1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

NGUYEN LY QUAN LY KINH TE TAI NGUYEN MOI TRUONG

18 14 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 18
Dung lượng 520,06 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Kinh tế môi trường là công cụ kinh tế được sử dụng để nghiên cứu môi trường và điều đó cũng có nghĩa là trong tính toán kinh tế phải xét đến các vấn đề môi trường. Các vấn đề này nằm giữa kinh tế và các hệ tư nhiên nên rất phức tạp, do đó có thể coi kinh tế môi trường là một ngành phụ trung gian giữa các ngành khoa học tự nhiên và khoa học xã hội. Những điểm cần ghi nhớ khi xem xét kinh tế môi trường: Tài nguyên không tái tạo như dầu mỏ, than đá, khí đốt có thể bị cạn kiệt. Do đó, con người phải tìm tài nguyên thay thế hoặc tìm công nghệ sử dụng các loại năng lượng được coi là vĩnh cửu (năng lượng gió, năng lượng mặt trời, năng lượng thuỷ triều, v.v...). Con người có thể kiểm soát được khả năng phục hồi tài nguyên tái tạo và khả năng hấp thụ của môi trường. Nâng cao trách nhiệm đối với thiên nhiên (vai trò quản lý môi trường). Tìm cách kiểm soát dân số.

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

PHÒNG SAU ĐẠI HỌC

-   -BÁO CÁO NGUYÊN LÝ TRONG QUẢN LÝ TÀI NGUYÊN MÔI TRƯỜNG

SỰ THAM GIA CỦA CỘNG ĐỒNG VÀ CÁC YẾU TỐ THÚC ĐẨY SỰ THAM GIA CỘNG ĐỒNG TRONG QUẢN LÝ TÀI NGUYÊN

RỪNG

GVHD: TS TRỊNH TRƯỜNG GIANG

HVTH: NGUYỄN THỊ DUNG Ngành: QUẢN LÝ TÀI NGUYÊN MÔI TRƯỜNG Niên khóa: 2017 – 2019

9/2017

Trang 2

PHỤ LỤC TRANG

DANH MỤC BẢNG iii

MỞ ĐẦU 1

CHƯƠNG I: TỔNG QUAN 2

1.1 Cộng đồng 2

1.1.1 Khái niệm cộng đồng 2

1.1.2 Sự tham gia của cộng đồng 2

1.2 Quản lý tài nguyên rừng dựa vào cộng đồng 3

1.3 Cơ cấu sở hữu rừng trên thế giới hiện nay 4

1.4 Tầm quan trọng của sự tham gia của cộng đồng trong quản lý rừng 5

1.5 Lợi ích của quản lý rừng dựa vào cộng đồng 6

CHƯƠNG II ĐỘNG LỰC VÀ CÁC YẾU TỐ THÚC ĐẨY SỰ THAM GIA CỘNG ĐỒNG TRONG QUẢN LÝ RỪNG 9

2.1 Các hình thức tham gia của cộng đồng 9

2.2 Nguồn lực cộng đồng trong huy động tham gia 9

2.3 Động lực thúc đẩy sự tham gia 10

2.4 Yếu tố thúc đẩy sự tham gia của cộng đồng 11

2.5 Thách thức trong việc thực hiện 12

CHƯƠNG III KẾT LUẬN 14

TÀI LIỆU THAM KHẢO 15

Trang 3

DANH MỤC BẢNG

Bảng 1: Cơ cấu sở hữu đất rừng theo khu vực và trên toàn cầu 2010 5 Bảng 2 Đóng góp của rừng cho tổng sản phẩm quốc nội (GDP) ở một số khu vực của Hoa Kỳ 7

Trang 4

MỞ ĐẦU

Rừng có vai trò quan trọng trong việc cung cấp các dịch vụ môi trường như nước

và không khí sạch, bảo tồn đa dạng sinh học và chống biến đổi khí hậu Hơn thế, rừng còn đóng vai trò quan trọng trong cuộc chiến chống đói nghèo ở nông thôn, cải thiện sinh

kế qua cung cấp việc làm, đảm bảo an ninh lương thực

Theo số liệu công bố của Ngân hàng Thế giới, khu vực Mỹ Latin và Caribe có diện tích rừng sụt giảm nhiều nhất thế giới từ năm 1990 tới nay, thế giới đã mất đi diện tích rừng tương đương 1.000 sân bóng đá mỗi giờ Vai trò quan trọng của rừng, thêm vào

đó là sự gia tăng về dân số, đời sống người dân còn khó khăn, chính sách quản lý rừng của nhà nước chưa hiệu quả đã dẫn đến diện tích rừng trên toàn thế giới ngày càng bị thu hẹp do khai thác các nguồn lợi từ rừng quá mức cho phép

Sinh kế của hơn 2,4 tỷ người phụ thuộc trực tiếp hoặc gián tiếp vào rừng để tạo

ra thu nhập bằng tiền mặt và phi tiền mặt, mang lại nhiều lợi ích xã hội, kinh tế, văn hoá, tinh thần và môi trường cho cộng đồng địa phương Ngoài hàng loạt các sản phẩm và dịch vụ mà rừng và cây xanh cung cấp, đóng góp đáng kể của họ đối với sinh kế nông thôn và giảm đói nghèo đòi hỏi phải có một phương pháp tiếp cận lâm nghiệp với người dân làm trung tâm Nhận thức được người dân địa phương là các bên liên quan đến rừng trọng điểm và thúc đẩy sự tham gia của cộng đồng trong việc ra quyết định và quản lý rừng bền vững, tạo ra các kết quả tích cực cho sinh kế, phát triển nông thôn và bảo tồn rừng

Hiện nay, công tác quản lý rừng bền vững ngày càng được quan tâm, các chính sách quản lý rừng chú trọng các bên liên quan tham gia quản lý Sự tham gia của cộng đồng trong quản lý rừng là vấn đề đặt lên hàng đầu Câu hỏi đặt ra là làm thế nào để thu hút cộng đồng tham gia quản lý rừng một cách hiệu quả, vừa đảm bảo phát triển rừng bền vững, cải thiện sinh kế cộng đồng

Trang 5

CHƯƠNG I: TỔNG QUAN

1.1 Cộng đồng

1.1.1 Khái niệm cộng đồng

Cộng đồng trong khái niệm quản lý rừng dựa cộng đồng, được giới hạn là tập hợp của các cá nhân trong một thôn bản gần rừng gắn bó chặt chẽ với nhau qua hoạt động sản xuất, sinh hoạt và đời sống văn hoá xã hội ( FAO, 2000)

Cộng đồng bao gồm toàn thể những người sống trong một xã hội có những đặc điểm giống nhau và có mối quan hệ gắn bó chặt chẽ với nhau” (N.H Quân, 2000)

1.1.2 Sự tham gia của cộng đồng

Ngân hàng Thế giới (WB): “Sự tham gia là một quá trình, thông qua đó các chủ thể cùng tác động và chia sẻ những sáng kiến phát triển và cùng quyết định”

Hoskin (1994) cho rằng: “Sự tham gia là sự thực hiện trồng và quản lý rừng của Nam và Nữ trong cộng đồng với sự hỗ trợ bên ngoài cộng đồng”

FAO (1982): “Sự tham gia của người dân như là một quá trình mà qua đó người nghèo nông thôn có khả năng tự tổ chức và như các tổ chức của chính họ, có khả năng nhận hết nhu cầu của chính mình và tham gia trong thiết kế thực hiện và đánh giá các phương án tại địa phương”

Hội nghị FAO (1983) lại đưa ra khái niệm: “Sự tham gia của người dân như là sự hợp tác chặt chẽ của họ tới mức người dân cảm thấy phải chịu trách nhiệm về thành công hay thất bại của dự án phát triển lâm nghiệp”

Hiểu một cách đơn giản và tổng quát về sự tham gia là: “Sự tham gia là quá trình cùng chia sẻ trách nhiệm và quyền lợi trong các hoạt động LNXH thông qua các chương trình phát triển lâm nghiệp, trong đó trách nhiệm quyết định là cao nhất”

Trang 6

1.2 Quản lý tài nguyên rừng dựa vào cộng đồng

Quản lý rừng dựa vào cộng đồng là hình thức cộng đồng tham gia quản lý các khu rừng không thuộc quyền quản lý, sử dụng, sở hữu chung của họ mà thuộc quyền quản lý, sử dụng sở hữu của các tổ chức nhà nước hoặc các thành phần kinh tế khác nhưng có quan hệ trực tiếp đến đời sống, đến việc làm, thu hoạch sản phẩm, thu nhập hay các lợi ích khác của cộng đồng

Quản lý rừng dựa vào cộng đồng là một khái niệm về quản lý rừng bền vững nhằm đạt bảo tồn rừng đồng thời góp phần vào sự phát triển kinh tế nói chung và cải thiện cuộc sống của người dân địa phương Hơn nữa, nó nhằm trao quyền cho những người có nguồn tài nguyên rừng trực tiếp tham gia vào quá trình ra quyết định trong tất cả các khía cạnh của quản lý rừng, bao gồm cả các quy trình xây dựng chính sách (FAO, 2015)

Theo Olekae Tsompi Thakadu, quản lý rừng dựa vào cộng đồng là một phương pháp tiếp cận phát triển, hỗ trợ bảo tồn tài nguyên thiên nhiên dựa trên những quan niệm chính sau đây:

Tất cả mọi người dân đều có cùng quan tâm đến việc bảo tồn tài nguyên thiên nhiên vì sinh kế của họ gắn liền với các nguồn tài nguyên thiên nhiên

Cộng đồng chính là những người bảo vệ tốt nhất và quản lý tài nguyên

Người gần gũi nhất là những người sống gần nhất với tài nguyên thiên nhiên và

do đó, với những công cụ thích hợp và ưu đãi, đây là những người có nhiều khả năng bảo tồn các nguồn tài nguyên thiên nhiên

Để quản lý bền vững và hiệu quả tài nguyên thiên nhiên, những lợi ích thu được

từ quản lý phải lớn hơn chi phí bảo tồn

Để cộng đồng có thể tiếp nhận kiểm soát và quản lý tài nguyên một cách hiệu quả để sử dụng bền vững và thu được các lợi ích hữu hình, phải tạo ra một môi trường thuận lợi (hỗ trợ và trao quyền)

Trang 7

Mọi người sẽ chỉ bảo tồn và quản lý những gì họ cảm nhận sẽ đóng góp tích cực cho chất lượng cuộc sống của họ

1.3 Cơ cấu sở hữu rừng trên thế giới hiện nay

Trước đây quản lý rừng theo chế độ độc quyền, hoàn toàn của Chính phủ , cơ quan nhà nước thì hiện nay đã có một sự thay đổi đáng kể trong ba thập kỷ qua trong nhiệm kỳ của đất rừng và chia sẻ các khu rừng thuộc cộng đồng sở hữu và quản lý Sự thay đổi này rõ nhất ở châu Mỹ Latinh: cải cách sử dụng rừng và công nhận lãnh thổ của các dân tộc bản xứ và đất đai bản địa đã chuyển chủ sở hữu đất lâm nghiệp một cách đáng kể và hiện nay nhà nước chỉ sở hữu hoặc quản lý khoảng một phần ba diện tích đất lâm nghiệp Tiếp đến là sự thay đổi ở Châu Á, chỉ có 2/3 diện tích rừng thuộc sở hữu nhà nước và quản lý Ở Châu Phi, một tỷ lệ lớn rừng vẫn thuộc quyền sở hữu và quản lý của nhà nước

Trên toàn thế giới, hơn 430 triệu ha rừng, chiếm 11% tổng diện tích rừng bất động sản, chính thức là cộng đồng sở hữu hoặc quản lý và 13,8% thuộc sở hữu của các doanh nghiệp nhỏ Các quyền địa phương được đánh dấu nhiều nhất ở các nước đang phát triển, theo thống kê của Chính phủ năm 2008, 27% số diện tích rừng là thuộc sở hữu của cộng đồng

Trang 8

Bảng 1: Cơ cấu sở hữu đất rừng theo khu vực và trên toàn cầu 2010 ( Nguồn:

Rights and Resources Initiative 2010 The End of the Hinterland: Forests, Conflict, and Climate Change Washington, DC: Rights and Resources Initiative p 6.)

Trung Quốc, Brazil và Mexico là những ví dụ khác của các quốc gia đã rời bỏ mô hình quyền sở hữu nhà nước Trong cuộc cách mạng ở Mexico, và những cải cách cơ bản trong những năm 1980 để giúp cho sự tham gia của cộng đồng trong quản lý lâm nghiệp kiểm soát tốt hơn, 80% rừng của Mexico hiện đang thuộc quyền sở hữu của cộng đồng Hơn 2.400 doanh nghiệp lâm nghiệp được chính phủ công nhận về mặt pháp lý Một quá trình chứng nhận chính thức đã được thành lập năm 2009 để công nhận Khu bảo tồn bản địa và cộng đồng trong hệ thống khu bảo tồn quốc gia của Mexico

1.4 Tầm quan trọng của sự tham gia của cộng đồng trong quản lý rừng

Hội nghị Thế giới về cải cách ruộng đất và phát triển nông thôn (Roma, 1979) đã nêu lên tính ưu việt của sự tham gia:

- Sẽ có thông tin nhiều hơn về nhu cầu/vấn đề/khả năng/kinh nghiệm của địa phương Điều này có lợi cho việc lập kế hoạch và thực hiện các hoạt động có hiệu quả

Trang 9

- Thông qua việc thực hiện kế hoạch có sự tham gia sẽ có thêm kinh nghiệm lựa chọn: Điều gì cần làm? Điều gì không nên làm? Làm như thế nào cho tốt hơn?

- Động viên được nguồn lực đóng góp nhiều hơn trong phát triển nông thôn, đồng thời làm cho họ càng có trách nhiệm hơn đối với những quyết định và giải pháp mà chính họ đề ra

- Có sự tham gia của người dân thì việc thực hiện các Chương trình, Dự án sẽ nhanh hơn, hiệu quả và tiết kiệm hơn

- Có sự tham gia sẽ phát huy được năng lực quản lý và quản trị trong khu vực nông thôn và nếu những năng lực này được phát huy sẽ góp phần thúc đẩy sự phát triển nông thôn mạnh hơn, bổ sung thêm nguồn lực cho khu vực Nhà nước

- Có sự tham gia của người dân thì những công trình xây dựng cơ sở hạ tầng nông thôn được bền vững hơn, vì ý thức trách nhiệm sẽ phát huy, tính chủ động và sáng tạo trong công việc được phát huy tối đa

- Khi người dân được tham gia, nghĩa là dân chủ được mở rộng thì sự ủng hộ về chính trị cũng sẽ lớn hơn, lòng tin đối với Nhà nước cũng cao hơn

- Có sự tham gia của người dân thì việc đánh giá các Chương trình, Dự án phát triển nông thôn sẽ sâu sát hơn, khách quan hơn, vì chính họ là người kiểm chứng kết quả hoạt động

1.5 Lợi ích của quản lý rừng dựa vào cộng đồng

Quản lý rừng dựa vào cộng đồng khuyến khích việc sử dụng và phân bổ nguồn lực hiệu quả, các công nghệ thích hợp ở địa phương và áp dụng thành công tri thức kỹ thuật bản địa (ITK) Điều này là do các đặc điểm sinh thái địa phương có thể được giải quyết bằng kinh nghiệm địa phương và thử nghiệm, thực hành nông nghiệp thích nghi, các hoạt động về động vật hoang dã, săn bắn và sử dụng rừng, các mạng lưới nông dân ở địa phương vv các vấn đề để đàm phán những kiến thức này trong giao diện với các tổ chức phát triển (Cooke & Kothari, 2001, Long & Long, 1992)

Trang 10

Quản lý rừng dựa vào cộng đồng giải quyết vấn đề cho sự thừa nhận thất bại của

tài nguyên thiên nhiên do nhà nước (Adams & Hulme, 2001)

Nghiên cứu của Klaus Deininger chỉ ra việc dựa vào cộng đồng để quản lý đã

tạo ra một động lực mạnh mẽ để tăng cường quyền sử dụng đất như là một kích thích trực

tiếp và có sức mạnh cho tăng trưởng kinh tế 11 phân tích sự tăng trưởng của ông ở 73

quốc gia trong giai đoạn 1960-2000 cho thấy các quốc gia có sự phân bố đất đai tương

đối công bằng đã đạt được tỷ lệ tăng trưởng gấp 2-3 lần so với những nước mà việc phân

phối đất đai không công bằng Ông kết luận rằng các quyền sở hữu an toàn cho người sở

hữu sự tự tin và động lực để đầu tư phát triển

Quản lý tài nguyên rừng dựa vào cộng đồng của các nước đang phát triển có rừng

tạo thêm nhiều việc làm, lợi nhuận và thu nhập địa phương Các nông hộ nhỏ đang tăng

sản xuất một loạt các lâm sản như mây, tre, sợi giấy, sợi vải, vật liệu ngâm truyền thống,

thực phẩm và gia vị dân tộc, cây thuốc và thảo mộc, hoa quả, hạt giống và các sản phẩm

đặc sản (ví dụ mật ong, tổ chim , thuốc nhuộm côn trùng, và nhựa) Sự quan tâm đến các

sản phẩm tự nhiên giữa các đối tượng trong cộng đồng có thu nhập trung bình và việc sử

dụng các sản phẩm tự nhiên trong các cơ sở du lịch là hai thị trường đang phát triển

nhanh chóng thúc đẩy phát triển kinh tế dựa vào tài nguyên rừng

owned

Publicly owned

Difference

US$/acre

Trang 11

Northwest 740 612 128 484

Bảng 2 Đóng góp của rừng cho tổng sản phẩm quốc nội (GDP) ở một số khu vực

của Hoa Kỳ (Nguồn: Forest2Market, Inc 2010 The economic impact of

privately-owned forests Report prepared for the National Alliance of Forest Owners, September

2009 The Forestry Source 15 (2).)

Khi quyền sở hữu của cộng đồng được đảm bảo, ngoài thúc đẩy tăng trưởng kinh

tế nhanh hơn còn giúp giảm sự bất bình đẳng (tăng trưởng có lợi hơn khi người dân có điều kiện tiếp cận công bằng với đất đai); thúc đẩy tính bền vững (quyền sở hữu được đảm bảo thúc đẩy người nắm giữ đất xem xét lâu dài về quản lý tài nguyên); và tăng tính chủ động của cộng đồng

Quản lý rừng dựa vào cộng đồng được hình thành và quản lý hợp pháp hoạt động với sự đồng ý rõ ràng của nhà nước mang lại lợi ích cho toàn xã hội:

Các ngành công nghiệp phi chính thức có thể tạo ra thu nhập và tổng thu nhập nhiều hơn các tổ chức nhà nước;

Các doanh nghiệp dựa vào các sản phẩm phi gỗ đang ngày càng phát triển trong nhu cầu trên toàn quốc và trên toàn cầu;

Sản xuất gỗ và sản phẩm gỗ của các hộ nông dân trong các hệ thống nông lâm kết hợp cả ở trang trại phát triển trong cộng đồng và các hệ thống sản xuất nông nghiệp;

Các doanh nghiệp dựa trên các sản phẩm và dịch vụ phi truyền thống bao gồm du lịch sinh thái, sản xuất nước đóng chai, hấp thụ cacbon và nông lâm kết hợp;

Thị trường cho các nguồn năng lượng sinh học truyền thống tạo ra nguồn cung bền vững hơn phù hợp với các mục tiêu môi trường

Trang 12

CHƯƠNG II ĐỘNG LỰC VÀ CÁC YẾU TỐ THÚC ĐẨY SỰ THAM GIA CỦA CỘNG ĐỒNG TRONG QUẢN CUARTAIF NGUYÊN RỪNG

2.1 Các hình thức tham gia của cộng đồng

Các hình thức tham gia của cộng đồng được thể hiện qua đóng góp lao động; chia

sẻ chi phí; chia sẻ trách nhiệm; chia sẻ quyền quyết định trong các chương trình hoạt động tại cộng đồng Tất cả các hình thức tham gia này có thể thấy rằng đó là một quá trình chia sẻ vai trò trách nhiệm của các bên liên quan trong quản lý nguồn tài nguyên mà

họ đang sử dụng Tuy nhiên các cộng đồng sống gần rừng đa số là nghèo, vì vậy sự tham gia là một quá trình vừa học hỏi để nâng cao nhận thức vừa nhận biết được tầm quan trọng của họ trong sự tham gia nhằm tránh sự tham gia hình thức hoặc bị động hoàn toàn

2.2 Nguồn lực cộng đồng trong huy động tham gia

Các cộng đồng phần lớn là dân nghèo ở vùng nông thôn, đặc biệt là nông thôn vùng núi, vì vậy họ cần đóng góp gì trong quá trình tham gia để phát triển cộng đồng là một điều cần cân nhắc để họ nhiệt tình và tự nguyện tham gia, sau đây là 3 nguồn lực:

- Nguồn lực vật chất: Đóng góp đất đai là nguồn lực quan trọng nhất và người dân ai cũng có Ngoài ra, các vật tư, phương tiện mà người dân làm được cũng là nguồn vật chất cần góp

- Nguồn lực kiến thức: Người dân có hai nguồn lực kiến thức là kiến thức bản địa và kiến thức do học được thông qua đào tạo, tập huấn, họ cần chia sẽ trong các hoạt động

- Nguồn lực lao động của cộng đồng rất dồi dào, nó bao gồm nguồn lao động chín, lao động phụ, lao động nhàn rỗi

Ngày đăng: 20/10/2021, 20:50

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w