Nội dung: Triết học Hy Lạp với hơn 1000 năm tồn tại với những nội dung phong phú, đa dạng, bao trùm mọi lĩnh vực tri thức của con người, đã để lại những dấu ấn đậm nét trên con đường phát triển của triết học phương Tây, tạo nên những giá trị tinh thần to lớn, làm phong phú thêm kho báu tư tưởng nhân loại.Các hệ thống triết học Hy Lạp cổ đại nói chung đều có xu hướng đi sâu vào giải quyết các vấn đề của bản thể luận của triết học, bên cạnh đó những tư tưởng biện chứng với tư cách những tư tưởng triết học về sự phát triển mà điển hình là những tư tưởng của Hêraclit đã trở thành nét khác biệt giữa triết học Hy Lạp với nền triết học phương Đông cổ đại.
Trang 1BẢN THỂ LUẬN TRONG TRIẾT HỌC HY LẠP CỔ ĐẠI
MỤC LỤC
MỞ ĐẦU
NỘI DUNG
CHƯƠNG I HOÀN CẢNH RA ĐỜI VÀ NHỮNG ĐẶC ĐIỂM
CỦA TRIẾT HỌC HY LẠP CỔ ĐẠI
1.1 Điều kiện kinh tế - xã hội, văn hóa
1.2 Đặc điểm triết học Hy Lạp cổ đại
CHƯƠNG II NỘI DUNG BẢN THỂ LUẬN TRONG TRIẾT HỌC HY LẠP CỔ ĐẠI
2.1 Trường phái Milet và phương án “nhất nguyên” trong chủ nghĩa duy vật Hy Lạp cổ đại
2.2 Trường phái, hay liên minh Pythagore ………
2.3 Từ bản thể luận đến vấn đề bản tính của thế giới Phép biện chứng như một trong những đặc trưng của Triết học Hy Lạp cổ đại
2.4 Bản thể luận từ cách nhìn mới
KẾT LUẬN
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
Trang 2MỞ ĐẦU
Vào khoảng cuối thế kỷ thứ VII – đầu thế kỷ thứ VI TCN, các thị quốc bước vào thời kỳ phát triển khá thịnh vượng Sự phân công lao động lần thứ hai (tách nghề thủ công ra khỏi nghề nông) và xuất hiện đồng tiền kim khí đã tạo nên những khởi sắc trong các lĩnh vực đời sống xã hội, đặc biệt là sự hình thành các nhóm người sống bằng lao động trí óc, biết tích hợp những tinh hoa văn hoá, khoa học vào trong những cách ngôn, những tản văn có giá trị nhận thức cao
“Bảy nhà thông thái” được lịch sử biết đến như những người mở đường cho một nền triết học thực sự Trong số họ nổi bật Talet, người mà Aristote gọi
là nhà triết học đầu tiên của Hy Lạp cổ đại Với Talet triết học đã ra đời, thay thế thần thoại và tôn giáo nguyên thuỷ, đồng thời thâu tóm các tri thức khoa học vào trong một hệ thống mang tính khái quát cao Triết học ra đời như sự giải quyết mâu thuẫn giữa bức tranh thần thoại về thế giới, được xây dựng trên tưởng tượng, với nhận thức và tư duy mới, như sự phổ biến tư duy từ diện hẹp ra diện rộng, từ tản mạn đến hệ thống Quá trình hình thành, phát triển và sự suy vong của chế độ chiếm hữu nô lệ ở Hy Lạp đã được phản ánh sinh động trong các sáng tác văn chương, nghệ thuật, triết học Sự phân kỳ triết học Hy Lạp có cách căn cứ trên sự phát triển nội tại của triết học, hoặc căn cứ trên những thời kỳ lịch
sử, gắn với sự tồn vong của xã hội chiếm hữu nô lệ; mỗi cách đều có cơ sở hợp
lý nhất định
Có thể nói, Triết học Hy Lạp cổ đại là giai đoạn khởi đầu của Triết học nhân loại và là tiền đề cho toàn bộ hệ thống triết học phương Tây sau này Do vậy, việc nghiên cứu đề tài nhằm tìm hiểu kho tàng lịch sử Triết học, kế thừa và phát huy những giá trị tốt đẹp của Triết học Hy Lạp cổ đại
Bản thể luận là một trong những nội dung cơ bản của triết học luôn được các nhà triết học đề cập đến bất luận theo quan điểm, trường phái nào Những quan niệm về bản thể luận có thể rất khác nhau, nhưng tựu chung lại theo cách này hay cách khác, ở trình độ lý luận hay chỉ là những quan niệm rời rạc thì đều
Trang 3nhằm tới việc lý giải cho sự tồn tại hiện thực trên lát cắt cội nguồn, khởi nguyên của nó
Trong khuôn khổ tiểu luận này, tác giả sẽ làm rõ nội hàm của khái niệm
“bản thể luận” và dùng cách tiếp cận bản thể luận để nhìn nhận về Triết học Hy Lạp cổ đại Đây một trong những cách tiếp cận có tính gợi mở cao, cho phép nhìn nhận tiến trình phát triển của lịch sử triết học từ một góc độ khác và là cách tiếp cận hữu dụng trong việc nghiên cứu lịch sử triết học
Trang 4I HOÀN CẢNH RA ĐỜI VÀ NHỮNG ĐẶC ĐIỂM CỦA TRIẾT HỌC HY LẠP CỔ ĐẠI
1.1 Điều kiện kinh tế - xã hội, văn hóa
Hy Lạp cổ đại khác với Hy Lạo ngày nay về địa lý, nó bao gồm một vùng đất đai rộng lớn: miền Nam bán đảo Bancăng thuộc Châu Âu, nhiều hoàn đảo ở biển Êgiê và ven biển của bán đảo Tiểu Á Điều kiện địa lý như vậy thuận lợi cho người Hy LẠp cổ phát triển rất sớm về kinh tế - xã hội
Triết học Hy Lạp hình thành vào khoảng thế kỷ thứ VI trước công nguyên trên cơ sở kinh tế là quyền sở hữu của chủ nô đối với tư liệu sản xuất và người
nô lệ Xã hội có sự phân chia giai cấp, có sự phân công lao động trí óc và lao động chân tay Điều này dẫn đến sự hình thành một bộ phận các tri thức triết học
và khoa học, phá vỡ ý thức thần thoại và tôn giáo nguyên thủy Mặt khác, chính lối tư duy có hai bản, lớp lang được thể hiện trong thần thoại Hy Lạo là một trong những yếu tố quan trọng cho việc hình thành triết học tại nơi đây
Những nhu cầu thực tiễn của nền sản xuất thủ công nghiệp, nông nghiệp, thương nghiệp, hàng hải đã quyết định sự hình thành và phát triển những trí thức
về khoa học, thiên văn và toán học, khí tượng, vật lý Do thời kỳ này khoa học chưa phân ngành cho nên các tri thức khoa học trên được trình bày trong các hệ thống triết học Điều đó làm cho triết học Hy Lạp cổ đại gắn liền với thực tiễn
và khoa học
1.2 Đặc điểm triết học Hy Lạp cổ đại
Ngay từ khi ra đời triết học Hy Lạp cổ đại ngay từ khi ra đời đã là thế giới quan, ý thức hệ của giai cấp thống trị trong xã hội là giai cấp chủ nô
Triết học Hy Lạp cổ đại hòa quyện với khoa học, nhiều nhà triết học đồng thời là các nhà khoa học, bởi khi đó khoa học chưa phân ngành; các khái quát triết học thường tập trung hướng về các vấn đề tự nhiên Chính vì vậy, sau này
có quan niệm cho rằng, triết học là “khoa học của mọi khoa học”
Triết học Hy Lạp cổ đại ngay từ khi ra đời đề cập tới rất nhiều vấn đề khác nhau về thế giới quan của Hy Lạp cổ đại những trước tập trung vào các vấn đề: tồn tại là gì” nguồn gốc của thế giới là gì? và những vấn đề đó luôn
Trang 5được giải quyết theo hai quan điểm hoặc là duy tâm hoặc là duy vật Triết học
Hy Lạp cổ đại ngay từ khi ra đời cũng như quá trình phát triển của nó chứa đựng mầm móng rất nhiều thế giới quan sau này, còn mang tính trực quan, mộc mạc, chất phát
Ngay từ khi ra đời, triết học Hy Lạp cổ đại đã đề cập nhiều tới vấn đề con người Con người theo họ là sản phẩm cao quý của tạo hóa, có khả năng chinh phục tự nhiên để phục vụ cho mình; đã có tư tưởng biện chứng mà đỉnh cao là tư tưởng của Hê-ra-clit đây là một thành tựu quan trọng của triết học
Hy Lạp cổ đại
II NỘI DUNG BẢN THỂ LUẬN TRONG TRIẾT HỌC HY LẠP CỔ ĐẠI
Triết học Hy Lạp ngay từ khi mới ra đời đã quan tâm đến những vấn đề bản thể luận về thế giới Câu hỏi “thế giới bắt đầu từ đâu và quay về đâu?” trở thành điểm xuất phát cho các cuộc tranh luận, nhưng ngay vì hướng đến thần linh như trước đây đã nỗ lực truy tìm “nguyên nhân cuối cùng”, bản nguyên của vạn vật ngay trong long vạn vật Bản nguyên không chỉ đơn giản là một thứ vật chất như cách hiểu của vật lý học hay hóa học hiện đại, mà là một cái gì đó làm
cơ sở cho sự xuất hiện giới tự nhiên và sự sống Một khuynh hướng nghiên cứu mới, nghiêm túc đã mở ra – dung lý trí xét đoán mọi thứ Khuynh hướng ấy xuất phát từ xứ Ionie, nơi khai sinh ra nhiều trường phái triết học tiêu biểu của Hy Lạp cổ đại
2.1 Trường phái Milet và phương án “nhất nguyên” trong chủ nghĩa duy vật Hy Lạp cổ đại.
Các nhà triết học Milet là những nhà nhất nguyên, vì họ xem một hành chất nào đó là bản nguyên của thế giới, cái vừa mang tính vật thể, vừa mang tính trí tuệ, vừa thể hiện sức mạnh huyền bí, siêu phàm
Người sáng lập trường phái Milet là nhà toán học, nhà thiên văn, nhà triết học đầu tiên của Hy Lạp cổ đại Tales (khoảng 624 – 547 TCN) Ông có lẽ là đại biểu đầu tiên của thuyết địa tâm, vì lấy trái đất làm hệ quy chiếu để xắp sếp trật
tự Đại Thiên cầu thành ba dòng cách biệt; các vì tinh tú, cách Mặt trăng, Mặt trời, Mặt trời có kích thước lớn hơn hai mươi lần so với Mặt trăng và thực hiện
Trang 6những chu kỳ hành động quanh các hành tinh bất động hết 365 ngày Những giả thuyết của ông về thủy triều thuyết phân hạ chỉ tỏ ra ngây thơ xét từ quan điểm hiện đại song đối với người xưa là một sự ngạc nhiên thú vị
Tales thuộc về thế hệ các nhà triết học đầu tiên xem xét khởi nguyên sự vật ở dạng hành chất, theo ông mọi cái đang tồn tại đều xuất phát từ một chất ẩm ướt ban đầu – nước Tất cả chỉ là biến thái của nước Theo Aristote, Tales đến với lý tưởng này có lẽ do ông thấy mọi đồ ăn đều ở dạng ẩm Nhiệt, cái mà nhờ
đó các sinh thể mới tồn tại, cũng xuất hiện từ vật chất ẩm Cái gì mà từ đó một cái gì khác xuất hiện là khởi nguyên của tất cả Cây cối không có nước thì úa tàn, con người không có nước thì chết, mặt trời và các vì sao cần sự bốc hơi nước làm thức ăn Nước là khởi nguyên của sự ẩm, còn sự ẩm thì hiện diện ở tất
cả các mầm sống Do đó, nước bao trùm tất cả, chở che cho tất cả, đảm bảo sự sinh thành, biến hóa, làm cho muôn vật phì nhiêu Nước – bản chất đơn giản của
sự vật, đồng thời là cội nguồn của sự sống
Chính những quan sát trực tiếp và sự xét đoán bằng lý trí đã đưa Tales đến những nhận định có tính khái quát cao về nước Tính khái quát thể hiện ở chỗ, một là, lần đầu tiên nước được hiểu như cái tuyệt đối, cái phổ biến đơn giản, tức được nâng lên thành một khái niệm, hai là, Tales chú trọng đến khởi nguyên vật chất, chứ không phải khởi nguyên tinh thần Có thể liên tưởng nước của Tales với Hỗn mang của Hésiode, nhưng ở Tales nước trước hết là sức mạnh vật lý
Tales đã tiến gần đến khái niệm bản nguyên, cố gắng trình bày dưới hình thức ấu trĩ tính thực thể của nước (nước lưu chảy ở mọi vật, còn ở nó mọi vật lưu chảy) Nhưng công lao to lớn trong việc giải thích toàn bộ thực tại từ khái niệm “bản nguyên” (archè), thực thể, cơ sở tồn tại của sự vật, thuộc về Anaximandre (khoảng 610 đến 546 TCN), học trò và người kế tục Tales Bản nguyên bấy giờ không còn là nước, mà là cái có ý nghĩa phổ quát hơn Nếu các hành chất (đất, nước, lửa, khí) chuyển hoá vào nhau, thì điều này có nghĩa ở chúng có một cái gì đó chung làm nền Cái chung này không thể là những hành chất, mà là cái vô hạn, vô cùng, bất định, bất tử, cái mà nhờ đó mọi vật sinh ra – thực thể apeiron
Trang 7Không chấp nhận lối suy nghĩ có phần trừu tượng, lạ lùng của
Anaximandre, Anaximènne (588 - 525 TCN) quay trở về với phương án Thalès,
nghĩa là đồng nhất bản nguyên với những hành chất cụ thể Nhưng nước không phải là bản nguyên thế giới, mà chỉ là điều kiện sống của vạn vật Thalès đã nhầm lẫn điều kiện và bản chất, còn Anaximandre thì không chỉ ra tính quy định apeiron
Cả Tales, Anaximandre và Anaximène đều là những nhà khoa học, đúng hơn, những nhà vật lý, vì họ trú trọng tìm hiểu những vấn đề của vũ trụ, giới tự nhiên (physis theo từ nguyên Hy Lạp là tự nhiên) Bên cạnh đó, họ còn đưa triết học của mình những yếu tố của huyền học (occultisme)
2.2 Trường phái, hay liên minh Pythagore
Sau hai thế kỷ tồn tại và phát triển khá hưng thịnh, xứ Ionie bị rơi vào tay xâm lược Ba Tư Năm 496 TCN nỗ lực cuối cùng của người Ionie khôi phục lại quyền tự chủ bị đàn áp đẫm máu Milet chìm trong hoang tàn và đổ nát Thực ra ngay từ thời kì di thực vào cuối thế kỷ thứ VI TCN trung tâm triết học đã chuyển dần từ Ionie sang phía tây, sang Đại Hy Lạp, bao gồm những vùng mà người Hy Lạp chiếm ở Đại Trung Hải và biển Đen Tại đây các trường phái triết
học thay nhau ra đời, trong đó nổi lên trường phái Pythagore với chiều dài lịch
sử khá đầy đặn, từ thế kỷ thứ VI TCN đến tận ngày chấm dứt triết học cổ đại
Pythagore (570 – 496 TCN) đưa ra nhiều định lý có giá trị trong triết học,
Pythagore là nhà duy tâm tôn giáo, xây dựng những tư tưởng huyền bí về ý nghĩa cuộc sống và bản nguyên vũ trụ, mang đậm dấu ấn huyền học phương Đông Bản tính con người, theo ông, có tính chất nhị nguyên – thể xác khả tử, linh hồn bất tử Ý nghĩa cao cả của cuộc đời là xuất hồn, thanh tẩy những cái nhơ bẩn, những điều ác trong lòng, hòa mình vào linh hồn vũ trụ, tránh kiếp luân hồi Triết lý, vì vậy, là hành trình của sự giải thoát Trong tư tưởng ở Pythagore
những con số đóng vai trò chủ đạo Cái gì đo được thì tồn tại, cái gì tồn tại thì
đo được, vì thế chính những con số định hình nên thế giới, diễn đạt sự vật, thậm
chí là bản chất và chuẩn mực của chúng Triết lý là nhận thức quy luật vận động của vũ trụ thông qua những con số
Trang 8Nếu Pythagore là người tiên phong của thuyết địa tâm, thì Philolais theo hướng ngược lại, song chưa phải là người tiên phong của thuyết nhật tâm, vì Mặt trời đối với ông chỉ là khối tinh thể lạnh, phản chiếu ánh sáng từ nơi khác,
từ Vòm lửa thiêng liêng
Philolais đã biến sự thanh tẩy có tính nghi lễ của phái Orpée thành sự sung bái lý trí Hơn nữa sự phân tích thế giới bao quanh ta không như hỗn nguyên, mà như Kosmos, như Vũ trụ, đã giúp ông “thế tục hóa” luật Hòa điệu linh thiêng của trường phái Pythagore
Archyte thuộc nhóm “bác học” – nhóm cấp tiến của trường phái
Pythagore Ở Archyte tinh thần khoa học chẳng những vượt qua tôn giáo, mà còn chiếm ưu thế trước triết học Triết học Archyte nghiêng về xu hướng duy lý hóa nhận thức, trong vũ trụ luận vắng dần hình ảnh các vị thần, thay bằng những xét đoán kết hợp trực quan và khả năng trí tuệ Archyte hỏi: “Đằng sau những tinh tú mà ta nhìn thấy là cái gì?”, rồi tự trả lời: “là cái chưa nhìn thấy” Vũ trụ
vô hạn, cũng tựa như sự vô hạn của đường chân trời Theo nghĩa đó Archyte là người đã viết lên những trang mới cho trường phái Pythagore Trung kỳ
2.3 Từ bản thể luận đến vấn đề bản tính của thế giới Phép biện chứng như một trong những đặc trưng của Triết học Hy Lạp cổ đại.
2.3.1 Héraclite (544 – 438 TCN) – “ông tổ” của phép biện chứng
Héraclite sinh ra tại thành phố Ephèse – một trung tâm triết học lớn sau Milet Ông được coi là nhà triết học yếm thế, cô đơn, nhà tư tưởng huyền bí, có những quan điểm khác lạ, thậm chí lập dị so với thời đại, nhưng đời sau nhắc đến ông như nhà duy vật chất phác và nhà biện chứng Là nhà duy vật, ông xem lửa là bản nguyên thế giới; là nhà biện chứng, ông chủ trương “mọi sự vật đều biến đổi”
Các nhà triết học thời sơ khai truy tìm bản nguyên vũ trụ qua những hành chất, hoặc cố gắng vượt lên chúng để đến gần với khái niệm thực thể, xác định
một chu trình có tính chất lặp lại ở muôn vật, muôn loài Truyền thống đó tiếp
tục được Héraclite phát triển Đối với Héraclite thời gian chín là sinh thành, biến
Trang 9hoá, nảy nở và diệt vong Thời gian cũng là yếu tố thúc đẩy con người suy nghĩ
về sự hợp nhất tồn tại và hư vô
Lửa, theo Héraclite, là cơ sở của thực tại, là cái mà từ đó, mọi thứ sinh ra
và trở về Mọi thứ, kể cả linh hồn, đều là biến thái của lửa
Hư vô chỉ là “cái khác” của tồn tại, tính chủ quan là “cái khác” của tính khách quan, mọi thứ đều hợp nhất, và mọi hợp nhất đều phân đôi, tồn tại và hư
vô chỉ là một Vũ trụ vừa thống nhất, vừa đa dạng, trong đó sự tác động qua lại
và chuyển hóa của các mặt đối lập làm nên bản chất của sinh thành và phát triển Đấu tranh là tính quy luật cơ bản của tự nhiên và xã hội loài người, là “cha của tất cả”, “ông hoàng của tất cả” Trong đấu tranh cái mới xuất hiện, tạo nên sự thống nhất mới, quá trình cao chuyển hóa không bao giờ ngừng “Những cái bất
tử mà chết, những cái đã chết hóa thành bất tử, cuộc sống của những cái này là
sự chết của những cái khác, và sự chết của những cái này là cuộc sống của những cái khác…lửa sống bằng cái chết của đất, khí sống bằng cái chết của lửa, nước sống bằng cái chết của khí, đất – (bằng cái chết) của nước” Quy luật thứ
ba, xuất phát từ quy luật thứ nhất và quy luật thứ hai, có thể gọi là quy luật tương quan khác nhau “biểu lộ” ra một cách khác nhau trước chủ thể Héraclite đưa ra hàng loạt dẫn chứng để làm sáng tỏ luận điểm này, chẳng hạn mật ngọt đối với người bình thường, nhưng đắng đối với người bệnh; nước biển đối với một số sinh thể là môi trường sống, nhưng đối với một số khác lại tỏ ra độc hại; vàng là của quý đối với người, nhưng vô giá đối với loài vật; con khỉ đẹp nhất trong loài khỉ cũng không thể so sánh với con người; những người toàn năng nhất cũng không thể so sánh với các vị thần Héraclite đưa ra ý tưởng này nhằm
nhấn mạnh sự đồng nhất cụ thể, hoặc tính tương đối của thực thể, và điều này
thật “táo bạo” khác thường” Cách nhìn khác thường về vũ trụ theo tinh thần
“mọi thứ đều chảy” và “tất cả có và không có” là sự thách đố đối với ý thức thống trị đương thời Nietzsche đánh giá phép biện chứng của Héraclite là “ý tưởng tuyệt vời, xuất phát từ tận suối nguồn thanh khiết nhất của chủ nghĩa Hy Lạp”
2.3.2 Phép “biện chứng phủ định” của trường phái Elée
Trang 10Trường phái Elée ( lấy tên một đô thị ven biển miền nam nước Ý nơi sinh
ra trường phái) về căn bản đối lập với Héraclite trong cách giải thích thế giới vì chủ trương vạn vật bất biến không sinh thành không diệt vong Đại biểu đầu tiên
của trường phái Elée là Xénophane ( khoảng 570-478 TCN), người phác thảo
những đường nét ban sơ của nguyên lý đồng nhất ( vạn vật đồng nhất thể) nhưng
Parménide ( 540 – 470 TCN ) mới đem đến cho trường phái diện mão rõ ràng
thật sự
Vấn đề lớn trong triết học Parménide là quan hệ giữa tồn tại và hư vô, tồn tại và tư duy, vận động và đứng im Tư tưởng triết học chủ yếu của Parménide gồm ba luận điểm :
a) Thế giới không khác nào một quả cầu vật chất đóng chặt, nén đầy , không còn chỗ trống Không thể có vận động, bởi lẽ không gian đã được phân định, mỗi sự vật chiếm một vị trí tương ứng Cách hiểu như vậy nhằm vào hai mục tiêu: xem vận động, biến đổi là dòng hư ảo vô cùng, đồng thời bác bỏ khái niệm không gian rỗng thuần tuý
b) Cái gì ta tư duy được, diễn đạt được bằng ngôn ngữ, thì mới tồn tại Theo nghĩa đó tồn tại là tư duy đồng nhất với nhau, vừa như quá trình, vừa như kết quả Tư duy là tư duy chỉ khi nào có tính vật thể, và vật thể là vật thể hiện hữu chỉ khi nào ta tư duy được với tính là nó có như một hiện thể đặc trưng Như vậy vần xác định: tồn tại là tư duy là một, mọi ý tưởng luôn luôn là ý tưởng
về cái-đang-tồn-tại; tồn tại là suy nhất, toàn vẹn; nó không lớn hơn, không bé hơn; cái-không-tồn-tại không thể được tư duy như cái-đang-tồn-tại (không tồn tại cái không tồn tại); cái-không-tồn-tại không thể nhận biết , không thể diễn đạt,
nói cách khác, cái gì không có thì vô danh, vô định, vô nghĩa Tồn tại có, hư vô không
c) Không có vận động không có chuyển hoá nghĩa là không có sự sinh thành, xuất hiện và diệt vong, bởi lẽ chúng giả định khả năng của cái không tồn tại (từ không đến có, từ hư vô đến tồn tại)
Parménide đã nêu ra ba đặc tính của tồn tại: tồn tại, thống nhất, đầy đủ; không sinh không diệt; bất biến bất phân