1.ĐẶT VẤN ĐỀ Biến đổi khí hậu Trái Đất là sự thay đổi của hệ thống khí hậu gồm khí quyển, thủy quyển, sinh quyển, thạch quyển, băng quyển hiện tại và trong tương lai bởi các nguyên nhân
Trang 11
TRƯỜNG ĐẠI HỌC TÀI NGUYÊN VÀ MÔI TRƯỜNG HÀ NỘI
KHOA MÔI TRƯỜNG
KỲ THI KẾT THÚC HỌC PHẦN HỌC KỲ II NĂM HỌC 2021
Đề tài bài tập lớn: Nghiên cứu tác động của biến đổi khí hậu đến lĩnh vực công
nghiệp-xây dựng và đề xuất các giải pháp ứng phó với biến đổi khí hậu tại địa phương
anh/chị đang sinh sống
Họ và tên học viên/sinh viên: Dương Vũ Thu Giang
Mã học viên/sinh viên: 20111103913
Lớp : ĐH10QM3
Tên học phần: Biến đổi khí hậu
Giáo viên hướng dẫn :Trần Quốc Cường
Trang 21.ĐẶT VẤN ĐỀ
Biến đổi khí hậu Trái Đất là sự thay đổi của hệ thống khí hậu gồm khí
quyển, thủy quyển, sinh quyển, thạch quyển, băng quyển hiện tại và trong tương lai bởi các nguyên nhân tự nhiên và nhân tạo trong một giai đoạn nhất định tính bằng thập kỷ hay hàng triệu năm Sự biển đổi có thể là thay đổi thời tiết bình quân hay thay đổi sự phân bố các sự kiện thời tiết quanh một mức trung bình Sự biến đổi khí hậu có thế giới hạn trong một vùng nhất định hay có thể xuất hiện trên toàn Địa Cầu Trong những năm gần đây, đặc biệt trong ngữ cảnh chính sách môi trường, biến đổi khí hậu thường đề cập tới sự thay đổi khí hậu hiện nay, được gọi chung bằng hiện tượng nóng lên toàn cầu Nguyên nhân chính làm biến đổi khí hậu Trái Đất là do sự gia tăng các hoạt động tạo ra các chất thải khí nhà kính, các hoạt động khai thác quá mức các bể hấp thụ và bể chứa khí nhà kính như sinh khối, rừng, các hệ sinh thái biển, ven bờ và đất liền khác
Nguyên nhân:Những nhân tố có thể làm cho sự biến đổi khí hậu xuất hiện là
thay đổi bức xạ khí quyển, bao gồm các quá trình như biến đổi bức xạ mặt
trời, độ lệch quỹ đạo của Trái Đất, quá trình kiến tạo núi, kiến tạo trôi dạt lục địa và sự thay đổi nồng độ khí nhà kính Nhiều phản ứng khác nhau của môi trường về biến đổi khí hậu có thể tăng cường hoặc giảm bớt các biến đổi ban đầu Một số thành phần của hệ thống khí hậu, chẳng hạn như các đại dương và chỏm băng, phản ứng chậm với biến đổi bức xạ mặt trời vì khối lượng lớn Do
đó, hệ thống khí hậu có thể mất hàng thế kỷ hoặc lâu hơn để phản ứng hoàn toàn với những biến đổi từ bên ngoài
Tác động của con người:Trong hoàn cảnh biến đổi khí hậu, các yếu tố nhân
sinh cũng ảnh hưởng đến khí hậu Quan điểm khoa học về biến đổi khí hậu được nhiều người đồng ý là "khí hậu đang thay đổi và những thay đổi này một phần lớn do tác động của con người." [16] Việc chạy đua các phát triển công nghệ, con người đã biến hệ sinh thái thích nghi vốn có, thành một thế giới mà hệ sinh thái động vật và thực vật dần dần thu hẹp Một số loài đã hoàn toàn biến mất, và một
số có nguy cơ tuyệt chủng, sông ngòi bị ngăn đập Rác và chất thải nhựa do con người thải ra cũng góp phần ô nhiễm, và khí thải từ các lò phản ứng hạt nhân
Do đó, các cuộc thảo luận đang hướng vào 2 cách, một là giảm tác động của con người và tìm cách thích nghi với sự biến đổi đã từng xảy ra trong quá khứ[17] và được dự kiến xảy ra trong tương lai.[18]
Vấn đề được quan tâm nhất trong yếu tố nhân sinh là việc tăng thêm lượng khí
CO2 do đốt nhiên liệu hóa thạch, tạo thành các sol khí tồn tại trong khí quyển và sản xuất xi măng Các yếu tố khác như sử dụng đất, sự suy giảm ôzôn[19] và phá rừng, cũng góp phần quan trọng làm ảnh hưởng đến khí hậu, vi khí hậu
Trang 3MỤC LỤC
Đặt vấn đề 2
Nội dung bài tập
Chương I:TỔNG QUAN VỀ BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU
1.1.Một số khái niệm 4
1.2.Một số biểu hiện của biến đổi khí hậu 4,5
Chương II:TÁC ĐỘNG CỦA BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU ĐẾN LĨNH VỰC CÔNG NGHIỆP-XÂY DỰNG
2.1 Tác động của biến đổi khí hậu đến lĩnh vực công nghiệp-xây dựng 5
2.2.Giải pháp 6
Chương III: GIẢI PHÁP ỨNG PHÓ VỚI BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU Ở ĐỊA
PHƯƠNG (NGHỆ AN)
3.1. Đánh giá tình trạng dễ bị tổn thương của một số lĩnh vực kinh tế 6,7,8 3.2 Đánh giá tác động của BĐKH đến một số hoạt động ven biển Nghệ An 8,9 Kết luận 10
Tài liệu tham khảo 11
Trang 4CHƯƠNG I: TỔNG QUAN VỀ BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU
1.Khái niệm biến đổi khí hậu
Biến đổi khí hậu Trái Đất là sự thay đổi của hệ thống khí hậu gồm khí quyển, thủy quyển, sinh quyển, thạch quyển, băng quyển hiện tại và trong tương lai bởi các nguyên nhân tự nhiên và nhân tạo trong một giai đoạn nhất định tính bằng thập kỷ hay hàng triệu năm Sự biển đổi có thể là thay đổi thời tiết bình quân hay thay đổi sự phân bố các sự kiện thời tiết quanh một mức trung bình Sự biến đổi khí hậu có thế giới hạn trong một vùng nhất định hay có thể xuất hiện trên toàn Địa Cầu Trong những năm gần đây, đặc biệt trong ngữ cảnh chính sách môi trường, biến đổi khí hậu thường đề cập tới sự thay đổi khí hậu hiện nay, được gọi chung bằng hiện tượng nóng lên toàn cầu Nguyên nhân chính làm biến đổi khí hậu Trái Đất là do sự gia tăng các hoạt động tạo ra các chất thải khí nhà kính, các hoạt động khai thác quá mức các bể hấp thụ và bể chứa khí nhà kính như sinh khối, rừng, các hệ sinh thái biển, ven bờ và đất liền khác
1.2 Một số biểu hiện của biến đổi khí hậu:
- Biến đổi của nhiệt độ Trong thể kỷ 20, trên khắp các châu lục và đại dương nhiệt độ
có xu thế tăng lên rõ rệt Độ lệch tiêu chuẩn của nhiệt độ trung bình toàn cầu là
0,24°C, sai khác lớn nhất giữa hai năm liên tiếp là 0,29°C (giữa năm 1976 và năm 1977), tốc độ của xu thế biến đổi nhiệt độ cả thế kỷ là 0,75°C, nhanh hơn bất kỳ thế kỷ nào trong lịch sử, kể từ thế kỷ 11 đến nay Vào 5 thập kỷ gần đây 1956 - 2005, nhiệt
độ tăng 0,64°C ± 0,13°C, gấp đôi thế kỷ 20 Rõ ràng là xu thế biển đổi nhiệt độ ngày càng nhanh hơn Giai đoạn 1995 2006 có 11 năm (trừ 1996) được xếp vào danh sách
12 năm nhiệt độ cao nhất trong lịch sử quan trắc nhiệt đo kê từ 1850, trong đó nóng nhất là năm 1998 và năm 2005 Riêng 5 năm 2001 – 2005 có nhiệt độ trung bình cao hơn 0,44°C so với chuẩn trung binh của thời kỳ 1961 1990.Lang lưu ý là, mức tăng nhiệt độ của Bắc cực gấp đôi mức tăng nhiệt độ trung bình toàn cầu Nhiệt độ cực trị cùng có xu thê phù hợp với nhiệt độ trung bình, kết quả là giảm số đêm lạnh và tăng số ngày nóng và biên độ nhiệt độ ngày giảm đi chừng 0,07°C mỗi thập kỷ
-Biến đổi của lượng mưa
Trong thời kỳ 1901 2005 xu thế biến đổi của lượng mưa rất khác nhau giữa các khu vực và giữa các tiểu khu vực trên từng khu vực và giữa các thời đoạn khác nhau trên từng tiêu khu vực Ở Bắc Mỹ, lượng mưa tăng lên ở nhiều nơi, nhất là ở Bắc Canađa nhưng lại giảm đi ở Tây Nam nước Mỹ, Đông Bắc Mexico và bán đảo Bafa với tốc độ giảm chừng 2% mỗi thập kỷ, gây ra hạn hán trong nhiều năm gần đây Ở Nam Mỹ, lượng muưa lại tăng lên trên lưu vực Amazon và vùng bờ biển Đông Nam nhưng lại giảm đi ở Chile và vùng bờ biển phía Tây Ở Châu Phi, lượng mưa giảm ở Nam Phi, đặc biệt là ở Sahen trong thời đoạn 1960-1980 Ở khu vực nhiệt đới, lượng mưa giảm
đi ở Nam Á và Tây Phi với trị số xu thế là 7,5% cho cả thời kỳ 1901 – 2005 Khu vực
có tính địa phương rõ rệt nhất trong xu thế biên đôi lượng mưa là Australia do tác động to lớn của ENSO Ở đới vĩ độ trung binh và vĩ độ cao, lượng mưa tăng lên rõ rệt
ở miền Trung Bắc Mỹ, Đông Bắc Mỹ, Bắc Au, Bắc Á và Trung Á Trên phạm vi toàn cầu lượng mưa tăng lên ở các đới phia Bac vĩ độ 30ºN thời kỳ 1901-2005 và giảm đi ở các vĩ độ nhiệt đới, kế từ thập kỷ 1990 Tần số mưa lớn tăng lên trên nhiều khu vực, kê
cả những nơi lượng mưa có xu thế giảm
-Hạn hán và dòng chảy
Trang 5Ở bán cầu Bắc, xu thế hạn hán phổ biến từ giữa thập kỷ 1950 trên phần lớn vùng Bắc Phi, đặc biệt là Sahel, Canađa và Alaska Ở bán cầu Nam, hạn rõ rêt trong những năm
từ 1974 đến 1998 Ở miền Tây nước Mỹ, mặc dù lượng mưa có xu thế tăng lên trong nhiều thập kỷ gần đây nhưng hạn nặng xảy ra từ năm 1999 đến cuối năm 2004 Dòng chảy của hầu hết sông trên thế giới đều có những biến đổi sâu sắc từ thập kỷ này sang thập kỷ khác và giữa các năm trong từng thập kỷ Dòng chảy tăng lên trên nhiều lưu vực sông thuộc Mỹ song lại giảm đi ở nhiêu lưu vực sông thuộc Canađa trong 30 – 50 năm gần đây Trên lưu vực sông Lena ở Xibiri cũng có sự gia tăng dòng chảy đồng thời với nhiệt độ tăng lên và lớp băng phủ giảm đi Ở lưu vực Hoàng Hà, dòng chảy giảm đi rõ ret trong những nām cuối thế kỳ 20 do lượng nước tiêu thụ tăng lên, nhiệt
độ và lượng bốc hơi tăng lên trong khi lượng mưa không có xu thể tăng hay giảm Ở Châu Phi dòng chảy các sông ở Niger, Senegal và Dambia đều sa sút
- Biến đổi của xoáy thuận nhiệt đới (XTNĐ) Trên phạm vi toàn cầu, biến đổi của XTNĐ chịu sự chi phối của nhiệt độ nước biển, của hoạt động ENSO và sự thay đổi quỹ đạo của chính XTNĐ Ở Đại Tây Dương, từ thập kỷ 1970, có sự gia tăng về cường độ và cả thời gian tồn tại của các XTNĐ, liên quan tới sự tăng nhiệt độ nước biển ở vùng biển nhiệt đới Ngay cả những nơi có tần số giảm và thời gian tồn tại ít đi thì cường độ XTNĐ vẫn có xu thế tăng lên Xu thể tăng cường hoạt động của XTNĐ
rõ rệt nhất ở Bắc Thái Bình Dương, Tây Nam Thái Bình Dương và An Độ Dương - Biến đổi nhiệt độ ở các vùng cực và băng quyền Trong thể kỷ 20 cùng với sự tăng lên của nhiệt độ mặt đất có sự suy giảm khối lượng băng trên phạm vi toàn cầu Các quan trắc từ năm 1978 đến nay cho kết quả là lượng bảng trung bìinh hàng năm ở Bắc Bằng Dương giảm 2,7 (2,1- 3,3)% mỗi thập kỷ Băng trên các vùng núi cả hai bản cầu cùng tan đi với khối lượng đáng kể Ở bán cầu Bắc, phạm vi băng phủ giảm đi khoảng 7%
so với năm 1900 và nhiệt độ trên đinh lớp bằng vĩnh cửu tăng lên 3°C so với năm
1982
CHƯƠNG II.TÁC ĐÔNG CỦA BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU ĐẾN LĨNH VỰC CÔNG NGHIỆP-XÂY DỰNG CỦA VIỆT NAM
2.1.Hiện trạng lĩnh vực công nghiệp-xây dựng của Việt Nam
* Tác động của biến đổi khí hậu đến ngành công nghiệp
Các ngành công nghiệp, đặc biệt là khu công nghiệp ven biển, sẽ bị ảnh hưởng nặng nề bởi biến đổi khí hậu:
Nước biển dâng khoảng 1m vào cuối thế kỷ 21 sẽ làm cho hầu hết các khu công nghiệp bị ngập, thấp nhất là trên 10% diện tích, cao nhất là khoảng 67% diện tích
Nguồn nguyên liệu cho công nghiệp, đặc biệt là nguyên liệu cho công nghiệp chế biến lương thực thực phẩm, dệt, may mặc sẽ bị suy giảm đáng kể vì không được tiếp ứng từ các vùng nguyên liệu ở các tỉnh vùng đồng bằng sông Cửu Long vốn bị ngập lụt nặng nề nhất ở Việt Nam Điều này càng gây sức ép đến việc chuyển dịch cơ cấu các ngành công nghiệp về loại hình công nghiệp, tỷ lệ công nghiệp chế biến, công nghệ cao
Nhiệt độ tăng làm tăng tiêu thụ năng lượng trong các ngành công nghiệp: tăng chi phí thông gió, làm mát hầm lò khai thác và làm giảm hiệu suất, sản lượng của các nhà máy điện Tiêu thụ điện cho sinh hoạt gia tăng và chi phí làm mát trong các ngành công nghiệp thương mại cũng gia tăng đáng kể khi nhiệt độ có xu hướng ngày càng tăng
Mưa bão thất thường và nước biển dâng sẽ tác động tiêu cực đến quá trình vận
Trang 6hành, khai thác hệ thống truyền tải và phân phối điện, dàn khoan, đường ống dẫn dầu
và khí vào đất liền, cấp dầu vào tàu chuyên chở dầu; làm gia tăng chi phí bảo dưỡng và sửa chữa các công trình năng lượng; ảnh hưởng tới việc cung cấp, tiêu thụ năng lượng,
an ninh năng lượng quốc gia
2.2.Giải pháp khắc phục
-Những nguyên liệu từ hóa thạch cần được hạn chế sử dụng tối đa: nhiên liệu hóa thạch thường chứa các chất cacbon và hydro cacbon cao, đặc biệt là các chất dễ bay hơi không tốt cho khí quyển Đốt nguyên liệu hóa thạch tạo ra carbon dioxit – một trong những khí nhà kính làm gia tăng lượng phóng xạ và khiến cho toàn cầu nóng lên Hiện nay thế giới đang hướng tới việc sử dụng nguồn tài nguyên để thay thế nhiên liệu này và đồng thời giúp giải quyết các vấn đề sản sinh nhu cầu năng lượng -Cải tạo và nâng cấp hạ tầng: các giải pháp cải tạo không gian kiến tạo cần nâng cấp cơ sở hạ tầng, qua đó việc cải tạo hạ tầng đô thị cũng như quy trình sản xuất cũng là cách để làm giảm thiểu tình trạng ô nhiễm Cần có một nguồn nguyên liệu bền vững và thân thiện với môi trường hơn để sử dụng thay cho khí thải xăng dầu
từ các phương tiện công cộng gây ô nhiễm môi trường
CHƯƠNG III GIẢI PHÁP ỨNG PHÓ VỚI BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU Ở ĐỊA PHƯƠNG (NGHỆ AN)
3.1. Đánh giá tình trạng dễ bị tổn thương của một số lĩnh vực kinh tế
-Dải ven biển là nơi sinh sống của rất nhiều người dân nông thôn nghèo, phụ nữ, trẻ
em và người già đặc biệt dễ bị tổn thương trước ngập lụt và hạn hán Biến đổi khí hậu theo chiều hướng tăng dần lại là nguyên nhân chính khiến cho tình trạng này ngày càng trở nên khắc nghiệt
- Trên thực tế, biến đổi khí hậu đã và đang có những tác động nhất định trên địa bàn tỉnh Nghệ An, đặc biệt là đối với vùng ven biển - nơi nhạy cảm nhất với những thay đổi của các yếu tố bất thường của thời tiết Do ảnh hưởng của BĐKH, các tai biến thiên nhiên sẽ xảy ra thường xuyên và với cường độ lớn hơn:
-Nhiệt độ không khí trung bình năm có xu hướng tăng chậm, tuy nhiên sẽ xảy ra nhiều đợt nắng nóng và rét đậm hơn
-Tại Việt Nam, lượng mưa trên toàn lãnh thổ sẽ tăng từ 5-10% trong những thập kỷ tiếp theo Những dị thường dẫn đến lũ lụt, sạt lở đất, hạn hán, xâm nhập mặn sẽ tăng nhiều hơn
-Ảnh hưởng của bão lớn hơn Mùa bão có thể đến sớm và kết thúc muộn hơn Cường
độ bão mạnh hơn thể hiện qua tốc độ gió và lượng mưa
-Dòng chảy lũ có xu hướng tăng do cường độ mưa tăng
-Mực nước biển sẽ dâng cao từ 50-100 cm vào năm 2100 so với hiện nay
-Tăng mức độ ngập úng và lũ
-Thúc đẩy nhanh hơn quá trình xói lở bờ biển
-Nước biển lấn sâu vào vùng nước ngọt dưới đất
- Nước thủy triều xâm lấn sâu hơn vào vùng cửa sông và hệ thống sông
-Theo nghiên cứu của đề tài “Nghiên cứu ảnh hưởng của biến đối khí hậu đến các điều kiện tự nhiên, tài nguyên thiên nhiên và đề xuất các giải pháp chiến lược phòng tránh, giảm nhẹ và thích nghi, phục vụ phát triển bền vững kinh tế xã hội Việt Nam” do Viện -Khoa học khí tượng thủy văn và Môi trường thực hiện, trên cơ sở xây dựng các kịch bản biến đổi khí hậu quốc gia, căn cứ vào mức độ của xu thế biến đổi (dự kiến) của các yếu tố khí hậu (nhiệt độ, lượng mưa, chế độ dòng chảy, diện tích ngập lụt ), các
Trang 7nhà khoa học đã xây dựng bộ chỉ số tổn thương, sử dụng cho việc đánh giá mức độ tổn thương đối với các lĩnh vực kinh tế xã hội và các khu vực Theo đó, có thể đưa ra một
số kết luận có liên quan đến lĩnh vực nghiên cứu của đề tài bao gồm:
- Mức độ tổn thương của khu vực Trung Bộ: Các khu vực Trung Bộ có mức độ tổn thương không đồng đều về nhiệt độ (rất cao ở Bắc Trung Bộ nhưng khá thấp ở Nam Trung Bộ), về lượng mưa (rất cao ở Bắc Trung Bộ và khá thấp ở Nam Trung Bộ), về dòng chảy mùa cạn (tăng lên ở Bắc Trung Bộ nhưng giảm đi ở Nam Trung Bộ) và tương đối đồng đều về diện tích ngập, không nghiêm trọng như hai đồng bằng lớn nhưng vẫn rất đáng kể
- Mức độ tổn thương của một số lĩnh vực kinh tế:
+ Các sự kiện do BĐKH đều tác động tiêu cực lên các lĩnh vực thuộc nhóm nông-lâm-ngư nghiệp, đặc biệt là nông nghiệp
+ Hầu hết các sự kiện chủ yếu của BĐKH đều có tác động tiêu cực lên hoạt động của nhóm công nghiệp-năng lượng-giao thông vận tải
+ Các sự kiện do BĐKH đều có nhiều tác động tiêu cực lên một số hoạt động nhất định trong các lĩnh vực thuộc nhóm y tế-du lịch
Như vậy, đối với các hoạt động kinh tế thuộc các lĩnh vực nông nghiệp, thủy sản, lâm nghiệp tại tỉnh Nghệ An thì BĐKH đều có những tác động tiêu cực nhất định Bên cạnh đó, ở một số khía cạnh, ta cũng có thể xem xét đến khả năng tồn tại các tác động tích cực của BĐKH đến một trong những hoạt động phát triển kinh tế tại địa phương 3.2 Đánh giá tác động của BĐKH đến một số hoạt động ven biển Nghệ An
3.2.1 Tác động của BĐKH đến hoạt động sản xuất nông nghiệp vùng ven biển
*/ Tác động hiện tại của BĐKH đến nông nghiệp Tình trạng mặn hóa nước phục vụ nông nghiệp tại các khu vực ven biển: Năm 2005, tại cống Bra Nghi Quang, mức độ nhiễm mặn đo được ở trên mặt nước là 8‰ và ở dưới đáy của cống là 30%; trong khi tiêu chuẩn cho phép để tháo lấy nước phục vụ sản xuất nông nghiệp thì độ nhiễm mặn của cống phải dưới 1‰
+BĐKH gây khó khăn cho công tác thủy lợi: Hệ thống thủy lợi tại nhiều nơi bị tê liệt
do hồ đập cạn nước Đến ngày 30/6/2009 có 316 hồ trong tổng số 650 hồ ở mức nước chết, số còn lại chỉ đạt 15- 20% dung tích thiết kế Hơn 250 công trình thủy lợi cùng gần 1.500 công trình giao thông tại Nghệ An cũng bị đổ trôi trong khoảng thời gian 1971-2010
+ BĐKH gây biến đổi về tần số, cường độ, dịch bệnh gây hại cho cây trồng, vật nuôi: bệnh trên lúa lan nhanh và xuất hiện bệnh lạ
*/ Cảnh báo tác động của BĐKH đến nông nghiệp Ảnh hưởng nghiêm trọng đến đất sử dụng cho nông nghiệp: Đất nông nghiệp bị tổn thất do các tác động trực tiếp và gián tiếp khác của BĐKH như hạn hán, sụt lở, hoang mạc hóa; mất đất nông nghiệp do nước biển dâng và do di dân BĐKH gây nhiều khó khăn cho công tác thủy lợi, tăng nguồn chi phí tưới tiêu: Hạn hán dẫn đến thiếu nước tưới tiêu; nhu cầu sử dụng nước tăng cao vượt quá khả năng cung ứng nước; khả năng tiêu thoát nước giảm uy hiếp hệ thống đê bao bảo vệ; Thiên tai làm gia tăng trượt lở đất và xói mòn làm tăng lắng đọng lòng hồ dẫn tới giảm diện tích các hồ chứa BĐKH làm thay đổi năng suất và chất lượng cây trồng, vật nuôi:
-Theo nghiên cứu của các nhà khoa học cho thấy, nhiệt độ tăng thêm làm giảm năng suất cây trồng: năng suất lúa sẽ giảm 10% nếu nhiệt độ tăng thêm 1oC; năng suất cây ngô sẽ giảm từ 5-20% nếu nhiệt độ tăng 1oC và tới 60% nếu nhiệt độ tăng thêm 4oC;
Trang 8-Năng suất và sản lượng cây trồng và vật nuôi có thể bị giảm do biên độ giao động của nhiệt độ, độ ẩm và các yếu tố ngoại cảnh khác tăng lên
3.2.2 Tác động của BĐKH đến hoạt động đánh bắt, nuôi trồng thủy sản
*/ Tác động hiện tại của BĐKH đến thủy sản Do ảnh hưởng của bão, lũ nên các cửa biển không ổn định làm ảnh hưởng đến môi trường của vùng đầm phá dẫn đến suy giảm đa dạng sinh học Nhiệt độ tăng làm nguồn thủy, hải sản bị phân tán, trữ lượng các loài hải sản kinh tế bị giảm sút Lũ lụt tác động mạnh đến hệ thống ao hồ nuôi trồng thủy sản làm vỡ bờ đê, đập mùa mưa lũ năm 2011, ngành nuôi trồng thuỷ sản Nghệ An đã bị thiệt hại trên 43 tỷ đồng Mưa lớn gây lũ trên thượng nguồn làm trôi 11 chiếc lồng bè nuôi cá, làm ngập trôi cá, tôm nuôi trên 1.800 ha ao đầm và 300 ha ruộng
*/ Cảnh báo tác động của BĐKH đến thủy sản BĐKH ảnh hưởng đến môi trường thủy sinh trên biển: Hàm lượng ô xy trong nước giảm nhanh, làm chậm tốc độ sinh trưởng của thủy sản; Các điều kiện thủy lý và thủy hóa có thể thay đổi; Rừng ngập mặn hiện
có bị thu hẹp; Nguy cơ làm mất các hệ sinh thái nhạy cảm với nhiệt độ
BĐKH tác động đến môi trường thủy sản nuôi trồng: Nhiệt độ nước biển tăng gây bất lợi về nơi cư trú của một số thủy sản; Cường độ mưa lớn, nồng độ muối giảm đi 10-20% trong một thời gian dài (có thể từ vài ngày đến vài tuần) làm cho sinh vật hệ sinh thái nước lợ và ven bờ chết hàng loạt; Năng suất suy giảm do dịch bệnh tăng ; Ao
hồ cạn kiệt trước thời kỳ thu hoạch, sản lượng nuôi trồng giảm đi rõ rệt
BĐKH tác động đến kinh tế thủy sản: Khoảng 2/3 các loài cá được con người đánh bắt và dùng làm thực phẩm phụ thuộc vào các hệ sinh thái ven bờ Các đầm phá nuôi trồng thủy sản sẽ bị ngập, lũ lụt tăng lên cũng đe dọa nhiều hơn
Suy giảm sản lượng và chất lượng thủy sản biển cũng như thủy sản nước ngọt Chi phí
tu sửa, bảo dưỡng, xây dựng mới bến bãi, cảng cá, ngư cụ, tàu thuyền đều gia tăng đáng kể
3.2.3 Tác động của BĐKH đến du lịch ven biển Nghệ An
*/ Tác động hiện tại của BĐKH đến du lịch Nhiều bệnh nặng, dịch bệnh (cúm, SARS, tiêu chảy ) xuất hiện khi nắng nóng và nhiệt độ môi trường nóng lên bất thường, làm giảm lượng khách du lịch
Nhiều hoạt động lữ hành bị ảnh hưởng, đình trệ thậm chí hủy do điều kiện thời tiết xấu liên tiếp, bão lụt, lũ quét
Trong số 45 xã ven biển có 19 xã bị xói lở, tổng chiều dài các đoạn xói lở là 19.290 m
Bờ biển bị xói lở dẫn đến tình trạng hàng loạt các bãi cát ven biển bị phá hủy, nhiều cảnh quan du lịch bị ảnh hưởng nghiêm trọng
*/ Cảnh báo tác động của BĐKH đến du lịch
• Với du lịch sinh thái
Tác động tích cực:
BĐKH khiến cho mùa hè nắng nóng hơn và kéo dài hơn làm gia tăng nhu cầu du lịch
và mùa du lịch kéo dài hơn
-Tác động tiêu cực:
+Các tour du lịch có thể gặp nhiều trở ngại do điều kiện thời tiết khắc nghiệt, thất thường, giao thông, liên lạc bị đứt quãng
+Nguồn nước suy giảm gây ra nhiều khó khăn cho cuộc sống sinh hoạt, làm giảm lượng khách du lịch Chi phí cho các tour du lịch sinh thái cao hơn (chi phí để ứng phó với các biến đổi bất thường của thời tiết) Tăng chi phí cho công tác bảo tồn và phát triển du lịch sinh thái
Trang 9• Với du lịch biển:
- Tác động tích cực tới du lịch biển:
Gia tăng nhu cầu và thời gian trong năm để du lịch biển Nhiều vùng biển tăng thêm
mỹ quan và sức hấp dẫn nhờ không gian biển mênh mông và thoáng đãng hơn
- Tác động tiêu cực tới du lịch biển
+Thu hẹp không gian du lịch
+Nước biển dâng ảnh hưởng đến các bãi tắm ven biển và một số công trình trên các bãi biển -+Nhiều tuyến du lịch có thể gặp nhiều rủi ro hơn
+Gia tăng cả bức xạ tử ngoại lẫn bức xạ nhìn thấy, ảnh hưởng đến sức khỏe khách du lịch
+Biến đổi khí hậu cũng tác động trực tiếp đến hạ tầng, cơ sở vật chất kỹ thuật của du lịch nhất là hệ thống giao thông, cơ sở lưu trú, khu vui chơi giải trí
+Ngưng trệ giao thông liên lạc, làm giảm lượng khách du lịch
+Làm gián đoạn hoặc mất đi một số hoạt động kinh doanh du lịch
+Trong dài hạn, du lịch ven biển sẽ phải đối mặt với những thách thức do bão và nước biển dâng cao gây ra xói mòn bờ biển và phá vỡ các rạn san hô do nước biển ấm lên
3.2.4.Đề xuất một số giải pháp ứng phó biến đổi khí hậu dải ven biển tỉnh Nghệ
An
-Xây dựng nông nghiệp phục hồi khí hậu
-Đánh bắt cá và nuôi trồng thủy sản thích nghi với khí hậu
-Hỗ trợ chung để xây dựng các sinh kế thích nghi với khí hậu
-Các biện pháp phục hồi đối với các sinh kế dựa vào nguồn lực
-Các chiến lược thích ứng ngắn, trung và dài hạn cho các dân di cư tạm thời
-Cải thiện, lưu giữ và quản lý nguồn nước
-Lồng ghép trong kế hoạch ứng phó với tình trạng khẩn cấp
-Lập kế hoạch và quản lý các ứng phó với nước biển dâng
-Cải tiến quá trình tái định cư cho những hộ gia đình và cộng đồng bị tổn thương -Hạn chế quá trình xâm nhập mặn diện tích đất ven biển
3.2.5.Kết luận
Xem xét tới xu thế diễn biến chuẩn sai nhiệt độ trung bình của tháng 1, tháng 7 và cả năm giai đoạn 1958-2008 tại Nghệ An cho thấy: xu thế của cả 3 trị số này đều tăng trong 50 năm qua Ngược lại, lượng mưa mùa mưa, mùa khô cũng như lượng mưa trung bình năm lại có xu thế giảm theo thời gian trong 50 năm qua
Biểu hiện của BĐKH thông qua các hiện tượng bão và áp thấp nhiệt đới kèm theo mưa
lũ có mức độ ảnh hưởng tương đối lớn, không chỉ đối với ngành nuôi trồng thủy sản, nông nghiệp mà còn tất cả mọi hoạt động khác tại vùng ven biển Nghệ An
Vì vậy việc dự báo sớm sự hình thành và phát triển của hiện tượng thay đổi khí hậu bất thường này là yếu tố quyết định cho việc phòng chống, giảm thiểu thiệt hại khi thiên tai, lụt bão xảy ra
Đối với tỉnh Nghệ An, BĐKH đang có những tác động tiêu cực tới các hoạt động nông nghiệp, thủy sản và du lịch vùng ven biển trong những năm qua Thiệt hại đối với các ngành này là tương đối lớn và rõ ràng Ngành du lịch Nghệ An cũng là một trong những ngành chịu tác động không nhỏ của các hiện tượng thời tiết bất thường và những ảnh hưởng của nước biển dâng
Trang 10KẾT LUẬN
Tiến bộ của nhân loại không phải tự dưng mà có và cũng không phải là một điều
đương nhiên Giờ đây, chúng ta đang đối mặt với thực tế là ngày mai cũng chính là ngày hôm nay Chúng ta đang đối mặt với một tình huống hết sức khẩn cấp của ngày hôm nay Trong bài toán nan giản này của cuộc sống và lịch sử, chúng ta thấy một vấn
đề là có lúc mọi việc trở nên quá muộn màng… Chúng ta có thể kêu gào một cách vô vọng để thời gian ngừng trôi, song con tàu thời gian đâu có để ý đến tiếng cầu cứu, van xin nào, nó cứ lao đi một cách vội vã Trong đống ngổn ngang hài cốt và tàn dư của nhiều nền văn minh nổi lên một dòng chữ đầy nuối tiếc: quá muộn mất rồi.Sau đây, chúng ta sẽ đi về đâu: sự hỗn loạn hay một cuộc sống cộng đồng’ - Martin Luther King Thế kỉ 21 chúng ta cũng phải đối mặt với “ tình huống hết sức khẩn cấp” của một cuộc khủng hoảng gắn liền ngày hôm nay và ngày mai Đó là cuộc khủng hoảng biến đổi khí hậu Cuộc khủng hoảng này xảy ra do sự tiến bộ của nhân loại, sự phát triển của hạ tầng kĩ thuật và ý thức của con người Và một yêu cầu bức bách đặt ra là làm thế nào để có thể thay đổi được tình hình Bài viết của chúng tôi trên đây đã tìm hiểu các nguyên nhân và từ đó đặt ra những giải pháp định hướng cụ thể, bao gồm cả giải pháp từ tầm vĩ mô mang tính chất quốc tế đến những giải pháp mang tính chất cá nhân và ý thức con người trong thời đại mới Trước sự rộng khắp trong phạm vi tác động, hệ quả nghiêm trọng mà vấn đề biến đổi khí hậu toàn cầu mang lại, không một quốc gia đơn lẻ nào có thể giành thắng lợi trong cuộc chiến chống biến đổi khí hậu Và vấn đề hợp tác toàn cầu được chúng tôi nêu cao không chỉ là một phương án mà còn là một sự khẩn cấp cho tình hình hiện nay