Trần Phước Mục tiêu nghiên cứu: Đề tài nghiên cứu lý luận về hệ thống Kiểm soát nội bộ, đặc điểm tình hình kiểm soát nội bộ của quy trình đấu thầu mua vật tư, hóa chất tại đơn vị Y tế,
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC QUY NHƠN
Trang 2LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đề tài “Kiểm soát nội bộ quy trình đấu thầu mua vật
tư, hóa chất tại Trung tâm Y tế huyện Vĩnh Thạnh, tỉnh Bình Định” là công trình nghiên cứu của riêng tôi với sự hướng dẫn của Thầy PGS.TS Trần Phước Các số liệu trong luận văn là trung thực, những kết quả trong luận văn chưa từng được công bố trong bất cứ một công trình nào khác
Bình Định, ngày 05 tháng 6 năm 2020
Học viên
Hồ Thị Ngọc Ánh
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Để hoàn thành luận văn tốt nghiệp cao học, tác giả xin bày tỏ lòng biết
ơn chân thành đến Ban giám hiệu, khoa Sau đại học, quý Thầy cô trường Đại học Quy Nhơn đã tạo điều kiện giúp tác giả thực hiện luận văn;
Đặc biệt, tác giả xin gửi lời cảm ơn chân thành nhất tới Thầy PGS.TS Trần Phước người đã tận tình hướng dẫn, dìu dắt chỉ dẫn những kiến thức quý báu giúp tác giả hoàn thành luận văn;
Xin chân thành cảm ơn các Thầy, Cô giáo đã truyền đạt những kiến thức quý giá, thiết thực cho tác giả trong suốt thời gian học tập;
Tác giả xin chân thành cảm ơn đến Ban Giám đốc; Phòng Tổ chức – Hành chính – Kế hoạch tổng hợp; Khoa Dược và toàn bộ cán bộ viên chức Trung tâm Y tế huyện Vĩnh Thạnh, tỉnh Bình Định đã tạo mọi điều kiện, cũng như hỗ trợ tác giả thu thập số liệu phục vụ quá trình nghiên cứu đề tài;
Xin cảm ơn gia đình và các bạn học viên trong lớp đã động viên, khuyến khích, giúp đỡ tác giả hoàn thành luận văn này
Trân trọng cảm ơn./
Bình Định, ngày 05 tháng 6 năm 2020
Học viên
Hồ Thị Ngọc Ánh
Trang 4TÓM TẮT LUẬN VĂN
Đề tài: “Kiểm soát nội bộ quy trình đấu thầu mua vật tư, hóa chất tại
Trung tâm Y tế huyện Vĩnh Thạnh, tỉnh Bình Định”
Tác giả: Hồ Thị Ngọc Ánh
Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS Trần Phước
Mục tiêu nghiên cứu:
Đề tài nghiên cứu lý luận về hệ thống Kiểm soát nội bộ, đặc điểm tình hình kiểm soát nội bộ của quy trình đấu thầu mua vật tư, hóa chất tại đơn vị Y
tế, khảo sát thực trạng Hệ thống kiểm soát nội bộ quy trình đấu thầu mua vật
tư, hóa chất tại Trung tâm Y tế huyện Vĩnh Thạnh, tỉnh Bình Định, nhận xét
ưu điểm - khuyết điểm và tìm ra nguyên nhân tồn tại, từ đó đưa ra các giải pháp tổng thể và chi tiết để hoàn thiện hệ thống kiểm soát nội bộ quy trình đấu thầu mua vật tư, hóa chất tại Trung tâm Y tế huyện Vĩnh Thạnh, tỉnh Bình Định
Nội dung nghiên cứu:
Căn cứ vào cơ sở lý luận tổng quan về kiểm soát nội bộ, hệ thống kiểm soát nội bộ quy trình đấu thầu tại Trung tâm Y tế để nghiên cứu thực trạng và phản ánh ưu điểm, hạn chế của hệ thống kiểm soát nội bộ quy trình đấu thầu mua vật tư, hóa chất tại Trung tâm Y tế huyện Vĩnh Thạnh, tỉnh Bình Định nhằm đánh giá hiệu quả việc tổ chức hệ thống kiểm soát nội bộ quy trình đấu thầu, từ đó đưa ra các giải pháp để phân tích, thiết kế hệ thống kiểm soát nội
bộ quy trình đấu thầu mua vật tư, hóa chất tại Trung tâm Y tế huyện Vĩnh Thạnh, tỉnh Bình Định ngày một hoàn thiện hơn
Những đóng góp của luận văn:
Tổng hợp và mô tả thực trạng các công việc và chu trình kiểm soát cơ bản tại Trung tâm Y tế huyện Vĩnh Thạnh, tỉnh Bình Định;
Trang 5Đánh giá những mặt đạt đƣợc về tổ chức hệ thống kiểm soát nội bộ quy trình đấu thầu mua vật tƣ, hóa chất tại Trung tâm Y tế huyện Vĩnh Thạnh, tỉnh Bình Định;
Đề xuất giải pháp hoàn thiện hệ thống kiểm soát nội bộ quy trình đấu thầu mua vật tƣ, hóa chất tại Trung tâm Y tế huyện Vĩnh Thạnh, tỉnh Bình Định
Kiến nghị nhằm hỗ trợ Trung tâm Y tế huyện Vĩnh Thạnh, tỉnh Bình Định hoàn thiện hệ thống kiểm soát nội bộ quy trình đấu thầu
Trang 6MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN
LỜI CẢM ƠN
TÓM TẮT LUẬN VĂN
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
DANH MỤC BẢNG
DANH MỤC BIỂU ĐỒ, SƠ ĐỒ, LƯU ĐỒ
MỞ ĐẦU 1
1 Tính cấp thiết của đề tài 1
2 Tổng quan các nghiên cứu trước đây 2
3 Mục tiêu nghiên cứu 7
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 7
5 Phương pháp nghiên cứu 8
6 Ý nghĩa khoa học của đề tài 8
7 Kết cấu của đề tài 9
CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ KIỂM SOÁT NỘI BỘ QUY TRÌNH ĐẤU THẦU 10
1.1 Tổng quan về hệ thống kiểm soát nội bộ trong khu vực công 10
1.1.1 Lịch sử ra đời và phát triển lý thuyết kiểm soát nội bộ trong khu vực công 10
1.1.2 Khái niệm và mục tiêu của kiểm soát nội bộ 15
1.1.3 Các bộ phận cấu thành hệ thống kiểm soát nội bộ theo INTOSAI 18
1.2 Đấu thầu mua vật tư, hóa chất 25
1.2.1 Khái niệm đấu thầu 25
1.2.2 Vai trò của đấu thầu 27
1.2.3 Hình thức và quy trình đấu thầu mua vật tư, hóa chất 33
1.3 Đặc điểm và nội dung kiểm soát nội bộ quy trình đấu thầu mua vật tư, hóa chất tại các cơ sở y tế 44
Trang 71.3.1 Đặc điểm 44
1.3.2 Nội dung kiểm soát nội bộ quy trình đấu thầu mua vật tư, hóa chất tại các cơ sở y tế 45
KẾT LUẬN CHƯƠNG 1 48
CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG KIỂM SOÁT NỘI BỘ QUY TRÌNH ĐẤU THẦU MUA VẬT TƯ, HÓA CHẤT TẠI TRUNG TÂM Y TẾ HUYỆN VĨNH THẠNH, TỈNH BÌNH ĐỊNH 49
2.1 Khái quát về Trung tâm Y tế huyện Vĩnh Thạnh, tỉnh Bình Định 49
2.1.1 Quá trình hình thành và phát triển 49
2.1.2 Chức năng, nhiệm vụ của Trung tâm y tế 55
2.1.3 Cơ cấu tổ chức của Hội đồng thuốc và điều trị 57
2.2 Thực trạng quy trình đấu thầu mua vật tư, hóa chất tại Trung tâm Y tế huyện Vĩnh Thạnh, tỉnh Bình Định 58
2.2.1 Lập kế hoạch đấu thầu mua vật tư, hóa chất 58
2.2.2 Tổ chức thực hiện công tác đấu thầu mua vật tư, hóa chất 59
2.2.3 Đánh giá phương thức đấu thầu mua vật tư, hóa chất 60
2.3 Thực trạng kiểm soát nội bộ quy trình đấu thầu mua vật tư, hóa chất tại Trung tâm Y tế huyện Vĩnh Thạnh, tỉnh Bình Định 63
2.3.1 Môi trường kiểm soát 68
2.3.2 Đánh giá rủi ro 70
2.3.3 Hoạt động kiểm soát 72
2.3.4 Thông tin và truyền thông 73
2.3.5 Giám sát 75
2.4 Đánh giá những thành công – tồn tại và nguyên nhân kiểm soát nội bộ quy trình đấu thầu mua vật tư, hóa chất tại Trung tâm Y tế huyện Vĩnh Thạnh, tỉnh Bình Định 77
2.4.1 Những thành công 78
2.4.2 Những tồn tại và nguyên nhân 79
KẾT LUẬN CHƯƠNG 2 82
Trang 8CHƯƠNG 3 GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN KIỂM SOÁT NỘI BỘ QUY TRÌNH ĐẤU THẦU MUA VẬT TƯ, HÓA CHẤT TẠI TRUNG TÂM Y
TẾ HUYỆN VĨNH THẠNH, TỈNH BÌNH ĐỊNH 83
3.1 Định hướng hoàn thiện kiểm soát nội bộ quy trình đấu thầu tại Trung tâm Y tế huyện Vĩnh Thạnh, tỉnh Bình Định 83
3.2 Giải pháp hoàn thiện kiểm soát nội bộ quy trình đấu thầu mua vật tư, hóa chất tại Trung tâm Y tế huyện Vĩnh Thạnh, tỉnh Bình Định 86
3.2.1 Hoàn thiện Môi trường kiểm soát 86
3.2.2 Hoàn thiện Đánh giá rủi ro 87
3.2.3 Hoàn thiện Hoạt động kiểm soát 90
3.2.4 Hoàn thiện Thông tin và truyền thông 89
3.2.5 Hoàn thiện Giám sát 89
3.3 Giải pháp cụ thể và kiến nghị thực hiện kiểm soát nội bộ quy trình đấu thầu tại Trung tâm Y tế huyện Vĩnh Thạnh, tỉnh Bình Định 90
3.3.1 Các giải pháp nhằm hoàn thiện xây dựng kế hoạch đấu thầu 90
3.3.2 Giải pháp hoàn thiện tiêu chí chấm thầu 91
3.3.3 Kiến nghị thực hiện 92
KẾT LUẬN CHƯƠNG 3 100
KẾT LUẬN 101
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 100
PHỤ LỤC 104
QUYẾT ĐỊNH GIAO ĐỀ TÀI LUẬN VĂN THẠC SĨ (bản sao)
Trang 9DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
AICPA : Hiệp hội kế toán viên công chứng Hoa Kỳ
ASOSAI : Cơ quan kiểm toán tối cao Châu Á
COSO : Hội đồng quốc gia Hoa Kỳ về chống gian lận báo cáo tài
chính
EP : Hợp đồng thiết kế và cung cấp thiết bị công nghệ
EC : Hợp đồng thiết kế và thi công xây dựng công trình
EPC : Hợp đồng thiết kế - cung cấp thiết bị công nghệ và thi
công xây dựng công trình
IBP : Tổ chức Hợp tác ngân sách quốc tế
INTOSAI : Tổ chức quốc tế các cơ quan kiểm toán tối cao
Trang 10OBI : Chỉ số Công khai ngân sách
Trang 11DANH MỤC BẢNG
Bảng 1.1 Bảng tóm tắt quy trình lựa chọn nhà thầu 37
Bảng 2.1: Cơ cấu độ tuổi làm việc 64
Bảng 2.2: Trình độ nghiệp vụ chuyên môn 65
Bảng 2.3: Thời gian công tác 66
Bảng 2.4: Giới tính 67
Bảng 2.5: Bảng tổng hợp kết quả khảo sát về Môi trường kiểm soát 68
Bảng 2.6: Bảng tổng hợp kết quả khảo sát về Đánh giá rủi ro 70
Bảng 2.7: Bảng tổng hợp kết quả khảo sát về Hoạt động Kiểm soát 72
Bảng 2.8: Bảng tổng hợp kết quả khảo sát về Thông tin và truyền thông 73
Bảng 2.9: Bảng tổng hợp kết quả khảo sát về Giám sát 75
Trang 12DANH MỤC BIỂU ĐỒ, SƠ ĐỒ, LƯU ĐỒ
Sơ đồ 1.1 Các bộ phận hợp thành hệ thống KSNB 18
Sơ đồ 2.1 Chu trình mua vật tư, hóa chất 60
Biểu đồ 2.1: Cơ cấu độ tuổi làm việc 65
Biểu đồ 2.2: Trình độ nghiệp vụ chuyên môn 66
Biểu đồ 2.3: Thời gian công tác 67
Biểu đồ 2.4: Giới tính 68
Lưu đồ 3.1 Xây dựng kế hoạch đấu thầu 91
Trang 131
MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Trong công tác chăm sóc và bảo vệ sức khỏe nhân dân, vật tư - hóa chất đóng vai trò quan trọng bên cạnh thuốc trong công tác chẩn đoán và điều trị bệnh Chi phí vật tư, hóa chất chiếm tỷ lệ cao trong tổng chi phí phục vụ công tác khám chữa bệnh Hiện nay số tiền vật tư, hóa chất chiếm 20 - 25% số tiền viện phí mà bệnh nhân phải bỏ ra Mặc dù được kiểm soát bởi các ngành chức năng nhưng giá vật tư, hóa chất vẫn tăng đều đặn, nguyên nhân thì nhiều nhưng có thể liệt kê ra một số nguyên nhân chính như sau:
Thứ nhất, thị trường vật tư, hóa chất tại Việt Nam rất đa dạng và phong
phú kể cả về chất lượng và số lượng Mặc dù, số lượng và chủng loại vật tư, hóa chất sản xuất trong nước ngày càng tăng, đáp ứng tốt hơn nhu cầu điều trị, song một khối lượng vật tư, hóa chất khá lớn phải nhập từ nước ngoài Giá vật tư, hóa chất có sự chênh lệch nhau giữa các vùng, miền trong cùng một tỉnh
Thứ hai, nguồn cung cấp vật tư, hóa chất, hiện tại Việt Nam có hơn
100 đơn vị nghiên cứu, chế tạo và sản xuất trang thiết bị y tế với hơn 800 sản phẩm được sản xuất trong nước đã được Bộ Y tế cấp phép lưu hành Tuy nhiên, 10 doanh nghiệp đầu ngành là doanh nghiệp FDI, chiếm gần 64% thị phần trên thị trường (Trung tâm điều hành Phonak, Omron, Olympus, Terumo
và B.Braun, ) Các công ty sản xuất trang thiết bị y tế nội địa như Vinamed, Mediplast chỉ có thể sản xuất các thiết bị y tế cơ bản như giường, tủ đầu giường, bông, băng, gạc, kim tiêm, các dụng cụ kềm, kéo, chỉ y khoa… Các thiết bị cao cấp như máy siêu âm, đo điện tim, chụp X-quang, máy chụp MRI, máy chụp nhũ ảnh, lò hấp vô trùng… hầu như là hàng ngoại nhập, với 90% thiết bị được nhập từ Mỹ, Nhật, Đức
Thứ ba, việc thực hiện đấu thầu cũng gặp nhiều khó khăn do các Trung
Trang 142
tâm Y tế hay Bệnh viện chưa am hiểu luật, thời gian hoàn tất một đợt đấu thầu lại kéo dài làm gia tăng chi phí Các quy định về đấu thầu còn chưa thật cụ thể, thống nhất nên khó khăn trong công tác đấu thầu
Thứ tư, nhiều dự án tại Việt Nam luôn chậm tiến độ, đội vốn đầu tư; một
phần nguyên nhân là do công tác đấu thầu kém hiệu quả, gây lãng phí ngân sách quốc gia làm đội vốn đầu tư so với tổng mức đầu tư được duyệt ban đầu
Xuất phát từ bốn nguyên nhân trên, vấn đề kiểm soát đấu thầu để cung ứng vật tư, hóa chất kịp thời, đầy đủ đồng thời đảm bảo sử dụng hợp lý là nhiệm vụ trọng tâm của mỗi bệnh viện Nhiệm vụ đó đòi hỏi tổ chức và kiểm soát hoạt động đấu thầu tại bệnh viện phải ngày càng hoàn thiện, cần có sự nghiên cứu đầy đủ các yếu tố để lựa chọn những phương thức hợp lý trong cung ứng vật tư, hóa chất
Là một người đang trực tiếp tham gia trong chuỗi kiểm soát này và
cũng từ những phân tích các nguyên nhân trên tôi lựa chọn đề tài “Kiểm soát nội bộ quy trình đấu thầu mua vật tư, hóa chất tại Trung tâm Y tế huyện Vĩnh Thạnh, tỉnh Bình Định” làm đề tài luận văn tốt nghiệp nhằm góp phần vào các
hoạt động chăm sóc sức khoẻ, các dịch vụ y tế ở cả khu vực công lập và dân lập đã song hành cùng với các hoạt động bảo hiểm y tế mang lại cho bệnh nhân những lợi ích ngày càng to lớn ở Việt Nam nói chung và Trung tâm Y tế huyện Vĩnh Thạnh nói riêng
2 Tổng quan các nghiên cứu trước đây
- Đề tài “Quản lý Nhà nước về công tác đấu thầu mua thuốc ở các cơ
sở y tế trong tỉnh An Giang – Thực trạng và giải pháp” của tác giả Nguyễn Thị Bê năm 2013 – Trường Chính trị Tôn Đức Thắng Đề tài khảo sát thực trạng công tác đấu thầu mua thuốc, xem xét những vấn đề chưa phù hợp, đề ra những giải pháp tháo gỡ, góp phần cùng Sở Y tế chấn chỉnh công tác đấu thầu mua thuốc tại các cơ sở y tế trong tỉnh
Trang 153
- Đề tài "Quản lý Nhà nước về hoạt động đấu thầu mua sắm hàng hóa trong khu vực công ở Việt Nam" của tác giả Phạm Trung Kiên năm 2014 - Đại
học kinh tế - Đại học Quốc gia Hà Nội Đề tài đã phân tích được cơ sở lý luận
và thực tiễn về quản lý Nhà nước đối với hoạt động đấu thầu mua sắm hàng hóa trong khu vực công, đánh giá khách quan thực trạng quản lý đấu thầu mua sắm hàng hóa trong khu vực công ở Việt Nam, đánh giá những mặt được, chưa được trong công tác quản lý đấu thầu Quản lý Nhà nước nói chung là sự tác động có tổ chức, có mục đích của chủ thể quản lý lên đối tượng quản lý và khách thể quản lý nhằm sử dụng có hiệu quả các nguồn lực
để đạt được các mục tiêu đặt ra trong sự vận động của sự vật Trong luận văn cũng khẳng định rõ sự cần thiết phải quản lý Nhà nước đối với hoạt động đấu thầu trong khu vực công Luật đấu thầu năm 2005 và Luật sửa đổi bổ sung cùng với văn bản hướng dẫn thi hành luật tạo ra cơ sở pháp lý quan trọng đưa hoạt động đấu thầu mua sắm hàng hóa sử dụng vốn Nhà nước dần đi vào nề nếp, góp phần tạo tính minh bạch, cạnh tranh cho các hoạt động đấu thầu Luận văn đã hệ thống hóa cơ sở lý luận về hoạt động đấu thầu mua sắm hàng hóa trong khu vực công ở Việt Nam Luận văn đã phân tích cơ sở lý luận khoa học và quy trình, nội dung quản lý Nhà nước đối với hoạt động đấu thầu mua sắm hàng hóa ở khu vực công
- Hoàng Thị Minh Hiền trong Luận án tiến sĩ "Hoạt động cung ứng thuốc tại Bệnh viện Hữu Nghị - Thực trạng và một số giải pháp", đã mô tả
thực trạng cung ứng thuốc tại Bệnh viện Hữu Nghị từ năm 2004 - 2010 Phân tích những ưu, nhược, bất cập chính yếu trong hoạt động đấu thầu thuốc tại Bệnh viện Hữu Nghị Nghiên cứu đã đề xuất mô hình hoạt động cho khoa Dược bệnh viện và một số giải pháp nhằm nâng cao chất lượng hoạt động đấu thầu thuốc tại Bệnh viện Hữu Nghị
Qua việc phân tích về thực trạng hoạt động cung ứng thuốc tại bệnh
Trang 164
viện Hữu Nghị tác giả cho biết: phương thức cung ứng thuốc tại bệnh viện Hữu Nghị theo hình thức đấu thầu rộng rãi tiến hành một lần trong năm Do đấu thầu rộng rãi nên số lượng các công ty tham dự ngày càng tăng Việc mua sắm theo hình thức đấu thầu rộng rãi mang lại nhiều lợi ích: Chuẩn hoá quy trình mua sắm, công khai minh bạch, bệnh viện có nhiều sự lựa chọn, giá thuốc ổn định trong cả năm Tuy nhiên, cũng còn nhiều bất cập như quá trình mua sắm nhiều thủ tục, kéo dài, tốn nhiều thời gian, nhân lực, chi phí Từ năm
2008, bệnh viện Hữu Nghị đã ứng dụng công nghệ thông tin nối mạng toàn viện, kê đơn điện tử mang lại lợi ích cho người bệnh, tăng cường quản lí thuốc và bệnh tật tại bệnh viện Trong phạm vi của đề tài, nghiên cứu phương thức mua sắm thuốc chỉ đề cập đến nội dung đảm bảo thuốc cho nhu cầu điều trị của người bệnh qua đấu thầu Hình thức tổ chức đảm bảo cung ứng thuốc
tổ chức đảm bảo cung ứng thuốc là cách thức được sử dụng để thực hiện việc mua thuốc từ đơn vị cung ứng (đơn vị trúng thầu) đến với cơ sở khám bệnh, chữa bệnh để đáp ứng nhu cầu điều trị của người bệnh Tùy theo điều kiện kinh tế xã hội và mô hình quản lý của mỗi nước mà có những hình thức tổ chức đảm bảo cung ứng thuốc đến với người bệnh khác nhau Qua đó có thể thấy Nhà nước đã ban hành những quy định để đảm bảo thuốc được mua sắm hiệu quả, người bệnh được cung cấp những sản phẩm có chất lượng tốt với chi phí thấp nhất có thể
- Đề tài "Nghiên cứu thực trạng đấu thầu mua thuốc bảo hiểm y tế cho các cơ sở khám bệnh, chữa bệnh công lập ở Việt Nam" Luận án tiến sĩ của tác
giả Phạm Lương Sơn - Đại học Dược Hà Nội Đề tài đã phân tích thực trạng
về việc đấu thầu mua thuốc BHYT của các cơ sở khám bệnh, chữa bệnh công lập tại các địa phương trong năm 2010, đánh giá các phương thức đấu thầu mua thuốc BHYT, đề xuất một số giải pháp nhằm từng bước hoàn thiện phương thức đấu thầu mua thuốc BHYT ở Việt Nam Đề tài đã phân tích rõ
Trang 175
các hình thức đấu thầu mua thuốc bao gồm:
+ Đấu thầu tập trung: Với mô hình này, Sở Y tế có vai trò là chủ đầu tư
tổ chức đấu thầu tập trung những loại thuốc có nhu cầu sử dụng thường xuyên, ổn định và có số lượng lớn cho tất cả các cơ sở y tế công lập thuộc địa phương quản lý Danh mục thuốc đưa vào đấu thầu được tổng hợp theo nhu cầu tất cả các cơ sở khám bệnh, chữa bệnh, giá thuốc trúng thầu được áp dụng chung cho tất cả các cơ sở khám bệnh, chữa bệnh trên địa bàn Việc mua thuốc được thực hiện trực tiếp giữa từng cơ sở khám bệnh, chữa bệnh với mỗi đơn vị trúng thầu hoặc một đơn vị trúng thầu nhận ủy quyền của các đơn vị trúng thầu khác để cung ứng toàn bộ
+ Đấu thầu đại diện: Theo mô hình này, Sở Y tế chỉ định một hoặc một vài cơ sở khám bệnh, chữa bệnh tổ chức đấu thầu đại diện (thường là bệnh viện đa khoa tỉnh và một số bệnh viện đa khoa huyện) Các cơ sở khám bệnh, chữa bệnh khác sử dụng kết quả trúng thầu để mua thuốc cung ứng cho người bệnh BHYT Áp dụng mô hình này, giá thuốc cũng được áp dụng thống nhất trên địa bàn tỉnh nhưng danh mục thuốc tại bệnh viện không tổ chức đấu thầu phụ thuộc vào danh mục trúng thầu Các đơn vị trúng thầu cung ứng thuốc cho từng cơ sở khám bệnh, chữa bệnh trực tiếp hoặc gián tiếp qua ủy quyền với một đơn vị trúng thầu
+ Đấu thầu và mua sắm đơn lẻ: Với mô hình này mỗi cơ sở khám bệnh, chữa bệnh công lập sẽ tự tổ chức đấu thầu mua thuốc Danh mục thuốc đưa vào đấu thầu được xây dựng theo nhu cầu sử dụng thuốc của mỗi đơn vị Giá thuốc đưa vào đấu thầu được xây dựng theo nhu cầu sử dụng thuốc của mỗi đơn vị Giá thuốc trúng thầu có thể không thống nhất giữa các cơ sở khám bệnh, chữa bệnh trên cùng địa bàn Hình thức này thường được áp dụng tại các cơ sở tuyến Trung ương Tác giả cũng chỉ ra rằng, khi so sánh giá thuốc trúng thầu của cùng một loại thuốc, nhưng do nhiều hãng sản xuất tại các cơ
Trang 186
sở khám bệnh, chữa bệnh khác nhau trong cùng một địa bàn năm 2010:
+ Giá thuốc không thống nhất ngay trên cùng một địa bàn, thuốc cùng một thành phần, hàm lượng nhưng giá rất khác nhau Tình trạng này phổ biến
ở các tỉnh áp dụng hình thức đấu thầu đơn lẻ và đấu thầu đại diện Tại Hà Nội
và TP Hồ Chí Minh, cùng một thuốc Cefuroxim 500mg/lọ của nhà sản xuất khác nhau, so sánh giá thấp nhất của thuốc sản xuất trong nước với thuốc ngoại nhập chênh lệch từ 33% đến 83%
+ Thuốc cùng một hãng sản xuất nhưng giá thuốc chênh lệch giữa các bệnh viện, mức độ chênh lệch lên đến 28%
+ Trên địa bàn Hà Nội nơi khám bệnh, chữa bệnh cung ứng thuốc qua đấu thầu trực tiếp, giá cùng một loại thuốc không thống nhất, kể cả giữa 2 lần đấu thầu ngay tại một bệnh viện
Kết quả nghiên cứu của Luận án đã chỉ ra rằng: Mua sắm thuốc thông qua đấu thầu là phương thức cơ bản để các cơ sở khám bệnh, chữa bệnh cung ứng thuốc cho người bệnh BHYT Kết quả nghiên cứu cho thấy cả 3 hình thức đấu thầu đều được áp dụng, trong đó hình thức đấu thầu mua sắm thuốc tập trung là phương thức mua sắm thuốc chủ yếu
- Luận văn thạc sĩ với tên đề tài "So sánh kết quả lựa chọn nhà thầu thuốc của bệnh viện Trung ương quân đội 108 năm 2014 và 2015” của tác giả Hoàng Anh Tuấn - Đại học Dược Hà Nội Đề tài đã nghiên cứu cơ bản về luật đấu thầu, các phương thức đấu thầu mua thuốc, so sánh được kết quả và danh mục trúng thầu tại Bệnh viện Trung ương quân đội 108 giữa năm 2014 và
2015, từ đó rút ra được kinh nghiệm về đấu thầu thuốc của bệnh viện
- Đề tài “Quản lý Nhà nước về đấu thầu mua sắm công ở Việt Nam”
của tác giả Đỗ Kiến Vọng năm 2019, Luận án tiến sĩ Kinh tế, Học viện Khoa học xã hội Luận án đã hệ thống hóa và hình thành khung lý luận cơ bản về các khái niệm: Chi tiêu công, mua sắm công, đấu thầu, đấu thầu mua sắm
Trang 197
công và quản lý nhà nước về đấu thầu mua sắm công, nội dung quản lý nhà nước về đấu thầu mua sắm công Luận án đã đề xuất một mô hình quản lý nhà nước mới về đấu thầu mua sắm công, theo đó mô hình mới sẽ góp phần nâng cao tính hiệu lực, hiệu quả của bộ máy trong việc thực hiện chức năng quản lý nhà nước về đấu thầu mua sắm công ở Việt Nam trong thời gian tới
Nhận xét, các đề tài trên tập trung vào vấn đề quản lý đấu thầu về vật tư
y tế hay tài chính cho vật tư y tế, chưa có nhiều nghiên cứu về kiểm soát giá, hay quy trình đấu thầu,… Do vậy, luận văn này góp phần làm sáng tỏ thêm hoạt động mua, bán, đấu thầu và cung cấp vật tư, hóa chất trong ngành y tế
3 Mục tiêu nghiên cứu
Mục tiêu chung
Đề tài nghiên cứu thực trạng hệ thống kiểm soát nội bộ trong công tác đấu thầu mua vật tư, hóa chất tại Trung tâm Y tế huyện Vĩnh Thạnh, tỉnh Bình Định giai đoạn 2016 - 2018 từ đó đưa ra một số giải pháp hoàn thiện hệ thống kiểm soát nội bộ quy trình đấu thầu mua vật tư, hóa chất tại Trung tâm
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu: Kiểm soát nội bộ và kiểm soát quy trình đấu thầu mua vật tư, hóa chất tại Trung tâm Y tế huyện Vĩnh Thạnh, tỉnh Bình Định
Trang 208
- Phạm vi nghiên cứu về không gian: Trung tâm Y tế huyện Vĩnh Thạnh, tỉnh Bình Định
- Phạm vi nghiên cứu về thời gian: Các số liệu thống kê được phân tích
từ năm 2016 đến năm 2018 Dữ liệu khảo sát từ bảng khảo sát thực tế từ viên chức tại Trung tâm Y tế huyện Vĩnh Thạnh, tỉnh Bình Định với số lượng khảo sát phát ra 82 phiếu, thu về là 72 phiếu hợp lệ
5 Phương pháp nghiên cứu
Đề tài sử dụng chủ yếu phương pháp nghiên cứu định tính, cụ thể các công việc:
- Phương pháp quan sát thực tế tại địa bàn: Thu thập thông tin liên quan tại Trung tâm y tế về kiểm soát nội bộ Phân tích các yếu tố cấu thành hệ thống kiểm soát nội bộ, thực trạng về kiểm soát nội bộ một số đơn vị trong lĩnh vực công
- Phương pháp điều tra: Lập bảng câu hỏi, xử lý kết quả điều tra thông qua thống kê mô tả từ các bảng câu hỏi để đánh gia thực trạng kiểm soát nội
bộ quy trình kiểm soát nội bộ tại Trung tâm Y tế huyện Vĩnh Thạnh, tỉnh Bình Định
- Sử dụng phương pháp suy diễn và quy nạp để đề ra các nhận xét giải pháp nâng cao hiệu quả của hệ thống kiểm soát nội bộ tại đơn vị nghiên cứu
6 Ý nghĩa khoa học của đề tài
- Về ý nghĩa khoa học: Hệ thống hoá những lý luận về INTOSAI và văn bản pháp luật về đấu thầu, làm rõ thêm lý thuyết về quy trình đấu thầu mua vật tư, hóa chất; phân tích những nhân tố ảnh hưởng đến quy trình đấu thầu mua vật tư, hóa chất tại bệnh viện
- Về ý nghĩa thực tiễn: Các giải pháp đề ra với mục đích cải tiến qui trình nghiệp vụ, nâng cao chất lượng công tác đấu thầu theo hướng đảm bảo tính công khai, minh bạch, rõ ràng, đảm bảo hiệu quả, tiết kiệm đúng mục đích
Trang 219
7 Kết cấu của đề tài
Ngoài phần mở đầu và kết luận, luận văn được chia thành 3 chương:
- Chương 1: Cơ sở lý luận về kiểm soát nội bộ quy trình đấu thầu
- Chương 2: Thực trạng kiểm soát nội bộ quy trình đấu thầu mua vật tư, hóa chất tại trung tâm Y tế huyện Vĩnh Thạnh, tỉnh Bình Định
- Chương 3: Giải pháp hoàn thiện kiểm soát nội bộ quy trình đấu thầu mua vật tư, hóa chất tại trung tâm Y tế huyện Vĩnh Thạnh, tỉnh Bình Định
Trang 2210
ọc CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ KIỂM SOÁT NỘI BỘ
QUY TRÌNH ĐẤU THẦU 1.1 Tổng quan về hệ thống kiểm soát nội bộ trong khu vực công
1.1.1 Lịch sử ra đời và phát triển lý thuyết kiểm soát nội bộ trong khu vực công
Khái niệm kiểm soát nội bộ bắt đầu xuất hiện vào đầu thế kỉ XX trong các tài liệu về kiểm toán với một ý nghĩa rất đơn giản: Các biện pháp nhằm bảo vệ tiền không bị nhân viên biển thủ…Nhiều năm sau đó, kiểm soát nội bộ trở thành một khái niệm được các kiểm toán viên rất quan tâm trong quá trình kiểm toán báo cáo tài chính Năm 1992, báo cáo COSO ra đời đã tạo lập một
cơ sở lý thuyết cơ bản về kiểm soát nội bộ Chính sự xuất hiện của báo cáo này
đã đưa ra một định nghĩa, một cách hiểu chung được chấp nhận rộng rãi về kiểm soát nội bộ và hỗ trợ các nhà quản lý kiểm soát tốt hơn tổ chức của họ…
Trong lĩnh vực công, kiểm soát nội bộ rất được xem trọng, nó là một đối tượng được quan tâm đặc biệt của kiểm toán viên nhà nước Kiểm toán nhà nước ngày nay đã được biết đến và công nhận trên toàn thế giới, sự phát triển này kéo theo việc thừa nhận về tầm quan trọng của Cơ quan kiểm toán tối cao (SAI), đó là vai trò kiểm toán các tài khoản và hoạt động của chính phủ, thúc đẩy việc lành mạnh hóa trong quản lý tài chính và nâng cao chất lượng giải trình của chính phủ ở từng quốc gia Một số quốc gia như Mỹ, Canada đã có những công bố chính thức về kiểm soát nội bộ áp dụng cho các
cơ quan sự nghiệp Chuẩn mực về kiểm toán của Tổng kế toán nhà nước Hoa
Kỳ (GAO) 1999 có đề cập đến vấn đề kiểm soát nội bộ đặc thù trong tổ chức
sự nghiệp GAO đưa ra năm yếu tố về kiểm soát nội bộ bao gồm các quy định
về môi trường kiểm soát, đánh giá rủi ro, các hoạt động kiểm soát, thông tin
và truyền thông, giám sát “Về kiểm toán nhà nước, hệ thống chuẩn mực kiểm toán nhà nước do Tổ chức quốc tế các cơ quan kiểm toán tối cao (INTOSAI) ban hành bao gồm quy tắc đạo đức nghề nghiệp và chuẩn mực kiểm toán”
Trang 2311 Với vai trò là hiệp hội nghề nghiệp của các SAI, tổ chức Quốc tế các cơ quan Kiểm toán tối cao (INTOSAI) đã góp phần rất lớn trong việc giúp các thành viên hoàn thành nhiệm vụ của mình INTOSAI là một tổ chức tự chủ, độc lập và phi chính trị được thành lập như một thể chế vĩnh viễn, trụ sở chính đặt tại Viên, Áo INTOSAI là diễn đàn để kiểm toán viên nhà nước trên toàn thế giới có thể trao đổi những vấn đề cùng quan tâm và cập nhật những tiến bộ mới nhất của các chuẩn mực kiểm toán và các quy định về nghề nghiệp khác, cũng như những thông lệ tốt nhất Trong các kỳ đại hội, INTOSAI đặt trọng tâm vào những vấn đề chủ yếu đang đặt ra đối với các SAI, giúp các thành viên đưa ra các giải pháp sáng tạo để khắc phục những trở ngại chung Theo đuổi mục tiêu đó, khẩu hiệu của INTOSAI là “Trao đổi kinh nghiệm làm lợi cho tất cả”
INTOSAI ra đời vào năm 1953 và đã phát triển từ 34 quốc gia ban đầu cho đến nay đã có 191 SAI thành viên chính thức và 4 thành viên dự bị Đại hội INTOSAI được tổ chức thường kỳ 3 năm một lần Tuyên bố Lima về hướng dẫn nhận thức trong kiểm toán, được chấp nhận tại đại hội quốc tế lần thứ 9 vào năm 1977, được biết đến như là luật lệ cơ bản của kiểm toán nhà nước Nó cung cấp một khuôn khổ về lý thuyết và khái niệm cho các công việc của INTOSAI Trong tuyên bố này, INTOSAI đã đặc biệt nhấn mạnh đến tính độc lập của các SAI với những tổ chức nhà nước khác và việc tạo lập một môi trường dân chủ Kiểm toán nhà nước Việt Nam là thành viên chính thức của tổ chức INTOSAI từ tháng 7/1996, Kiểm toán Nhà nước Việt Nam đã tham gia ngày càng tích cực vào quá trình hội nhập quốc tế, có mối quan hệ hợp tác rộng rãi và đã ký kết văn kiện hợp tác với hàng chục cơ quan kiểm toán tối cao và các tổ chức quốc tế có uy tín khắp các châu lục Năm 1997, Việt Nam tham gia tổ chức cơ quan kiểm toán tối cao Châu Á (ASOSAI) ASOSAI thành lập năm 1979, hiện có hơn 45 thành viên Từ tháng 10/2009,
Trang 2412 Việt Nam là thành viên Ban điều hành tổ chức này nhiệm kỳ 2009 – 2012
Tại đại hội Washington (Hoa Kỳ) năm 1992, quy chế của INTOSAI đã được sửa đổi và được chấp nhận là hiến chương của tổ chức, trong đó mô tả
về cơ cấu, các thành viên, nhiệm vụ và nguyên tắc của INTOSAI Cũng tại đại hội này, hai tài liệu cũng được thông qua, đó là chuẩn mực kiểm toán và những hướng dẫn về chuẩn mực kiểm soát nội bộ Tài liệu này đã tích hợp các lý luận chung về kiểm soát nội bộ của báo cáo COSO và những điểm đặc thù của khu vực công Năm 2001, INTOSAI được cập nhật và công bố vào năm 2004 Năm 2013, INTOSAI tiếp tục cập nhật và công bố và áp dụng vào năm 2014 Trên bình diện quốc tế, với vai trò tổ chức tiên phong, trong kiểm toán khu vực công, INTOSAI đã ban hành những hướng dẫn quốc tế về quản
lý tài chính, cùng nhiều lĩnh vực khác, phát triển những phương pháp luận có liên quan, tổ chức huấn luyện và thúc đẩy việc trao đổi thông tin giữa các thành viên INTOSAI sử dụng 5 ngôn ngữ chính thức: Ả Rập, Anh, Pháp, Đức và Tây Ban Nha
a Khái niệm kiểm soát nội bộ trong khu vực công
Hướng dẫn chuẩn mực của KSNB của INTOSAI 1992 đưa ra định nghĩa
về KSNB như sau: Theo Báo cáo INTOSAI (1992) KSNB là cơ cấu của một tổ chức, bao gồm nhận thức, phương pháp, quy trình và các biện pháp của người lãnh đạo nhằm bảo đảm sự hợp lý để đạt được các mục tiêu của tổ chức:
- Thúc đẩy các hoạt động hữu hiệu, hiệu quả và có kỷ cương cũng như chất lượng của sản phẩm, dịch vụ phù hợp với nhiệm vụ của tổ chức
- Bảo vệ các nguồn lực không bị thất thoát, lạm dụng, lãng phí, tham ô
và vi phạm pháp luật
- Khuyến khích tuân thủ pháp luật, quy định của Nhà nước và nội bộ
- Xây dựng và duy trì các dữ liệu tài chính, hoạt động và lập báo cáo đúng đắn và kịp thời
Trang 2513
Ngoài ra, tài liệu hướng dẫn của INTOSAI 1992 được cập nhật thêm vào năm 2013, đưa ra những quy tắc và quy định cho các mục tiêu về KSNB như sau:
- Thực hiện các hoạt động một cách có kỷ cương, có đạo đức, có tính kinh tế, hiệu quả và thích hợp
- Thực hiện đúng trách nhiệm
- Tuân thủ theo luật pháp hiện hành và các nguyên tắc, quy định
- Bảo vệ các nguồn lực chống thất thoát, sử dụng sai mục đích và tổn thất
- Thực hiện kiểm soát những hành vi sai phạm trong thực thi công vụ, chống tham nhũng, tiêu cực trong bộ máy, giảm thiểu những sai phạm nghiêm trọng và gây thất thoát tài sản của Nhà nước
So với định nghĩa của báo cáo COSO 2013, khía cạnh giá trị đạo đức trong hoạt động được thêm vào INTOSAI Mục tiêu của KSNB được nhấn mạnh thêm, đó chính là tầm quan trọng của hành vi đạo đức cũng như sự ngăn chặn và phát hiện sự gian lận, không trung thực và tham nhũng trong khu vực công
Ngân sách của Nhà nước được phân bố rộng rãi, chính vì vậy cần có các kiểm soát nhằm đảm bảo ngân sách được sử dụng đúng mục đích, các tài sản không bị thất thoát hay lãng phí Vì vậy, việc bảo vệ nguồn lực cần được nhấn mạnh thêm tầm quan trọng trong KSNB đối với khu vực công
b Mục tiêu kiểm soát nội bộ trong khu vực công
Luật Kiểm toán Nhà nước đã xác định hoạt động kiểm toán nhà nước là: Việc kiểm tra, đánh giá, xác nhận tính đúng đắn, trung thực của báo cáo tài chính; việc tuân thủ pháp luật; tính kinh tế, hiệu lực và hiệu quả trong quản
lý, sử dụng ngân sách, tiền và tài sản nhà nước Do đó hoạt động kiểm toán nhà nước là một hình thức hậu kiểm phục vụ cho việc kiểm tra, giám sát của Nhà nước, từ việc kiểm tra, những sai phạm hoặc yếu kém sẽ được phát hiện góp phần ngày càng nâng cao chất lượng, hiệu quả của Nhà nước, trong đó
Trang 2614
chủ yếu là các đơn vị thuộc khu vực công Tuy nhiên, nhìn từ dưới góc độ chủ động phòng ngừa, ngăn chặn sai phạm và yếu kém, một hệ thống tiền kiểm cũng không kém phần quan trọng cho việc nâng cao chất lượng, hiệu quả hoạt động của Nhà nước Đó chính là hệ thống KSNB trong các đơn vị thuộc khu vực công
Trong khu vực công, hướng dẫn về KSNB của Tổ chức quốc tế các cơ quan kiểm toán tối cao (INTOSAI) đã được ban hành năm 1992 và cập nhật năm 2001, đưa ra các quan điểm và hướng dẫn về KSNB trong các đơn vị thuộc khu vực công Tại Hoa Kỳ, Chuẩn mực về kiểm soát nội bộ trong chính quyền liên bang được Cơ quan Kiểm toán Nhà nước (GAO) ban hành năm
1999 Nhìn chung, các chuẩn mực về KSNB trong khu vực công hiện nay đặt trên nền tảng của Báo cáo COSO 1992 và 2003
Trong khu vực công tại Việt Nam hiện nay, các nhà quản lý trong khu vực công thường dựa trên các quy định của pháp luật, kinh nghiệm cá nhân
để hành xử hơn là một cái nhìn tổng quát và có hệ thống về công tác kiểm soát Ngoài ra, việc thiếu một kỹ năng phân tích từ mục tiêu, rủi ro đến các hoạt động kiểm soát sẽ dẫn đến tổn hao nguồn lực vào những thủ tục kiểm soát không cần thiết trong khi lại bỏ sót những rủi ro quan trọng
c Đặc điểm tổ chức hệ thống kiểm soát nội bộ trong khu vực công
Dịch vụ công ở các nước trên thế giới rất đa dạng và phong phú Nếu xem xét đến nguồn kinh phí để duy trì hoạt động thường xuyên thì có một điểm cơ bản giống nhau là các đơn vị đều có sử dụng nguồn vốn NSNN cấp
và một phần tự thu, chi cho hoạt động của đơn vị đó Vì vậy chức năng cơ bản của đơn vị có hoạt động dịch vụ công là vừa thực hiện một số nhiệm vụ chuyên môn, chính trị của Nhà nước giao vừa tự hoạt động trên nguồn lực sẵn
có, phù hợp với chức năng nhiệm vụ của mình để phục vụ công ích xã hội
Tuy nhiên, đơn vị dịch vụ công ở mỗi nước cũng có những đặc thù
Trang 2715
khác nhau tùy thuộc vào thể chế chính trị của từng quốc gia và cơ chế hoạt động tài chính công của từng quốc gia Ở Việt Nam, Nhà nước ban hành quy định rất cụ thể từng loại hình đơn vị sự nghiệp, dựa vào khả năng tự chủ về kinh phí của đơn vị để xây dựng các tiêu thức phân loại, đơn vị nào có khả năng tự đảm bảo kinh phí hoạt động nhiều hơn thì được giao quyền tự chủ nhiều hơn
Đa số các đơn vị sự nghiệp công sử dụng NSNN là chính, phần tự chủ tài chính của đơn vị thường nhỏ hơn, điều này là do các đơn vị phải tập trung vào thực hiện nhiệm vụ công ích xã hội của Nhà nước giao Mặc dù nguồn tài chính
ở đơn vị dịch vụ công có cơ cấu thu chi khác nhau, nhưng có điểm chung là các khoản chi tiêu đều phải tuân thủ chế độ chính sách, phù hợp với dự toán và tình hình thực tế của đơn vị, nhất là các hoạt động được NSNN cấp
Gần đây, ở Việt Nam đã thực hiện việc khoán chi hành chính, giao quyền tự chủ về kinh phí cho các đơn vị sự nghiệp công, điều này đã khuyến khích các đơn vị tiết kiệm chi phí hành chính, đổi mới cơ chế quản lý sao cho hiệu quả, đẩy mạnh công tác tự kiểm tra tài chính để phòng ngừa các rủi ro, giảm các hành vi gian lận, lãng phí, lành mạnh hoá các quan hệ tài chính
1.1.2 Khái niệm và mục tiêu của kiểm soát nội bộ
1.1.2.1 Theo INTOSAI 1992
Theo tài liệu hướng dẫn của INTOSAI 1992, khái niệm KSNB được định nghĩa như sau: KSNB là cơ cấu của một tổ chức, bao gồm nhận thức, phương pháp, quy trình và các biện pháp của người lãnh đạo nhằm bảo đảm
sự hợp lý để đạt được các mục tiêu của tổ chức Trong đó mục tiêu của tổ chức bao gồm:
- Thúc đẩy các hoạt động của đơn vị diễn ra có trình tự, đạt được tính hữu hiệu và hiệu quả trong việc thực hiện nhiệm vụ của đơn vị
- Bảo vệ các nguồn lực không bị thất thoát, tham ô, lãng phí và sử dụng sai mục đích
Trang 2816
- Tuân thủ quy định của pháp luật và nội quy của đơn vị
- Thiết lập và báo cáo các thông tin tài chính, thông tin quản lý kịp thời
và đáng tin cậy
1.1.2.2 Theo INTOSAI 2004
INTOSAI 2004 định nghĩa về KSNB như sau: KSNB là một quá trình bị chi phối bởi nhà quản lý và các nhân viên trong đơn vị, nó được thiết lập để đối phó với các rủi ro và cung cấp một sự đảm bảo hợp lý nhằm đạt được các mục tiêu chung của tổ chức Theo đó, có 5 đặc điểm quan trọng cần làm rõ, đó là:
- KSNB là một quá trình KSNB không phải là từng hoạt động riêng rẽ
mà là một chuỗi các hoạt động kiểm soát hiện diện ở mọi bộ phận trong đơn
vị và được kết hợp với nhau thành một thể thống nhất Quá trình này là một phương tiện giúp đơn vị đạt được mục tiêu của mình
- KSNB chịu sự chi phối của con người KSNB được thiết kế và vận hành bởi con người Vì vậy, muốn hệ thống KSNB thực sự hữu hiệu và hiệu quả, tạo thành sức mạnh tổng hợp thì từng thành viên trong tổ chức phải hiểu được trách nhiệm, quyền hạn của mình và hướng các hoạt động của họ đến mục tiêu chung của tổ chức
- KSNB được thiết lập để đối phó với rủi ro Hoạt động của tổ chức luôn phải đối mặt với nhiều rủi ro tiềm ẩn KSNB có thể giúp tổ chức nhận diện, chủ động phòng ngừa và đối phó với những rủi ro này, qua đó tối đa hóa khả năng đạt được mục tiêu
- KSNB cung cấp một sự đảm bảo hợp lý Trong tổ chức luôn có những rủi ro tiềm tàng và trong bản thân hệ thống KSNB cũng tồn tại những hạn chế tiềm tàng Đó là sự phức tạp trong hoạt động của đơn vị, sự thông đồng của các cá nhân hay lạm quyền của nhà quản lý… Do đó, KSNB chỉ có thể cung cấp một sự đảm bảo hợp lý trong việc đạt được mục tiêu của đơn vị chứ không thể đảm bảo tuyệt đối
Trang 2917
- Các mục tiêu của KSNB Hoạt động của tổ chức luôn hướng về mục tiêu đề ra Ở khu vực công, mục tiêu thường liên quan đến các dịch vụ công cộng và lợi ích cộng đồng, bao gồm:
+ Mục tiêu hoạt động: nhằm đạt được sự hữu hiệu và hiệu quả trong hoạt động của đơn vị
+ Mục tiêu về báo cáo: báo cáo cung cấp các thông tin tài chính và phi tài chính kịp thời, phù hợp cho các đối tượng sử dụng
+ Mục tiêu tuân thủ: tuân thủ công ước quốc tế, pháp luật của quốc gia
và các quy định có liên quan
+ Mục tiêu về bảo vệ nguồn lực: mục tiêu này là phần chi tiết hóa mục tiêu về hoạt động của đơn vị, nhưng do đặc thù của khu vực công nên INTOSAI muốn nhấn mạnh thêm tầm quan trọng của việc sử dụng hợp lý nguồn ngân sách, tránh lạm dụng, lãng phí nguồn lực quốc gia
1.1.2.3 Theo INTOSAI 2013
Khái niệm về KSNB theo hướng dẫn của INTOSAI 2013 cũng giống như những hướng dẫn của INTOSAI 2004 tuy nhiên về mục tiêu của báo cáo theo INTOSAI có sự thay đổi theo hướng dẫn về quản trị rủi ro, KSNB và biện pháp để giảm thiểu gian lận, từ đó giúp cải thiện hiệu quả hoạt động cũng như tăng cường sự giám sát của tổ chức
Các vấn đề không thay đổi trong INTOSAI 2013 là:
- Định nghĩa về KSNB
- Các tiêu chuẩn nền tảng được sử dụng để đánh giá sự hữu hiệu của hệ thống KSNB
- Sử dụng sự xét đoán trong việc đánh giá sự hữu hiệu của hệ thống KSNB
- Xác định KSNB là một quá trình không thể thiếu của tổ chức nhằm đạt được các mục tiêu về: Tính hữu hiệu và hiệu quả của các hoạt động trong đơn vị, tôn trọng pháp luật và các quy định có liên quan, thiết lập và báo cáo
Trang 30Các thay đổi trong INTOSAI 2013:
- Hướng dẫn về quản trị rủi ro, KSNB và biện pháp để giảm thiểu gian lận, từ đó giúp cải thiện hiệu quả hoạt động cũng như tăng cường sự giám sát của tổ chức, có cả yếu tố ERP trong quản lý
- Cập nhật các thay đổi trong kinh doanh, môi trường hoạt động
- Mở rộng mục tiêu kinh doanh và mục tiêu báo cáo: Mục tiêu tài chính
và phi tài chính
- Các khái niệm căn bản về nhân tố tổng hợp thành các nguyên tắc
1.1.3 Các bộ phận cấu thành hệ thống kiểm soát nội bộ theo INTOSAI
Dựa trên nền tảng báo cáo COSO, hướng dẫn về KSNB của INTOSAI cũng đưa ra 5 bộ phận của hệ thống KSNB
Sơ đồ 1.1 Các bộ phận hợp thành hệ thống KSNB
Hệ thống KSNB
Giám sát
Thông tin
và truyền thông
Hoạt động kiểm soát
Môi trường kiểm soát
Đánh giá rủi ro
Trang 3119
1.1.3.1 Môi trường kiểm soát
Môi trường kiểm soát là không gian, văn hóa thể hiện sắc thái của tổ chức Môi trường kiểm soát là nền tảng cho các yếu tố cơ bản khác Môi trường kiểm soát được phản ánh qua: tính kỷ luật, cơ cấu tổ chức, giá trị đạo đức, phong cách điều hành, …
a Sự liêm chính và giá trị đạo đức
- Tính trung thực và giá trị đạo đức là kết quả của chuẩn mực về đạo đức
và cách cư xử trong một đơn vị và việc họ được truyền đạt thông tin và tăng cường việc thực hiện như thế nào Bao gồm những hoạt động làm gương của người quản lý và thái độ cơ xử đúng mực của các nhân viên, thể hiện qua việc các cá nhân phải tuân thủ pháp luật, nội quy và đạo đức trong mọi thời điểm
- Thái độ và cách điều hành của người quản lý, của toàn bộ tổ chức trong việc thiết lập các chính sách về kế toán, tài chính của đơn vị phải mang tính công bằng, khách quan Người lãnh đạo gương mẫu, có hành vi cư xử liêm chính, chuẩn mực trong việc ra các quyết định quản lý và cư xử với nhân viên là căn cứ quan trọng để thiết lập nền nếp và văn hóa của doanh nghiệp
- Nhà quản lý phải làm gương cho cấp dưới về việc tuân thủ pháp luật Đồng thời phải loại trừ hoặc giảm thiếu những sức ép làm cho các nhân viên
có thể có những hành vi thiếu trung thực
b Năng lực nhân viên
- Năng lực nhân viên bao gồm trình độ hiểu biết và kỹ năng làm việc cần thiết để đảm bảo việc thực hiện có kỷ cương, trung thực, tiết kiệm, hiệu quả và hữu hiệu cũng như có sự am hiểu đúng đắn về trách nhiệm của bản thân trong việc thiết lập hệ thống kiểm soát nội bộ
- Lãnh đạo và nhân viên phải duy trì một trình độ đủ để hiểu được việc xây dựng thực hiện, duy trì của KSNB, vai trò của KSNB và trách nhiệm của họ trong việc thực hiện sứ mệnh chung của tổ chức Tất cả mọi
Trang 3220 người trong một tổ chức liên quan đến kiểm soát nội bộ đều có trách nhiệm
cụ thể của mình
- Các nhà quản lý và nhân viên phải duy trì và thể hiện một mức độ kỹ năng cần thiết để đánh giá rủi ro và giúp đảm bảo hoạt động hữu hiệu và hiệu quả; và sự hiểu biết về kiểm soát nội bộ đủ để hoàn thành trách nhiệm của họ
Do đó, việc tuyển dụng những người có kiến thức và kinh nghiệm phù hợp với nhiệm vụ được giao là rất cần thiết với các nhà quản lý Đào tạo là một phương thức hữu hiệu để nâng cao trình độ cho các thành viên trong tổ chức,
đó là hướng dẫn về mục tiêu KSNB, phương pháp giải quyết những tình huống khó xử trong công việc
c Triết lý quản lý và phong cách lãnh đạo
Thể hiện qua cá tính, tư cách và thái độ của của nhà lãnh đạo khi điều hành Nếu nhà lãnh đạo cấp cao cho rằng KSNB là quan trọng thì những thành viên khác trong tổ chức cũng sẽ cảm nhận được điều đó và sẽ theo đó
mà tận tâm xây dựng hệ thống KSNB Tinh thần này biểu hiện ra thành những quy định đạo đức ứng xử trong cơ quan
d Cơ cấu tổ chức
Cơ cấu tổ chức thường được mô tả qua sơ đồ tổ chức, và được thể chế hóa bằng văn bản về những nhiệm vụ và quyền hạn cụ thể của từng bộ phận, từng thành viên trong bộ phận và mối quan hệ giữa họ với nhau Cơ cấu tổ chức giúp cho mỗi thành viên hiểu được nhiệm vụ cụ thể
Cơ cấu tổ chức phụ thuộc vào quy mô và đặc điểm hoạt động của đơn
vị, giúp cho đơn vị thực hiện chiến lược và đạt được mục tiêu đề ra
Một cơ cấu tổ chức hợp lý sẽ đảm bảo cho sự thông suốt trong việc ủy quyền và phân công trách nhiệm Cơ cấu tổ chức được xây dựng sao cho có thể ngăn ngừa sự vi phạm các quy chế kiểm soát nội bộ và loại được những sai lầm và gian lận
Trang 33Ngoài ra, những nhân viên trung thực và làm việc hiệu quả có thể làm việc ở trình độ cao thậm chí khi chỉ có rất ít nội dung kiểm soát hỗ trợ cho họ Thậm chí ngay cả khi có nhiều nội dung kiểm soát hỗ trợ mà những nhân viên không trung thực và không có năng lực thì họ vẫn có thể lúng túng và làm giảm hiệu lực của hệ thống kiểm soát
1.1.3.2 Đánh giá rủi ro
Trong tất cả mọi hoạt động của đơn vị đều có thể phát sinh những rủi ro
và khó có thể kiểm soát tất cả Do đó, các Nhà quản lý phải đánh giá và phân tích những nhân tố ảnh hưởng tạo nên rủi ro làm cho những mục tiêu có thể không đạt được và cố gắng kiểm soát để tối thiểu hóa những tổn thất do các rủi ro này gây ra
- Mục tiêu của đơn vị: Mục tiêu là điều kiện tiên quyết để đánh giá rủi
ro Rủi ro ở đây được xác định là rủi ro tác động khiến cho mục tiêu đó có khả năng không thực hiện được như mục tiêu hoạt động, mục tiêu báo cáo tài chính, mục tiêu tuân thủ
- Nhận dạng rủi ro: Căn cứ vào nội dung rủi ro có thể tác động đến tổ
chức ở mức độ toàn đơn vị (Rủi ro hoạt động, Rủi ro tuân thủ, Rủ ro báo cáo tài chính), hay chỉ ảnh hưởng đến từng hoạt động cụ thể (hoạt động bán hàng, mua hàng, kế toán…) rồi liên quan đến mức độ rộng hơn Nhà quản lý có thể
sử dụng nhiều phương pháp khác nhau: phương tiện dự báo, phân tích dữ liệu,
Trang 3422
rà soát hoạt động thường xuyên Ở mức độ toàn đơn vị hay từng bộ phận với các doanh nghiệp nhỏ, với môi trường bên trong hay bên ngoài nhà quản lý có thể tiếp xúc với khách hàng, ngân hàng, các buổi họp nội bộ
- Phân tích và đánh giá rủi ro: Đây là công việc khá phức tạp vì rủi ro
rất khó định lượng và có nhiều phương pháp khác nhau Căn cứ mức độ ảnh hưởng rủi ro phân tích ước lượng tầm cỡ của rủi ro có thể ảnh hưởng đến mục tiêu, xem xét khả năng xảy ra rủi ro và những biện pháp có thể sử dụng đối phó với rủi ro, phương phát kiểm soát rủi ro, xác định mức rủi ro
- Đối phó rủi ro: Việc khắc phục rủi ro chia làm 4 loại: Phân tán, chấp nhận, tránh né và xử lý hạn chế rủi ro Trong vài trường hợp, rủi ro có thể được chuyển giao, chấp nhận hoặc loại bỏ Tuy nhiên, rủi ro thường được xử
lý, tổ chức phải tiến hành và duy trì hệ thống KSNB để giữ rủi ro ở mức chấp nhận được Cần phải nhấn mạnh là không thể loại bỏ hết các rủi ro và hệ thống KSNB đảm bảo cho việc hoàn thành các mục tiêu của tổ chức Tuy nhiên, tổ chức nhận dạng và khắc phục rủi ro sẽ giúp xử lý nhanh chóng khi mọi chuyện không như ý muốn và thích nghi với sự thay đổi Khi xây dựng
hệ thống KSNB quan trọng là các hoạt động kiểm soát phải tỷ lệ với rủi ro Tránh các kết quả không như mong muốn, hệ thống phải đảm bảo các mất mát nằm trong khả năng chịu đựng của tổ chức Mỗi hệ thống đều có chi phí,
hệ thống phải cung cấp các giá trị tương ứng với chi phí bỏ ra khi nhận dạng rủi ro Mục đích của đối phó rủi ro không nhất thiết phải loại trừ rủi ro mà phần lớn có khả năng là bao hàm nó Các thủ tục để tổ chức thành lập các biện pháp xử lý được gọi là các hoạt động của KSNB Đánh giá rủi ro nên đóng một vai trò quan trọng trong việc lựa chọn các hoạt động kiểm soát thích hợp để thực hiện Điều quan trọng phải lặp lại rằng đánh giá rủi ro không thể loại trừ tất cả rủi ro và KSNB chỉ có thể cung cấp đảm bảo hợp lý rằng các mục tiêu của tổ chức đó đã đạt được Tuy nhiên các đơn vị chủ động xác minh
Trang 3523
và quản lý rủi ro có nhiều khả năng được chuẩn bị tốt hơn để đáp ứng một cách nhanh chóng khi mọi thứ đi sai và đáp ứng những thay đổi
1.1.3.3 Hoạt động kiểm soát
Hoạt động kiểm soát là những chính sách và thủ tục nhằm đảm bảo cho các chỉ thị của nhà quản lý được thực hiện Hoạt động kiểm soát phải diễn ra trong toàn bộ tổ chức, không ngoại trừ bất kỳ cấp độ hay hoạt động nào
Hoạt động kiểm soát cần có các bước sau:
- Thủ tục phân quyền và xét duyệt: Các nhà quản lý không có đủ thời gian và nguồn lực để giám sát hoạt động và quyết định của từng cá nhân Vì vậy, các quy định được thiết lập, nhân viên được quyền hoạt động trong khuôn khổ của các quy định đó Việc trao quyền hoạt động này được gọi là sự
ủy quyền, là phần quan trọng trong quy trình kiểm soát của một tổ chức và do người được ủy quyền thực hiện; các thủ tục phải được tài liệu hóa, được công
bố rõ ràng Thông thường có ít nhất 2 cấp độ ủy quyền:
+ Ủy quyền chung: Quản lý ủy quyền cho nhân viên xử lý các giao dịch thường xuyên mà không cần đến sự chấp thuận đặc biệt
+ Ủy quyền đặc biệt: Có thể áp dụng hình thức ủy quyền đặc biệt đối với doanh số, chi phí vốn, hoặc tài sản mất giá trị trên một giới hạn tiền cụ thể
- Phân chia trách nhiệm: cần phải phân công các chức năng công việc riêng biệt cho từng người để tránh hành vi gian lận Đối với công ty, tổ chức vừa hoặc nhỏ có quá ít nhân viên để thực hiện việc phân chia phân nhiệm Khi
đó, nhà lãnh đạo phải nhận biết được rủi ro và bù đắp bằng những biện pháp kiểm soát khác
- Chứng từ và sổ sách ghi chép: đảm bảo sự ghi chép chính xác và đầy
đủ tất cả các dữ liệu, các mẫu chứng từ và sổ sách cần đơn giản và hữu hiệu cho việc ghi chép, giảm thiểu các sai sót, ghi trùng lắp, dễ đối chiếu và xem lại khi cần thiết
Trang 36thực hiện
1.1.3.4 Thông tin và truyền thông
Thông tin và truyền thông là hai yếu tố cần thiết cho việc KSNB:
- Thông tin cần được ghi chép đúng lúc, kịp thời nhằm đảm bảo sự chính xác, được văn bản hóa và đảm bảo bảo mật Bởi các nhà lãnh đạo của tổ chức dựa vào chất lượng thông tin đã có để ra các quyết định, mục tiêu tương lai Do đó thông tin cần đáp ứng yêu cầu sau:
thông hiệu quả từ bên ngoài tổ chức
1.1.3.5 Giám sát
Nhằm đánh giá chất lượng của hệ thống kiểm soát nội bộ Xác định KSNB có vận hành đúng như thiết kế hay không và điều chỉnh cho phù hợp với từng thời kỳ Giám sát thường xuyên được thực hiện đồng thời trong các
Trang 3725
hoạt động hàng ngày, hay định kỳ các cuộc kiểm toán định kỳ do kiểm toán viên nội bộ, hoặc do kiểm toán viên độc lập thực hiện, chương trình đánh giá định kỳ, thành lập các bộ phận chuyên trách
1.2 Đấu thầu mua vật tư, hóa chất
1.2.1 Khái niệm đấu thầu
- Trên thế giới
Trên thực tế đã tồn tại một số thuật ngữ về đấu thầu trong các văn bản pháp quy khác nhau Tuy nhiên, bản chất của "đấu thầu" dù được quy định dưới dạng Quy chế hay Luật cũng đều sử dụng một thuật ngữ có xuất xứ từ tiếng Anh là "Procurement" (nghĩa là mua sắm) Như vậy, tuy gọi là Quy chế Đấu thầu, Luật Đấu thầu nhưng bản chất là Quy chế Mua sắm (Procurement Regulation) hoặc Luật Mua sắm (Law on Procurement) [1,tr11] Trong cuốn
“Mua sắm công: Nguyên tắc, phân loại và các hình thức”, tác giả Jorge Lynch định nghĩa “Đấu thầu là một quá trình bao gồm mọi hành động kể từ giai đoạn nhận diện và lên kế hoạch cho một nhu cầu mua sắm cho tới khi trao hợp đồng” Theo quy định của Luật mẫu của Ủy ban Luật Thương mại quốc tế của Liên hiệp quốc (UNCITRAL) về đấu thầu hàng hóa, xây lắp và dịch vụ, đấu thầu được định nghĩa như sau: “Đấu thầu là tiến hành mua sắm hàng hóa, xây lắp và dịch vụ theo một cách nào đó” Tương tự, Điều 33 - Bộ Luật Công chính của Cộng hòa Pháp quy định: “Đấu thầu là thủ tục cơ quan nhà nước lựa chọn hồ sơ dự thầu thuận lợi nhất về mặt kinh tế mà không cần tiến hành đàm phán, căn cứ vào những tiêu chí khách quan đã được thông báo trước đó cho nhà thầu… Đấu thầu gồm đấu thầu rộng rãi và đấu thầu hạn chế….”
Theo quan điểm của Trung tâm mua sắm công của Hoa kỳ thì khái niệm Đấu thầu được hiểu theo nghĩa “Đấu thầu cạnh tranh là quá trình lựa chọn ra một nhà thầu trúng thầu từ nhiều nhà thầu cùng tham gia cạnh tranh với nhau một cách công bằng, các nhà thầu đủ điều kiện đều có cơ hội tham
Trang 38- Ở Việt Nam và quan điểm của tác giả
Theo Từ điển tiếng Việt (Viện Ngôn ngữ học xuất bản năm 1998) thì khái niệm đấu thầu được hiểu là việc "Đo độ công khai, ai nhận làm, nhận bán với điều kiện tốt nhất thì được giao cho làm hoặc được bán hàng (đây là một cách thức, phương pháp để lựa chọn nhà thầu thực hiện dự án, công trình xây dựng)" Với quan điểm như vậy, thì đấu thầu được hiểu với ý nghĩa như là một sự ganh đua (cạnh tranh) để được thực hiện một công việc, một yêu cầu nào đó do bên mời thầu đưa ra Ở Việt Nam, việc đấu thầu trải qua nhiều lần ban hành, sửa chữa bổ sung, cụ thể theo Quy chế Đấu thầu trước đây (ban hành kèm theo Nghị định số 88/1999/NĐ-CP ngày 01/09/1999 của Chính phủ) thì "đấu thầu" là quá trình lựa chọn nhà thầu đáp ứng các yêu cầu của bên mời thầu (khoản 1 Điều 3) Trong Luật Đấu thầu số 61/2005/QH11 ban hành ngày 29/11/2005, đấu thầu là quá trình lựa chọn nhà thầu đáp ứng các yêu cầu của bên mời thầu để thực hiện gói thầu thuộc các dự án quy định tại Điều 1 của Luật này trên cơ sở bảo đảm tính cạnh tranh, công bằng, minh
Trang 3927
bạch và hiệu quả kinh tế (khoản 2 Điều 4) Trong Luật Đấu thầu số 43/2013/QH13 được ban hành ngày 26/11/2013, khái niệm đấu thầu được định nghĩa như sau “Đấu thầu là quá trình lựa chọn nhà thầu để ký kết và thực hiện hợp đồng cung cấp dịch vụ tư vấn, dịch vụ phi tư vấn, mua sắm hàng hóa, xây lắp; lựa chọn nhà đầu tư để ký kết và thực hiện hợp đồng dự án đầu
tư theo hình thức đối tác công tư, dự án đầu tư có sử dụng đất trên cơ sở bảo đảm cạnh tranh, công bằng, minh bạch và hiệu quả kinh tế”(Điều 4) Theo quan điểm cá nhân, tác giả đồng tình với khái niệm đấu thầu tại điều 4 của Luật Đấu thầu năm 2013 như đã nêu ở trên Như vậy, cùng với quá trình phát triển kinh tế - xã hội và quá trình hoàn thiện công tác quản lý nhà nước về đấu thầu trên thế giới và Việt Nam khái niệm đấu thầu đã dần được hoàn thiện, nội dung của khái niệm đấu thầu ngày càng rõ ràng, đầy đủ hơn, xác định rõ hơn nội hàm của khái niệm đấu thầu, đồng thời xác định phạm vi áp dụng đấu thầu (cung cấp dịch vụ tư vấn, dịch vụ phi tư vấn, mua sắm hàng hóa, xây lắp)
và đặc biệt có sự mở rộng đối tượng áp dụng đấu thầu đối với công tác lựa chọn nhà đầu tư theo hình thức đối tác công tư, dự án đầu tư có sử dụng đất
1.2.2 Vai trò của đấu thầu
a Tạo sân chơi công bằng, minh bạch, mang lại tính hiệu quả, cạnh tranh
Có thể nói đấu thầu là một trong những phương thức kinh doanh có hiệu quả cao Nó góp phần thúc đẩy sản xuất phát triển, mang lại nhiều lợi ích
to lớn cho nền kinh tế quốc dân Thông qua đấu thầu, công tác quản lý trong lĩnh vực đầu tư của Nhà nước ngày càng được nâng cao, nguồn vốn được sử dụng có hiệu quả, hạn chế được thất thoát, lãng phí Đặc biệt, khi tham gia đấu thầu các doanh nghiệp phải sử dụng mọi biện pháp cạnh tranh để thắng thầu, trong đó có biện pháp giảm giá Trong đấu thầu, bên mua bao giờ cũng muốn có thứ mình cần với giá rẻ nhất Bên bán bao giờ cũng muốn bán nhanh
Trang 4028 thứ mình có với lợi nhuận cao nhất Vì vậy, Nhà nước chỉ phải bỏ ra một khoản tiền ít hơn dự toán để xây dựng công trình, có như vậy mới đảm bảo tạo ra một sân chơi công bằng, minh bạch, thu hút các nhà thầu có năng lực tham gia cung cấp hàng hóa, dịch vụ…
Thực tế thời gian qua, ở Việt Nam dù đã có nhiều tiến bộ trong công tác đấu thầu nhưng còn nhiều vấn đề gây khó khăn cho cả bên mời thầu và bên đấu thầu dẫn đến lãng phí, thất thoát vốn Khái niệm “đấu thầu” đã xuất hiện từ lâu trên thế giới, tuy nhiên đối với ở Việt Nam còn khá mới mẻ Nó chỉ mới hiện diện ở Việt Nam từ cuối thập kỷ 80 của thế kỷ XX Hiện vẫn còn
có người nhầm lẫn và đánh đồng "đấu giá" và "đấu thầu" là một Xuất phát từ nền kinh tế thị trường cạnh tranh, thuật ngữ "đấu giá" đã được biết đến nhiều hơn "Đấu giá" được hiểu là hình thức có một người bán và nhiều người mua Trên cơ sở người bán đưa ra một mức giá khởi điểm (giá ban đầu), sau đó để cho người mua trả giá trên cơ sở cạnh tranh với nhau và người bán sẽ quyết định giá bán cho người mua nào trả giá cao nhất Tuy nhiên, đối với thực tiễn hoạt động và hình thức thể hiện thì "đấu thầu" lại là hình thức có một người mua và nhiều người bán cạnh tranh nhau để nhằm tối đa hoá lợi ích của người mua Người mua sẽ lựa chọn người bán nào đáp ứng một cách tốt nhất các yêu cầu của người mua đặt ra trong trường hợp mà việc xác định tương quan giữa giá cả với số lượng và chất lượng hàng hóa, dịch vụ Đây là phương thức mua bán được sử dụng phổ biến trong nền kinh tế thị trường
Qua 20 năm xây dựng và phát triển, công tác đấu thầu tại Việt Nam (1994 - 2014), hệ thống văn bản quy phạm pháp luật về đấu thầu đang ngày càng hoàn thiện và đồng bộ, góp phần thiết lập môi trường minh bạch, cạnh tranh cho hoạt động đấu thầu, tạo cơ sở cho việc lựa chọn nhà thầu có đủ năng lực, kinh nghiệm thực hiện các gói thầu sử dụng vốn nhà nước, đem đến hiệu quả cao hơn trong đầu tư công, phòng chống tham nhũng, tiết kiệm không