Tìm hiểu những đóng góp của Nguyễn Văn Vĩnh - chủ bút Đông Dương tạp chí cũng như những quan điểm và cách hành xử của ông trong bối cảnh lịch sử mới của đất nước và quá trình hiện đại ho
Trang 1Năm bảo vệ: 2011
Abstract Trình bày vai trò của báo chí trong tiến trình hiện đại hóa nền văn học Việt
Nam ba mươi năm đầu thế kỷ XX Nghiên cứu về Đông Dương tạp chí trong tiến trình hiện đại hoá văn học Việt Nam Tìm hiểu những đóng góp của Nguyễn Văn Vĩnh - chủ bút Đông Dương tạp chí cũng như những quan điểm và cách hành xử của ông trong bối cảnh lịch sử mới của đất nước và quá trình hiện đại hoá văn học Việt Nam ba mươi năm đầu thế kỷ XX
Keywords Văn học Việt Nam; Nghiên cứu văn học; Thế kỷ 20; Tạp chí Đông Dương
Trang 22
góp phần quan trọng vào việc hình thành nền văn học quốc ngữ Phần lớn các nhà nghiên
cứu đều nhất trí: “Báo chí là nơi sưu tầm và giới thiệu văn học cổ Việt Nam, giới thiệu
văn học Pháp và văn học Trung Quốc” Ngoài ra, những khuynh hướng, những luồng tư
tưởng, những quan niệm khác nhau về văn học đều được hiện diện và quy tụ trên báo chí
Báo chí cũng là nơi“Luyện tập câu văn và viết dần tác phẩm” Gần một thế kỷ qua, dẫu
có nhiều luồng ý kiến khác nhau khi định “công và tội” của báo chí và những người làm chủ bút giai đoạn giao thời, thì vai trò của báo chí trong quá trình hiện đại hoá văn học là không thể phủ nhận
Cho tới nay, đã có rất nhiều công trình nghiên cứu về vai trò của báo chí theo hướng sưu tầm, khảo sát ở các trường hợp cụ thể hoặc các nhóm trường hợp, tuy nhiên
với trường hợp Đông Dương tạp chí và Nguyễn Văn Vĩnh thì ít được đề cập tới Trong
“Nhà văn hiện đại”, Vũ Ngọc Phan phân tích: Đăng cổ tùng báo, Đại Việt tân báo, Nông cổ mín đàm… ít có tính cách văn học, hoặc nếu có, cũng không đáng kể, và việc
truyền bá học thuật tư tưởng Âu Tây thì cũng là truyền bá một cách thấp kém, phải đến
khi Đông Dương tạp chí và sau đó là Nam phong tạp chí ra đời thì “Quốc văn bắt đầu
thịnh, bắt đầu có cái giọng hoa mỹ, dồi dào và trú trọng về tư tưởng” và “phải nhờ hai nhóm này, học thuật tư tưởng Đông, Tây mới được truyền bá một cách đúng mực bằng quốc văn” Còn theo đánh giá của Đỗ Lai Thủy, chủ bút của Đông Dương tạp chí,
Nguyễn Văn Vĩnh “Với tư cách là linh hồn của nó đã làm thay đổi một cục diện văn hoá
và thúc đẩy nền quốc văn đi vào con đường mới”.Nhiều tác giả nghiên cứu văn học sử
cũng có cùng quan điểm, thừa nhận sự ra đời của Đông Dương tạp chí (năm 1913) là
“cột mốc” quan trọng đánh dấu mối quan hệ mật thiết giữa báo chí với văn học, là tờ báo mang tính chất văn học đầu tiên của Việt Nam, là nơi quy tụ được nhiều cây bút xuất sắc như: Bưu Văn Phan Kế Bính (1875-1921), Trọng Hữu Nguyễn Đỗ Mục (1882-1951), Lệ Thần Trần Trọng Kim (1882-1953), Ưu Thời Mẫn Phạm Duy Tốn (1883-1924), Tản Đà
Nguyễn Khắc Hiếu (1889-1939), Thượng Chi Phạm Quỳnh (1892-1945),…
Đóng góp của Đông Dương tạp chí và chủ bút Nguyễn Văn Vĩnh trong tiến trình
hiện đại hoá văn học Việt Nam là không thể phủ nhận Tuy nhiên, cho đến nay, vấn đề này vẫn chưa được nghiên cứu một cách kỹ lưỡng và có hệ thống Đó là lý do chúng tôi
chọn đề tài “Đông Dương tạp chí trong tiến trình hiện đại hoá văn học Văn học Việt Nam ba mươi năm đầu thế kỷ XX”, để nghiên cứu trong luận văn này
Trang 33
2 Lịch sử vấn đề nghiên cứu
Đương thời, Đông Dương tạp chí và chủ bút Nguyễn Văn Vĩnh được nhiều người
đề cao nhưng cũng không ít đả kích Tội danh phản quốc, bồi bút được gán cho Nguyễn
Văn Vĩnh, hẳn một phần không nhỏ là do ông làm chủ của tờ Đông Dương tạp chí Theo như phân tích của Phan Khôi thì: “Nhưng, theo sự phẩm-bình chặt-chịa của một hạng
người trong nước, hạng người ấy đại-khái là nhà nho, thì ông Vĩnh dù có là hào kiệt đi chăng nữa không là quân-tử… hạng người ấy tuy có phục ông Vĩnh về đằng tài nhưng họ không lượng thứ cho ông về đằng tâm” Đánh giá về Đông Dương tạp chí và Nguyễn
Văn Vĩnh, Nguyễn Văn Trung viết: “Nguyễn Văn Vĩnh có thể là một nhà báo giỏi, nhưng
lại rất vụng về chính trị Ngôn ngữ của Nguyễn Văn Vĩnh không những không tranh thủ được ai, đặc biệt giới sĩ phu, mà còn gây thêm đố kỵ, hận thù”
Nhiều nhà nghiên cứu văn học cũng nhận định Đông Dương tạp chí và Nguyễn
Văn Vĩnh giữ một vị trí nhất định, nhưng chỉ lướt qua Trần Đình Hượu cho rằng:
“Trước 1913, báo chí chủ yếu giúp người đọc làm quen với chữ quốc ngữ”, Trần Thanh
Lãng nhấn mạnh “Từ năm 1913, Đông Dương tạp chí đã làm xoay chiều văn học, đã đưa
cái mới vào văn học, làm cho hai thế hệ trước và sau khác hẳn nhau Mà người lãnh đạo
nó, linh hồn của nó chính là Nguyễn Văn Vĩnh” và Vũ Ngọc Phan khẳng định, khi Đông Dương tạp chí ra đời thì “Quốc văn bắt đầu thịnh, bắt đầu có cái giọng hoa mỹ, dồi dào
và chú trọng về tư tưởng”
Ngay cả những nghiên cứu gần đây nhất cũng ít nhắc tới Đông Dương tạp chí và
Nguyễn Văn Vĩnh, hoặc có nhắc tới thì cũng chỉ dừng lại ở một vài ý kiến chung chung
trong khuôn khổ của bài báo như: “Những đóng góp của Nguyễn Văn Vĩnh với báo chí
tiếng Việt và truyền bá chữ quốc ngữ” (Nguyễn Thị Lệ Hà), “Nguyễn Văn Vĩnh, một người Nam mới đầu tiên” (Đỗ Lai Thuý)…
Khi phân tích về những mục tiêu mà Đông Dương tạp chí đề ra, Nguyễn Văn Trung nhận định: “Tất cả các mục tiêu mà Đông Dương tạp chí đề ra đều giống với mục
tiêu của phong trào Đông kinh nghĩa thục, trừ việc tuyên truyền cho chính phủ bảo hộ”
Có lẽ đây chính là vấn đề khiến cho nhiều nhà nghiên cứu khi đánh giá về vai trò của
Đông Dương tạp chí cũng như những đóng góp của Nguyễn Văn Vĩnh vẫn còn quá dè
dặt hoặc chỉ lướt qua
Trang 44
Thực tế, có một “vùng trắng” cho cả ba giai đoạn đầu thế kỷ XX Trong nhiều nghiên cứu cũng như trong các giáo trình đại học khi viết về giai đoạn nhạy cảm này, về
trường hợp Đông Dương tạp chí và Nguyễn Văn Vĩnh vẫn chưa được khảo sát một cách
chi tiết, kỹ lưỡng Những vấn đề này chỉ được khắc phục phần nào ở một số nhà nghiên cứu “độc lập”, tuy nhiên dưới nhiều góc độ, quan điểm khác nhau, nhiều nhận định đơn
giản hóa và không ít định kiến Phần tổng quan trong cuốn “Giáo trình Văn học Việt
Nam ba mươi năm đầu thế kỷ XX” của GS.TS Trần Ngọc Vương đã phân tích diễn tiến
lịch sử một cách sâu sắc góp phần đem lại cách nhìn bớt phần định kiến, nhưng chưa đi
sâu vào Đông Dương tạp chí và trường hợp cụ thể Nguyễn Văn Vĩnh
Trên quan điểm khách quan, chúng tôi sẽ tiến hành khảo sát, nghiên cứu nghiêm
túc nhằm đưa lại một cái nhìn rõ nét và bao quát hơn về những đóng góp của Đông
Dương tạp chí và Nguyễn Văn Vĩnh trong tiến trình hiện đại hoá văn học Việt Nam
3 Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu chính của luận văn là Đông Dương tạp chí từ khi xuất bản
(1913) đến năm (1917) Bên cạnh đó, chúng tôi cũng đề cập đến nhân vật được xem là
linh hồn của Đông Dương tạp chí, Tân Nam Tử Nguyễn Văn Vĩnh
Trong khuôn khổ của luận văn, chúng tôi sẽ khảo sát tổng quan sau đó tập chung
phạm vi nghiên cứu ở nội dung của Đông Dương tạp chí và những bài viết, những tác
phẩm, tác giả có liên quan đến các vấn đề, khía cạnh trên
4 Nhiệm vụ nghiên cứu
Những năm gần đây, việc nghiên cứu, đánh giá lại những vấn đề thuộc về giai đoạn lịch sử nhạy cảm thường xuyên được đề cập Nhiều tác giả trong các công trình
nghiên cứu vẫn ghi nhận Đông Dương tạp chí là “cột mốc” quan trọng của nền văn học
hiện đại Việt Nam, nhưng chưa có cái nhìn tổng quan, đầy đủ, đúng mức và có hệ thống
Người làm luận văn đặt vấn đề “Vai trò của Đông Dương tạp chí trong tiến trình hiện
đại hoá văn học Việt Nam” và thực hiện những bước nghiên cứu sau:
Khảo sát, phân tích, tổng hợp, đánh giá Đông Dương tạp chí, cụ thể là những nội
dung liên quan tới sự phát triển của nền văn học
Thu thập và hệ thống toàn bộ sự nghiệp của Nguyễn Văn Vĩnh trên Đông Dương
tạp chí, tìm hiểu những quan điểm và cách hành xử của ông trong bối cảnh lịch sử mới
của đất nước
Trang 55
Thông qua kết quả nghiên cứu, chúng tôi mong muốn cung cấp cho độc giả cái nhìn
sáng rõ hơn về vai trò của Đông Dương tạp chí và Nguyễn Văn Vĩnh trong quá trình hiện
đại hoá văn học Việt Nam ba mươi năm đầu thế kỷ XX
5 Phương pháp nghiên cứu
Để thực hiện luận văn này, chúng tôi sử dụng chủ yếu một số phương pháp nghiên cứu cơ bản như: Phương pháp khảo sát văn bản, hệ thống hóa chủ đề - đề tài, phân tích, đánh giá và sử dụng tri thức liên ngành Sử dụng phương pháp văn học sử bởi đối tượng khảo sát là một tờ báo “cột mốc” đánh dấu sự phát triển của chữ quốc ngữ và mang tính chất văn học đầu tiên ở Việt Nam Và sử dụng một số phương pháp đồng đại, lịch đại và phương pháp liên ngành khác như xã hội học, so sánh lịch sử
6 Cấu trúc của luận văn
Chúng tôi trình bày luận văn gồm 3 phần chính:
Phần mở đầu
Phần nội dung (gồm 3 chương):
Chương I: Vai trò của báo chí trong tiến trình hiện đại hóa nền văn học Việt Nam ba
mươi năm đầu thế kỷ XX
Chương II: Đông Dương tạp chí trong tiến trình hiện đại hoá văn học Việt Nam
Chương III: Đóng góp của Nguyễn Văn Vĩnh - chủ bút Đông Dương tạp chí
Phần Kết luận
PHẦN NỘI DUNG Chương I VAI TRÕ CỦA BÁO CHÍ ĐỐI VỚI QUÁ TRÌNH HIỆN ĐẠI HÓA VĂN HỌC
VIỆT NAM 30 NĂM ĐẦU THẾ KỶ XX
Liên tục từ thế kỷ thứ X đến nửa đầu thế kỷ XIX, nền Văn học Việt Nam diễn ra tương đối bình lặng, thế nhưng đến nửa cuối thế kỷ XIX cơn chấn động mạnh đã làm cho nền văn học nước nhà bị lung lay tới tận gốc rễ, sụp đổ, đồng thời kiến tạo nên một diện mạo văn học hoàn toàn khác với nền văn học cũ, và được định danh là văn học hiện đại Phân tích những nguyên nhân, tác động tới quá trình kiến tạo nền văn học mới, các nhà nghiên cứu văn học sử Dương Quảng Hàm, Bùi Đức Tịnh, Lê Trí Viễn, Trần Đình Hượu, Nguyễn Đình Chú, Lê Chí Dũng, Bằng Giang… đều cho rằng không thể bỏ qua
Trang 66
mảng báo chí quan trọng này Song việc đề cập đến vai trò của báo chí cũng chỉ dừng lại trong những đề mục hoặc “gạch đầu dòng” Ở luận văn này, chúng tôi nghiên cứu vấn đề theo hướng từ tổng quan đến cụ thể Từ vai trò của báo chí nói chung, sau đó cụ thể hóa
trong “Đông Dương tạp chí”, tờ báo có tính chất “chuyên ngành”, và hoạt động của chủ
bút Nguyễn Văn Vĩnh Nhưng trước hết, chúng tôi sẽ tổng quan lại diện mạo văn học Việt Nam 30 năm đầu thế kỷ XX
1 Diện mạo nền văn học Việt Nam 30 năm đầu thế kỷ XX
“Một nền văn học mang tính quốc gia - dân tộc, vận động trong quỹ đạo của
vùng văn học châu Á” đang dần bị phân rã để kiến tạo một hệ thống thi pháp mới theo
mô hình văn học châu Âu và hòa nhập vào quỹ đạo văn học thế giới Ở giai đoạn giao
thời, ba mươi năm đầu thế kỷ XX chúng ta được “chứng kiến một tình trạng hỗn dung
của ít nhất hai hệ hình văn học”, đó là sự hỗn dung của hai nền văn học cũ và mới, của
quan điểm tư tưởng thẩm mĩ, đội ngũ tác giả, khuynh hướng sáng tác, thể loại và ngôn ngữ
1.1 Hình thành quan niệm văn chương là dành cho đại chúng, lấy đời sống hiện thực và những con người của cuộc sống đời thường làm trung tâm của các sáng tác, đồng thời làm đối tượng phục vụ Văn chương là một nghề để kiếm sống, người cầm bút viết văn là những nhà chuyên môn chuyên nghiệp Hệ thống chủ đề trong văn học giai đoạn này không chỉ mang nhiều yếu tố khác biệt mà còn mở rộng, thiết lập những chủ đề mới
về tiến hóa xã hội, về yêu nước, về những vấn đề diễn ra trong cuộc sống đời thường…
Mặc dù các nhà nho, khoa bảng vẫn còn nặng về “văn dĩ tải đạo”, “thi ngôn chí” như Phan Bội Châu, Phan Châu Trinh… nhưng ít nhiều đã bị chi phối bởi ý thức hệ tư sản, do đó những lý tưởng, quan niệm cũ tưởng như đã ăn sâu vào tiềm thức có những biến đổi, ý thức đem văn chương phục vụ mục đích chính trị, đấu tranh, tuyên truyền
1.2 Văn học ba mươi năm đầu thế kỷ XX vận động theo hai khuynh hướng, khuynh hướng văn học thuyền thống và khuynh hướng văn học mới Giữa các sáng tác của hai khuynh hướng này lại có sự giao thoa, đan xen về hệ thống thi pháp Xu hướng vận động của văn học truyền thống dần bị thu hẹp và biến mất, xu hướng văn học mới ngày càng phát triển và chiếm lĩnh văn đàn
1.3 Văn học hiện đại giai đoạn này chưa thoát khỏi dấu ấn của những thể loại đã trở thành điển phạm trong văn chương truyền thống như: văn chính luận, thơ chữ Hán,
Trang 77
diễn ca lục bát, ngâm khúc, hát nói, vè, liệt truyện Các thể loại: truyện dịch, truyện thơ quốc ngữ, du kí, thơ viết bằng văn vần có sự tương tác, dung hòa giữa yếu tố truyền thống và hiện đại Văn học Việt Nam giai đoạn này cũng đã xuất hiện nhiều thể loại mới: Truyện ngắn, tiểu thuyết, kịch, ký, thơ…
1.4 Trong mấy thập kỷ đầu của thế kỷ XX, văn học Việt Nam được sáng tác bằng
cả chữ Hán và chữ quốc ngữ Nhưng về sau, lực lượng sáng tác và những tác phẩm bằng chữ quốc ngữ dần lấn át chữ Hán Chữ quốc ngữ được văn học hiện đại lựa chọn làm
“chất liệu nền”
Mấy thập niên đầu thế kỷ XX được các nhà nghiên cứu tiêu biểu như Trần Đình Hượu, Lê Chí Dũng gọi là giai đoạn “giao thời” chuẩn bị cho việc xác lập từng bước, từng bộ phận, xây dựng nền móng cho cả “tòa nhà” văn học hiện đại Thành quả nổi bật, kết quả “chín muồi” thì phải tới sau 1932, nhưng đương nhiên sẽ không có kết quả đó nếu không có sự chuẩn bị tích cực, ráo riết, không có những “công lao bị quên lãng” của mấy mươi năm trước đó
2.Vai trò của báo chí trong quá trình hiện đại hóa nền văn học
2.1 Sự ra đời của báo chí
2.1.1 Ngay khi đặt chân lên đất Nam kỳ, 29-9-1861 thực dân Pháp đã cho xuất
bản tờ báo bằng tiếng Pháp Le Bullelin Officie de l’ expedition de la Co-chichine (Công báo của đội quân viễn chinh Nam kỳ) Chỉ ít năm sau đó, Gia Định báo, tờ báo tiếng Việt
đầu tiên ra đời, mở đầu cho âm mưu đưa văn hóa Pháp và chữ quốc ngữ vào quỹ đạo xâm lăng văn hóa Việt Nam Đội ngũ viết báo người Việt được đào tạo, bộ phận báo chí tiếng Việt, tiếng Hán được thiết lập
2.1.2 Ban đầu việc Việt Nam tiếp nhận báo chí là khiên cưỡng, bắt buộc Tuy nhiên, về sau, những nhà nho, chí sĩ yêu nước, tiêu biểu như Phan Bội Châu, Phan Châu Trinh… và những người tân học cũng bắt đầu cảm nhận được sức mạnh của báo chí phục
vụ cho mục đích tuyên truyền canh tân đất nước đã chủ đón nhận, sử dụng và khai thác 2.1.3 Một số tờ báo quan trọng và quá trình phát triển của báo chí:
Nông cổ mín đàm (1901-1924) (Nam Kỳ), Đại Nam đồng văn nhật báo (xuất bản khoảng 1892) (Bắc Kỳ), Đăng cổ tùng báo, (1907) (tờ báo quốc ngữ đầu tiên ở Hà Nội), Lục tỉnh tân văn (1907-1944) (Nam Kỳ) Đông Dương tạp chí (1913-1917), Nam Phong tạp chí (1917-1934) (Hà Nội)
Trang 88
Giai đoạn 1919 - 1924, theo thống kê trong Lịch sử báo chí Việt Nam của Đỗ
Quang Hưng, có 26 tờ báo và tạp chí mới ra đời, nhiều hơn 20 tờ so với tổng số báo, tạp chí xuất bản 54 năm (1865-1919) Xuất hiện những thể loại mới, văn hóa, giáo dục, khoa
học và thể dục thể thao Một số tờ báo tiêu biểu như: Thực nghiệp dân báo (1920-1922),
Khai hóa (1921-1928), Hữu thanh (1921-1924)…
Giai đoạn 1925-1930, có 40 tờ báo, tạp chí mới xuất bản công khai và hợp pháp
Tiêu biểu là các tờ báo Tiếng dân (1917-1943), L’ Annam, Hà Thành ngọ báo, Đông Tây
tuần báo, Tân thế kỷ, Phụ nữ tân văn, An Nam tạp chí… Bên cạnh đó đã xuất hiện dòng
báo chí bí mật không hợp pháp, mở đầu là báo Thanh niên do Nguyễn Ái Quốc sáng lập
Như vậy, về hình thức, báo chí phát triển từ công báo, bán công báo đến báo, tạp chí; từ nhật báo, tuần báo, nguyệt san, bán nguyệt san, tạp chí; từ báo chí nhà nước đến báo chí tư nhân Về nội dung: Ngoài những mục mang tính quan báo, thời sự, còn có các mục luận thuyết, triết học, khoa học, văn chương khoa, sư phạm học khoa, và hầu hết các
tờ báo đều có mục Văn uyển
Từ việc gieo mầm báo chí, nhằm sử dụng báo chí như là một công cụ đắc lực thực hiện âm mưu xâm lăng về văn hóa, Pháp nhanh chóng nhận thấy nguy cơ phát triển của báo chí và tìm mọi cách phong tỏa Thế nhưng, sự ra đời của hàng trăm tờ báo ở ba thập
kỷ này cho thấy báo chí đã phát triển ngoài sức tưởng tượng của thực dân, trở thành
“công cụ không tự giác” mà Pháp khó có thể đặt lại vào vòng kiểm soát Cuộc “vượt thoát” ngoạn mục của báo chí không chỉ có ý nghĩa văn hóa xã hội, mà nó còn có ý nghĩa
mở đường cho quá trình hiện đại hóa nền văn học dân tộc
2.2 Vai trò của báo chí trong quá trình hiện đại hóa nền văn học
2.2.1 Báo chí là môi trường xuất hiện, tồn tại và phát triển của văn học quốc ngữ
Nhà nghiên cứu Trần Ngọc Vương đã chỉ ra báo chí là sự manh nha của một nền
văn học mới:“Hầu như ngay từ buổi đầu của sự xuất hiện và lưu hành báo chí, một thứ
văn học mới khác xa với văn học truyền thống đã gắn với loại phương tiện mới đó mà nảy mầm” Gia Định báo, sau 4 năm đã mở thêm các mục khảo cứu, nghị luận, thơ ca
đăng sáng tác của các danh sĩ Nam Kỳ như Trương Minh Ký, Huỳnh Tịnh Của… “Chính
thơ văn, truyện cổ tích và những bài nghiên cứu về lịch sử nước nhà được đăng trên tờ báo lúc này… đã góp phần khai sinh nền quốc văn mới”
Trang 99
Lần lượt các tờ báo Nông cổ mín đàm, Lục tỉnh tân văn (ở Nam kỳ,) Đại Nam
đồng văn nhật báo, Đăng cổ tùng báo, Đại Việt tân báo, Trung Bắc tân văn (ở Bắc Kỳ),… đều có mục đăng tải các thể loại truyện kể, truyện ngắn, thơ ca, câu đối… Đặc
biệt là sự ra đời của hai tờ báo có tính chất chuyên ngành, Đông Dương tạp chí (1913) và
Nam Phong tạp chí (1917) thì “Quốc văn bắt đầu thịnh, bắt đầu có cái giọng hoa mỹ dồi dào và chú trọng về tư tưởng”
Tổng tập văn học Việt Nam (văn học báo chí Việt Nam 1900-1945) (Nguyễn
Thành cb), đã tập hợp từ hệ thống báo chí ba thập niên đầu thế kỷ XX hàng trăm trang
tác phẩm đơn thuần viết bằng chữ quốc ngữ không “dính dáng gì đến chính trị” với nội
dung và thể loại vô cùng phong phú, đa dạng
Về công tác bảo tồn vốn cổ có những tên tuổi như: Nguyễn Văn Ngọc, Phan Kế Bính, Nguyễn Đỗ Mục, Phan Khôi Độc giả cũng được thưởng thức tiểu thuyết cổ điển, tác phẩm văn học cận hiện đại của Trung Quốc thông qua các bản dịch của Phan Kế Bính, Nguyễn Đỗ Mục, Nguyễn Trọng Thuật, Nguyễn Hữu Tiến… Đặc biệt, nhiều tác phẩm văn học Pháp được dịch và đăng tải, mà công lao phải kể đến là Nguyễn Văn Vĩnh
và các tờ Đông Dương tạp chí, Nam Phong tạp chí… đã khơi thông một dòng chảy cho
văn học Việt Nam gia nhập vào dòng chảy chung của văn học thế giới
Quá trình “luyện tập câu văn và viết dần tác phẩm” trên báo chí giai đoạn này
diễn ra sôi nổi Ở Nam Kỳ, hàng loạt tác phẩm của Nguyễn Chánh Sắt, Lê Hoằng Mưu,
Trương Duy Toản, Hồ Biểu Chánh, Trương Vĩnh Ký… được đăng tải trên Nông cổ mín
đàm, Lục tỉnh tân văn… Ở Bắc kỳ, phong trào sáng tác nở rộ, trên Đông Dương tạp chí, Nam Phong tạp chí… liên tục xuất hiện những tác phẩm văn xuôi quốc ngữ của Phạm
Duy Tốn, Tản Đà, Nguyễn Văn Vĩnh, Hoàng Ngọc Phách, Phạm Quỳnh, Đông Hồ, Tương Phố Xuất hiện nhiều thể loại: tản văn, truyện, ký, tiểu thuyết, bình luận
Về mặt ngôn ngữ, nhà nghiên cứu Vũ Ngọc Phan đánh giá: “Người ta đã thấy từ
đời Đại Việt tân báo và Đại Nam đồng văn nhật báo đến thời Đông Dương tạp chí, chỉ trong khoảng bảy tám năm, quốc văn đã tiến bộ rất mau Năm 1907, người ta thuật có vài chục dòng về Denis Papin cũng không nên lời mà năm 1913, Nguyễn Văn Vĩnh và Phan Kế Bính đã có thể dùng quốc văn để dịch hài kịch của Moliere và những bài Hán văn rất là chải chuốt Đến Nam Phong ra đời quốc văn lại cao thêm một bậc nữa”
Trang 10Những nhà nho cuối mùa như Nguyễn Đỗ Mục, Phan Kế Bính, Nguyễn Bá Học, Nguyễn Hữu Tiến… hởi với công cuộc tổng duyệt lại văn chương truyền thống và bảo tồn vốn cổ bằng cách chuyển dịch ra chữ quốc ngữ trên báo chí Họ trở thành những cây bút có tiếng trong lĩnh vực biên khảo
Những tác giả tiêu biểu của dòng văn học yêu nước cách mạng đầu thế kỷ XX như Phan Bội Châu, Phan Châu Trinh, Ngô Đức Kế, Huỳnh Thúc Kháng… Đội ngũ tác giả này muốn tìm một con đường văn chương mới, một công cụ truyền bá rộng rãi để phục
vụ cho mục đích cổ động cách mạng và truyền bá tư tưởng, tinh thần yêu nước tới quần chúng nhân dân
Báo chí là môi trường nuôi dưỡng, đào tạo và hình thành đông đảo đội ngũ tác giả văn học hiện đại; là nơi nương náu, chuyển mình của đội ngũ tác giả truyền thống Thông qua hệ thống báo chí giai đoạn 1900-1930, chúng ta có thể hình dung một cách tương đối
đầy đủ gương mặt tác giả văn học đương thời, thậm chí, còn “có thể hình dung toàn bộ
văn nghiệp của tác gia văn học” Và, vượt khỏi khung khổ thời gian, báo chí giai đoạn
này còn có tác động, ảnh hưởng tới đội ngũ tác giả văn học sau 1930 như: Nguyễn Công Hoan, Vũ Đình Long, Tam Lang, Thái Phỉ…
2.2.3 Sự tác động của báo chí đến quá trình hình thành thể loại văn học
Từ sau “ngôi sao băng” Thầy Lazaro Phiền của Nguyễn Trọng Quản xuất hiện trên báo năm 1887, và những thể nghiệm tiếp theo như: Phan Yên ngoại sử tiết phụ gian
truân (Trương Duy Toản, Nam Kỳ); Nam Hải dị nhân (1907), Hưng Đạo đại vương
Trang 1111
(1909-1912) của Phan Kế Bính ở Bắc Kỳ; truyện ngắn của Nguyễn Bá Học, Phạm Duy
Tốn, tiểu thuyết của Hồ Biểu Chánh, Tố Tâm của Hoàng Ngọc Phách, Quả dưa đỏ của
Nguyễn Trọng Thuật… thì phong trào sáng tác truyện ngắn, tiểu thuyết bắt đầu lan rộng trong cả nước
Loại hình nghệ thuật kịch của phương Tây được đưa vào thể nghiệm, tiêu biểu là kịch của Vũ Đình Long, Nam Xương, Tản Đà, Tương Phố,…
Nhiều tác phẩm mang tính ghi chép như Chuyến đi Bắc kỳ năm Ất Dậu (Trương Vĩnh Ký), Hương Sơn hành trình (Nguyễn Văn Vĩnh), Hạn mạn du ký (Nguyễn Bá
Trác),… thể ký chính thức xuất hiện trong văn học quốc ngữ
Như vậy, thông qua thể nghiệm trên báo chí: “Cấu trúc của hệ thống thể loại của
nền văn học mới đã thực sự Âu hoá, gom đủ diện mạo của những thể loại và thể tài chính yếu: tự sự, trữ tình, kịch” (Giáo trình văn học Việt Nam ba mươi năm đầu thế kỷ XX,
Trần Ngọc Vương)
Chương II VAI TRÕ CỦA ĐÔNG DƯƠNG TẠP CHÍ TRONG QUÁ TRÌNH HIỆN ĐẠI HOÁ
VĂN HỌC VIỆT NAM 30 NĂM ĐẦU THẾ KỶ XX
1 Tiền đề, tôn chỉ mục đích và sơ bộ hệ thống chuyên mục của Đông Dương tạp chí
1.1 Những tiền đề dẫn tới sự ra đời của Đông Dương tạp chí
Một là, báo chí vẫn nằm trong âm mưu “nô dịch văn hoá” mà Pháp cho rằng là cách tốt nhất để kiểm soát chặt chẽ lòng yêu nước của nhân dân ta
Hai là, trong khi chữ Hán cùng với đội ngũ nhà nho ngày một bị thu hẹp thì chữ quốc ngữ gắn liền với đội ngũ tân học lại dần được mở rộng Những luồng tư tưởng mới, chất liệu ngôn ngữ mới (chữ quốc ngữ) cần phải có môi trường để thể nghiệm, chính điều này đã góp phần thúc đẩy báo chí phát triển
Ba là, cơ sở vật chất phục vụ cho công tác in ấn, xuất bản, phát hành báo chí được xây dựng, thiết lập là cơ sở cho sự phát triển của báo chí
Bốn là, trước tinh thần phản kháng của các phong trào yêu nước, Pháp đã “vội
vàng” cho xuất bản Đông Dương tạp chí Theo thâm ý chủ quan ban đầu của Pháp là:
“Đem văn chương học thuật, đem ân huệ văn minh của nhà nước Lang Sa mà khua sáo
Trang 1212
cho lấp được những lời gây loạn” Trong khi đó, giới duy tân, mà tiêu biểu là Nguyễn
Văn Vĩnh cũng lựa chọn báo chí làm diễn đàn “Đối với những người Việt Nam cộng tác,
đứng đầu là Nguyễn Văn Vĩnh, hẳn các ông cũng muốn lợi dụng báo để làm nơi tuyên truyền cho việc duy tân đất nước và xây dựng văn học mới ”
1.2 Tôn chỉ mục đích của Đông Dương tạp chí
Ngày 15 tháng 5 năm 1913, Đông Dương tạp chí chính thức ra đời, do F.H.Schneider làm chủ, Nguyễn Văn Vĩnh làm chủ bút Đông Dương tạp chí là tờ báo
tiếng Việt đầu tiên xuất bản ở Hà Nội, xuất bản vào thứ 5 hàng tuần
Trong số báo thứ 2, ra ngày 22/5/1913, ở mục “Chủ-nghĩa”, tôn chỉ, mục đích của
Đông Dương tạp chí được đưa ra như sau: “Phổ biến văn hoá Tây phương, cổ động học chữ quốc ngữ, giới thiệu hiến thức thực nghiệp như canh nông, công nghệ và tuyên truyền cho chính phủ bảo hộ”
Trong quá trình phát triển, tôn chỉ, mục đích của Đông Dương tạp chí có phần
thay đổi Nội dung tuyên truyền cho chính phủ bảo hộ dần bị thu hẹp, thay vào đó là nội dung văn chương, học thuật nhằm dựng một nền quốc văn mới
1.3 Cách trình bày,hệ thống chuyên mục trên Đông Dương tạp chí
Về cách thức trình bày, chúng ta có thể xem cụ thể ở hình tư liệu
Theo nhiều tài liệu nghiên cứu, Đông Dương tạp chí xuất bản năm 1913 và đình
bản vào năm 1919 Nhưng tìm hiểu nguồn tư liệu tại Thư viện Quốc gia Hà Nội và Trung tâm Lưu trữ Quốc gia I, chúng tôi chỉ khảo sát được những số báo xuất bản từ năm 1913-
1917, trong đó có nhiều số báo không được lưu trữ Cụ thể, Trung tâm Lưu trữ Quốc gia
I chỉ lưu trữ một vài tập báo của năm 1913, 1915 nhưng rất rời rạc, một số tài liệu tiếng Pháp thuộc phông Thống sứ Bắc Kỳ (hồ sơ 79456) như công văn của Toàn quyền Đông
Dương gửi Thống sứ Bắc Kỳ cho xuất bản Đông Dương tạp chí bằng chữ quốc ngữ
truyền bá ở Bắc Kỳ (16/1/1913), thư của tòa công sứ Hải Dương và một số quan lại đánh
giá về Đông Dương tạp chí Thư viện Quốc gia Hà Nội lưu trữ được phần lớn số lượng
báo của các năm 1913, 1914, 1916, 1917 Riêng năm đình bản của tờ tạp chí này vẫn đang để dấu hỏi (?), chưa được xác định rõ ràng
Từ năm 1913 (số 1- số 33) đến năm 1914 (số 34 – số 52): Đông Dương tạp chí
có khổ lớn, số lượng từ 16 đến 24 trang, nhiều chuyên mục và có sự thay đổi thêm bớt
trong quá trình phát triển Song về cơ bản, trong hai năm này, Đông Dương tạp chí vẫn
Trang 1313
giữ nhiều chuyên mục ổn định là: Kính Khai, Cẩn cáo,Thời sự tổng thuật, Điện báo, Quan báo lược lục, Đông Dương thời sự, Nhời đàn bà, Văn chương, Tự do diễn đàng,
Dưỡng anh nhi pháp, Việc buôn bán, Luân lý học, Sách dạy tiếng An-nam
Năm 1915: Đông Dương tạp chí có sự thay đổi cả hình thức lẫn nội dung Về
khuôn khổ, Đông Dương tạp chí từ cỡ lớn được đổi thành cỡ nhỏ, đóng thành tập như sách, khoảng 40 trang, ra hàng tuần Về nội dung chủ yếu đề cập tới văn chương, học thuật Hệ thống chuyên mục bao gồm: Pháp văn, Hán văn, Gương phong tục, Chuyện Hoa tiên, Kim-Vân-Kiều, Bình phẩm sách mới, Văn Nôm cổ, Văn Nôm đàng trong
Năm 1916 (từ số 51 đến số 104): Hệ thống chuyên mục của năm 1916 chúng tôi
không nắm bắt được do Thư viện Quốc gia chỉ còn lưu giữ chuyên mục Văn chương (cổ kim văn hợp thái) gồm các nội dung: Pháp văn, Hán văn, văn Nôm, Gương phong tục, Kim-Vân-Kiều, Bình phẩm sách mới
Năm 1917 (số 104 đến số 134): Gồn các chuyên mục: Tiểu thuyết tây diễn nôm,
Tiểu thuyết tàu, Tân học văn tập (Văn quốc ngữ, cách trí, tập đọc, giảng nghĩa và học thuộc lòng, Nam sử), Văn chương (Pháp văn, Hán văn, Kim Vân Kiều, Bình phẩm sách mới), Công văn tập, Thiệt hành điện học
Như vậy, 2 năm đầu (1913-1914), Đông Dương tạp chí đóng vai trò của một tờ
báo cung cấp nội dung khá phong phú về mọi mặt đời sống xã hội lúc bấy giờ Từ năm
1915 trở đi, Đông Dương tạp chí tập chung vào nội dung dịch thuật đăng tải các tư
tưởng học thuật và đặc biệt đi sâu vào đề tài văn chương
Về nguyên nhân tờ Đông Dương tạp chí dần bị thu hẹp, GS Trịnh Vân Thanh,
Nguyễn Văn Trung và nhiều ý kiến khác cho rằng: Những cây bút của tờ báo này chỉ cốt thực hiện một nền quốc văn mới cho dân tộc, hoặc là do sự không khéo léo của Nguyễn
Văn Vĩnh và Đông Dương tạp chí về “làm chính trị” đã khiến Pháp cần có một tờ báo
khác khôn khéo hơn, nhằm tranh thủ hơn là đả kích, chủ trương dung hòa Đông - Tây
hơn là đồng hóa âu hóa Đó phải là một “tờ báo quốc ngữ có lãnh đạo tốt và kiểm soát
cẩn thận” (báo cáo gửi Phủ toàn quyền ngày 15-11-1915 của Thống sứ Bắc Kỳ Le
Gallen)