Xã hội học; Việc làm; Nghề nghiệp; Thanh niên; Ninh Bình Ninh Bình là một thành phố trong những năm vừa qua có tốc độ tăng trưởng kinh tế khá mạnh, sự phát triển kinh tế đã tạo ra nhiều
Trang 1Hội nhập việc làm, nghề nghiệp của thanh niên
- Khảo sát trên địa bàn thành phố Ninh Bình, tỉnh Ninh Bình (Giai đoạn 2005-2011)
Đinh Thị Mai Trâm
Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn; Khoa Xã hội học
Chuyên ngành: Xã hội học; Mã số: 60 31 30 Người hướng dẫn: TS Trương An Quốc
Năm bảo vệ: 2012
Abstract Hệ thống hóa cơ sở lý luận và thực tiễn của đề tài “hội nhập việc làm và nghề
nghiệp” Chỉ ra nhu cầu về việc làm, nghề nghiệp của thanh niên Làm rõ thực trạng khả năng đáp ứng (trình độ, kỹ năng) đối với việc làm, nghề nghiệp của thanh niên trong thời kỳ hội nhập trên địa bàn thành phố Ninh Bình Cách thức thanh niên trên địa bàn nghiên cứu tìm kiếm việc làm, lựa chọn nghề nghiệp
Keywords Xã hội học; Việc làm; Nghề nghiệp; Thanh niên; Ninh Bình
Ninh Bình là một thành phố trong những năm vừa qua có tốc độ tăng trưởng kinh
tế khá mạnh, sự phát triển kinh tế đã tạo ra nhiều việc làm cho người lao động đặc biệt
là những loại hình việc làm mới trong lĩnh vực công nghiệp và dịch vụ Nhưng đây cũng
Trang 2là thành phố có số người trong độ tuổi lao động rất lớn đặc biệt là tầng lớp thanh niên và
họ cũng đang gặp rất nhiều khó khăn, trở ngại trong việc tìm kiếm việc làm, lựa chọn nghề nghiệp cho bản thân Cùng với sự thay đổi của cơ cấu, tính chất việc làm, những yêu cầu mới trên thị trường lao động, đòi hỏi thanh niên phải có những điều chỉnh để
thích ứng Chính vì vậy, tác giả đã quyết định nghiên cứu đề tài: “Hội nhập việc làm,
nghề nghiệp của thanh niên – khảo sát trên địa bàn Thành phố Ninh Bình, tỉnh Ninh Bình (Giai đoạn 2005-2011)” với mong muốn góp phần đưa lại một cái nhìn khái
quát về những nhu cầu và sự lựa chọn của họ về việc làm, nghề nghiệp; Thực trạng khả năng đáp ứng của thanh niên trước những yêu cầu, đòi hỏi về việc làm, nghề nghiệp trong thời kỳ hội nhập cũng như cách thức họ tìm kiếm việc làm để từ đó các nhà hoạch định chính sách và các nhà quản lý có những giải pháp để sử dụng hợp lý nguồn lao động này
2 Ý nghĩa khoa học, ý nghĩa thực tiễn
2.1 Ý nghĩa khoa học:
Với đề tài này, tác giả đã sử dụng các khái niệm cơ bản của xã hội học: hành
động xã hội, quan hệ xã hội, cơ cấu xã hội, vai trò… cùng một số lý thuyết như: Lý
thuyết Tương tác xã hội, lý thuyết Trao đổi xã hội và sự lựa chọn hợp lý, lý thuyết Vốn
xã hội Đồng thời kết quả nghiên cứu thu được dựa trên cơ sở việc sử dụng các phương
pháp nghiên cứu xã hội học Chính vì vậy, việc thực hiện đề tài này góp phần đưa hệ thống lý thuyết, lý luận xã hội học vào nghiên cứu thực tiễn Và cũng chính thông qua nghiên cứu thực tiễn góp phần bổ sung, hoàn thiện và làm phong phú thêm hệ thống lý thuyết xã hội học
2.2 Ý nghĩa thực tiễn:
Đưa lại một cái nhìn tổng quan về khả năng đáp ứng yêu cầu việc làm, nghề nghiệp của họ trong thời kỳ hội nhập; Nhu cầu và sự lựa chọn của thanh niên đối với việc làm, nghề nghiệp, bên cạnh đó là cách thức họ tìm kiếm việc làm thông qua những thông tin, số liệu điều tra cụ thể trên địa bàn nghiên cứu trong giai đoạn 2005 – 2011, đặc biệt với sự tác động của việc gia nhập tổ chức Thương mại quốc tế WTO (ngày chính thức có hiệu lực 11/1/2007)
Đồng thời đưa ra được một số những khuyến nghị giúp cho chính những người thanh niên đang có nhu cầu tìm kiếm việc làm có cơ hội tìm được việc làm, lựa chọn
Trang 3được nghề nghiệp phù hợp trong thời kỳ hội nhập; Còn các nhà quản lý, hoạch định chính sách có những giải pháp để sử dụng tốt hơn nữa lực lượng lao động này
3 Đối tượng, khách thể, phạm vi nghiên cứu:
3.1 Đối tượng nghiên cứu:
“Hội nhập việc làm, nghề nghiệp của thanh niên – khảo sát trên địa bàn Thành phố Ninh Bình, tỉnh Ninh Bình (Giai đoạn 2005-2011)”
3.2 Khách thể nghiên cứu:
- Thanh niên trên địa bàn Thành phố Ninh Bình, tỉnh Ninh Bình (độ tuổi từ 15 -
29 tuổi)
3.3 Phạm vi nghiên cứu:
- Phạm vi thời gian: Từ tháng 6 năm 2011 đến tháng 2 năm 2012
- Phạm vi không gian: Thành phố Ninh Bình, tỉnh Ninh Bình
- Phạm vi nội dung:
+ Những nhu cầu về việc làm, nghề nghiệp của thanh niên
+ Khả năng đáp ứng (trình độ, kỹ năng) của thanh niên đối với việc làm, nghề nghiệp trong thời kỳ hội nhập
+ Cách thức tìm kiếm việc làm, lựa chọn nghề nghiệp của thanh niên
4 Mục tiêu nghiên cứu:
- Chỉ ra nhu cầu về việc làm, nghề nghiệp của thanh niên
- Làm rõ thực trạng khả năng đáp ứng (trình độ, kỹ năng) đối với việc làm, nghề nghiệp của thanh niên trong thời kỳ hội nhập trên địa bàn thành phố Ninh Bình
- Cách thức thanh niên trên địa bàn nghiên cứu tìm kiếm việc làm, lựa chọn nghề nghiệp
5 Giả thuyết nghiên cứu:
- Bước vào thời kỳ hội nhập, thanh niên đang gặp nhiều khó khăn trong tìm kiếm việc làm, lựa chọn nghề nghiệp
- Thanh niên lựa chọn việc làm, nghề nghiệp chủ yếu theo sự phù hợp với năng lực bản thân
- Bước vào thời kỳ hội nhập, thanh niên tìm kiếm việc làm, nghề nghiệp chủ yếu thông qua mạng lưới xã hội
Trang 4- Trình độ chuyên môn và kỹ năng của thanh niên còn chưa đáp ứng được yêu cầu đối với việc làm, nghề nghiệp trong thời kỳ hội nhập
6 Phương pháp nghiên cứu:
6.1 Phương pháp luận:
Đề tài nghiên cứu lấy chủ nghĩa duy vật lịch sử và chủ nghĩa duy vật biện chứng làm cơ sở phương pháp luận cho việc nghiên cứu của mình Thông qua đó, các hành động cũng như sự kiện, hiện tượng xảy ra được nhìn nhận và đánh giá dưới góc nhìn khách quan, khoa học
Với đề tài: “Hội nhập việc làm, nghề nghiệp của thanh niên – khảo sát trên
địa bàn Thành phố Ninh Bình, tỉnh Ninh Bình (Giai đoạn 2005-2011)” tác giả đã
đặt vấn đề việc làm, nghề nghiệp của thanh niên trong bối cảnh kinh tế - xã hội của đất nước nói chung và của thành phố Ninh Bình nói riêng đặc biệt là với sự hội nhập kinh tế thế giới và khu vực tạo ra nhiều việc làm cho người lao động Mặt khác, vấn đề việc làm của thanh niên được đặt trong điều kiện cụ thể của địa phương còn được thể hiện ở
sự gia tăng về số lao động hằng năm và cơ cấu về độ tuổi lao động, trong đó có tầng lớp thanh niên với độ tuổi từ 15-29 tuổi Điều này có tác động rất lớn tới vấn đề nghiên cứu của đề tài
6.2 Phương pháp nghiên cứu cụ thể:
6.2.1 Phương pháp phân tích tài liệu:
Nhằm đem lại một cái nhìn khách quan, toàn diện về vấn đề nghiên cứu, đề tài sử dụng những tài liệu, sách báo, công trình nghiên cứu có nội dung liên quan, sau đó thông qua việc phân tích, đánh giá, tổng hợp, làm phong phú và hoàn thiện hơn cho kết quả nghiên cứu
6.2.2 Phương pháp quan sát:
Thông qua quá trình tri giác trực tiếp để thu thập những thông tin cần thiết liên quan tới đề tài, những hành động, thái độ của thanh niên trong việc tìm kiếm việc làm, lựa chọn nghề nghiệp cũng như khả năng đáp ứng yêu cầu về việc làm, nghề nghiệp của
họ Bên cạnh đó là thái độ, hành động của người tuyển dụng lao động đối với vấn đề này
Trang 56.2.3 Phương pháp phỏng vấn sâu:
Thông qua quá trình tương tác trao đổi trực tiếp giữa người đi phỏng vấn và người được phỏng vấn, qua đó thu thập những thông tin mang tính định tính cho đề tài nghiên cứu Đề tài tiến hành phỏng vấn sâu: Cán bộ ngành Lao động, thương binh và xã hội: 01 người; Cán bộ Đoàn Thanh niên cộng sản Hồ Chí Minh: 01 người; Người sử dụng lao động: 01 người; Trung tâm giới thiệu việc làm: 01 người; Thanh niên đang làm việc trong cơ quan nhà nước: 01 người; Thanh niên đang làm việc trong công ty cổ phần: 01 người; Thanh niên đang làm việc trong doanh nghiệp tư nhân: 01 người; Thanh niên đang làm việc trong công ty có vốn đầu tư nước ngoài: 01 người
6.2.4 Phương pháp trưng cầu ý kiến bằng bảng hỏi:
Nhằm thu thập được những thông tin định lượng về vấn đề nghiên cứu, đề tài xây dựng bảng hỏi tập trung vào những nội dung cụ thể như sau:
- Nhu cầu về việc làm, nghề nghiệp của thanh niên
- Khả năng đáp ứng về việc làm, nghề nghiệp của thanh niên trong thời kỳ hội nhập
- Cách thức tìm kiếm việc làm, lựa chọn nghề nghiệp
6.3 Phương pháp chọn mẫu:
Đề tài tiến hành chọn mẫu theo cụm, sau đó phân tầng theo trình độ học vấn, số lượng phiếu phát ra: 220 phiếu Sau khi kiểm tra làm sạch, số phiếu sử dụng là 200 phiếu, cụ thể như sau:
Trình độ
Địa bàn Tốt nghiệp
THPT
Tốt nghiệp THCN
Tốt nghiệp Cao đẳng, Đại học
Trên Đại học
Trang 67 Khung lý thuyết:
HỘI NHẬP VIỆC LÀM, NGHỀ NGHIỆP
CỦA THANH NIÊN
Điều kiện kinh tế-xã hội (Thời kỳ hội nhập)
Cơ chế, chính sách
Quan niệm, giá trị, chuẩn mực
Khoa học, công nghệ
Nhu cầu về việc
làm, nghề nghiệp
Khả năng đáp ứng yêu cầu của việc làm, nghề nghiệp
Cách thức tìm việc làm, lựa chọn nghề nghiệp
Kỹ năng
Trình độ chuyên môn, tay nghề
Đạo đức, tác phong
Vốn xã hội
Truyền thông đại chúng
Trung tâm giới thiệu việc làm
Việc làm có
cơ hội phát triển
Trang 7Chương 1:
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ CƠ SỞ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI 1.1 Cơ sở lý luận:
1.1.1 Lý thuyết xã hội học áp dụng
1.1.1.1 Lý thuyết Tương tác xã hội
Thuyết Tương tác xã hội có nguồn gốc là các quan niệm xã hội học của Max Weber, G Simmel, R Park, và các tác giả nổi bật của thuyết tương tác biểu trưng là Charles Horton Cooley, George Herbert Mead, Herbert Blumer, Erving Goffman Luận điểm gốc của thuyết tương tác biểu trưng là: xã hội được tạo thành từ sự tương tác của
vô số các cá nhân, bất kỳ hành vi và cử chỉ nào của con người đều có vô số các ý nghĩa khác nhau, hành vi và hoạt động của con người không những phụ thuộc mà còn thay đổi cùng với các ý nghĩa biểu trưng Do đó, để hiểu được tương tác xã hội giữa các cá nhân, giữa con người với xã hội, cần phải nghiên cứu tương tác xã hội, cần phải lý giải được ý nghĩa của các biểu hiện của mối tương tác đó
Trong quá trình hội nhập việc làm, nghề nghiệp, thanh niên luôn được đặt trong mạng lưới các quan hệ xã hội, mỗi mối quan hệ có một ý nghĩa và tương tác xã hội khác nhau Những mối tương tác xã hội, hành động tương tác xã hội đó có ý nghĩa đối với họ trong việc tìm kiếm việc làm và trong quá trình làm việc của họ Những phẩm chất cá nhân, năng lực, trình độ, kỹ năng của thanh niên được bộc lộ qua những mối tương tác
xã hội đó Trong sự đa dạng, phức tạp của những mối quan hệ xã hội thì tương tác xã hội trong mối quan hệ với bạn bè, đồng nghiệp có ý nghĩa, tầm quan trọng quyết định đối với việc hội nhập việc làm, nghề nghiệp của thanh niên
1.1.1.2 Lý thuyết Trao đổi xã hội và sự lựa chọn duy lý
Thuyết lựa chọn duy lý dựa vào tiền đề cho rằng con người luôn hành động một cách có chủ đích, có suy nghĩ để lựa chọn và sử dụng các nguồn lực một cách duy lý nhằm đạt được kết quả tối đa với chi phí tối thiểu Trước khi quyết định một hành động nào đó con người luôn đặt lên bàn cân để cân đo, đong đếm giữa chi phí và lợi ích mang lại, nếu chi phí ngang bằng hoặc nhỏ hơn lợi ích thì cá nhân sẽ thực hiện hành động và ngược lại nếu chi phí lớn hơn thì họ sẽ không thực hiện hành động đó
Thuyết lựa chọn duy lý đòi hỏi phải phân tích hành động lựa chọn của cá nhân trong mối liên hệ với cả hệ thống xã hội của nó bao gồm các cá nhân khác với những
Trang 8nhu cầu và sự mong đợi của họ, các khả năng lựa chọn và các sản phẩm đầu ra của từng lựa chọn cùng các đặc điểm khác Do tác động của nhiều yếu tố như vậy mà các hành vi lựa chọn duy lý của các cá nhân có thể tạo ra những sản phẩm phi lý không mong đợi của cả nhóm, tập thể
Bước vào thời kỳ hội nhập, nhiều giá trị và quan niệm của xã hội thay đổi, trong
đó có những giá trị về việc làm, nghề nghiệp Việc xác định cho mình những giá trị nghề nghiệp có ý nghĩa quan trọng đối với mỗi người, đặc biệt là tầng lớp thanh niên Trên cơ sở xác định những giá trị đó, họ có được những sự lựa chọn cho mình về nghề nghiệp và việc làm
Tuy nhiên, không phải lúc nào những mong muốn, nguyện vọng về nghề nghiệp việc làm của họ cũng đạt được Nó cũng phụ thuộc vào cách thức họ tìm việc làm Họ
sử dụng những cái mà họ có: trình độ, kỹ năng, bằng cấp, tài chính, mối quan hệ… để trao đổi, đạt được việc làm mà họ mong muốn
1.1.1.3 Lý thuyết Vốn xã hội
Vốn xã hội (Social capital) là một thuật ngữ đã được sử dụng từ đầu thế kỷ XX, nhưng nó chỉ được sử dụng một cách rộng rãi sau công trình của Coleman, Bourdieu và Putnam vào cuối những năm 1980 và đầu những năm 1990 Thuật ngữ này liên quan đến mạng lưới xã hội, các chuẩn mực và sự tán thành, thừa nhận khiến cho hành động hợp tác giữa các cá nhân và các cộng đồng được dễ dàng
Như vậy, có nhiều định nghĩa khác nhau về vốn xã hội, song nhìn chung vốn xã hội được xem như là tập hợp các mối quan hệ của mỗi cá nhân trong các mạng lưới xã hội và khả năng tạo ra các mối quan hệ mới của mỗi cá nhân đó Vốn xã hội của mỗi cá nhân được tích lũy trong quá trình xã hội hóa của họ và thông qua sự tương tác giữa các
cá nhân
Nhờ các mối quan hệ trong mạng lưới xã hội, thanh niên có được những thông tin từ việc làm, những thông tin này có thể xuất phát từ người thân trong gia đình, anh
em, họ hàng hoặc từ bạn bè Sự mở rộng của mối quan hệ với sự đa dạng của mạng lưới
xã hội, từ đó thông tin về việc làm phong phú hơn Trong nhiều trường hợp, những thông tin từ việc làm lại xuất phát từ những người quen, những mối quan hệ ít thân thiết hơn Cùng với những mối quan hệ đã trở nên gắn bó, gần gũi thì những mối quan hệ ban đầu còn ít thân thiết (sức mạnh của mối quan hệ yếu), những mối quan hệ này có vai
Trang 9trò, ý nghĩa rất lớn trong việc hỗ trợ để có được việc làm: tư vấn, đưa ra những lời khuyên, cung cấp tài liệu, cách thức thi tuyển… gia tăng cơ hội có được việc làm
1.1.2 Các khái niệm công cụ
1.1.2.1 Khái niệm Hội nhập, Hội nhập việc làm, nghề nghiệp
Hội nhập là khái niệm nền tảng của lý thuyết chức năng, nó mô tả phương thức quan hệ của những đơn vị trong một hệ thống mà vì hệ thống đó, một mặt chúng hành động một cách tập thể để tránh phá vỡ nó và làm cho nó không thể duy trì được tính ổn định của mình và mặt khác chúng “hợp tác” để thúc đẩy sự hoạt động của nó như một thể thống nhất (T.Parsons, Những tiểu luận về lý thuyết xã hội học)
Hội nhập việc làm không chỉ là tìm được việc làm, đó còn là tìm được một việc làm phù hợp/tương ứng với/đáp ứng được những gì mà người lao động kỳ vọng, biểu thị bằng những mục tiêu rõ rệt (được đặt ra và đã, hoặc) cần đạt được;
Không chỉ là tìm một việc làm để có nguồn thu nhập (kiếm sống), đó còn là một việc làm cho phép hướng tới một tương lai nghề nghiệp xác định, được hiểu là bao gồm không chỉ những đặc trưng chung, có tính vĩ mô, mà cả những đặc trưng riêng của cá nhân, có tính chủ thể xã hội;
Không chỉ là tìm thấy và duy trì được một chỗ làm/ một vị thế nhất định trong hệ thống phân công lao động xã hội (hệ thống kép doanh nghiệp và xã hội) mà, hơn nữa, còn có được những cơ hội thăng tiến xét theo nghĩa rộng, tức là cho phép (cá nhân) tự hoàn thiện và phát triển trong công việc, trong nghề nghiệp, trong cuộc sống riêng và trong xã hội, nói chung
1.1.2.2 Khái niệm Việc làm
Điều 13, Bộ luật Lao động của nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam quy định: “Mọi hoạt động lao động tạo ra nguồn thu nhập, không bị pháp luật cấm đều được thừa nhận là việc làm”
Như vậy, theo Bộ Luật Lao động thì khái niệm việc làm bao gồm những nội dung sau: Là hoạt động lao động của con người; hoạt động lao động nhằm mục đích tạo
ra thu nhập (là các khoản nhận được bằng tiền hoặc hiện vật từ việc làm, thường được tính theo tháng, năm); hoạt động lao động đó không bị pháp luật ngăn cấm
Trang 10Việc làm còn là giới hạn xã hội mà trong đó lao động diễn ra Lao động nằm trong giới hạn thì tạo việc làm Ở định nghĩa này, việc làm bao gồm cả điều kiện lao động, không gian và thời gian nhất định
1.1.2.3 Khái niệm Nghề nghiệp
Theo Từ điển Tiếng Việt thì nghề nghiệp là một việc làm được một người chuyên làm trong một thời gian dài, được người đó thực hiện một cách thành thạo, có chất lượng và hiệu quả
Ngoài ra, một số định nghĩa khác lại cho rằng: Nghề là một loại hình việc làm, nghề bao gồm đầy đủ những tính chất của việc làm; Nghề là một thực thể xã hội; Nghề
là một thực thể phát triển và có xu thế biến động ngày một nhanh; Nghề là công việc được hình thành như là sứ mệnh được thực hiện, đang thực hiện Một trạng thái như vậy tức là sự cảm nhận khi hoàn thành một công việc không phải là cái tự nhiên, vốn có của con người Trạng thái thoải mãn đó không phải do một nguyên nhân duy nhất là “trả lương” Trạng thái đó là kết quả của một quá trình giáo dục lâu dài Mức độ thoải mãn với nghề có sự khác ở những người có quá trình giáo dục khác nhau
1.1.2.4 Khái niệm Thanh niên
Thanh niên là thuật ngữ được đề cập đến trong xã hội học như là một điển hình
về vị thế quy gán, hay một cái nhãn được đặt ra về mặt xã hội chứ không chỉ đơn giản là điều kiện sinh học của thời tuổi trẻ Thuật ngữ này được sử dụng theo ba cách: Một cách rất chung thì nó bao hàm toàn bộ các giai đoạn trong vòng đời, từ lúc còn trẻ đến khi bắt đầu thành người trưởng thành; một cách hay dùng thay cho thuật ngữ vị thành niên vốn chưa hợp lý lắm, để chỉ lý thuyết và nhu cầu thanh thiếu niên (tuổi 13-19 tuổi) và quá trình chuyển thành người lớn; Cách sử dụng hiện nay ít phổ biến hơn để chỉ một tập hợp những vấn đề giả định về tình cảm và xã hội gắn với việc lớn lên trong xã hội công nghiệp đô thị
Theo N O’Higgins, thanh niên là lứa tuổi đang trong thời gian chuyển tiếp giữa thời thiếu niên và trưởng thành
Theo cơ cấu lứa tuổi của dân số các nước trên thế giới có những quy định khác nhau về độ tuổi thanh niên, thông thường từ 15 đến 24, 25, 29 hoặc 34 tuổi Theo Liên Hợp Quốc lứa tuổi 15 – 34 là thuộc cơ cấu lao động trẻ Còn thanh niên thường chỉ tính trong độ tuổi 15 – 24 để hàm ý ở độ tuổi này thanh niên bao gồm những người rời ghế
Trang 11nhà trường sớm nhất từ 15 tuổi (kết thúc THCS khi 15 tuổi) và kết thúc việc đào tạo nghề nghiệp ở cấp Đại học lúc 24 tuổi Nhiều nước quy định, thanh niên là trong độ tuổi 15-24, riêng Việt Nam quy định ở độ tuổi 15-29 (tuổi còn sinh hoạt trong tổ chức đoàn Thanh niên)
1.2 Cơ sở thực tiễn:
1.2.1 Tổng quan vấn đề nghiên cứu:
- Hội nhập việc làm nghề nghiệp của người tốt nghiệp đại học (Khảo sát trên địa bàn thành phố Hà Nội), TS Trương An Quốc, đề tài cấp Đại học Quốc gia, nghiệm thu: tháng 12/2006
- Thanh niên với việc làm và phát triển tài năng, TS Dương Tự Đam, NXB Thanh niên, năm 2008
- Thanh niên với hội nhập khu vực và thế giới, PTS Hồ Đức Việt, NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội năm 1997
- Thị trường lao động và định hướng nghề nghiệp cho thanh niên, TS Nguyễn Hữu Dũng, NXB Lao động xã hội, Hà Nội năm 2005
- Lao động - việc làm trong thời kỳ hội nhập, Bộ Lao động - Thương binh và xã hội, Viện Khoa học Lao động và xã hội, NXB Lao động – xã hội, năm 2009
- Định hướng nghề nghiệp và việc làm, Tổng cục Dạy nghề, NXB Lao động - xã hội, Hà Nội năm 2004
- Xu hướng việc làm Việt Nam 2009, Trung tâm Quốc gia Dự báo và thông tin thị trường lao động, Cục Việc làm, Bộ Lao động - Thương binh và xã hội, Hà Nội, tháng 8 năm 2009
- Xu hướng việc làm Việt Nam 2010, Trung tâm Quốc gia Dự báo và thông tin thị trường lao động, Cục Việc làm, Bộ Lao động - Thương binh và xã hội, Hà Nội, tháng
10 năm 2010
- Báo cáo phân tích tình hình sử dụng và dự báo cầu lao động trong các doanh nghiệp Việt Nam 2011, Trung tâm Quốc gia Dự báo và thông tin thị trường lao động, Cục Việc làm, Bộ Lao động - Thương binh và xã hội, Hà Nội, tháng 6 năm 2011
- Từ việc làm ổn định đến ổn định việc làm: người tốt nghiệp đại học chủ động hơn trong hội nhập, TS Trương An Quốc, Những vấn đề xã hội học trong sự biến đổi
xã hội, NXB Đại học Quốc gia Hà Nội, năm 2011, tr 254 – 264
Trang 12- Vốn xã hội, vốn con người và mạng lưới xã hội qua một số nghiên cứu ở Việt Nam, GS.TS Lê Ngọc Hùng, Tạp chí Nghiên cứu con người số 4 (37) 2008, tr 45 – 54
- Giải quyết việc làm trong thời kỳ hội nhập, Nguyễn Thị Kim Ngân, tạp chí Cộng sản, số 23 (143)/2007
- Đào tạo nghề nghiệp cho thanh niên – yếu tố quan trọng đảm bảo cho việc giải quyết vấn đề an sinh và phát triển xã hội, Trần Hồng Lưu, Tạp chí Khoa học và công nghệ, Đại học Đà Nẵng, Số 5 (40), 2010
- Luận văn mang mã số: VL2/01462 “Định hướng nghề nghiệp của sinh viên sau khi ra trường hiện nay (Nghiên cứu tại đại học Khoa học xã hội và nhân văn Hà Nội)” của tác giả Trần Thị Thu Hiền
- Luận văn mang mã số: VL2/01731 “Định hướng nghề nghiệp và khu vực làm việc sau khi tốt nghiệp của sinh viên ngoài công lập hiện nay (Nghiên cứu trường hợp tại đại học dân lập Đông Đô)” của tác giả Nguyễn Thị Minh Phương
1.2.2 Điều kiện kinh tế - xã hội của địa bàn nghiên cứu
Ninh Bình giáp với Hòa Bình, Hà Nam ở phía bắc, Nam Định ở phía đông qua sông Đáy, Thanh Hóa ở phía tây, biển (vịnh Bắc Bộ) ở phía đông nam Trung tâm tỉnh
là thành phố Ninh Bình cách thủ đô Hà Nội 93 km về phía nam
Trong những năm gần đây kinh tế Ninh Bình liên tục tăng trưởng, năm 2010 chỉ
số năng lực cạnh tranh cấp tỉnh xếp thứ 11/63, liên tục nằm trong nhóm tỉnh đứng đầu miền Bắc
Về tình hình giải quyết việc làm: Bằng sự tác động của các chương trình phát triển kinh tế - xã hội và các chính sách khác đã giải quyết việc làm cho 90.160 lượt người (trong đó xuất khẩu lao động: 7.287 lượt người); bình quân mỗi năm giải quyết việc làm cho 18.032 lượt người (trong đó xuất khẩu lao động: 1.457 người)
Bảng 1.1 Số lao động được giải quyết việc làm qua các năm
Trang 13Năm 2010, thành phố Ninh Bình đã đạt tốc độ tăng trưởng kinh tế 18,2%; tổng thu ngân sách trên địa bàn đạt 900 tỷ đồng, tăng gấp 5 lần năm 2005; Cơ cấu kinh tế chuyển dịch theo hướng tích cực, tỷ trọng công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp và dịch vụ tăng nhanh, nông nghiệp giảm dần Giai đoạn 2005-2010: Tỷ trọng công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp và xây dựng chiếm 51%, dịch vụ chiếm 47% và nông nghiệp chiếm 2% trong cơ cấu kinh tế của thành phố Giá trị sản xuất công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp (theo giá cố định năm 1994) hàng năm đều tăng cao: năm 2005 đạt 700 tỷ đồng, đến năm 2009 đạt 1.630 tỷ đồng, năm 2010 đạt 1.800 tỷ đồng Số doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp và xây dựng tăng nhanh, năm 2005 có
154 doanh nghiệp, năm 2011 có 228 doanh nghiệp Sản phẩm công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp và xây dựng ngày càng đa dạng, góp phần đáp ứng nhu cầu thị trường trong nước và xuất khẩu Một số sản phẩm chiếm tỷ trọng lớn tăng trưởng nhanh so với đầu nhiệm kỳ như: quần áo may sẵn tăng 1,6 lần, giấy tăng 7,1 lần, thép phi tiêu chuẩn tăng 6,5 lần, đồ gỗ mỹ nghệ tăng 1,7 lần, thêu ren tăng 2,7 lần Xây dựng đạt tốc độ tăng trưởng cao, bình quân hàng năm tăng 27% Số lao động làm việc trong lĩnh vực công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp và xây dựng tăng nhanh, năm 2005 có trên 10.000 lao động, năm 2011 có trên 16.000 lao động Hoạt động dịch vụ diễn ra sôi động, hàng hóa phong phú, đa dạng với sự tham gia của nhiều thành phần kinh tế
Chương 2:
HỘI NHẬP VIỆC LÀM, NGHỀ NGHIỆP CỦA THANH NIÊN
2.1 Nhu cầu về việc làm, nghề nghiệp
2.1.1 Những khó khăn, trở ngại trong việc tìm kiếm việc làm của thanh niên
Đánh giá nhu cầu của thanh niên về việc làm, nghề nghiệp của thanh niên phải được đặt trong mối quan hệ với thị trường lao động Việt Nam: Vào thời điểm điều tra 1/7/2010, cả nước có 50,8 triệu người lao động trở lên thuộc lực lượng lao động chiếm 58,5% tổng dân số, bao gồm 49,5 triệu người có việc làm và 1,3 triệu người thất nghiệp Trong khi đó về chất lượng của lực lượng lao động, theo điều tra Lao động Việc làm năm 2010 cho thấy tỷ trọng lao động nước ta qua đào tạo vẫn còn thấp Trong tổng số 50,8 triệu người thuộc lực lượng lao động của cả nước chỉ có hơn 7,4 triệu người được đào tạo, chiếm 14,7% tổng lực lượng lao động Như vậy, lực lượng lao động nước ta trẻ
và dồi dào nhưng lực lượng chuyên môn kỹ thuật thấp Về tỷ lệ lao động đang làm việc
Trang 14đã qua đào tạo: Trong tổng số hơn 49,5 triệu người từ 15 tuổi trở lên đang làm việc của
cả nước, chỉ có gần 7,2 triệu người đã được đào tạo chiếm 14,6% Hiện cả nước có 85,4% số người đang làm việc được đào tạo để đạt một trình độ chuyên môn kỹ thuật nào đó Điều này cho thấy, chất lượng việc làm của Việt Nam còn thấp, đây là một thách thức lớn của đất nước trong việc đáp ứng mục tiêu phát triển bền vững
Phân tích yếu tố cung lao động thanh niên của thị trường lao động thanh niên phải bắt đầu từ dân số trong độ tuổi thanh niên, phản ánh đúng về số lượng lao động thanh niên cho thị trường lao động Dân số trong độ tuổi thanh niên cũng chính là dân
số trong độ tuổi lao động đang có xu hướng tăng lên
Tác giả đã tiến hành điều tra, khảo sát đánh giá về việc tìm kiếm việc làm, lựa chọn nghề nghiệp của thanh niên trên địa bàn nghiên cứu Kết quả khảo sát cho thấy: Chiếm một tỷ lệ lớn thanh niên được hỏi cho rằng việc tìm kiếm việc làm hiện nay là rất khó khăn (25,5%) và 59% cho rằng khó khăn, chỉ có một tỷ lệ nhỏ cho đó là việc đơn giản, dễ dàng với 1,5% và 14% cho rằng việc tìm kiếm được việc làm, lựa chọn nghề nghiệp là bình thường
Đồng thời để hiểu rõ hơn về những khó khăn trong việc tìm kiếm việc làm, lựa chọn nghề nghiệp hiện nay của thanh niên, bảng hỏi đã đưa ra câu hỏi: Anh (chị) có gặp khó khăn, trở ngại trong việc tìm kiếm việc làm không? Kết quả điều tra, xử lý bảng hỏi cho thấy có tới 82% lao động thanh niên cho rằng có gặp khó khăn trong việc tìm kiếm việc làm Trong đó, khó khăn, trở ngại mà thanh niên gặp phải chiếm tỷ lệ lớn nhất là số lượng việc làm ít nhưng số hồ sơ đăng ký quá nhiều chiếm 62,7% số người trả lời có gặp khó khăn này Tiếp đó là lý do khó tìm được ngành nghề phù hợp với chuyên môn đào tạo với 44% số thanh niên trả lời có gặp khó khăn này và có quá ít việc làm như mong muốn chiếm 28,9%
Với những khó khăn, trở ngại trong việc tìm kiếm việc làm, đánh giá của thanh niên ở những trình độ học vấn khác nhau nhưng đều cho rằng khó khăn trở ngại lớn nhất là số lượng việc làm ít nhưng số hồ sơ đăng ký quá nhiều, tuy nhiên mức độ đánh giá các khó khăn, trở ngại của việc làm có khác nhau Về khó khăn: thiếu thông tin về việc làm thì có tới 90% tốt nghiệp THPT cho rằng có gặp khó khăn này; Số lượng việc làm ít nhưng số hồ sơ đăng ký quá nhiều thì có tới 67,8% tốt nghiệp trường chuyên nghiệp và 62,8% trình độ cao đẳng, đại học có gặp khó khó khăn này Còn lý do không