TRƯỜNG ĐẠI HỌC LÂM NGHIỆP VIỆN QUẢN LÝ ĐẤT ĐAI VÀ PHÁT TRIỂN NÔNG THÔN ------- KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP NGHIÊN CỨU CHỌN LỌC CÂY TRỘI VÀ NHÂN GIỐNG CÂY TRÁM ĐEN BẰNG PHƯƠNG PHÁP GHÉP NÊM
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC LÂM NGHIỆP VIỆN QUẢN LÝ ĐẤT ĐAI VÀ PHÁT TRIỂN NÔNG THÔN
-
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP NGHIÊN CỨU CHỌN LỌC CÂY TRỘI VÀ NHÂN GIỐNG CÂY TRÁM ĐEN BẰNG PHƯƠNG PHÁP GHÉP NÊM TẠI XÓM SUNG, XÃ THANH HỐI, HUYỆN TÂN LẠC, TỈNH HÒA BÌNH
Trang 2LỜI CẢM ƠN
Lời đầu tiên tôi xin được bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến Ban Giám hiệu
Trường Đại học Lâm nghiệp, Lãnh đạo Viện Quản lý đất đai và PTNT, Thầy cô
Bộ môn Khuyến nông và Khoa học cây trồng, đã tận tình giúp đỡ cho tôi trong
thời gian học tại Trường
Đặc biệt tôi xin bày tỏ lòng biết ơn trân thành tới thầy Kiều Trí Đức đã
trực tiếp giúp đỡ, hướng dẫn tôi nghiên cứu và hoàn thành khóa luận tốt nghiệp
Tôi xin gửi lời cảm ơn sâu sắc đến gia đình anh Bùi Văn Tường đã tạo
điều kiện tốt nhất và giúp đỡ tôi trong suốt thời gian thực tập Đặc biệt là anh
Bùi Văn Tường, người đã trực tiếp giúp đỡ , hướng dẫn, chỉ bảo tôi rất tận tình
và chu đáo
Tôi cũng xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến gia đình, người thân, bạn bè
đã giúp đỡ động viên tôi hoàn thành khóa luận tốt nghiệp này
Với điều kiện thời gian nghiên cứu và khả năng của bản thân còn những
hạn chế nhất định nên bản khóa luận này không tránh khỏi những thiếu sót Tôi
rất mong nhận được những ý kiến đóng góp của Thầy cô và các bạn để bản khóa
luận được hoàn thành và có ý nghĩa thực tiễn hơn
Tôi xin trân trọng cảm ơn! Hà Nội,Ngày 9 tháng 5 năm 2020
Sinh viên Bùi Lê Hồng Phong
Trang 4MỤC LỤC
LỜI CẢM ƠN II DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT III
MỤC LỤC 1
DANH MỤC BẢNG 3
DANH MỤC HÌNH 4
ĐẶT VẤN ĐỀ 5
CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1
1.1.2 Đặc điểm thực vật học của cây Trám đen 1
1.1.3 Yêu cầu sinh thái 2
1.1.4 Giá trị kinh tế 2
1.1.5 Yêu cầu về giống 3
1.1.6 Cơ sở khoa học của phương pháp ghép 3
1.2 CƠ SỞ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI 7
1.2.1 Tình hình nghiên cứu trám trên thế giới 7
1.2.2 Tình hình nghiên cứu ở Việt Nam 9
CHƯƠNG 2 MỤC TIÊU, NỘI DUNG, PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 15
2.1 MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU 15
2.1.1 Mục tiêu chung 15
2.1.2 Mục tiêu cụ thể 15
2.2.PHẠM VI NGHIÊN CỨU 15
2.3 VẬT LIỆU NGHIÊN CỨU 15
2.4 NỘI DUNG NGHIÊN CỨU 16
2.4.1 Tuyển chọn cây trội có năng suất qủa cao và chất lượng quả tốt 16
2.4.2 Nghiên cứu phương pháp ghép cây trám đen bằng phương pháp ghép nêm 16
2.5 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 16
2.5.1 Kế thừa tài liệu thứ cấp 16
2.5.2 Bố trí thí nghiệm 16
2.5.3 Quy trình thực hiện thí nghiệm 17
Trang 52.5.4 Các chỉ tiêu theo dõi (Tiêu chuẩn ngành 04TCN147-2006, ban hành kèm theo Quyết định số 4180 QĐ/BNN-KHCN ngày 29 tháng 12 năm 2006).
21
2.5.5 Phương pháp xử lý số liệu 24
CHƯƠNG 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 25
3.1 ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN CỦA KHU VỰC NGHIÊN CỨU 25
3.1.1 Vị trí địa lý 25
3.1.2 Đặc điểm về đất đai 25
3.1.3 Đặc điểm khí hậu của khu vực nghiên cứu 26
3.2 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN CHỌN LỌC CÂY TRỘI CHÍNH THỨC 28
3.2.1 Kết quả xác định năng suất quả theo độ tuổi của quần thể để làm cơ sở cho chọn cây trội dự tuyển 28
3.2.2 Kết quả tuyển chọn 20 cây trội dự tuyển 31
3.2.3 Kết quả tuyển chọn 10 cây trội chính thức 35
3.3 ẢNH HƯỞNG CỦA PHƯƠNG PHÁP GHÉP NÊM ĐẾN SINH TRƯỞNG VÀ PHÁT TRIỂN CỦA CÁC GIỐNG TRÁM ĐEN 37
3.3.1 Ảnh hưởng của phương pháp ghép nêm đến tỉ lệ sống, số cây sống và chiều dài chồi ghép của các giống Trám đen 37
3.3.2 Tốc độ tăng trưởng đường kính và chiều cao cành ghép của các giống Trám đen 41
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 44
TÀI LIỆU THAM KHẢO 46
PHỤ LỤC 48
Trang 6DANH MỤC BẢNG
Bảng 3.1: Các yếu tố khí hậu của khu vực nghiên cứu 26Bảng 3.2 Tính đặc trưng mẫu ở 3 độ tuổi của quần thể 28Bảng 3.3 Chỉ tiêu đo đếm và địa chỉ của 20 cây Trám trội về năng suất quả 31Bảng 3.4 Trị số trung bình của các chỉ tiêu theo độ tuổi của 20 cây trội dự tuyển
về năng suất quả 33Bảng 3.5 Chỉ tiêu đo đếm và địa chỉ của 10 cây Trám trội về năng suất quả 35
Bảng 3.6 Đặc điểm của 10 cây trội theo độ tuổi 36
Bảng 3.7 Ảnh hưởng của các giống Trám đen đến kết quả ghép 38Bảng 3.8 Tốc độ tăng trưởng đường kính và chiều cao cành ghép của các giống Trám đen 41
Trang 7DANH MỤC HÌNH
Hình 3.1 Số cây sống và tỷ lệ cây sống của các giống Trám đen 38Hình 3.2: Tốc độ tăng trưởng đường kính và chiều cao cành ghép của các giống Trám đen 42
Trang 8ĐẶT VẤN ĐỀ
Cây Trám đen (Canarrium nigrum Dai&Yakovl) là loài cây bản địa của
nước ta, có phân bố tự nhiên ở các tỉnh Hoà Bình, Bắc Giang, Phú Thọ, Thái Nguyên, Lạng Sơn, Nghệ An
Quả Trám đen là loại thực phẩm sạch, truyền thống của nhân dân vùng núi phía Bắc, thịt quả Trám đen có tác dụng bổ dưỡng đối với sức khỏe con người và có tác dụng chữa bệnh tốt, không độc Các chất dinh dưỡng trong của thịt quả Trám đen gồm có chất đạm, chất béo, đường, hydrat carbon, 6 loại vitamine: vitamine C, vitamine B3, vitamine B5, vitamine B6, vitamine E, vitamine K và 8 loại khoáng chất: canxi, phospho, kali, sắt, magiê, mang gan, kẽm, đồng Nhân hạt qủa Trám đen chứa các axit béo
Cây Trám đen tỉnh Hòa Bình đang cho thu hoạch quả chủ yếu là do người dân tự trồng hoặc do mọc tự nhiên từ hạt được giữ lại, chưa qua các khâu chọn lọc và nhân giống phù hợp với mục tiêu lấy quả Do được gây trồng hoặc mọc tự nhiên từ hạt nên các cây hiện có là sản phẩm của tái tổ hợp di truyền trong quá trình phân bào giảm nhiễm và quá trình giao phấn tự do nên giữa các cây có biến
dị cá thể lớn về tất cả các tính trạng, đặc biệt là năng suất quả Vì vậy để bảo tồn
và phát triển nguồn gen quý của cây Trám đen tại huyện Tân Lạc và Lạc Sơn nói riêng và tỉnh Hòa Bình nói chung theo mục tiêu lấy quả cần tuyển chọn một số cây trội có năng suất quả cao, chất lượng quả tốt để cung cấp nguồn vật liệu giống đã được cải thiện về chất lượng di truyền cho phát triển vào sản xuất
Tuy vậy, công việc có ý nghĩa quan trọng nhất để phát triển cây Trám đen Hoà Bình là việc tuyển chọn cây trội vẫn chưa được thực hiện một cách có hệ thống, bài bản Vì vậy việc tuyển chọn cây trội để quản lý, bảo vệ lâu dài những nguồn gen quý là thực sự cần thiết nhằm bảo tồn an toàn và phát triển bền vững,
có hiệu quả nguồn tài nguyên di truyền quý, hiện có của quần thể trám đen Hoà Bình theo hướng nâng cao năng suất, chất lượng quả, đáp ứng được hiệu quả trên cả 3 phương diện kinh tế, xã hội và môi trường
Trang 9Nâng cao năng suất của rừng trồng là một trong những mục tiêu cần đạt được trong sản xuất lâm nghiệp hiện nay Để nâng cao năng suất rừng trồng một trong những khâu mang tính quyết định đó là sử dụng giống tốt để trồng rừng Nhờ có giống được cải thiện và áp dụng các biện phát kỹ thuật như thâm canh
mà năng suất các loài cây trồng nông nghiệp trong những năm qua đã tăng gấp đôi so với những năm 1960 Trong Lâm nghiệp, cây rừng có đời sống ngày dài ngày, khó áp dụng các biện phát kỹ thuật thâm canh khác nên công tác giống lại càng quan trọng Dù trồng rừng kinh tế hay trồng rừng phòng hộ đều phải có giống tốt theo mục tiêu đặt ra
Trong các năm gần đây, các Trung tâm nghiên cứu giống cây rừng trong
cả nước tiến hành nghiên cứu về chọn giống, khảo nghiệm và nhân giống cho nhiều loại cây rừng đã đạt dược một số kết quả bước đầu, mở ra một triển vọng lớn cho trồng rừng nguyên liệu ở nước ta
Nhân giống là khâu cuối cùng trong công tác cải thiện giống Để giữ được đặc tính tốt của cây giống người ta thường dùng phương pháp nhân giống sinh dưỡng Trong phương pháp nhân giống sinh dưỡng, phương pháp ghép kết hợp được sức sống trẻ của gốc ghép với đặc tính di truyền tốt của cành ghép, tạo được cây ghép vừa sống lâu, vừa mau ra quả và giữ được đặc tính di truyền tốt cần chọn lọc, đồng thời cây có chiều cao thấp hơn, vì vậy phương pháp này đã
và đang được áp dụng rộng rãi trong việc tạo cây giống trồng với mục đích lấy quả
Cây Trám đen trồng từ hạt lâu cho quả, mặt khác không phải cây nào cũng cho quả Cây có nhiều hoa cái thì cho quả nhiều, còn những cây có hoa đực, hoa lưỡng tính không cho quả hoặc sản lượng quả rất thấp Với mục đích trồng Trám đen lấy quả, nếu trồng cây từ hạt, để chọn được cây cho quả sai, chất lượng quả như mong muốn cần phải mất khoảng 8-10 năm mới tuyển chọn được Để khắc phục đặc điểm trên, hiện nay trồng Trám Đen với mục đích chính
là lấy quả, nên sử dụng cây ghép để trồng vừa nhanh ra quả đồng thời cây trồng đều cho quả đáp ứng được mục đích kinh doanh
Trang 10Vì vậy, để khắc phục những hạn chế, góp phần nâng cao năng suất quả, chất lượng quả, và với mục đích bảo tồn và phát triển nguồn gen quý của cây Trám đen tại tỉnh Hòa Bình Chúng tôi thực hiện đề tài: “Nghiên cứu chọn lọc
cây trội và nhân giống cây Trám đen bằng phương pháp ghép nêm tại xóm Sung, xã Thanh Hối, huyện Tân Lạc, tỉnh Hòa Bình”
Trang 11CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1.1 Cơ sở khoa học của đề tài nghiên cứu
1.1.1 Nguồn gốc và phân bố của Trám đen
Tên khoa học: Canarrium nigrum Dai&Yakovl
Tên khác: Bùi, Co mác bây (Tày, Nùng)
Họ: Trám – Burseraceae
Trám đen có nguồn gốc ở vùng nhiệt đới châu Phi và Nam Á, từ miền nam Nigeria về phía đông tới Madagascar, Mauritius, Ấn Độ, miền nam Trung Quốc và Philipin
Thế giới: Trám đen phân bố ở: Trung Quốc (Vân Nam, Hải Nam, Hồng Kông), Lào, Campuchia, Thái Lan
Ở Việt Nam: Cây phân bố khá rộng ở các tỉnh phía Bắc và phía Nam của Việt Nam Các tỉnh phía Bắc có nhiều trám đen mọc nhất là: Hòa Bình,Tuyên Quang, Phú Thọ, Bắc Giang, Thái Nguyên, Lạng Sơn, Quảng Ninh, Thanh Hoá, Nghệ An, Quảng Bình Các tỉnh phía Nam có trám đen mọc là: Quảng Nam, Đắk Lắk và Khánh Hoà… ở độ cao từ khoảng 50 - 800 m, tập trung nhiều ở độ cao 100-400m trên mặt biển
1.1.2 Đặc điểm thực vật học của cây Trám đen
Thân: Cây gỗ lớn, cao 25-30m, đường kính tới 90cm Thân thẳng, phân cành cao Vỏ màu nâu nhạt khi đẽo ra có mủ màu đen Cành nhỏ khi khô có màu tím Toàn thân có mùi thơm hắc Gỗ nhẹ, mềm, màu xám trắng
Lá: Lá kép lông chim 1 lần lẻ, 9 - 13 lá chét, không có lá kèm Lá chét hình thuôn trái xoan, dài 6 - 17cm, rộng 2 - 7,5cm, phiến cứng, mặt trên bóng, mặt dưới sẫm hơn, đầu và đuôi lá hơi lệch Gân bên 8-11 đuôi Cuống lá chét dài 0,5cm Hình dáng lá cây con thay đổi nhiều, từ lá xẻ thuỳ lên lá đơn, cuối cùng mới sinh lá kép như cây trưởng thành
Hoa: Hoa tự chùm hình viên thuỳ, ở nách lá gần đầu cành thường dài hơn Hoa đơn tính cùng gốc, hoa nhỏ dài 6 - 7mm, hoa đực có ống dài xẻ thùy nông, nhị 6 hợp gốc, hoa cái có ống đài nguyên, chỉ nhị họp trên nửa chiều dài, triền
Trang 12hoa hình cốc, cao 0,5 - 1 mm, nhụy ngắn Hoa màu trắng vàng nhạt, cuống lá bắc dạng vảy, cuống hoa dài 1,5-2cm
Quả: Quả hạch hình trái xoan dài hai đầu nhọn, dài 3 - 4cm, rộng 1,7 - 2cm Khi chín màu tím đen Hạt 1 - 3 trong một hạch
1.1.3 Yêu cầu sinh thái
Đất: Cây ưa đất sét hoặc sét pha, sâu ẩm và thoát nước, độ pH 4,5-5,5; nhưng cũng gặp Trám đen phát triển tốt trên đất cát có nhiều phù sa ven sông
Nhiệt độ: Cây sinh trưởng phát triển thích hợp nhất ở 25-30°C
Độ ẩm: Độ ẩm của môi trường nhân giống có liên quan trực tiếp đến lượng nước trong vật liệu nhân giống nên có vai trò hết sức quan trọng đến kết quả nhân giống Mọi quá trình sống trong vật liệu giống đều cần có nước, tuy nhiên nếu môi trường quá nhiều hoặc quá ít nước thì vật liệu giống đều bị ảnh hưởng, làm giảm khả năng nhân giống dinh dưỡng Nhu cầu về độ ẩm của môi trường nhân giống thay đổi theo loài cây và theo từng phương pháp nhân giống sinh dưỡng Khi ghép cây, biện pháp quan trọng để đảm bảo cành ghép không chết do mất nước là phải tạo được tiếp xúc tốt giữa tượng tầng của cành ghép, mắt ghép và gốc ghép để nước và dinh dưỡng khoáng từ gốc ghép cung cấp cho cành, mắt ghép Cần hạn chế sự thoát hơi nước của cành, mắt ghép tới mức thấp nhất khi vết ghép chưa liền sinh Một trong những biện pháp hạn chế thoát hơi nước của tổ hợp ghép một cách hiệu quả và tiện lợi là dùng nilon bọc kín tổ hợp ghép
1.1.4 Giá trị kinh tế
Gỗ Trám đen dùng xẻ ván, làm nhà, đóng dụng cụ thông thường Nhựa cây trám đen thơm ngát, dễ cháy, dùng để chế biến sơn, vecni, xà phòng, dầu thơm và làm hương Quả cây trám đen ăn ngon nhất trong các loại trám, dùng để: kho cá, kho thịt, đồ xôi, có thể muối để ăn dần (thường ngâm trong nước mắm), làm ô mai khô để giải độc, chống ho Quả dùng để ăn Ngoài ra còn dùng quả trám đen để chữa mắt có mộng Hạt ép dầu và làm nhân bánh
Sau 6 năm, nếu trồng trên đất tốt sẽ cho thu hoạch Cây Trám đen từ 10 -
15 tuổi có thể cho từ 50 - 70 kg quả.Theo giá thị trường hiện nay là khoảng
Trang 1340.000 đồng/kg, tính trung bình mỗi năm người dân thu được từ 2.000.000 đồng đến 2.800.000 đồng/cây, và cho thu hoạch trong thời gian khoảng 50 năm
1.1.5 Yêu cầu về giống
Trám có thể trồng bằng cây con gieo từ hạt hoặc cây ghép, tuy nhiên cây con trồng từ hạt thường có tỷ lệ cây đực cao Hạt trám để gieo ươm cần chọn quả đã chín, ngâm vào nước nóng khoảng 80 - 850C Khi thịt đã mềm thì tách hạt rồi đem rửa sạch rồi hong khô
Trám trồng bằng cây ghép nên dùng gốc ghép 2 năm tuổi rồi mới ghép mắt Tốt nhất dùng cây gốc ghép mọc từ hạt, trồng trong bầu, sau khi ghép cây con trưởng thành tốt mới ra ngoài sẽ dễ sống và sớm ra quả
Do Trám có cây đực và cây lưỡng tính, cây đực chỉ ra hoa đực, có ra hoa nhưng mà không có quả, dùng mắt ghép từ cây lưỡng tính sẽ ra hoa kết quả bình thường và cho năng suất ghép cao
1.1.6 Cơ sở khoa học của phương pháp ghép
Ghép là phương pháp nhân giống vô tính được thực hiện bằng sự kết hợp giữa một bộ phận của cây này với bộ phận của cây khác để tạo thành một tổ hợp ghép cùng sinh trưởng và phát triển như một thể thống nhất.( Nguyễn Hoàng Nghĩa (2001), nhân giống vô tính và trồng rừng dòng vô tính)
Ghép cây là phương pháp nhân giống, theo đó người ta lấy từ 1 hoặc nhiều cây mẹ, giống tốt, đang sinh trưởng, những phần đoạn cành, khúc rễ, mầm ngủ rồi nhanh chóng và khéo léo lắp đặt vào vị trí thích hợp trên cây khác, gọi
là cây gốc ghép, sau đó chăm sóc để phần ghép và gốc ghép liền lại với nhau, tạo ra một cây mới, trong đó cây gốc ghép thông qua bộ rễ, có chức năng lấy dinh dưỡng trong đất để nuôi toàn bộ cây mới, còn phần ghép có chức năng sinh
trưởng và tạo sản phẩm
Khi bị tổn thương, cây có thể tự làm lành vết thương và ghép cây là tận dụng khả năng đó của cây Khi ghép, đòi hỏi tầng sinh gỗ (mô phân sinh) trên mặt cắt của phần ghép tiếp hợp chặt chẽ với tầng sinh gỗ trên mặt cắt của cây gốc ghép và như vậy vết ghép mới mau liền lại để tạo thành 1 cây mới, tức là
Trang 14Khi cắt ngang cành cây, ta thấy ngoài cùng là biểu bì rồi đến vỏ cành, tầng sinh gỗ (mô phân sinh), trong cùng là lõi gỗ Tầng sinh gỗ liên tục phân chia cả 2 phía, phía ngoài tạo ra lớp vỏ và phía trong tạo ra lõi gỗ Do vậy, khi ghép, nếu 2 mặt tầng sinh gỗ của phần ghép và gốc ghép tiếp hợp với nhau chặt chẽ thì vết ghép mau liền và phần ghép sẽ sống Khi ghép yêu cầu mặt cắt của phần ghép và của gốc ghép nhất thiết phải thật nhẵn (tức là khi cắt phải dùng dao ghép rất sắc) và phải được áp chặt với nhau để cơ quan phục hồi vết thương của cả 2 bên có thể nhanh chóng liền lại với nhau Do vậy, khi ghép phải dùng dây quấn chặt phần ghép vào gốc ghép Thực chất, quá trình lành vết ghép diễn biến như sau:
Khi ghép ở 2 mặt của vết cắt hình thành 1 lớp màng mỏng, sau đó tầng sinh gỗ tăng trưởng rất nhanh, lấp đầy chỗ trống giữa 2 mặt vết cắt (của phần ghép và gốc ghép) Từ đó màng mỏng bị huỷ hoại, các tổ chức mô tế bào của phần ghép và gốc ghép dần hoà hợp, gắn bó với nhau, hệ thống vận chuyên dinh dưỡng liên kết với nhau do tầng sinh gỗ tạo ra vỏ phía ngoài và gỗ phía trong và nối các mạch ống dẫn của lõi gỗ với ống lọc thấm của lớp vỏ lại với nhau và hệ thống mạch dẫn thực sự được liên kết, thông suốt Lúc này, chồi ghép được cung cấp dinh dưỡng, nước và bắt đầu sinh trưởng
Ở hầu hết các loài cây, kể cả Trám mặt cắt ngang của thân cây bao gồm các bộ phận cơ bản sau: phần gỗ, libe, và tượng tầng
Phần gỗ: các tế bào gỗ non tạo thành các ống mạch, các ống mạch này làm nhiệm vụ dẫn nước và dinh dưỡng khoáng từ rễ cây lên nuôi các bộ phận bên trên cây
Libe: dẫn các sản phẩm đồng hóa trên tán cây (sản phẩm quang hợp) xuống nuôi các bộ phận bên dưới
Tượng tầng: là mô phân sinh bên có thể sinh ra tế bào mới Trong ghép quan trọng nhất là sự tiếp xúc giữa tượng tầng của cành ghép và tượng tầng của gốc ghép, nhờ sự tiếp xúc này cùng với quá trình phân chia liên tục của tượng tầng mà cành ghép và gốc ghép có thể nối liền lại với nhau, trao đổi chất của cây diễn ra làm cho cây sinh trưởng phát triển bình thường Vì vậy, yêu cầu khi thao
Trang 15tác ghép là tượng tầng của cành ghép và gốc ghép phải trùng khít nhau Tượng tầng chủ yếu là phân sinh ngang, sinh ra gỗ mới, mạch gỗ mới vào phía trong sinh ra libe mới, vỏ mới ra phía ngoài Tượng tầng sinh trưởng mạnh trong mùa sinh trưởng của cây
Để ghép thành công thì cần phải có sự đối ứng giữa cành ghép và gốc ghép: gỗ liền gỗ, libe liền libe, tượng tầng liền tượng tầng, sự đối ứng này càng nhiều càng tốt
Cơ sở di truyền học: Khả năng nhân giống sinh dưỡng của các loài cây là rất khác nhau Các loài cây khác nhau cũng thích hợp với từng phương pháp nhân giống sinh dưỡng Những đặc điểm này là do nhân tố di truyền của chúng quyết định
Cơ sở tế bào học: Vật liệu để nhân giống sinh dưỡng là một bộ phận sinh dưỡng của sinh vật chúng được đặt trong môi trường thích hợp để các tế bào sống sinh trưởng bằng cách phân bào nguyên nhiễm liên tiếp, phân hóa hình thành các cơ quan như rễ, chồi lá… Tạo thành một cây hoàn chỉnh Trong quá trình đó tuy hình thái, chức năng của các cơ quan được hình thành có khác nhau, xong nhân tố di truyền là bộ nhiễm sắc thể của chúng không thể thay đổi
Cơ sở sinh lý, sinh hóa: Cây lấy vật liệu nhân giống ở tình trạng sinh lý tốt là một tiền đề cho nhân giống sinh dưỡng thành công Lượng nước trong cây đầy đủ thể hiện tính trạng sinh lý tốt Buổi sáng sớm là cây có hàm lượng nước đầy đủ nhất trong ngày Chất dinh dưỡng trong cây lấy vật liệu nhân giống có ảnh hưởng mạnh và lâu dài đến sự hình thành và phát triển của cây sinh dưỡng
Hàm lượng Hydratcacbon và Nitơ là hai loại chất quan trọng nhất, ảnh hưởng rõ rệt đến hình thành cây con Thông thường nếu vật liệu nhân giống có hàm lượng Hydratcacbon cao, Nito thấp thì khả năng ra rễ cao và ngược lại thì khả năng ra chồi mạnh
Quá trình phát triển cá thể của cây được chia thành 3 giai đoạn chính: non trẻ, chuyển tiếp và thành thục Sinh vật thuộc các loài khác nhau, thậm chí các
cá thể của một loài cũng khác nhau trong quá trình chuyển giai đoạn từ non trẻ
Trang 16sang thành thục Giai đoạn non trẻ, thành thục dài hay ngắn, mạnh hay yếu đều
do nhân tố di truyền kiểm soát
Khả năng hòa nhập trong quá trình ghép: Giữa các cây có sự khác biệt về cấu trúc mô, tế bào, về sinh lý, về tính di truyền Nếu ghép những cây mà sự khác biệt đó không lớn thì khả năng hoà nhập của chúng cao và cây ghép dễ sống, sau đó sinh trưởng phát triển thuận lợi, ngược lại sự khác biệt nói trên càng lớn thì khả năng hoà nhập càng thấp, việc ghép sẽ khó thành công Một số cây, khi ghép thì sống, nhưng sau sinh trưởng không bình thường, thậm chí sinh trưởng tốt nhưng lại không đem lại giá trị kinh tế
Quy luật chung là nguồn gốc thực vật càng gần thì khả năng hoà nhập càng mạnh Có một số cây khó ghép mà phải tiến hành ghép ngay trên cùng loài như: nhãn lồng, vải, trám Việc ghép các cây khác họ thực vật, từ trước đến nay chưa thành công
Những biểu hiện không hoà nhập: Đó là các biểu hiện như vết ghép không lành, hoặc lành nhưng mầm ghép không sinh trưởng hoặc sinh trưởng như nơi tiếp giáp chỗ ghép yếu, gặp gió dễ gẫy hoặc biểu hiện ở nơi tiếp giáp như phần ghép phình to hơn gốc ghép hoặc ngược lại phần gốc ghép phình to hơn phần ghép ở trên Cũng có khi sự không hoà nhập biểu hiện ở sự biến màu của lá, lá rụng non, sinh trưởng chậm, có trường hợp lá quá rậm rạp, nụ hoa ra sớm, nhiều cây phát triển thành dị dạng Biểu hiện không hoà nhập có khi xuất hiện rất chậm tới 10 năm sau khi ghép
Những nguyên nhân có thể gồm: sự khác biệt về cấu trúc giải phẫu giữa gốc ghép và phần ghép, làm cho hệ thống mạch dẫn không thống nhất với nhau, dẫn đến tình trạng nước và các chất dinh dưỡng không được cung cấp đầy đủ Kết quả là chỗ ghép phình to không đều Khi các tầng sinh gỗ không liên kết được với nhau thì phần ghép dễ gẫy tách khỏi gốc ghép Nếu vỏ không liên kết thì các chất được tổng hợp qua quang hợp lại không cung cấp cho rễ của gốc ghép, làm rễ bị thối, cây chết toàn bộ
Khả năng không điều hoà của một số chức năng sinh lý: Sau khi ghép, nếu nhu cầu dinh dưỡng của gốc ghép và thân ghép không được đáp ứng hài hoà
Trang 17sẽ dẫn đến sự không hoà nhập Mặt khác, sự khác biệt về áp lực thẩm thấu giữa
2 phần cây ghép cũng là nguyên nhân của sự không hoà nhập Trong thực tiễn sản xuất, người ta dùng cách ghép lưỡng tính để khắc phục hiện tượng không hoà nhập
1.2 Cơ sở thực tiễn của đề tài
1.2.1 Tình hình nghiên cứu trám trên thế giới
Có nhiều dẫn liệu cho thấy người Trung Quốc đã biết ghép cây từ hàng ngàn năm trước công nguyên Aristore (384 - 322 TCN) đã nói về ghép trong tác phẩm của mình Thời kỳ Phục Hưng (1350 - 1600) người ta chú ý đến ứng dụng thực tiễn của ghép Nhiều loại cây được đưa vào Châu Âu và duy trì bằng phương pháp ghép Vào thế kỷ thứ XVI - XVII ghép được áp dụng rộng rãi ở nước Anh trong nghề làm vườn và nhận thấy vai trò của lớp tượng tầng tuy chưa
rõ bản chất của nó Đầu thế kỷ XVIII Stephen Hales trong tác phẩm nghiên cứu
về “tuần hoàn của nhựa” trong cây đã nhận thấy sự tồn tại của phần giữa cây và vai trò của nó trong vận chuyển các chất từ rễ lên trên thân cây Cũng trong khoảng thời gian này, Duhamel đã nghiên cứu sự hình thành tổ hợp ghép, sự vận chuyển của nhựa qua chỗ ghép Năm 1821, Thourin đã mô tả 19 phương pháp ghép và những biến đổi do ghép cây gây ra
Nhân giống bằng phương pháp ghép được coi là một công nghệ tiên tiến trong sản xuất nông nghiệp và được áp dụng phổ biến ở những nước trồng cây
ăn quả trên thế giới Ngoài ra, nó còn được sử dụng trong ngành cây cảnh, cây công nghiệp cây thuốc (Sing R.B.1993) Cây ăn quả lâu năm, nếu sử dụng được tổ hợp mắt ghép, gố ghép thích hợp ngoài các ưu điểm hơn hẳn so với các phương pháp nhân giống khác về khả năng sinh trưởng, hệ số nhân giống cao, mức độ cây con đồng đều, cây ghép còn có khả năng thích ứng với diều kiện bất lợi như hạn hán, lạnh, úng Mặt khác nó làm cho cây lùn đi
Thành tựu nổi bật của ưu thế nhân giống bằng phương pháp ghép là trong nghề trồng táo, việc sử dụng gốc ghép lùn và nửa lùn được coi là cuộc cách mạng trong nghề trồng táo ở Châu Âu Vì khi sử dụng gốc ghép đó làm tán cây
Trang 18nhỏ lại, trồng dược nhiều hơn, sớm cho quả, năng suất cao, chăm sóc tiện lợi, giảm bớt được công thu hái
Vào năm 1840, ông Marier de Boissdyver người Pháp ở vùng rừng Phongtennoblo đã ghép trên 10.000 cây Thông đen xuất xứ Korzica (Pinus nigra
sp Lariciot) lên gốc ghép cây thông đen non trẻ nhằm nhân rộng xuất xứ có giá trị và để sản xuất hạt giống để phục vụ trồng rừng
Năm 1968, Bittez đã nghiên cứu và đã đưa ra kết luận: Gốc ghép có ảnh hưởng đến sự ra hoa, kết quả của cây ghép: Cam Valencia ghép trên gốc ghép C limon và C auran tifolia cho quả sớm hơn ghép trên gốc ghép là Quýt Cleopatre Kết quả này đã mở ra một hướng mới trong việc rút ngắn thời gian cho thu hoạch quả Cam (dẫn theo Trần Như Ý và CS, 2000)
Ghép đã trở thành phương pháp chuẩn đối với cây Tếch (Tectona Geandis) (Muniswani, 1977): Thông thường có hai mùa ghép trong năm, đó là mùa Xuân (tháng 3 - 5) và mùa Thu (9 -10), nhưng ở cây Tếch tỷ lệ sống của cây ghép vào mùa Xuân cao hơn so với mùa Thu và chồi ghép cũng sinh trưởng tốt hơn Các nước như Ấn Độ, Thái Lan ghép Tếch đạt tỷ lệ thành công tới 98% (Nguyễn Hoàng Nghĩa, 2001)
Ở Hà Lan nhờ có giống mới và nhân giống bằng phương pháp ghép với các loại gốc ghép lùn và nửa lùn mà đã tăng được mật độ cây trồng (4000 - 10.000 cây/ha) cây sớm ra quả, tán nhỏ nên thuận lợi cho việc chăm sóc và thu hái Sản lượng trên mỗi đơn vị diện tích tăng lên đến 45%.( Trần Thế Tục, Hoàng Ngọc Thuận, 2000)
Nghề trồng cam ở Brazin và các nước Nam Mỹ một thời bị điêu đứng vì
sự tàn phá có tính hủy diệt của bệnh vius Tristeza Sau đó những công trình nghiên cứu về gốc ghép chống bệnh và các tổ hợp mắt ghép, gốc ghép sạch bệnh virus đã phục hồi lại được vườn cam trong thời gian ngắn (dẫn theo Trần Thế Tục, Hoàng Ngọc Thuận, 2000)
Các nghiên cứu của giáo sư G V Trusevic đã chỉ ra rằng: Các gốc ghép
có ảnh hưởng rõ rệt đến khả năng sinh trưởng và tuổi thọ của cành ghép, các cấu
Trang 19hình của tán cây, thời gian ra hoa của giống (nhanh hay chậm) (dẫn theo Trần Thế Tục, Hoàng Ngọc Thuận, 2000)
Những nghiên cứu khác ở nhiều nước như: Trung Quốc, Thái Lan, Ấn
Độ, Mỹ đều cho thấy khi dùng giống Xoài địa phương làm gốc ghép cho giống Xoài mới tuyển chọn và nhập nội từ nơi khác đến, bao giờ cũng có hiệu quả hơn (Trần Như Ý và cs, 2000)
Phương pháp ghép khác nhau cho tỷ lệ sống khác nhau, Banik (1991) đã nghiên cứu về ghép cây Tếch ở Băng La Đét cho thấy: Ghép áp cành: Tỷ lệ sống đạt 94,4% Ghép nối tiếp: Tỷ lệ sống đạt 60,7% Ghép mắt (kiểu chữ T): Tỷ lệ sống đạt 74,3% (Nguyễn Hoàng Nghĩa, 2001)
Các nghiên cứu liên quan đến cây Trám ghép ít được đề cập đến, song nhân giống bằng phương pháp ghép được coi là một công nghệ tiên tiến trong sản xuất nông nghiệp và được áp dụng phổ biến ở những nước trồng cây ăn quả trên thế giới Ngoài ra nó còn được sử dụng trong nghề cây cảnh, cây công nghiệp, cây thuốc (Sing R.B.1993) Cây ăn quả lâu năm, nếu sử dụng được tổ hợp mắt ghép, gốc ghép thích hợp ngoài các ưu điểm hơn hẳn so với các phương pháp nhân giống khác về khả năng sinh trưởng, hệ số nhân giống cao, mức độ cây con đồng đều, cây ghép còn có khả năng thích ứng với điều kiện bất lợi như hạn hán, lạnh, úng mặt khác nó làm cho cây lùn đi Những ưu điểm này được biểu hiện rõ rệt trong sản xuất cây có múi
1.2.2 Tình hình nghiên cứu ở Việt Nam
Nghề trồng cây ăn quả ở Việt Nam đã có cách đây hơn 2000 năm, trong lịch sử dựng nước và giữ nước, đất nước ta chịu hậu quả nặng nề của chiến tranh, việc phát triển khoa học kỹ thuật và nghiên cứu ứng dụng và sản xuất còn hạn chế Sau hòa bình lặp lại, Đảng và nhà nước đã có những chủ trương chính sách phát triển Nông Lâm nghiệp toàn diện Từ sau những năm 1960, các viện nghiên cứu của các trường Đại học Nông lâm được thành lập đã tạo ra một bước nhảy vọt trong sản xuất và nghiên cứu khoa học nông lâm nghiệp
Trong sản xuất nông nghiệp: Hơn 40 năm qua, ngành nông nghiệp đã đạt
Trang 20ghép, nuôi cấy mô Đã được ứng dụng hầu hết cho các loài cây ăn quả và một số loài hoa, cây cảnh Đến nay đã xây dựng và hoàn thiện các quy trình kỹ thuật nhân giống cây ăn quả như: Nhãn, vải, cam chanh, bưởi, lê, táo… các vườn nhân giống đã phát triển ở hầu hết các tỉnh và các vùng trong sản xuất trong nước ta, năng suất và chất lượng cây trồng ngày càng được cải thiện
Trong sản xuất Lâm nghiệp: công tác giống cây rừng ở nước ta bắt đầu từ những năm 1930, khi các nhà lâm nghiệp người Pháp dựng một số điểm trồng thử đầu tiên cho một số cây rừng Sau đó, trong những năm 1950 - 1960 các khảo nghiệp cho bộ giống 18 loại Bạch Đàn, 15 loài Thông và một số loài Keo
đã được tiến hành tại vùng núi Đà Lạt mà đến nay đã trở thành một số loài có giá trị như: Eucalyptus microcorys và E grandis cao 60 m với đường kính 55 -
60 cm Tuy vậy, do diều kiện chiến tranh nên trong một thời gian dài công tác giống chỉ dừng lại ở bảo quản hạt giống và xây dựng rừng giống là chủ yếu
Sau năm 1975, đặc biệt từ 1980 hoạt động cải thiện giống cây rừng mới được đẩy mạnh trong cả nước Các hoạt động trong thời gian đầu chủ yếu là khảo nghiệm xuất xứ cho các loài Thông, Bạch Đàn, Keo, Phi Lao,… Sau đó là các hoạt động về chọn cây trội, xây dựng vườn giống và rừng giống Những hoạt động nổi bật gần đây là phát hiện và nghiên cứu chọn lọc các giống tự nhiên, tạo giống lai nhân tạo, nhân giống hom và nuôi cấy mô phân sinh vào cải thiện giống cây rừng
Nhân giống sinh dưỡng đã được áp dụng rộng rãi cho các loại cây rừng, phục vụ cho các mục đích khác nhau, trong đó ghép, giâm hom và nuôi cấy mô
là biện pháp được sử dụng nhiều hơn cả
Đối với cây Thông nhựa, Thông ba lá, Thông đuôi ngựa, ghép là biện pháp chủ yếu để tạo cây ghép cho xây dựng vườn giống dòng vô tính như đã áp dụng ở viện khoa học Lâm nghiệp, Công ty Lâm nghiệp TW và một số đơn vị khác Kỹ thuật ghép được hoàn chỉnh trong nhiều năm nên tỷ lệ sống đạt khá cao khoảng 70% đối với Thông nhựa
Đối với cây Mỡ (Manglietia glauca) ghép đã được sử dụng nhân giống
các cây trội phục vụ xây dựng dòng giống vô tính Từ mùa thu năm 1984, các
Trang 21tác giả đã cho thấy ghép cành và ghép mắt là hai phương pháp dễ thao tác và cho
tỷ lệ sống cao, trong đó tỷ lệ ghép cành cho tỷ lệ sống đạt 69,3% sau 8 tháng, và ghép mắt cho tỷ lệ sống đạt 54,5%
Cây Hồi (Illicium verum) đã sử dụng phương pháp ghép nêm để nhân
giống tỷ lệ sống đạt trên 70%
Trong những năm gần đây, việc nghiên cứu trồng Trám đen đã được các nhà khoa học quan tâm nghiên cứu nhằm xác định khả năng gây trồng làm nguyên liệu cho sản xuất ván bóc, dùng trong xây dựng, gỗ dán lạng, đóng đồ,… những kết quả nghiên cứu của các đề tài cơ sở cho việc lựa chọn loài cây trồng cung cấp nguyên liệu Tuy nhiên các nhà nghiên cứu nhân giống cho phục vụ cho trồng Trám đen lấy quả chưa được tiến hành có hệ thống Một trong những đặc điểm gây trồng trám từ hạt là lâu ra quả, trên các mô hình trồng thử nghiệm tại Lạng Sơn và Hòa Bình cho thấy cây trám trồng từ hạt sau 6 - 8 năm mới bắt đầu cho quả, tỉ lệ đậu quả không cao, chu kỳ sai quả không rõ rệt, tỷ lệ cây có hoa dị tính chiếm tới 50% Những cây hoa dị tính sẽ không cho quả, nhân dân thường gọi là “cây đực” Đây là nhược điểm gây khó khăn cho việc kinh doanh cây lấy quả Dùng phương pháp ghép để cho cây sớm ra quả, sản lượng cao, phẩm chất tốt và giữ được tính trạng cây mẹ
Sử dụng cây bản địa vào trồng rừng ở Việt Nam năm 2002 đã đưa ra khuyến nghị: Hiện nay trồng trám để lấy quả đang là mối quan tâm của nhiều chủ trang trại vì nhanh có được sản phẩm Đã thí nghiệm thành công phương pháp ghép cây với nguyên liệu ghép là chồi, mắt ghép từ các cây mẹ đã sai quả
Tỷ lệ cây ghép sống đạt 60-70% Mặt khác cũng cũng có các cây giống Trám ghép quả vàng được nhập nội từ Trung Quốc Một vài thử nghiệm ban đầu cho thấy có nhiều triển vọng, cây mọc tốt Một số cây ghép năm đầu đã cho ra hoa,
có thể hy vọng thu hoạch quả vào năm thứ 3, thứ 4 Do vậy các trang trại rừng
đã chuyển từ mục tiêu trồng lấy gỗ sang lấy quả và lấy nhựa chưa được nghiên cứu Vì vậy việc xây dựng vườn giống và rừng trồng sản xuất vẫn chủ yếu là nguồn giống đại trà
Trang 22Đối với cây Trám, ghép rất khó vì nhựa Trám nhanh khô, lớp tượng tầng mỏng nên muốn có tỷ lệ cây ghép sống cao thì đòi hỏi thao tác ghép phải nhanh, động tác kỹ thuật ghép phải thuần thục, và thời vụ ghép phải phù hợp
Gốc ghép phải được cung cấp đầy đủ phân và nước để dòng nhựa được lưu thông thuận lợi, nhanh liền vết ghép
Đã có nghiên cứu ảnh hưởng của phương pháp ghép đối với giống Trám
trắng (Canarium album Raeusch) kết quả cho thấy tỷ lệ liền sinh, tỷ lệ bật chồi
của 2 phương pháp ghép áp và ghép nêm có tỷ lệ cao nhất Tỷ lệ liền sinh của phương pháp ghép áp cao nhất đạt 92,2 % sau 35 ngày ghép, phương pháp ghép nêm đứng thứ 2 đạt 81,1 % sau 35 ngày ghép, phương pháp ghép mắt cho tỷ lệ liền sinh thấp nhất đạt 8,9 % sau 35 ngày ghép Tỷ lệ bật chồi của phương pháp ghép áp cho tỷ lệ cao nhất đạt 84,4 % sau 35 ngày ghép, tỷ lệ bật chồi của phương pháp ghép nêm đạt 68,8 % sau 35 ngày ghép, tỷ lệ bật chồi của phương pháp ghép mắt thấp nhất đạt 4,4 % sau 35 ngày ghép
Đã có một số cơ sở tiến hành nghiên cứu về sản xuất cây Trám đen ghép đáp ứng nhu cầu trồng rừng của nông dân vùng núi phía bắc như: Trung tâm ứng dụng khoa học kỹ thuật Lâm nghiệp Viện Khoa học Lâm nghiệp Việt Nam: Số cây ghép tạo thành và sống ở 2 phương pháp ghép nêm và ghép áp là có triển vọng Đặc biệt là phương pháp ghép nêm ở đỉnh sinh trưởng tỷ lệ sống đạt 30,8% sau 42 ngày ghép Phương pháp ghép áp bên thân có tỷ lệ sống thấp hơn, đạt 25,8% sau 42 ngày ghép Ghép mắt không đạt cây nào (0%) Sinh trưởng của chồi ghép mới hình thành ở phương pháp ghép nêm vượt trội hơn hẳn phương pháp ghép áp bên thân Chiều dài trung bình của chồi cành ghép ở phương pháp ghép nêm đạt tới 7,56 cm (ở thời điểm 42 ngày sau khi ghép), vượt chỉ tiêu này ở phương pháp ghép áp bên thân là 1,38 cm
Có nhiều nghiên cứu liên quan đến kỹ thuật ghép Trám, các nghiên cứu này là cơ sở quan trọng cho các hoạt động sản xuất thực tiễn, có thể liệt kê một
số công trình nghiên cứu của các tác giả sau:
Trang 23Đỗ Duy Khôi đã nghiên cứu ghép cây Cây Trám ở vụ Đông và vụ Xuân và
đã thu được kết quả như sau: Cây Trám ghép vào vụ xuân cho tỷ lệ sống cao là 86,67%, vụ đông có tỷ lệ sống đạt 53,33% (Đỗ Duy Khôi, 2005)
Ong Thế Quảng đã nghiên cứu ảnh hưởng cuả vị trí lấy cành ghép đến sinh trưởng của cây Trám ghép đã rút ra kết luận: Cây Trám ghép bằng cành ngọn có tỷ lệ sống đạt 84% cao hơn so với ghép cành sát ngọn chỉ đạt 80% (Ong Thế Quảng, 2006)
Kết quả thí nghiệm ghép Trám của Phạm Đình Tam cho thấy phương pháp ghép nêm và ghép áp đều cho kết quả khả quan, tỷ lệ sống ở thời vụ thuận lợi có thể đạt trên 70%, trong đó phương pháp ghép áp cho kết quả tốt nhất, về thời vụ ghép chỉ nên ghép vào vụ xuân (tháng 3) và vụ thu (tháng 10), ghép vào thời kỳ này tỷ lệ sống có thể đạt tới 65-70%
Kết quả nghiên cứu của Trần Đức Mạnh (2004-2007) đã lựa chọn được mười cây mẹ có năng suất quả vượt trội hơn cây trung bình từ 120%- 200% ở xuất xứ khác nhau như Hòa Bình, Hà Tây, Ninh Bình, Thái Nguyên và Bắc Giang Kết quả nghiên cứu cho thấy Trám đen là cây rừng có thể nhân giống bằng phương pháp ghép Tỷ lệ thành công đạt trung bình 50%, phương pháp ghép áp bên thân và phương pháp ghép nêm là hai phương pháp đạt kết quả cao nhất Thời vụ ghép tốt nhất là vụ xuân (tháng 3,4) và vụ Thu (tháng 9,10) Kết quả nghiên cứu cho thấy phương thức trồng rừng bằng cây con gieo từ hạt và trồng toàn diện có cây phù trợ giai đoạn đầu tỏ ra phù hợp với sinh trưởng quần thể của cây trám đen đáp ứng mục tiêu trồng rừng lấy gỗ Trong giai đoạn rừng 1-4 tuổi trám đen cần có cây che phủ hỗ trợ cho cây sinh trưởng và phát triển Cây che phủ hỗ trợ phù hợp là cây Cốt khí và cây Keo Phương thức trồng rừng dùng cây phù trợ cần có biện pháp kỹ thuật tác động như tỉa cành hoặc tỉa thưa keo từ năm thứ 3 trở đi, điều chỉnh độ tàn che của cây phù trợ đối với cây tràm Còn đối với phương thức trồng rừng bằng cây ghép và trồng theo phương thức nông lâm kết hợp thì sẽ đáp ứng được mục tiêu trồng rừng lấy quả Kết quả nghiên cứu của tác giả đã thực xây dựng được 8,5ha mô hình rừng trồng trám
Trang 24đều đạt trên 90%, sau đó 3 năm tỷ lệ tồn tại trong các mô hình thí nghiệm còn tương đối cao 82% và 86% ở Nghệ An và 90% ở Hòa Bình Điều này cho thấy môi trường ở đây phù hợp cho cây trám ghép phát triển Đường kính và chiều cao của 2 mô hình ở Tân Lạc - Hòa Bình và Yên Thành-Nghệ An sinh trưởng tương đối đồng đều Công trình nghiên cứu còn đưa ra hướng dẫn kỹ thuật ghép cây trám đen với 2 kỹ thuật ghép là ghép áp và ghép nêm Sau khi ghép thành công, cây ghép được nuôi trong vườn từ 6-9 tháng sau đó đem trồng Đoạn cành ghép ≥ 25cm, đã có nhiều lá, khi lá ở dạng bánh tẻ mới đem đi trồng
Trang 25CHƯƠNG 2 MỤC TIÊU, NỘI DUNG, PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 2.1 Mục tiêu nghiên cứu
2.1.1 Mục tiêu chung
Nghiên cứu chọn lọc cây trội Trám đen và nhân giống bằng phương pháp ghép nêm làm cơ sở đề xuất chọn được giống cây trội ưu việt để phục vụ nhân giống bằng phương pháp ghép nêm tại địa điểm nghiên cứu
2.1.2 Mục tiêu cụ thể
Phân tích điều kiện khí hậu tại khu vực nghiên cứu
Chọn được cây trội Trám đen có năng suất quả lớn hơn 15% so với năng suất quả trung bình cùng độ tuổi của quần thể và chất lượng cảm quan tốt tại điểm nghiên cứu
Xác định kỹ thuật ghép Trám đen bằng phương pháp ghép nêm và nghiên cứu ảnh hưởng của giống cây mẹ đến sinh trưởng, phát triển cuả cây ghép tại điểm nghiên cứu
2.2 Phạm vi nghiên cứu
-Địa điểm tuyển chọn cây trội: Huyện Tân Lạc tỉnh Hòa Bình
- Địa điểm ghép thực hiện trong vườn ươm giống cây Tường Loan, tại xã Thanh Hối, huyện Tân Lạc, tỉnh Hòa Bình
- Thời gian: Thí nghiệm tiến hành nghiên cứu từ 15/12/2019 đến 30/4/2020
2.3 Vật liệu nghiên cứu
- Vật liệu tuyển chọn: Vật liệu dùng cho xác định năng suất quả theo độ
tuổi của quần thể, chọn cây trội dự tuyển, chọn cây trội chính thức là các cá thể Trám đen có năng suất và chất lương cao tuổi từ 20 năm đến 50 năm tại 2 huyện
Tân Lạc và Lạc Sơn, tỉnh Hoà Bình
- Vật liệu ghép: Cành ghép được lấy từ 10 cây trội đã được tuyển chọn T2,T4,T8,T9,T11,T14,T15,T17,T19,T20 mỗi cây trội lấy 30 cành, tổng số cành cho thí nghiệm phương pháp ghép là 300 cành
- Dụng cụ, vật tư : Kéo cắt cành, dao ghép, nilon chuyên dụng, thuốc
Trang 262.4 Nội dung nghiên cứu
2.4.1 Tuyển chọn cây trội có năng suất qủa cao và chất lượng quả tốt
- Điều tra xác định trị số trung bình năng suất quả theo độ tuổi của quần thể cây Trám đen tại 2 huyện Tân Lạc và Lạc Sơn để làm cơ sở cho chọn cây trội dự tuyển
- Tuyển chọn 20 cây trội dự tuyển có năng suất quả lớn hơn 15% so với năng suất quả trung bình cùng độ tuổi của quần thể
- Chọn 10 cây trội chính thức từ 20 cây trội dự tuyển, cây trội chính thức
có năng suất quả lớn hơn 15% so với năng suất quả trung bình cùng độ tuổi của quần thể
2.4.2 Nghiên cứu phương pháp ghép cây trám đen bằng phương pháp ghép nêm
- Ảnh hưởng của phương pháp ghép nêm đến sinh trưởng, phát triển của
các giống Trám đen tại điểm nghiên cứu
+ Ảnh hưởng của phương pháp ghép nêm đến tỉ lệ sống của các giống Trám đen tại điểm nghiên cứu
+ Ảnh hưởng của phương pháp ghép nêm đến chiều dài chồi ghép của các giống Trám đen tại điểm nghiên cứu
+ Ảnh hưởng của phương pháp ghép nêm đến chiều dài và đường kính cành ghép của các giống Trám đen tại điểm nghiên cứu
2.5 Phương pháp nghiên cứu
2.5.1 Kế thừa tài liệu thứ cấp
Thu thập số liệu, phân tích tài liệu thứ cấp về điều kiện tự nhiên, khí hậu của khu vực nghiên cứu và phỏng vấn các cán bộ, phòng ban của khu vực
Các tài liệu, báo cáo liên quan đến vấn đề nghiên cứu gồm: Tài liệu tham khảo, các đề tài nghiên cứu khoa học liên quan
2.5.2 Bố trí thí nghiệm
Tuổi gốc ghép: 16 tháng tuổi
Chiều dài gốc ghép: 35-45cm
Trang 27Luống ươm gốc ghép để làm thí nghiệm: thí nghiệm được đặt trên 1 luống, luống gồm 30 hàng cây, mỗi hàng 10 cây, tổng số cây ghép là 300 cây
Phương pháp ghép: Phương pháp sử dụng xuyên suốt trong quá trình thực hiện thí nghiệm là phương pháp ghép nêm
Thời gian ghép: Thực hiện trong vòng 2 ngày (từ ngày 14/1 đến 15/1/2020)
Thiết kế thí nghiệm: theo khối ngẫu nhiên đầy đủ (RCB) bao gồm 10 công thức với 3 lần lặp, mỗi ô thí nghiệm theo dõi 30 cây
Công thức thí nghiệm: Mỗi công thức tương ứng với một giống, cụ thể như sau :
KH
giống
Diện tích ô thí nghiệm: 10 m² /10 OTN
Tổng diện tích thí nghiệm là 13 m² (không kể dải bảo vệ)
Phương pháp tuyển chọn cây trội
Cây trội Trám đen được chọn theo hướng lấy quả theo “Tiêu chuẩn công
nhận giống cây trồng lâm nghiệp” (Tiêu chuẩn ngành 04TCN147-2006, ban
hành kèm theo Quyết định số 4180 QĐ/BNN-KHCN ngày 29 tháng 12 năm 2006)
Trang 28Trước khi hoạch quả cây Trám đen khoảng 20 ngày, tiến hành xác định năng suất quả theo độ tuổi của quần thể, chọn cây trội dự tuyển, chọn cây trội chính thức, gồm các bước sau
- Các bước tuyển chọn cây trội:
Bước 1 Xác định năng suất quả trung bình theo độ tuổi của quần thể để làm cơ sở cho chọn câ y trội dự tuyển về năng suất quả
Phỏng vấn UBND huyện Tân Lạc và Lạc Sơn, UBND các xã trong 2 huyện, ,các Trưởng thôn xóm để xác định được các xã, các thôn, các xóm có cây Trám đen đang cho thu hoạch quả
Đo đếm, thu thập số liệu về năng suất quả, tuổi cây và các chỉ tiêu sinh trưởng của tất cả các cây Trám đen ở độ tuổi cho thu hoạch quả tại 2 huyện Tân Lạc và Lạc Sơn
Xử lý số liệu, xác định trị số trung bình về năng suất quả và các chỉ tiêu sinh trưởng theo độ tuổi của quần thể Trám đen Hòa Bình để làm cơ sở cho chọn cây trội dự tuyển về năng suất quả
Bước 2: Chọn cây cây trội dự tuyển
Nhóm điều tra đến từng hộ gia đình có cây cho năng suất quả cao, cùng chủ hộ đến từng cây sai quả, phỏng vấn chủ hộ về năng suất quả 2 năm trước và chất lượng quả của cây sai quả; quan sát, đánh giá năng suất quả trong năm đi điều tra để xác định sơ bộ cây có dự kiến chọn làm cây trội dự tuyển
Tổng hợp số liệu những cây có dự kiến chọn làm cây trội dự tuyển để chọn 40 cây trội dự tuyển Cây trội dự tuyển là những cây có năng suất quả trung bình trong 3 năm (năm 2017, 2018, 2019) vượt tối thiểu trên 15% so với năng suất trung bình cùng độ tuổi của quần thể, chất lượng cảm quan của quả đạt loại tốt: thơm, bùi, béo ngậy; không chát, không chua, không sượng
Đánh số hiệu vào thân cây trội dự tuyển
Bước 3: Chọn cây trội chính thức
Lập bảng tổng hợp các chỉ tiêu của 40 cây trội dự tuyển theo độ tuổi; đánh giá tổng hợp các chỉ tiêu, lựa chọn 20 cây có năng suất quả cao theo tứ tự từ trên xuống của từng độ tuổi; cây trội chính thức được chọn có năng quả trung
Trang 29bình trong 3 năm lớn hơn 15% so với năng suất trung bình cùng độ tuổi của quần thể, chất lượng cảm quan tốt, tỉ lệ thịt quả và sinh trưởng từ mức trung bình trở lên, không bị sâu bệnh hại
Xác định vị trí địa lý, chụp ảnh cho từng cây trội
2.5.3.2 Các bước tiến hành thực hiện phương pháp ghép nêm
Chọn đất và nơi trồng: Trám đen có thể trồng được ở những nơi có độ
cao trung bình dưới 800m so với mực nước biển, thích hợp nhất là dưới 400 m
Có thể trồng được trên nhiều loại đất khác nhau, nhưng tầng dày (độ sâu tầng đất lớn hơn 80 cm), giàu mùn, ẩm thường xuyên, thoát nước Thích hợp nhất là các loại đất sét hoặc sét pha, đất dốc tụ hoặc đất bồi tụ, đất phù sa ven sông, không nên trồng trên đỉnh đồi, độ dốc không quá 30 độ
Chuẩn bị vườn ươm: Nơi làm luống để ghép là nơi cao ráo, kín gió, có điều kiện tốt cho ghép cây
Làm dàn che: Trên luống để cây ghép có khung dàn che sẵn chiều cao
dàn che là 2m trên mặt luống Khung có hình chữ nhật để phủ lưới đen che phủ
để đảm bảo cho cành sau khi ghép không bị thoát hơi nước, tránh ánh sáng trực
xạ, tránh nóng
Chuẩn bị cành ghép: Cây mẹ được chọn lấy cành ghép phải là những cây sai quả, cho quả ổn định Những cành ta chọn để chặt thì ta sẽ chặt bỏ hết các lá, cành con đi để cành mọc các mầm mới Phải chặt trước từ 35 - 80 ngày trước khi tiến hành ghép Chọn đoạn cành bánh tẻ dài 15-20 cm, có 2-4 mắt ngủ
Chuẩn bị cây làm gốc ghép: Cây đã được gieo ươm từ hạt có tuổi là 16 tháng tuổi, tại tỉnh Phú Thọ vận chuyển về vườn ươm địa điểm tiến hành ghép
- Yêu cầu về gốc ghép như sau:
+ Khả năng hòa nhập cao với phần ghép
+ Sinh trưởng phát triển tốt, tuổi thọ kéo dài
+ Bộ rễ phát triển tốt khoẻ, thích ứng với điều kiện khí hậu đất đai của từng địa phương chịu hạn, úng, lạnh, mặn, kiềm
+ Sức chống chịu sâu bệnh
Trang 30+ Khả năng tiếp xúc tốt với thân cành ghép
- Chọn và xử lý cành ghép:
Chọn cành để ghép: Cành để ghép là những cành được cắt ra từ cành của cây trội chính thức và cho quả ổn định phẩm chất tốt và không nhiễm bệnh là những cành bánh tẻ, màu xanh xen kẽ những vạch nâu, lá to, mầm ngủ to Sau khi cắt cành ghép nhanh chóng cắt bỏ hết lá, sau đó dùng vải hoặc khăn ẩm cuốn chặt lại bỏ vào hộp xốp và đậy nắp lại để tránh sự thoát hơi nước bảo quản thật tốt để vận chuyển về nơi tiến hành thí nghiệm
Khi lấy cành làm cành ghép cần chú ý tránh xây xước, khi cắt cành phải dùng dao hoặc kéo sắc cắt dứt khoát để tránh cành bị dập, bị vỡ, chọn những cành bánh tẻ dài 15 - 20cm, có 2 - 4 mắt ngủ
Cắt cành ghép: Kích thước cành dài 10 - 12 cm, có 2 - 3 mắt ngủ, dùng dao thật sắc cắt vát 45° để tránh dập nát và tạo bề mặt tiếp xúc với gốc ghép trong khi ghép và tạo điều kiện tối đa cho sự tiếp xúc giữa tượng tầng của cành ghép và tượng tầng của gốc ghép
- Tiến hành phương pháp ghép nêm
Dùng kéo cắt cành cắt ngang gốc ghép cách mặt đắt 35 - 45 cm sau đó chẻ dọc gốc ghép theo chiều từ trên xuống dưới từ 2 - 3 cm Các thao tác phải nhanh, chuẩn xác để vết cắt phải nhẵn, vết chẻ không quá sâu
Cắt đứt một đoạn cành ghép có từ 2 - 3 mắt ngủ sau đó ta dùng dao sắc chuyên dùng cắt vát 2 bên gốc cành ghép Vết cắt phải đảm bảo phẳng để cành ghép có thể tiếp xúc với gốc ghép
Ghép thao tác nhanh, dứt khoát, chuẩn xác để mặt cắt được nhẵn với kích
cỡ của phần ghép khớp với vết cắt ở gốc ghép Sau khi cắt xong phải ghép ngay, càng nhanh càng tốt để mặt cắt không bị ứa nhựa hoặc gió thổi khô
Đưa đoạn cành ghép vào phần đã chẻ với gốc ghép thật khít Sau đó dùng dây nilong chuyên dụng cuốn chặt phần ghép giữa gốc ghép và cành ghép sau đó buộc cuốn lên cả phần cành ghép để giảm sự thoát hơi nước, để độ tiếp giáp đạt cao và tránh nhiễm khuẩn Sau 2 - 3 tuần chồi từ cành ghép bắt đầu mọc ra và đâm thủng nilon ra bên ngoài