Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh về nhà nước và pháp luật 7
1.2 Khái niệm và những đặc điểm cơ bản của nhà nước pháp quyền 10
1.2.1 Khái niệm nhà nước pháp quyền 10
1.2.2 Những đặc điểm cơ bản của nhà nước pháp quyền 10
1.3 Những quan điểm cơ bản về xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam, của dân, do dân và vì dân 11
1.3.1 Xây dựng nhà nước pháp quyền Việt Nam là yêu cầu phát triển tất yếu khách quan 11
1.3.2 Những quan điểm cơ bản về xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam 12
CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP XÂY DỰNG NHÀ NƯỚC PHÁP QUYỀN XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM 17
2.1 Thực trạng xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam 17
2.1.1 Thành tựu 17
2.1.2 Hạn chế 18
2.2 Phương hướng và giải pháp xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam 19
2.2.1 Cải cách thể chế và phương thức hoạt động của nhà nước 19
2.2.2 Hoàn thiện hệ thống pháp luật 21
2.2.3 Phát huy dân chủ, giữ vững kỷ luật, kỷ cương, tăng cường pháp chế 22
2.2.4 Xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức trong sạch, có năng lực 23
KẾT LUẬN 24
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 25
Trang 3MỞ ĐẦU
Trong các văn kiện của Đảng, đặc biệt là Nghị quyết Đại hội IX của Đảng
đã khẳng định nhiệm vụ "xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa củanhân dân, do nhân dân và vì nhân dân dưới sự lãnh đạo của Đảng" Đó chính là
sự tiếp tục phát triển tư tưởng Hồ Chí Minh về Nhà nước pháp quyền trong điềukiện mới Ngay từ buổi đầu được thành lập và trong suốt quá trình xây dựng, pháttriển, Nhà nước ta đã mang những yếu tố của Nhà nước pháp quyền của nhân dân,
do nhân dân và vì nhân dân, gắn bó chặt chẽ và phục vụ lợi ích của nhân dân, củadân tộc Nhà nước đã từng bước thực hiện việc quản lý xã hội bằng pháp luật,không ngừng phát huy dân chủ, tăng cường pháp chế xã hội chủ nghĩa
Quá trình đổi mới toàn diện đất nước mà trọng tâm là đổi mới kinh tế theođường lối của Đảng đang diễn ra sôi động Nền kinh tế hàng hoá nhiều thànhphần vận động theo cơ chế thị trường có sự quản lý của nhà nước từng bướchình thành cùng với việc thực hiện đường lối đối ngoại mở cửa và yêu cầu dânchủ hoá đời sống xã hội, tất cả đang đòi hỏi một môi trường pháp lý thuận lợi,
an toàn, bộ máy nhà nước có năng lực, đội ngũ cán bộ ngang tầm với nhiệm vụchính trị Vì vậy, việc xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa trở thànhnhu cầu bức thiết của sự nghiệp đổi mới ở nước ta hiện nay Đây là nhiệm vụ tolớn của sự nghiệp cách mạng nước ta, đặt ra nhiều thách thức, khó khăn, phứctạp cả trong lý luận và thực tiễn mà chúng ta phải vượt qua Việc tiến hành xâydựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong điều kiện xuất phátđiểm của đất nước ta trong giai đoạn hiện nay là một việc chưa có tiền lệ tronglịch sử Trong quá trình xây dựng nhà nước pháp quyền đòi hỏi chúng ta vừathực hiện, vừa nghiên cứu, tổng kết để hình thành dần, hoàn thiện dần mô hìnhphù hợp với yêu cầu mà lịch sử đặt ra đồng thời giữ được những yếu tố truyềnthống, bản sắc của Việt Nam nhằm đưa cách mạng nước ta đến mục tiêu: Dângiàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh Với lý do trên nên tôi
chọn đề tài: “Nhà nước nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam hiện nay” làm tiểu luận cho môn Hệ thống chính trị thế giới đương đại.
Trang 4NỘI DUNG
CHƯƠNG I: LÝ LUẬN CHUNG VỀ NHÀ NƯỚC PHÁP QUYỀN
1.1 Những tiền đề tư tưởng cho việc xây dựng nhà nước pháp quyền
xã hội chủ nghĩa Việt Nam
1.1.1 Tư tưởng nhà nước pháp quyền trong lịch sử tư tưởng phương Tây
Lịch sử tư tưởng Nhà nước pháp quyền là lịch sử hình thành và phát triểncủa tư tưởng về sự hợp lý và công bằng trong tổ chức một hình thức chính trịhợp lý của đời sống xã hội, về mối tương quan giữa quyền lực và pháp luật
Khái niệm nhà nước pháp quyền được các học giả phương Tây đưa ra vàothế kỷ XVIII - XIX nhằm chống lại nhà nước chuyên chế, độc đoán Nhà nướcpháp quyền không phải là một kiểu nhà nước tương ứng với hình thái kinh tế xãhội trong lịch sử phát triển nhân loại Nói đến nhà nước pháp quyền là nói đếnhình thức và nội dung dân chủ của nhà nước - một nhà nước được tổ chức hàihoà giữa quyền lực và pháp luật, tôn trọng tính tối cao của pháp luật Do vậy,người ta thường hay gắn nhà nước pháp quyền với dân chủ, coi nhà nước phápquyền là một chế định
Từ thời cổ đại, người ta đã tìm kiếm các nguyên tắc, hình thức và cơ cấu
để thiết lập mối quan hệ qua lại hài hoà giữa pháp luật và quyền lực Quyền lựcmuốn trở thành sức mạnh phải dựa vào pháp luật đồng thời lại bị ràng buộc bởipháp luật Nhà thông thái Xôlông đã khẳng định: “Ta giải phóng tất cả mọingười bằng quyền lực của pháp luật, bằng sự kết hợp sức mạnh với pháp luật”.Sau này, Aristôt cũng đồng tình với tư tưởng ấy Ông đề cao vai trò của phápluật tự nhiên trong việc tạo ra sự công bằng cho xã hội Ở đây, khái niệm côngbằng gắn với khái niệm nhà nước bởi nhà nước gắn bó chặt chẽ với pháp luật màpháp luật là tiêu chuẩn đánh giá sự công bằng
Các nhà tư tưởng cổ đại một mặt đề cao tính tối cao của luật, một mặt chú
ý tới sự tổ chức hợp lý của hệ thống quyền lực nhà nước, sự phân định chứcnăng, quyền hạn rõ ràng, không có quy định trật tự nhất định trong mối quan hệ
Trang 5giữa các cơ quan đó thì không thể đảm bảo tính tối cao của luật và lẽ đươngnhiên không thể nói về nhà nước pháp quyền.
Sau này, tư tưởng nhà nước pháp quyền ngày càng phát triển và hoànthiện cùng với cuộc cách mạng tư sản Tư tưởng nhà nước pháp quyền đã đanxen vào quan niệm phân quyền, chế độ lập hiến và dân chủ Trong sự phát triểncủa lịch sử và lý luận, điều có ý nghĩa quan trọng trong giai đoạn này là nhữngvấn đề về quyền lực chính trị dưới hình thức phân quyền trở nên phù hợp Thếgiới quan pháp lý của giai cấp tư sản đang lên đòi hỏi phải khẳng định nhữngquan niệm mới về tự do của con người thông qua việc tôn trọng tính tối cao củaluật trong điều chỉnh các quan hệ xã hội
Khi nói về lịch sử nhà nước pháp quyền ở phương Tây không thể không
đề cập tới lịch sử tư tưởng về xã hội công dân Và cơ sở của xã hội công dânchính là tư tưởng của khế ước xã hội - tư tưởng của Rutxô được trình bày rõtrong tác phẩm nổi tiếng: “Bàn về khế ước xã hội” Rutxô bàn nhiều về cácquyền lập pháp, hành pháp và tư pháp trong một nhà nước được xây dựng trên
cơ sở khế ước xã hội Tính tối cao của luật, theo ông được thể hiện ở chỗ mọithành viên trong xã hội phải tuân thủ pháp luật một cách nghiệm chỉnh, ông vuachỉ làm theo mô hình của nhà lập pháp, nhà lập pháp là kỹ sư sáng chế ra máy,ông vua chỉ là người thợ dựng máy lên và vận hành máy
Trong lịch sử nhà nước pháp quyền phương Tây, người ta cũng gắnnhững dấu hiệu của nhà nước pháp quyền với với quan niệm của phân quyền:quyền lập pháp, hành pháp và tư pháp Điều đó được nêu rõ trong tác phẩm củaMôngtexkiơ Để tránh lạm quyền, ba quyền đó cần giao cho ba cơ quan khácnhau, có khả năng kiềm chế lẫn nhau Theo Môngtexkiơ đó chính là điều kiện đểđảm bảo tự do chính trị trong nhà nước Và thực sự thuyết phân quyền củaMôngtexkiơ đã đã ảnh hưởng lớn đến quan niệm về nhà nước pháp quyền, phápluật, hiến pháp của các nước đặc biệt là trong Hiến pháp Hoa Kì 1787, trongTuyên ngôn về quyền con người và quyền công dân của cách mạng tư sản Pháp.Điều 5 của Tuyên ngôn 1789 viết: Luật chỉ có thể cấm những hành vi có hại đối
Trang 6với xã hội, tất cả những gì mà luật không cấm là điều cho phép làm và không ai
có thể bị buộc phải làm điều gì mà luật không quy định
Cantơ là người đã lập luận về mặt triết học cho lý luận về nhà nước phápquyền Theo ông, nhà nước là sự tập hợp của nhiều người đều phục tùng các đạoluật pháp quyền Tức là, nhà nước là một tổ chức chính trị của xã hội - một xãhội dân sự, trong đó mọi người đều phục tùng ý chí chung được thể hiện dướihình thức đạo luật và đạo luật đó phù hợp với pháp luật tự nhiên Cantơ triệt đểtán thành việc áp dụng thuyết phân quyền trong tổ chức và thực hiện quyền lựcnhà nước: ở đâu có phân quyền thì ở đó có nhà nước pháp quyền còn nếu không
ắt sẽ dẫn tới sự chuyên quyền Thực ra, Cantơ đã quá cường điệu nguyên tắcphân quyền của Môngtexkiơ Thực tiễn cho thấy, phân quyền không phải là dấuhiệu duy nhất của nhà nước pháp quyền
Còn theo Hêghen, pháp luật là tư tưởng tự do, nhà nước cũng chính làpháp luật Hêghen đặt nhà nước lên trên hết, trên xã hội và trên cá nhân, thầnthánh hoá nhà nước, coi nhà nước là sự du ngoạn của Trời trên Trái đất Ông đềcao tính tối cao của luật, bởi vì luật của Nhà nước cũng chính là sự thể hiện cụthể của pháp luật tự nhiên Hêghen khẳng định: sự tự do chỉ tồn tại dưới chỉnhthể quân chủ lập hiến dựa trên cơ sở của nguyên tắc phân quyền Có thể thấy rõrằng, toàn bộ tư tưởng của Hêghen về Nhà nước phân quyền trực tiếp chống lại
sự lạm quyền, chống mọi sự dùng bạo lực phi pháp Ông đã dùng chủ nghĩa nhànước để chống lại chủ nghĩa cực quyền
Tóm lại, các nhà tư tưởng phương Tây đều nhấn mạnh tính tối cao củaluật, coi đó là tiêu chuẩn quan trọng nhất của nhà nước pháp quyền Đó chính là
sự bình đẳng của tất cả mọi người trước pháp luật Và mục tiêu quan trọng củanhà nước pháp quyền là làm thế nào để tổ chức được đời sống của nhân dân, saocho mỗi thành viên đều nhận được sự giúp đỡ và khuyến khích sự phát triển tối
đa và hoàn thiện năng lực tổng hợp của mình
1.1.2 Nhà nước pháp quyền trong lịch sử tư tưởng phương Đông
Trong lịch sử Nhà nước và pháp luật thế giới cũng đã tồn tại một loại hình
tư tưởng gần với nhà nước pháp quyền Đó là nhà nước pháp trị - đối lập với nhà
Trang 7nước đức trị, được sinh ra ở phương Đông trong thời kì nhà nước Trung Quốc
cổ đại Thuyết pháp trị là học thuyết chính trị của các nhà luật học phái pháp gia
do Quản Trọng, Thương Ưởng, Than Bất Hại, Thận Đáo đề xướng, Hàn Phi Tửphát triển và hoàn chỉnh Nội dung cơ bản và quan điểm cai trị của học thuyết làchỉ thừa nhận pháp luật và dùng nghiêm hình phạt Theo thuyết pháp trị, vua trịnước phải có ba yếu tố đó là pháp, thế và thuật Khi vua có đủ ba yếu tố đó thìvua phải chuyên quyền, độc đoán, dùng nghiêm hình phạt để cai trị
Hàn Phi Tử cho rằng trong việc trị nước thì pháp luật là quan trọng nhất:
“Không có nước nào luôn luôn mạnh, cũng không có nước nào luôn yếu Hễnhững người thi hành pháp luật mà mạnh thì nước mạnh còn hễ những người thihành pháp luật yếu thì nước yếu” Mọi việc làm của vua cũng đều phải dựa trênpháp luật Tức là, một khi pháp luật được ban hành thì việc thi hành pháp luậtphải như nhau đối với mọi người, tất cả đều bình đẳng trước pháp luật Tuynhiên, Hàn Phi Tử chưa có quan niệm rõ ràng về bản chất của pháp luật “Luật”của ông chính là “Phép tắc của tiên vương” Nhà vua trị nước bằng pháp luậtchính là bằng những quy định do vua ban ra Và trong việc thi hành pháp luật,Hàn Phi Tử thiên về chức năng trừng phạt: “hình phạt nghiêm là để lệnh đượcthi hành”, để ngăn cấm những việc riêng tư sai lầm
Nhìn lại một cách khái quát, chúng ta thấy rằng nhà nước pháp trị củaTrung Quốc không phải là nhà nước pháp quyền mặc dù ở đó cũng đề cao vaitrò của pháp luật Nó mang một số điểm tiến bộ là đã chống lại nhà nước đức trị
đã ngự trị hàng nghìn năm trước đó với hệ tư tưởng của đạo Khổng, trong đóhình phạt chỉ dành cho hạng thứ dân, bậc trượng phu không phải chịu hình phạt.Tuy còn có những tồn tại nhất định nhưng tư tưởng pháp trị đã nhất mực khẳngđịnh sự thống trị của pháp luật trong đời sống xã hội Đó cũng là một trongnhững tư tưởng có ảnh hưởng lớn đến các nước phương Đông từ thời cổ đại,trung đại, cận đại và cho tới hiện nay
Lịch sử Việt Nam cũng có những biểu hiện của tư tưởng đề cao tính tốicao của pháp luật đặc biệt là giai đoạn từ thế kỷ XIV đến thế kỷ XVIII Thời Lý
- Trần, các vua đã coi trọng tới việc dùng pháp luật để trị nước Năm 1340, Luật
Trang 8Hình thư ra đời Sang thế kỷ XV, việc ban hành pháp luật được xúc tiến mạnhnhất với rất nhiều công trình, văn bản pháp luật đã được pháp điển hoá Đó làQuốc triều hình luật (6 quyển), Quốc triều luật lệnh (6 quyển)… trong đó Quốctriều hình luật là bộ luật quan trọng và chính thống không chỉ trong thời Lê sơ
mà còn cả thời Hậu Lê và có ảnh hưởng tới cả các giai đoạn sau Người ta gọi
đó là Luật Hồng Đức
Sau này, vào giữa thế kỷ XIX, lịch sử Việt Nam có một người theo chủnghĩa cách tân, ủng hộ pháp trị và ở một chừng mực nhất định đã có suy nghĩ vềtính khách quan của pháp luật, về sự bình đẳng của mọi người trước pháp luật
Đó là Nguyễn Trường Tộ Ông cho rằng: nói đến phép trị nước phải nói đếndùng pháp luật để duy trì trật tự nhưng luật pháp phải hợp với lòng trời, lòngngười Muốn vậy, không nên cưỡng ép mà phải đặc biệt xây dựng trên cơ sở tự
do và công bằng Như vậy, trong tư tưởng cách tân, quan điểm ủng hộ thuyếtpháp trị của Nguyễn Trường Tộ đã có những dấu hiệu về một nhà nước phápquyền Bởi vì, quan niệm của ông về pháp luật cơ bản không phải là sản phẩmcủa sự duy ý chí, một khi pháp luật đã được ban hành thì mọi người đều bìnhđẳng trước pháp luật
Nghiên cứu lịch sử tư tưởng về nhà nước pháp quyền phương Đông,phương Tây mặc dù còn có nững vấn đề chưa được hoàn thiện, hay chưa hìnhthành rõ nét nhưng nó đã đặt nền cơ sở cho chúng ta tiếp tục nghiên cứu và hoànthiện trong giai đoạn hiện nay
1.1.3 Những nhân tố nhà nước pháp quyền trong học thuyết Mác Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh về nhà nước và pháp luật
-Trên cơ sở nhân định chính xác về bản chất của chế độ dân chủ của nhànước xã hội chủ nghĩa, Lênin đã đề ra nhiệm vụ phải làm cho người lao độnghọc cách quản lý nhà nước, thu hút đông đảo quần chúng nhân dân tham gia vàocông việc của nhà nước và xã hội, kiên quyết chống chủ nghĩa quan liêu, loại trừnhững kẻ đặc quyền, đặc lợi, những kẻ đứng trên quần chúng Phải có nhữngbiện pháp hữu hiệu để mọi người dân có thể thực hiện chức năng kiểm tra, giám
Trang 9sát các cơ quan và cán bộ nhà nước Theo Lênin, làm được như vậy sẽ gây trongquần chúng một nhiệt tình cách mạng cao chưa từng thấy trong lịch sử.
Chủ nghĩa Mác - Lênin không đưa ra vấn đề phân chia quyền lực trong tổchức và bộ máy của nhà nước xã hội chủ nghĩa Tuy cũng tồn tại sự phân côngcác hình thức và lĩnh vực hoạt động lập pháp, hành pháp và tư pháp nhưngquyền lực nhà nước xã hội chủ nghĩa là thống nhất, không có sự phân lập, đốitrọng giữa các hệ thống cơ quan đó Do vậy, mối liên hệ giữa nhà nước và phápluật xã hội chủ nghĩa như là yếu tố đảm bảo cho nền dân chủ xã hội chủ nghĩa.Điều đó xuất phát từ tính thống nhất nội tại thuộc về bản chất của chế độ xã hộichủ nghĩa chứ không phải do cơ chế kìm chế, đối trọng về quyền lực nhà nướcnhư trong xã hội tư bản theo quan niệm của thuyết phân quyền
Một trong những vấn đề quan trọng thể hiện một cách đặc thù mối liên hệgiữa nhà nước xã hội chủ nghĩa và pháp luật xã hội chủ nghĩa là vấn đề pháp chế
xã hội chủ nghĩa Nhìn khái quát, theo các quan điểm của Lênin thì pháp chế xãhội chủ nghĩa được hiểu là sự hiện diện của hai thành tố cơ bản nói lên bản chấtcủa chế độ nhà nước và pháp luật xã hội chủ nghĩa Đó là, hệ thống pháp luậthoàn chỉnh và sự tuân thủ pháp luật một cách nghiêm ngặt của tất cả các chủ thểpháp luật Vấn đề chủ yếu trong học thuyết pháp chế của Lênin là cần phảinghiêm chỉnh chấp hành pháp luật xã hội chủ nghĩa cùng với điều kiện tối cầnthiết là nhà nước xã hội chủ nghĩa phải có một hệ thống kiểm tra, giám sát mộtcách chặt chẽ
Điều cốt lõi trong pháp chế xã hội chủ nghĩa là pháp luật phải được chấphành đúng với tinh thần các quy phạm của nó, không được vin vào các đặc điểmriêng biệt của địa phương, của ngành hay địa vị xã hội; chỉ tính đến điều đótrong trường hợp tìm kiếm các biện pháp và hình thức thích hợp để đưa phápluật vào cuộc sống Đặc biệt đối với nhà nước, các cơ quan, nhân viên nhà nướcphải nêu gương tuân thủ pháp luật một cách nghiêm chỉnh, chống thói chuyênquyền và những hành vi vi phạm pháp luật Như vậy, pháp pháp chế xã hội chủnghĩa được coi là công cụ quan trọng để thực hiện nền chuyên chính vô sản, xâydựng và củng cố nền dân chủ xã hội chủ nghĩa Pháp chế xã hội chủ nghĩa thực
Trang 10sự là phương thức thực hiện mối liên hệ bản chất giữa nhà nước xã hội chủnghĩa và pháp luật xã hội chủ nghĩa
Trên cơ sở tiếp thu những yếu tố tích cực trong lịch sử tư tưởng, quán triệtnhững quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin về nhà nước và pháp luật, Hồ ChíMinh cũng thể hiện rất rõ tư tưởng của mình về một nhà nước pháp quyền.Trước hết, Người khẳng định nhà nước phải là nhà nước hợp hiến Chính vì vậy,khi cách mạng tháng Tám thành công, Hồ Chí Minh đã thay mặt Chính phủtuyên bố trước quốc dân đồng bào và cộng đồng thế giới về quyền độc lập, tự docủa dân tộc Việt Nam: “Nước Việt Nam có quyền được hưởng tự do và độc lập
và sự thật đã thành một nước tự do, độc lập Toàn thể dân tộc Việt Nam quyếtđem tất cả tinh thần, lực lượng, tính mạng và của cải để giữ vững quyền độc lập
tự do ấy” Vì thế, Nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà là một nhà nước hợphiến, nó tiêu biểu cho ý chí, nguyện vọng của nhân dân Việt Nam Ngay trongphiên họp đầu tiên của Chính phủ, Người đã đề nghị tổ chức tổng tuyển cử bầuQuốc hội, thành lập Chính phủ chính thức và ra Hiến pháp Tháng 11/1946, bảnHiến pháp đầu tiên của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà đã được thông qua
Người cũng khẳng định một nhà nước pháp quyền là một nhà nước có nềnpháp lý mạnh mẽ, pháp luật và dân chủ đi liền với nhau Không có dân chủngoài pháp luật, pháp luật là bà đỡ của dân chủ Mọi quyền dân chủ phải đượcthể chế hoá bằng Hiến pháp và pháp luật Pháp luật phải đảm bảo cho quyền tự
do dân chủ được thực hiện trên thực tế Xây dựng một nền pháp chế xã hội chủnghĩa, thực hiện quyền lực của nhân dân là mối quan tâm hàng đầu của Người
Nét đặc sắc trong tư tưởng Hồ Chí Minh về nhà nước pháp quyền cònđược thể hiện ở sự thống nhất biện chứng giữa pháp luật và đạo đức Người đềcao vai trò của pháp luật, mọi người dân đều bình đẳng trước pháp luật và cán
bộ, đảng viên phải luôn gương mẫu trong việc chấp hành luật pháp Mặt khác,Người cũng đặc biệt chú ý đến việc giáo dục đạo đức cho nhân dân Người chorằng dù pháp luật có đầy đủ đến đâu cũng không thể điều chỉnh được hết mọiquan hệ xã hội, trong khi đó đạo đức có phạm vi điều chỉnh rộng hơn và mangtính tự giác Vì vậy, phải kết hợp chặt chẽ giữa quản lý điều hành xã hội bằng
Trang 11pháp luật với việc tuyên truyền, giáo dục đạo đức cách mạng Suốt cả cuộc đời,Người luôn là tấm gương sáng về đạo đức cách mạng cũng như ý thức chấphành pháp luật
Chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh về nhà nước và phápluật, về nhà nước pháp quyền là cơ sở quan trọng để chúng ta xây dựng và hoànthiện nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam qua các các thời kì cáchmạng Ngày nay, tư tưởng ấy vẫn tiếp tục rọi sáng con đường xây dựng và hoànthiện nhà nước pháp quyền xã hội, phục vụ sự nghiệp đẩy mạnh công nghiệphoá, hiện đại hoá đất nước
1.2 Khái niệm và những đặc điểm cơ bản của nhà nước pháp quyền
1.2.1 Khái niệm nhà nước pháp quyền
Nhà nước pháp quyền là một hình thức tổ chức nhà nước với sự phâncông lao động khoa học, hợp lý giữa các quyền lập pháp, hành pháp và tư pháp,
có cơ chế kiểm soát quyền lực, nhà nước được tổ chức và hoạt động trên cơ sởpháp luật, nhà nước quản lý xã hội bằng pháp luật, pháp luật có tính khách quan,nhân đạo, công bằng, tất cả vì lợi ích chính đáng của con người
1.2.2 Những đặc điểm cơ bản của nhà nước pháp quyền
Trên cơ sở lý luận và thực tiễn của nhà nước pháp quyền, có thể nêunhững đặc điểm cơ bản nhất về nhà nước pháp quyền như sau:
- Nhà nước pháp quyền là nhà nước có hệ thống pháp luật hoàn thiện, bảođảm tính đồng bộ, thống nhất để thực hiện quản lý xã hội bằng pháp luật dựatrên nền tảng đạo đức xã hội và đạo đức tiến bộ của nhân loại
- Xác lập và có cơ chế hữu hiệu để đảm bảo tính tối cao của luật trong hệthống các văn bản pháp luật
- Pháp luật trong nhà nước pháp quyền phải mang tính pháp lý cao, kháchquan, công bằng, nhân đạo phù hợp với đạo đức xã hội, tất cả vì lợi ích chínhđáng của con người
- Nhà nước pháp quyền là nhà nước, trong đó mối quan hệ giữa nhà nước
và công dân bình đẳng về quyền và nghĩa vụ, quan hệ đồng trách nhiệm Tuânthủ pháp luật là nghĩa vụ đối với mọi cá nhân, tổ chức kể cả nhà nước, nhà nước
Trang 12phải chịu trách nhiệm bồi thường những thiệt hại vật chất, tinh thần cho cá nhân
về các quyền quyết định và hành vi sai trái của mình
- Nhà nước pháp quyền là nhà nước trong đó các quyền tự do, dân chủ vàlợi ích chính đáng của con người được nhà nước bảo đảm thực hiện bằng hệthống pháp luật Mọi hành vi vi phạm pháp luật đều phải xử lý nghiêm minh, kịpthời, đúng pháp luật
- Trong nhà nước pháp quyền, quyền lực nhà nước được tổ chức khoahọc, các quyền lập pháp, hành pháp, tư pháp được phân định rõ ràng, hợp lý cho
cả ba hệ thống cơ quan nhà nước tương ứng trong mối quan hệ cân bằng kiểmsoát lẫn nhau tạo thành một cơ chế đồng bộ đảm bảo sự thống nhất của quyềnlực nhà nước, thực hiện quyền lực nhân dân
- Nhà nước pháp quyền tồn tại trên cơ sở một xã hội công bằng phát triểnlành mạnh, đảm bảo tự do của các cá nhân và các tổ chức của họ trên cơ sở phápluật và đạo đức xã hội
- Nhà nước pháp quyền là nhà nước sống hòa đồng với cộng đồng thếgiới, thực hiện các cam kết quốc tế, các điều ước quốc tế mà nhà nước là thànhviên ký kết hay công nhận
1.3 Những quan điểm cơ bản về xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam, của dân, do dân và vì dân
1.3.1 Xây dựng nhà nước pháp quyền Việt Nam là yêu cầu phát triển tất yếu khách quan
Xây dựng nhà nước pháp quyền ở nước ta trong công cuộc đổi mới đấtnước hiện nay là một đòi hỏi cấp thiết, phù hợp với những điều kiện phát triểnkhách quan của đất nước và xu thế chung của thời đại Sự nghiệp này xuất phát
từ hàng loạt các yêu cầu khách quan của đất nước:
- Phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa;
- Thực hiện dân chủ hóa sâu sắc và toàn diện mọi mặt của đời sống xã hội;
- Bảo đảm và bảo vệ các quyền công dân;
- Chủ động tham gia vào quá trình hội nhập khu vực và quốc tế;
Trang 13- Thực hiện công bằng xã hội đặt ra và xây dựng nền văn hóa tiên tiến,đậm đà bản sắc dân tộc.
Các quan hệ xã hội ngày càng đa dạng và phức tạp, hội nhập và toàn cầuhóa đang đặt ra cho chúng ta nhiều cơ hội và thách thức Những cung cách quản
lý, điều hành xã hội của cơ chế hành chính, tập trung hóa, bao cấp trước đâykhông còn phù hợp Để đủ sức quản lý xã hội trong bối cảnh mới, phải cải cáchsâu sắc và toàn diện mọi mặt đời sống kinh tế, chính trị, xã hội, nhà nước vàpháp luật Xây dựng nhà nước pháp quyền sẽ đáp ứng được những yêu cầu đó
Xây dựng nhà nước pháp quyền để củng cố, phát huy bản chất nhân dâncủa nhà nước ta, thiết lập những mối quan hệ đúng đắn giữa nhà nước và nhândân Xây dựng nhà nước pháp quyền sẽ cho phép giải quyết một cách tốt nhấtgiữa tăng trưởng kinh tế và công bằng xã hội trong điều kiện nền kinh tế thịtrường định hướng xã hội chủ nghĩa
Xây dựng nhà nước pháp quyền là vấn đề còn mới mẻ đối với chúng ta cả
về lý luận lẫn thực tiễn, do vậy phải được tiến hành một cách đồng bộ Trongquá trình xây dựng nhà nước pháp quyền, cần phải tiếp thu có chọn lọc lý luận
và thực tiễn nước ngoài, vừa phát huy nội lực, đảm bảo định hướng xã hội chủnghĩa và giữ gìn bản sắc dân tộc, kế thừa kinh nghiệm dựng nước và giữ nướccủa ông cha
1.3.2 Những quan điểm cơ bản về xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam
Việc xây dựng nhà nước pháp quyền Việt Nam xã hội chủ nghĩa ở nước tahiện nay cần quán triệt các quan điểm cơ bản sau đây:
1.3.2.1 Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam là nhà nước của dân, do dân và vì dân
Xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của dân, do dân và vìdân, thực hiện quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân Quan điểm này thể hiệnbản chất nhà nước ta và đã được xác định trong Hiến pháp 1992(sửa đổi): “Nhànước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là nhà nước pháp quyền xã hội chủnghĩa của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân mà nền tảng là liên minh giữa giai