1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Thế nào là tích luỹ tư bản phân tích các nhân tố ảnh hưởng đến quy mô tích luỹ tư bản nêu ví dụ và liên hệ thực tiễn

11 28 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 11
Dung lượng 273,21 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Tích lũy tư bản trong kinh tế chính trị Mác – Lênin Tích lũy tư bản là quá trình tư bản hóa giá trị thặng dư, tức là biến đổi một bộ phận giá trị thặng dư thu được thành tư bản phụ

Trang 1

1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC PHENIKAA KHOA KHOA HỌC CƠ BẢN

Năm học: 2021 - 2022

TIỂU LUẬN

Đề tài số 15: “Thế nào là tích luỹ tư bản? Phân tích các nhân tố ảnh hưởng đến

quy mô tích luỹ tư bản? Nêu ví dụ và liên hệ thực tiễn.”

Giảng viên hướng dẫn: Đồng Thị Tuyền

Lớp: Kinh tế chính trị Mác- Lê- nin_1.1(14FS).5_LT

Sinh viên thực hiện:

Nhóm 09

Nguyễn Vi Nam 20010971

Nguyễn Đức Nguyên 20010780

Nguyễn Đức Nguyện 20010916

Nguyễn Thị Nhung 20010481

Quách Đức Phát 20010790

Đỗ Nam Phong 20010976 Vương Văn Phong 20010977 Nguyễn Minh Phú 20010978 Nguyễn Đình Quang 20010818

Hồ Sĩ Quân 20010816

Trang 2

2

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 3

NỘI DUNG 4

I Định nghĩa về tích lũy tư bản 4

1 Tích lũy tư bản trong kinh tế chính trị Mác – Lênin 4

2 Quy luật chung của tích lũy tư bản chủ nghĩa 4

II Các nhân tố ảnh hưởng đến quy mô tích luỹ tư bản 5

1 Trình độ bóc lột sức lao động 5

2 Năng suất lao động 5

3 Chênh lệch giữa tư bản sử dụng và tư bản tiêu dùng 6

4 Quy mô tư bản ứng trước 6

III Ví dụ về tích luỹ cơ bản và liên hệ thực tiễn ở Việt Nam 7

1 Ví dụ về tích lũy tư bản 7

2 Liên hệ thực tiễn tại Việt Nam 7

IV Ý nghĩa của tích lũy tư bản 8

KẾT LUẬN 9

Tài liệu tham khảo 10

Trang 3

3

MỞ ĐẦU

Trong cuộc đua tranh về phát triển kinh tế hiện nay, vấn đề tăng trưởng nhanh và lâu bền là vấn đề tất yếu và quan trọng nhất đối với tất cả các quốc gia trong đó Việt Nam ta cũng không ngoại lệ Chúng ta là nước có xuất phát điểm thấp, tiềm lực kinh tế yếu thì sẽ càng khó khăn hơn trên con đường hội nhập quốc

tế Bởi vậy Nước ta sẽ cần phải nỗ lực cố gắng hơn nữa để vượt lên phía trước, không để ngày càng xa với cơ hội phát triển.Hơn thế nữa, khi so sánh với mục tiêu của sự phát triển theo định hướng chủ nghĩa xã hội mà chúng ta đang theo đuổi thì yêu cầu trên càng trở nên cấp bách hơn

Đất nước ta đang trong quá trình hội nhập, phát triển năng động nhất từ trước đến nay và đã đạt được nhiều thành tựu quan trọng cả về kinh tế, chính trị,

xã hội, nâng cao vị thế đất nước trên trường quốc tế Đó là những thành quả rất đáng tự hào mà chúng ta có được nhờ sự lựa chọn đúng đắn đường lối phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và sự vận dụng sáng tạo các phương pháp, nguyên lí cơ bản của phát triển kinh tế vào điều kiện tại Việt Nam

Và để hội nhập một cách có hiệu quả vào nền kinh tế khu vực cũng như Thế

Giới đòi hỏi ta phải đẩy mạnh quá trình tích lũy vốn bởi “Tích lũy là sự chinh phục thế giới của cải”* Chính vì thế, việc tìm ra các giải pháp tăng cường tích lũy vốn đang đòi hỏi cấp thiết nhất đối với nhà nước và đảng ta nhằm đưa nước ta vươn

xa hơn, vững vàng bước vào thế kỉ mới Bài tiểu luận về “Tích lũy tư bản và các nhân tốc ảnh hưởng đến quy mô tích luỹ” dưới đây sẽ nêu lên những lý luận chung

về tích lũy tư bản và việc vận dụng lý luận đó vào thực tiễn ở nước ta, với nhận thức sâu sắc về vai trò của việc tích lũy vốn trong việc phục vụ phát triển kinh tế đất nước

*Tư bản, Quyển 1, tập III, phần VI trang 56

Trang 4

4

NỘI DUNG

I Định nghĩa về tích lũy tư bản

1 Tích lũy tư bản trong kinh tế chính trị Mác – Lênin

Tích lũy tư bản là quá trình tư bản hóa giá trị thặng dư, tức là biến đổi một

bộ phận giá trị thặng dư thu được thành tư bản phụ thuộc thêm nhằm mở rộng quy

mô sản xuất Tích lũy tư bản là tiền đề của tái sản xuất mở rộng tư bản chủ nghĩa

Tích lũy tư bản trong kinh tế chính trị Mác - Lênin, là việc biến một bộ phận giá trị thặng dư trở lại thành tư bản, còn trong các lý luận kinh tế học khác, nó đơn giản là sự hình thành tư bản (tăng lượng vốn dưới hình thức tư bản cố định và lưu kho của chính phủ và tư nhân)

2 Quy luật chung của tích lũy tư bản chủ nghĩa

2.1 Quá trình tích luỹ tư bản là quá trình tăng cấu tạo hữu cơ của tư bản

Tư bản tồn tại dưới dạng vật chất và giá trị Cấu tạo của tư bản gồm có cấu tạo kĩ thuật và cấu tạo giá trị

Cấu tạo kĩ thuật của tư bản là tỷ lệ giữa khối lượng tư liệu sản xuất với số lượng lao động cần thiết để sử dụng các tư liệu sản xuất đó

Nó biểu hiện dưới các hình thức của số lượng máy móc, nguyên liệu, năng lượng do một công nhân sử dụng trong một thời gian nào đó Cấu tạo kĩ thuật phản ánh đặc điểm và trình độ phát triển của lực lượng sản xuất xã hội

2.2 Quá trình tích luỹ tư bản là quá trình tích tụ và tập trung tư bản ngày càng tăng

Tích tụ tư bản là việc tăng quy mô tư bản cá biệt bằng tích luỹ của từng nhà

tư bản riêng rẽ Tích tụ tư bản, một mặt, là yêu cầu của việc mở rộng sản xuất, ứng dụng tiến bộ kĩ thuật; mặt khác, khối lượng giá trị thặng dư tăng thêm lại tạo khả năng hiện thực cho tích tụ tư bản mạnh hơn

Tập trung tư bản là sự hợp nhất một số tư bản nhỏ thành một tư bản cá biệt lớn Đây là sự tập trung những tư bản đã hình thành, là sự thủ tiêu tính độc lập riêng biệt của chúng, là việc biến nhiều tư bản nhỏ thành một số ít tư bản lớn hơn

Tích tụ tư bản làm cho tư bản cá biệt tăng lên, và tư bản xã hội cũng tăng theo Còn tập trung tư bản chỉ làm cho tư bản cá biệt tăng quy mô còn tư bản xã hội vẫn như cũ

2.3 Quá trình tích luỹ tư bản là quá trình bần cùng hoá giai cấp vô sản

Trang 5

5

Cấu tạo hữu cơ của tư bản ngày càng tăng, làm cho cầu tương đối về sức lao động có xu hướng ngày càng giảm Đó là nguyên nhân chủ yếu gây ra nạn nhân khẩu thừa tương đối

Có ba hình thái nhân khẩu thừa:

Nhân khẩu thừa lưu động là loại lao động bị sa thải ở xí nghiệp này, nhưng lại tìm được việc làm ở xí nghiệp khác Nói chung, số này chỉ mất việc làm từng lúc Nhân khẩu thừa tiềm tàng là nhân khẩu thừa trong nông nghiệp - đó là những người nghèo ở nông thôn, thiếu việc làm và cũng không thể tìm được việc làm trong công nghiệp, phải sống vất vưởng

Nhân khẩu thừa ngừng trệ là những người hầu như thường xuyên thất nghiệp, thỉnh thoảng mới tìm được việc làm tạm thời với tiền công rẻ mạt, sống lang thang, tạo thành tầng lớp dưới đáy của xã hội

II Các nhân tố ảnh hưởng đến quy mô tích luỹ tư bản

Với khối lượng giá trị thặng dư nhất định thì quy mô tích luỹ tư bản phụ thuộc vào tỷ lệ phân chia giữa tích luỹ và tiêu dùng

Nếu tỷ lệ giữa tích luỹ và tiêu dùng đã được xác định, thì quy mô tích luỹ

tư bản phụ thuộc vào khối lượng giá trị thặng dư Có bốn nhân tố ảnh hưởng đến khối lượng giá trị thặng dư:

1 Trình độ bóc lột sức lao động

Thông thường, muốn tăng khối lượng giá trị thặng dư, nhà tư bản phải tăng thêm máy móc, thiết bị và công nhân

Nhưng nhà tư bản có thể không tăng thêm công nhân mà bắt số công nhân hiện có cung cấp thêm một lượng lao động bằng cách tăng thời gian lao động và cường độ lao động Đồng thời, tận dụng một cách triệt để công suất của số máy móc hiện

có, chỉ tăng thêm nguyên liệu tương ứng

2 Năng suất lao động

Năng suất lao động xã hội tăng lên thì giá cả tư liệu sản xuất và tư liệu tiêu dùng giảm Sự giảm này đem lại hai hệ quả cho tích luỹ:

Một là, với khối lượng giá trị thặng dư nhất định, phần dành cho tích luỹ có thể lấn sang phần tiêu dùng, trong khi sự tiêu dùng của nhà tư bản không giảm mà vẫn

có thể bằng hoặc cao hơn trước

Trang 6

6

Hai là, một lượng giá trị thặng dư nhất định dành cho tích luỹ cũng có thể chuyển hóa thành một khối lượng tư liệu sản xuất và sức lao động phụ thêm nhiều hơn trước

Sự tiến bộ của khoa học và công nghệ đã tạo ra nhiều yếu tố phụ thêm cho tích luỹ nhờ việc sử dụng vật liệu mới và tạo ra công dụng mới của vật liệu hiện

có như những phế thải trong tiêu dùng sản xuất và tiêu dùng cá nhân của xã hội, những vật vốn không có giá trị

Cuối cùng, năng suất lao động tăng sẽ làm cho giá trị của tư bản cũ tái hiện dưới hình thái hữu dụng mới càng nhanh

3 Chênh lệch giữa tư bản sử dụng và tư bản tiêu dùng

Tư bản sử dụng là khối lượng giá trị những tư liệu lao động mà toàn bộ quy

mô hiện vật của chúng đều hoạt động trong quá trình sản xuất sản phẩm

Còn tư bản tiêu dùng là phần giá trị những tư liệu lao động ấy được chuyển vào sản phẩm theo từng chu kỳ sản xuất dưới dạng khấu hao

Do đó, có sự chênh lệch giữa tư bản sử dụng và tư bản tiêu dùng Sự chênh lệch này là thước đo sự tiến bộ của lực lượng sản xuất

Sau khi trừ đi những tổn phí hàng ngày trong việc sử dụng máy móc và công

cụ lao động – nghĩa là sau khi trừ đi giá trị hao mòn của chúng đã chuyển vào sản phẩm – nhà tư bản sử dụng những máy móc và công cụ lao động đó mà không đòi hỏi một chi phí khác

Kỹ thuật càng hiện đại, sự chênh lệch giữa tư bản sử dụng và tư bản tiêu dùng càng lớn, thì sự phục vụ không công của tư liệu lao động càng lớn

4 Quy mô tư bản ứng trước

Trong công thức : M = m’.V

Nếu m’ (tỷ suất giá trị thặng dư) không thay đổi thì M (khối lượng giá trị thặng dư) chỉ có thể tăng khi V(tổng tư bản khả biến) tăng Và, tất nhiên tư bản bất biến cũng phải tăng lên theo quan hệ tỷ lệ nhất định

Do đó, muốn tăng khối lượng giá trị thặng dư phải tăng quy mô tư bản ứng trước Đại lượng tư bản ứng trước càng lớn thì quy mô sản xuất càng được mở rộng theo chiều rộng và theo chiều sâu

Trang 7

7

Tóm lại, để nâng cao quy mô tích luỹ, cần khai thác tốt nhất lực lượng lao động xã hội, tăng năng suất lao động, sử dụng triệt để năng lực sản xuất của máy móc, thiết bị và tăng quy mô vốn đầu tư ban đầu

III Ví dụ về tích luỹ cơ bản và liên hệ thực tiễn ở Việt Nam

1 Ví dụ về tích lũy tư bản

Ví dụ 1: Năm thứ nhất quy mô sản xuất là 80c + 20v + 20m Giả định 20m

không bị nhà tư bản tiêu dùng tất cả cho cá nhân, mà được phân thành 10m dùng

để tích luỹ và 10m dành cho tiêu dùng cá nhân của nhà tư bản Phần 10m dùng để tích luỹ được phân thành 8c + 2v, khi đó quy mô sản xuất của năm sau sẽ là 88c + 22v + 22m (nếu m vẫn như cũ) Như vậy, vào năm thứ hai, quy mô tư bản bất biến

và tư bản khả biến đều tăng lên, giá trị thặng dư cũng tăng lên tương ứng

Ví dụ 2: Quy mô tư bản năm thứ nhất là 5000 (C + V), nếu C/V = 4/1, m' =

100% thì:

+ Giá trị hàng hoá năm thứ nhất được sản xuất là 4000C + 1000V + 1000m =

6000 Để tái sản xuất mở rộng thì nhà tư bản không tiêu dùng hết 1000m cho cá nhân mình mà dành một phần để tích luỹ mở rộng sản xuất

+ Giả sử tỷ lệ tích luỹ là 50% thì 1000m được phân thành 500m1 để tích luỹ, 500m2

để tiêu dùng cho cá nhân nhà tư bản

+ Giả sử C/V=4/1 thì 500m1 được phân thành 400C1 (tư bản bất biến phụ thêm)

và 100V1 (tư bản khả biến phụ thêm) Như vậy sang năm thứ hai quy mô tư bản là 4400C + 1100V = 5500

Vậy: Thực chất của tích lũy tư bản là biến một phần m thành tư bản hay tư bản hoá giá trị thặng dư

2 Liên hệ thực tiễn tại Việt Nam

Ở Việt Nam, vấn đề vốn trở nên vô cùng quan trọng, bởi chỉ có trên cơ sở một lượng đầu tư mạnh, với lượng vốn lớn mới có thể xây dựng một nền công nghiệp hiện đại có kĩ thuật cao ngang tầm các nước phát triển, khai thác hiệu quả các nguồn tài nguyên đất nước Khi nào các nguồn lực: tiền bạc, của cải, đất đai, tài nguyên, trí tuệ con người được tập trung tối đa vào dòng chảy của đầu tư để sản sinh ra những dòng lợi nhuận mới cao gấp nhiều lần số vốn ban đầu, thì khi

đó mỗi doanh nghiệp hay cả quốc gia chúng ta mới có thể đạt được những bước hát triển vượt bậc về kinh tế

Trang 8

8

Để đạt được điều đó, các doanh nghiệp cần phải năng động, sáng tạo, tiếp thu các thành tựu khoa học – kỹ thuật vào sản xuất để tạo ra hàng hóa có chất lượng tốt, năng suất cao, nâng cao sức cạnh tranh của hàng hóa trên thị trường Đồng thời, cần mở rộng hội nhập để mở rộng thị trường tiêu thụ hàng hóa, đào tạo đội ngũ công nhân, lao động có tay nghề, thúc đẩy sản xuất

Cho đến năm 2018, kinh tế nước ta đạt mức tăng trưởng 7,08% - mức cao trong 11 năm qua Trong thời gian gần đây, sản xuất Việt Nam bị ảnh hưởng trong bối cảnh chính sách thương mại Mỹ có nhiều thay đổi và chiến tranh thương mại

Mỹ - Trung diễn biến phức tạp Các con số thống kê cho thấy tổng vốn đầu tư phát triển toàn xã hội thực chia theo nguồn đầu năm 2019 như sau: Tỷ lệ vốn đầu tư phát triển toàn xã hội / GDP đạt 33,4% - thấp so với thời kì 2001-2005 (39,1%), thời kì 2006-2010 (39,2%), cao hơn thời kì 2011-2015 (31,5%) và nằm trong xu hướng cao lên từ năm 2016 Tăng trưởng vốn đầu tư phát triển tháng đầu năm

2019 so với các kỳ năm trước đạt 10,3% Quy mô tốc độ tăng vốn đầu tư phát triển

xã hội cao góp phần làm tăng trưởng kinh tế cao trong quý (7,31%)

Bên cạnh đó, cũng có những tác động tiêu cực Việc tích lũy tư bản không đúng mục đích làm cho xã hội Việt Nam có sự phân hóa giàu nghèo, tạo nên sự bất bình đẳng xã hội ngày càng lớn, tăng nguy cơ thất nghiệp và các tệ nạn xã hội

IV Ý nghĩa của tích lũy tư bản

Đối với các doanh nghiệp hiện nay, việc vận dụng quy luật của tích lũy tư bản vào trong huy động vốn và sử dụng nguồn vốn một cách hiệu quả là vô cùng quan trọng và cần thiết Trên thực tế, các doanh nghiệp trong nước vẫn chưa thể cạnh tranh một cách sòng phẳng với các doanh nghiệp nước ngoài phần vì tiềm lực kinh tế chưa đủ mạnh phần vì chưa thực sự chưa có chiến lược và chiến thuật phù hợp

Tích lũy tư bản đem đến bài học về sử dụng vốn hiệu quả Doanh nghiệp cũng cần phải tiết kiệm sao cho hợp lý, việc xây dựng cơ sở sản xuất và thiết bị cũng cần phải được tính toán kỹ càng Nếu như vội vàng đưa ra quyết định đầu tư không hợp lý sẽ gây ra lãng phí, thất thoát tài sản Yêu cầu đối với doanh nghiệp

đó là phải phân bố một cách hợp lý giữa tiêu dùng và tích lũy

Đồng thời, doanh nghiệp cũng cần khai thác tối đa các nguồn lực, đây là điều kiện tiên quyết cho quá trình tích lũy vốn của doanh nghiệp Điều này đòi hỏi doanh nghiệp phải linh hoạt sao cho phù hợp với điều kiện kinh tế của đất nước

Do đó doanh nghiệp phải có cơ chế, giải pháp huy động vốn một cách hợp lý

Trang 9

9

KẾT LUẬN

Với một nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, đất nước ta đang ở trong giai đoạn phát triển mạnh mẽ và năng động nhất từ trước tới nay Sự phát triển của nền kinh tế cũng tạo ra áp lực về tăng quy mô vốn cho nền kinh tế Thêm nữa, Việt Nam cũng là nước có quy mô dân số đông và trẻ với nhu cầu chi tiêu lớn Điều này sẽ kích thích sự sôi động của thị trường vốn Vấn đề mấu chốt

ở đây là phải có những giải pháp thích hợp nào có thể huy động nguồn vốn đó để

sử dụng có hiệu quả nhất Vì vậy việc nghiên cứu tích luỹ tư bản và việc vận dụng

lí luận đó vào thực tiễn Việt Nam là rất quan trọng và cần thiết.Bởi lẽ quá trình công nghiệp hoá - hiện đại hoá đất nước đạt được thành công trước hết phải có vốn lớn

Sự phát triển bền vững và liên tục của nền kinh tế Việt nam trong một thế giới mà xu thế toàn cầu hóa đang tạo ra rất nhiều cơ hội cũng như áp lực, thách thức đòi hỏi mỗi người dân, mỗi doanh nghiệp… không chỉ biết làm giàu cho mình

mà còn phải biết làm giàu cho toàn xã hội Quy luật cạnh tranh đã buộc bất cứ một nhà doanh nghiệp nào cũng phải không ngừng mở rộng vốn đầu tư để phát triển doanh nghiệp Con đường duy nhất để mở rộng vốn đầu tư của mình chính là con đường phải tích luỹ ngày càng nhiều hơn để tái sản xuất mở rộng Mặt khác việc thu hút ngày càng nhiều vốn đầu tư từ nước ngoài (FDI, ODA,…) sẽ có tác động

hỗ trợ rất lớn Đó chính là con đường dẫnđến sự thành công của sự nghiệp công nghiệp hoá - hiện đại hoá đất nước, khẳng định tính đúng đắn của chính sách mở cửa, phát triển nền kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa, sớm đạt mục tiêu dân giàu nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh

Trang 10

10

Tài liệu tham khảo

1 Giáo trình Kinh tế chính trị Mac-Lenin dành cho bậc đại học – không chuyên ngành Lý luận chính trị NXB Chính trị Quốc Gia Sự Thật,2018

2 Giáo trình Kinh tế chính trị Mac-Lenin dành cho bậc đại học – chuyên ngành

Lý luận chính trị NXB Chính trị Quốc Gia Sự Thật

4 Trình độ bóc lột sức lao động:

https://vi.wikipedia.org/wiki/B%C3%B3c_l%E1%BB%99t_lao_%C4

%91%E1%BB%99ng

5 Các nhân tố ảnh hưởng, quyết định đến quy mô tích luỹ tư bản:

https://hocsinhgioi.com/nhung-nhan-quyet-dinh-quy-mo-tich-luy-tuban#ixzz782HMg5vs

Ngày đăng: 20/10/2021, 21:42

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w