Tình thương của vua Suddhodana đối với thái tử thật là sâu sắc, nên khi biết được tin ngài đã thành Phật và đang giáo hóa tại thành Ràjagaha, vua đã cho Kàludàgin đi mời Đức Phật về thăm
Trang 1TÌM HI U VĂN HÓA ỨNG XỬ CỦA ĐỨC PHẬT
TH CH CA ĐỐI VỚI CÁC VẤN ĐỀ XÃ HỘI
Trong bối cảnh thế giới hiện nay, bạo lực, chiến tranh và thù hận vẫn đang đe dọa nhân loại từng giờ, từng phút Những cuộc chiến tranh tôn giáo đã và đang xảy ra khiến cuộc sống con người trở nên ngột ngạt, căng thẳng Trong bối cảnh ấy, việc tìm hiểu về nhân cách văn hóa một vĩ nhân chủ trương bất bạo động trong văn hóa ứng xử của mình như Đức Phật là điều cần thiết
Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh
Trang 2Thông điệp “Lấy từ bi đáp trả oán thù” của Đức Phật sẽ phần nào giúp nhân loại tỉnh ngộ và nhìn lại nhân tính của mình trước
bờ vực của chiến tranh, hận thù và xung đột
2 Văn hóa ứng xử của Đức Phật đối với xã hội
2.1 Ứng xử với gia tộc
Đức Phật là một con người sống rất tình cảm, bởi vì đạo của ngài là đạo yêu thương Vua Suddhodana, phụ hoàng của Đức Phật cũng là một người sống rất nặng tình Kể từ ngày thái
tử Siddhartha từ bỏ tiểu quốc Sakya để đi tìm đạo, không lúc nào vua Suddhodana không nhớ đến người con trai ưu tú của mình Tình thương của vua Suddhodana đối với thái tử thật là sâu sắc, nên khi biết được tin ngài đã thành Phật và đang giáo hóa tại thành Ràjagaha, vua đã cho Kàludàgin đi mời Đức Phật về thăm quê nhà Bấy giờ là lúc mùa an cư vừa kết thúc, ngài bắt đầu khởi hành đi từ Ràjagaha đến Kapila Theo kinh điển thuật lại, Đức Phật phải mất gần hai tháng để đi bộ trở về quê hương trên đoạn đường dài khoảng 600 km Khi về đến quê hương, ngài đã
đi khất thực Vua không thể ngờ được việc một người tôn quý như Đức Phật mà lại đi khất thực trong quốc gia của cha mình Vượt qua mọi lễ giáo thường thức, nhà vua đã tìm đến gặp Đức Phật để chất vấn về hành động mà nhà vua cho là “không thể hiểu nổi” Đức Phật đã chào vua cha, và giải thích rằng, đây là lối sống của người xuất gia như ngài Ngài đi khất thực với tất cả mọi gia đình để sống và không phân biệt sang hèn Còn về việc nhà vua hỏi tại sao một thái tử thuộc dòng Kshatriya lại đi khất thực ở nhà của những người Sudra, thì ngài trả lời: “Không ai cao quý và thấp hèn hơn ai Con người chỉ cao quý hay thấp hèn
Trang 3do lời nói, suy nghĩ và hành động của mình” Cách lý giải đó làm cho vua Suddhodana nguôi ngoai phần nào nỗi đau khổ chất chứa trong lòng Khi về hoàng cung, Đức Phật đã nói hết những đạo lý, tư tưởng mà ngài đã giác ngộ được cho vua cha Ngài kiên nhẫn giải thích từng vấn đề một trong tinh thần thương yêu
và kính trọng vua Suddhodana Đối với Đức Phật, đó là điều cao quý nhất, là cách báo hiếu của một người con dành cho cha mình, và ngài đã làm đúng những gì ngài nghĩ Có thể, rất nhiều người không đồng ý với việc ngài đã bỏ vua cha với gánh nặng quốc gia mà ra đi Nhưng đối với ngài, điều đó không có giá trị bằng sự giải thóat và giác ngộ của trí tuệ con người Vì rằng mọi quốc gia và thế giới rồi cũng sẽ có ngày tan nát, nhưng những nguyên tắc mà ngài đã giác ngộ là không bao giờ thay đổi Ngài
đã nói cho cha mình nghe những sự thật quý báu đó Theo Đức Phật đã dâng hiến những gì cao quý trong tâm hồn và trí tuệ của mình cho cha Nói cách khác, Đức Phật đã sống rất trung thực với nhân sinh quan của chính mình
2.2 Ứng xử với quốc gia
Tuy xem nhân loại là nhà, không còn ràng buộc và sở hữu
gì ở thế gian này, nhưng Đức Phật vẫn có tình cảm sâu sắc với tiểu quốc Sakya Những tình cảm đặc biệt ấy được ngài thể hiện bằng những hành động cụ thể trong cuộc đời của mình
Ngài thấy rõ chuyện thịnh suy là lẽ thường tình của mỗi cá nhân, mỗi quốc gia và rộng hơn là cả thế giới Nhưng cái độc đáo của Đức Phật là ở chỗ, ngài không tìm mọi cách để cản trở quy luật vận động, nhưng cũng không thờ ơ nhìn nó chuyển động mà không mảy may can thiệp vào Nói một cách chân xác,
Trang 4Đức Phật đã có những hành động nhằm mục đích mang lại những điều tốt đẹp cho đất nước mình
Có hai việc làm của Đức Phật với tiểu quốc Sakya, mà bản thân hai hành động ấy cũng đủ chứng tỏ ngài rất quan tâm đến vận mệnh của tiểu quốc và can thiệp rất sâu đến chuyện thế sự
Đó là việc Đức Phật đã dùng uy tín của mình để tán thành việc vương tử Mahanãma lên ngôi kế vị vua Suddhodana vừa băng
hà Với cái nhìn sáng suốt, Đức Phật lo lắng cho vận mệnh của tiểu quốc Sakya bé nhỏ, nên đã đưa những người đáng lẽ phải thừa kế ngôi vua nhưng không có khả năng làm vua đi xuất gia hết, để ngôi vua cuối cùng lọt vào tay một người trí dũng là Mahanãma Đoạn trích sau đây cho thấy tình thế ngặt nghèo lúc
đó của đất nước và những lo toan của ngài: “ Lúc Suddhodana đại vương còn tại thế, các nước ở bốn phía xung quanh tiểu quốc Kapila đã tiềm tàng một nỗi lo Sự hưng khởi của nước Kosala thực sự là nỗi uy hiếp lớn nhất của tiểu quốc Kapila Vì vậy, Đức Phật sợ rằng, Nanda có quyền kế vị mà cứ đắm chìm trong nữ sắc, ý chí bạc nhược, Rahula thì thơ ấu không thể đảm đương nổi nhiệm vụ to lớn của đất nước Cho nên, Đức Phật đều đưa họ đi xuất gia Bấy giờ Suddhodana qua đời, đất nước vô chủ, dân chúng bàng hoàng”(1) Mối ưu tư với cục diện quốc gia, cộng với việc không ngần ngại dùng uy tín của mình để tỏ ý ủng hộ và tán thành Mahanãma lên ngôi là một việc làm thể hiện tinh thần trách nhiệm cao độ đối với đất nước Vì theo cái nhìn của Đức Phật, Mahanãma có đầy đủ tài trí để đảm đương trọng trách với cương vị là quốc vương tiểu quốc Sakya Quả thật, việc can thiệp của Đức Phật vào cục diện chính trị của tiểu quốc Sakya đã tạo
1 Tinh Vân đại sư, Thích ca mâu ni Phật, Nxb Văn hóa Thông tin, tr 263
Trang 5ra những kết quả rất tích cực Dưới thời Mahanãma, dân chúng sống no đủ và an vui như mong muốn của ngài Rồi một tai họa bất thần ập lên đầu tiểu quốc Sakya bởi vương tử Vidũdabha, con của vua Pasenadi với con gái của vua Mahanãma Dòng họ Sakya đã lừa dối vua Pasenadi trong cuộc hôn nhân này Họ nói dối vua rằng, công chúa của vua Mahanãma mang dòng máu quý tộc thuần khiết Nhưng sự thật, nàng là kết quả của một cuộc tình vụng trộm giữa vua Mahanãma và một cô gái thuộc đẳng cấp Sudra Tức giận vì sự lừa dối ấy, vua Pasenadi đã định cất quân chinh phạt tiểu quốc Sakya, nhưng vì vua Pasenadi là một đệ tử trung thành của Đức Phật nên nhà vua sau khi nghe lời khuyên của Đức Phật đã hoan hỉ bỏ qua lỗi lầm đó của tiểu quốc Sakya Nhưng những nhà lãnh đạo tiểu quốc Sakya đã không dừng lại ở
đó mà còn tỏ thái độ miệt thị vương tử Vidũdabha về sự xuất thân của mẹ ông Uất hận vì sự miệt thị ấy, vị vương tử con trai của vua Pasenadi thề sẽ lấy máu của tiểu quốc Sakya để rửa nhục cho mình Cuối cùng, thời cơ cũng đến, sau một cuộc đảo chánh ngoạn mục, vương tử Vidũdabha lên làm vua Vua Pasenadi phải lánh nạn con trai và chết trên đường đi cầu viện Khi lên ngôi, Vidũdabha nhớ đến mối hận cũ, ngay lập tức ông cất quân chinh phạt tiểu quốc Sakya Cả ba lần Vidũdabha kéo quân chinh phạt, đều gặp phải Đức Phật ngồi ngay biên giới để xin ông đừng dụng
vũ lực mà xâm phạm tiểu quốc Sakya, quê hương của Ngài Mặc
dù là một hôn quân, nhưng Vidũdabha lại có một sự tôn trọng đặc biệt dành cho cá nhân Đức Phật Cả ba lần ông đều bước xuống chiến xa để thỉnh cầu Đức Phật đừng nên nhọc sức già và khuyên ngài nên dời chân sang cộng hòa Kosala của ông, vì nơi
ấy có cây râm mát, ngược lại, gốc cây mà Đức Phật ngồi ở biên giới thuộc đất của tiểu quốc Sakya lại trơ trụi và khô cằn Hành
Trang 6động quyết tâm dùng uy tín, đạo đức của mình để ngăn chặn chiến tranh diễn ra ở tiểu quốc Sakya của Đức Phật là một hành động nhân văn cao cả Ngài xuất thân từ đẳng cấp quý tộc nhưng
đã tuyên bố từ bỏ đao kiếm và đã lấy trí tuệ, tình thương làm lẽ sống Dĩ nhiên Đấng Giác ngộ không bao giờ chủ trương nhúng tay vào bạo lực hoặc kích động nó Đức Phật đã đem tấm thân già nua của mình ra biên giới để quyết tâm ngăn cản cuộc chiến tranh mà sự hủy diệt chắc chắn sẽ thuộc về tiểu quốc Kapila Nhưng tiếc thay cho bậc đạo sư, những nỗ lực của ngài không thể cứu vãn được một chiếc lá vàng đã đến lúc phải rời cành Lần thứ tư, nhân lúc Đức Phật không can thiệp kịp thời, vua Vidũdabha đã kéo quân sang chinh phạt quê hương của ngài
2.3 Ứng xử với các tầng lớp xã hội
Đức Phật đã làm cho những người thuộc đẳng cấp quý tộc đương thời ngạc nhiên khi ngài công khai xác nhận tình trạng bình đẳng của con người Không chỉ công khai xác nhận bằng lời nói, ngài còn thể hiện bằng những hành động cách mạng thực tế Việc Đức Phật thâu nhận vào Tăng đoàn mọi người có ý chí và lương tâm chứ không dựa trên thành phần đẳng cấp đã gây ra một cú sốc rất lớn cho những đẳng cấp trên Tình trạng oán ghét việc Đức Phật phản đối chế độ phân chia đẳng cấp đó kéo dài dai dẳng Thậm chí, mười ba thế kỷ sau khi Đức Phật nhập Niết Bàn, triết gia lỗi lạc của Ấn Độ giáo là Mimarhsaka đã tuyên bố rất thiếu thiện chí về hành động tôn trọng con người của Đức Phật:
“ Vì Đức Phật dạy học thuyết của ngài cho những kẻ ngu ngốc
Trang 7là Sudra, nên sự dạy dỗ của ngài cũng giả tạo như một đồng tiền giả”(1)
Sự kiện điển hình thể hiện lòng tôn trọng đối với tất cả mọi người, đặc biệt là những người cùng khổ của Đức Phật là việc ngài cho phép người gánh phân Nidà xuất gia Sự kiện này làm những người bảo thủ ở đẳng cấp trên phẫn nộ Vua Pasenadi, một vị vua rất sùng kính Đức Phật cũng đến gặp ngài để bày tỏ
sự bất bình của mình Vua nói Đức Phật làm như vậy là gây nên
sự ô nhục cho hàng Sa môn và thật là khó khăn cho sự cung kính, lễ bái của hàng vua chúa Làm sao một vị vua, một vị quan
mà phải đi cúi đầu chào hỏi một vị Tỳ kheo có xuất thân thấp hèn? Vua nói cho Đức Phật nghe những hậu quả xã hội sẽ xảy đến do việc làm táo bạo này Nhưng vua đã lầm, Đức Phật xuất hiện ở đời là để phá bỏ đẳng cấp chứ không phải là để duy trì và bảo vệ chế độ phân biệt đẳng cấp Để khẳng định một lần nữa tất
cả mọi người, dù xuất thân bất kỳ hoàn cảnh, đẳng cấp nào, đều bình đẳng khi gia nhập Tăng đoàn của Đức Phật, ngài đã đem ảnh dụ các dòng sông chảy về đại dương mênh mông để dạy cho các đệ tử: “ Phàm các con sông lớn nào, ví như sông Hằng, sông Yamunà, sông Aciracati, sông Sarabhù, sông Mahi, các con sông ấy khi chảy đến biển, liền bỏ tên họ trước, trở thành biển lớn Cũng vậy, này các Tỳ kheo, có bốn đẳng cấp này, Brahmin, Kshatriya, Vaisya, Sudra, khi gia nhập vào chúng Tỳ kheo, liền
bỏ tên họ trước, trở thành những Sa môn thích tử”(2)
Một đệ tử rất nổi tiếng khác của Đức Phật cũng xuất thân từ đẳng cấp Sudra, là bậc thầy về giới luật Tăng đoàn, đó là tôn giả
1 Sharma Chandradhar (Nguyễn Kim Dân dịch), Triết học Ấn độ, Nxb Tổng hợp
Thành phố Hồ Chí Minh, 2005, tr 504
2 Kinh Tiểu Bộ (tập 1), Nxb Tổng hợp Thành phố Hồ Chí Minh, 2001, tr 217
Trang 8Upàli Nhân một lần gặp Upàli, Đức Phật đã khuyến khích ông xuất gia Sau khi sống đời tu sĩ, dưới sự dẫn dắt của Đức Phật, Upàli trở thành bậc đứng đầu về giới luật, được tất cả mọi người kính nể, tôn trọng như một bậc thầy trong lĩnh vực này Vì sự đối
xử tôn trọng và bình đẳng của Đức Phật, Tôn giả Upàli đã được khuyến khích và tán dương, nên ông tinh cần và nỗ lực Kết quả giác ngộ trong cuộc đời tu sĩ của người thợ hớt tóc Upàli thật đáng trân trọng
Quan điểm của Đức Phật về vấn đề đẳng cấp, giàu sang và nghèo hèn rất rõ ràng Ngài dứt khóat không phân biệt đối xử và luôn trân trọng với mọi người nếu như những người đó nỗ lực và
cố gắng trên con đường làm việc thiện Khi một vị Brahmin hỏi ngài về vấn đề xuất thân và quan niệm của ngài trong việc này, ngài trả lời: “Này Brahmin, ta không nói tốt hơn vì sinh trong một gia đình cao quý Này Brahmin, ta không nói xấu hơn vì sinh trong một gia đình cao quý”(1)
Và đối với Đức Phật sự thấp hèn hay cao quí, sự giàu sang hay cùng khổ đều không có nghĩa gì Tất cả đều bình đẳng như nhau Chỉ có hành động, suy nghĩ và lời nói của cá nhân ấy là có thể xác định được cá nhân ấy cao thượng hay thấp hèn Đức Phật
đã tuyên bố một cách rõ ràng và dứt khóat: “Này các Tỳ kheo, các
chúng sanh là chủ của nghiệp, là thừa tự của nghiệp, là bà con của nghiệp, là chỗ nương tựa của nghiệp Phàm họ làm nghiệp gì, thiện hay ác, họ là những kẻ thừa tự của nghiệp ấy”(2)
Trang 9Đức Phật thể hiện sự tôn trọng tất cả mọi người như một nguyên tắc xử thế của mình Dù bất cứ người tìm đến gặp là ai, xuất thân như thế nào, chỉ cần có thiện chí là được Đức Phật tiếp chuyện một cách nhiệt tình Trong cuộc sống khất thực thường nhật, Đức Phật dạy cho đệ tử nguyên tắc tuyệt đối tránh phân biệt đối xử giàu nghèo Hễ người có tâm thành, thì chư Tăng phải trân trọng Do việc giáo dục thường xuyên và kỹ lưỡng đó, nên những đệ tử thuần thành của Phật cũng có cách xử thế bình đẳng như ngài Kinh điển thuật lại, một lần nọ, Đại đức Ananda
do khát nước, đã đến xin nước của một cô gái thuộc đẳng cấp tiện dân Hành động đó khiến cô gái kinh sợ, vì theo luật Manu, người thuộc đẳng cấp hạ tiện không được bước lên chiếc bóng của những người đẳng cấp cao quý, không được học thánh điển, không được sử dụng nước ở những giếng mà đẳng cấp cao quý thường dùng,v.v Nếu người thuộc đẳng cấp hạ tiện phạm luật này, thường bị xử phạt rất nặng, có khi bị ghép vào tội tử hình Hành động xin nước của Đại đức Ananda mà cô gái biết rõ xuất thân trước đó là một hoàng tử khiến cô lo sợ Sau khi trấn tĩnh lại, cô thưa với Ananda là không thể đến gần ông được vì sợ sẽ làm ô uế sự thanh cao của ông Ananda nhìn cô và bảo, ông chỉ xin nước chứ không xin đẳng cấp của cô gái ấy
Việc quy định Tăng đoàn sống bằng cách khất thực, có lẽ Đức Phật có một phần ý sâu xa là muốn chư Tăng được tiếp xúc hằng ngày với mọi người để không được quên bổn phận của mình Trong Tăng đoàn, về phương diện xã hội học, phần đông thuộc về những đẳng cấp cao trong xã hội Ấn Độ, nên ngài luôn dạy về phương pháp và thái độ khất thực rất kỹ lưỡng Để nhấn mạnh vào việc dứt khóat không được phân biệt đối xử đẳng cấp,
phân biệt đối xử sang hèn, ngài đã kể những bài pháp trong Kinh
Trang 10Tiểu bộ để nhắc nhở chư Tăng không được từ chối những món
ăn mà người dâng cúng đã tận tâm cúng dường Đức Phật biết rõ không phải tất cả các đệ tử của ngài đều là người tốt Đức Phật
sợ có những vị vì tham đắm ẩm thực sẽ làm tổn thương người nghèo khổ cúng dường thức ăn đạm bạc, nhưng lại dâng cúng bằng tất cả thiện tâm Trong cuộc đời của Đức Phật, ngài sợ nhất
là việc làm cho người khác bị tổn thương Cho nên, Đức Phật muốn đệ tử của mình tránh làm những điều như vậy Kinh tạng Pàli thuật lại rằng, lúc Trưởng lão Maha Kassapa đã ăn một ngón tay của người cùi vì trong lúc người cùi thành tâm cúng dường cho Maha Kassapa, ngón tay bị đứt ra và rơi vào bình bát
Trong suốt một cuộc đời bao dung, giản dị và sáng ngời đạo đức của Đức Phật, rất nhiều người thuộc tầng lớp bình dân
đã tiếp xúc thân mật với ngài Đức Phật đã chủ động thiết lập một mối quan hệ đặc biệt với họ, để nâng đỡ tinh thần cho họ Sau những tháng ngày khổ hạnh, nhờ những bát sữa của nàng Sujata mà ngài nuôi sống được thân thể trong cơn suy kiệt Và bữa cơm cuối cùng của cuộc đời Đức Phật cũng do một người thuộc đẳng cấp Sudra dâng cúng Đức Phật đã dùng bữa ăn để người thợ sắt nghèo khổ Cunda vui lòng Thợ rèn Cunda chuẩn
bị bữa cơm cho Đức Phật Trong bữa cơm ấy, ngài dùng phải một loại nấm rất độc Sau khi ăn xong, bị ngộ độc dẫn đến bệnh
lỵ huyết rất nặng, đau đớn gần như chết, nhưng Đức Phật vẫn cố gắng kiềm chế cơn đau của mình
Đức Phật không hề tỏ thái độ gì khác lạ với Cunda Ngài chỉ dặn ông đem số nấm còn lại đi chôn tránh tuyệt đối đừng để
ai dùng Đức Phật không muốn cho Cunda biết ngài đã bị ngộ độc do bữa cơm cúng dường của ông Ngài sợ làm cho ông phải
Trang 11sống trong mặc cảm, ân hận và đau khổ, nên khi chào từ biệt ông, bậc thầy vĩ đại của nhân loại đã lặng lẽ lên đường, bước đi trong đau đớn và khó nhọc do độc tố hành hạ Đức Phật trực chỉ đến Kusinara và nhập Niết Bàn ở rừng cây Sala của bộ tộc Malla
Tư tưởng chống áp bức, phân biệt và kỳ thị giữa con người
và con người của Đức Phật đã có một tác động tốt đẹp vào việc tôn trọng nhân phẩm con người ở những nơi mà những lời dạy cao quý của Đức Phật được tôn trọng Tư tưởng ấy, đã bùng lên
ở thế kỷ thứ VI trước Công nguyên tại xã hội Ấn Độ Đẳng cấp cùng đinh được giải phóng trong mười lăm thế kỷ, sau đó lại rơi vào tình trạng nô lệ như xưa Nhưng ngày nay, tư tưởng tự do và bình đẳng đã bắt đầu sống trở lại trong xã hội của Ấn Độ
2.4 Ứng xử với các thế lực, phe phái đối lập
Sinh thời, học thuyết của Đức Phật có sáu triết thuyết đối lập thường hay tìm cách phủ nhận Sự phủ nhận của các học thuyết ấy đối với Đức Phật bằng nhiều hình thức Tuy trong sáu
vị giáo chủ nổi danh ấy, chưa có vị nào diện kiến Đức Phật, nhưng đệ tử của họ lại thường xuyên đến chất vấn ngài Để tránh những buổi tranh luận không đi đến đâu, Đức Phật thường tuyên bố: “Như Lai không tranh chấp với đời, chỉ có đời tranh chấp với Như Lai” Sáu vị giáo chủ cùng thời với Đức Phật là Pùrana Kassapa, Makkhali Gossala, Ajita Kesakambalin, Pakhuda Kaccàyana, Sanjaya Belatthiputta, Nigantha Nàtaputta có quan điểm rất khác xa nhau và rất khác xa Đức Phật trên mọi phương diện Đức Phật không bao giờ chủ động tìm đến khiêu khích và luận chiến với các triết thuyết đối lập, và cũng không tỏ ý khinh chê hay nói xấu họ Có lẽ, việc tránh những cuộc tranh luận
Trang 12không đi đến đâu và không lợi ích gì là một trong những nguyên tắc sống của ngài Mặc dù chưa một lần tranh luận với lục sư ngoại đạo, nhưng Đức Phật luôn cho rằng, lý thuyết của họ không nhằm đoạn tận đau khổ, và không thể đưa đến được hạnh phúc chân thật Tuy quan niệm như vậy, nhưng ngài luôn tỏ ra rộng rãi với họ trong cuộc sống bằng việc khuyến khích các đệ
tử của mình nên bố thí vật thực cho các tu sĩ ngoại giáo, tránh đừng để cho họ bị đói rét và đừng xúc phạm phỉ báng họ Cách
cư xử đó rất cao thượng, bởi lẽ xét về mặt ảnh hưởng xã hội Lục
sư ngoại đạo không có uy tín bằng ngài và lại luôn tìm cách làm hại thanh danh ngài, nhưng Đức Phật vẫn đối xử rất rộng rãi với
họ
Những đệ tử của Lục sư ngoại đạo đến chất vấn Đức Phật
và kinh tạng Pàli đã ghi lại những đoạn đối thoại ấy một cách khúc chiết, tất cả những vị ấy đều chưa có ai vượt qua được trí tuệ của ngài Cách đặt câu hỏi sắc sảo của ngài xoáy sâu vào mâu thuẫn nội tại trong những luận đề của người đối diện khiến
họ bối rối vô cùng Có vị tức giận vì bị Đức Phật đánh đổ trong luận thuyết đã đi tìm ngay đệ tử của ngài và nói xấu như sau: “Sa môn Gotama không giỏi điều khiển một hội chúng, không đủ sức
để đối thoại, chỉ đề cập đến những vấn đề ngoại biên Cũng như con bò một mắt, đi vòng tròn và chỉ đi bên ngoài”(1)
Đó là lời bình luận của du sĩ Nigrodha với Phật tử Sandhana về Đức Phật Bất mãn hơn Nigrodha, du sĩ Vekhanassa sau khi chất vấn và thất bại trong việc làm Đức Phật mất bình tĩnh, nên ông đã cay đắng thóa mạ ngài Kinh điển Pàli tường thuật lại chi tiết chuyện đó như sau: “ Du sĩ Vekhanassa,
1 Kinh Trung Bộ (tập 2), Nxb Tôn giáo, Hà Nội, 2002, tr.322
Trang 13phẫn nộ và bất mãn, mắng nhiếc cả Thế Tôn, miệt thị cả Thế Tôn
và nói: “Sa môn Gotama sẽ bị đọa lạc”(1) Mặc cho những lời thóa mạ trên, ngài vẫn không hề bị kích động, vì có một trí tuệ sắc sảo, một tác phong tranh luận có tính văn hóa cao như vậy, nên Đức Phật luôn tự tin và điềm tĩnh trong khi tranh luận Một điểm rất đặc biệt trong văn hóa đối thoại của Đức Phật, đó là việc giải đáp thẳng vấn đề, nếu như ngài chấp nhận vấn đề đó Nếu không chấp nhận, ngài sẽ gác chúng sang một bên bằng thái
độ im lặng Đức Phật chưa bao giờ khiêu khích hoặc tỏ ra miệt thị bất cứ một thành phần đối lập nào cả Thái độ tranh luận đó, chứng tỏ ngài đã sở hữu một tinh thần tự chủ vững vàng Theo ngài, người đối thoại với nhau phải có thiện chí, nếu có tranh luận là cũng tranh luận trong thiện chí và hiểu biết Ngài đã tuyên bố về thiện chí trả lời ngay tại chỗ và thẳng thắn của mình nếu như câu hỏi đó đáng được trả lời Ngài đã nói với vương tử Abhaya khi vương tử theo lệnh của sư phụ mình là Nigantha Nàtaputta đến chất vấn Đức Phật về thái độ tranh luận và cách thức trả lời tranh luận Vương tử yêu cầu ngài cho biết chủ kiến
về vấn đề này Đức Phật trả lời: “Này vương tử, những
Kshastriya, những Brahmin, những gia chủ, những sa môn, sau khi soạn sẵn câu hỏi sẽ đến Như Lai và hỏi, Như Lai sẽ trả lời ngay tại chỗ”(2)
Cách cư xử của Đức Phật trước những câu hỏi mà ngài không chấp nhận, không phải lúc nào cũng là im lặng Sự phản ứng khác biệt phụ thuộc vào hoàn cảnh của đối tượng chất vấn ngài Nếu đối tượng ấy để tranh luận hơn thua với ngài, khi họ đưa ra những câu hỏi mà ngài không chấp nhận, thì ngài phản
1
Kinh Trung Bộ (tập 2), Nxb Tôn giáo, Hà Nội, 2002, tr.473
2 Kinh Trung Bộ (tập 1), Nxb Tôn giáo, Hà Nội, 2002, tr.135