Và qua kết quả của bài nghiên cứu: “ Ảnh hưởng của phát triển tài chính đến hiểu biết tài chính: Trường hợp các quốc gia Châu Á -Thái Bình Dương”, tác giả hy vọng sẽ đem lại những yếu tố
Trang 1đại học quốc gia hà nội Tr-ờng đại học kinh tế - -
CÔNG TRìNH NCKH SINH VIÊN NĂM 2016
TÊN Đề TàI: ảNH H-ởng của phát triển tài chính
đến hiểu biết tài chính: Tr-ờng hợp các quốc gia
châu á - THáI BìNH DƯƠNG
Hà Nội – 2016
Trang 2MỤC LỤC
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT 4
DANH MỤC BẢNG 5
DANH MỤC CÁC BIỂU 5
MỞ ĐẦU 6
1 Lí do và tính cấp thiết của đề tài 6
2 Tổng quan tài liệu 8
2.1 Sự phát triển của định nghĩa và cách đo lường hiểu biết tài chính 8
2.2 Hiểu biết tài chính dưới góc độ các hộ gia đình 9
2.3 Hiểu biết tài chính dưới góc độ nền kinh tế 11
2.4 Hiểu biết tài chính dưới góc nhìn đa quốc gia 12
2.5 Hiểu biết tài chính và các khuyến nghị cho các nhà chính sách 13
2.6 Các mối liên hệ đa dạng của sự phát triển tài chính 14
3 Mục đích nghiên cứu 15
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 16
5 Câu hỏi và giả thuyết nghiên cứu 16
6 Cấu trúc của bài nghiên cứu: 17
7 Những đóng góp của tổng quan tài liệu cho đề tài 17
8 Những điểm mới của đề tài 18
NỘI DUNG 19
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ THUYẾT 19
1 Những vấn đề chung 19
1.1 Tài chính 19
1.2 Tài chính cá nhân 20
2 Hiểu biết tài chính 20
3 Phát triển tài chính 22
CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG HIỂU BIẾT TÀI CHÍNH Ở CHÂU Á GIAI ĐOẠN 2010 ĐẾN 2015 23
1 Thực trạng chỉ số hiểu biết tài chính 23
2 Chính sách và chương trình giáo dục hiểu biết tài chính ở các quốc gia 25
Trang 3CHƯƠNG 3: THỰC TRẠNG HIỀU BIẾT TÀI CHÍNH Ở VIỆT NAM 28
1 Thực trạng qua các thông số 28
2 Góc nhìn tới các vấn đề còn tồn tại 29
3 Các chính sách và chương trình hành động tăng cường hiểu biết tài chính của Việt Nam 30
CHƯƠNG 4: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU DỮ LIỆU 32
1 Thiết kế nghiên cứu 32
1.1 Tổng quan về phương pháp và mô hình nghiên cứu 32
1.2 Xây dựng thang đo trong mô hình định lượng 33
1.2.1 Đo lường hiểu biết tài chính 33
1.2.2 Đo lường phát triển tài chính 40
1.3 Phương pháp thu thập số liệu 43
1.4 Phương pháp phân tích số liệu 44
2 Hồi quy mô hình và đánh giá 44
2.1 Cơ sở mô hình 44
2.2 Mô hình nghiên cứu và kết quả 45
2.2.1 Thông tin chung 45
2.2.2 Hồi quy mô hình 47
2.2.3 Kiểm tra khuyết tật mô hình 48
2.2.4 Kết luận mô hình 50
CHƯƠNG 5: KHUYẾN NGHỊ VÀ KẾT LUẬN 53
1 Khuyến nghị 53
2 Kết luận 58
PHỤ LỤC 1: Bảng các chỉ số đo lường Phát triển tài chính chi tiết 59
PHỤ LỤC 2: Mô hình thực hiện 65
PHỤ LỤC 3: Tài liệu tham khảo 67
Trang 4Lời cảm ơn sâu sắc tiếp theo, tác giả xin gửi đến cô Định Thị Thanh Vân - Phó chủ nhiệm khoa Tài chính- Ngân hàng và đồng thời là giảng viên hướng dẫn trực tiếp Cô Vân đã tận tâm theo sát con đường nghiên cứu của sinh viên từ đầu đến khi hoàn thành bài: hướng dẫn chọn đề tài, gợi ý những cách có thể tiếp cận vấn đề hay động viên tác giả khi vấp phải những khó khăn trong quá trình thực hiện
Cuối cùng tác giả xin gửi lời cảm ơn chân thành tới các anh chị khóa trên, thành viên
hỗ trợ Đào Hồng Quân, Trần Thị Phương Ngân đã luôn sẵn sàng giải đáp những thắc mắc và giúp đỡ cũng như truyền đạt những kinh nghiệm đã có để nghiên cứu viên hoàn thành công trình nghiên cứu một cách thuận lợi nhất
Trang 5DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
STT Từ viết
tắt
Nguyên nghĩa tiếng Anh Nguyên nghĩa tiếng Việt
1 NFTS National Financial Capability
3 GDP Gross Domestic Products Tổng sản phẩm quốc nội
4 ROA Returns on Assets Tỉ suất lợi nhuận trên tài sản
5 ROE Returns on Equities Tỉ suất lợi nhuận trên vốn chủ
sở hữu
6 FEM Fixed Effect Model Mô hình hiệu ứng cố định
7 REM Random Effect Model Mô hình hiệu ứng ngẫu nhiên
Trang 6DANH MỤC BẢNG
STT Số hiệu
1 Bảng 1.1 Tổng hợp các định nghĩa được thu thập từ năm 2000
2 Bảng 2.1 Xếp hạng chỉ số hiểu biết tài chính trong khu vực Châu Á năm 2015
3 Bảng 2.2 Chiến lược và chương trình cho giáo dục hiểu biết tài chính ở
Châu Á
4 Bảng 3.1 Xếp hạng Việt Nam trong các nước được khảo sát ở Châu Á về
chỉ số hiểu biết tài chính năm 2015
5 Bảng 4.1 Tổng hợp các cách đo lường hiểu biết tài chính
6 Bảng 4.2 Các nhân tố đo lường của Mastercard
7 Bảng 4.3 Ví dụ đo lường sự phát triển hệ thống tài chính của World Bank
8 Bảng 4.4 Danh mục các chỉ số đại diện được chọn bởi tác giả
9 Bảng 4.5 Các biến sử dụng trong mô hình
10 Bảng 4.6 Thống kê quan sát theo các biến
11 Bảng 4.7 Hồi quy mô hình theo FEM và REM và Kiểm định Hausman
12 Bảng 4.8 Kết quả kiểm định Time – fixed effect
13 Bảng 4.9 Kết quả mô hình sau khi sửa phương sai sai số thay đổi
2 Biểu đồ 2.2 Hiểu biết tài chính của Đài Loan và Trung Quốc từ 2010 đến 2015
3 Biểu đồ 4.1 Chỉ số hiểu biết tài chính của các nước
Trang 7MỞ ĐẦU
1 Lí do và tính cấp thiết của đề tài
Trong sự chuyển mình ngày càng mạnh mẽ của nền kinh tế, hiểu biết tài chính ngày càng trở nên bức thiết và quan trọng với người tiêu dùng Người tiêu dùng đã và đang đối mặt với vô vàn các quyết định tài chính mà ở đó việc thiếu các kiến thức tài chính sẽ dẫn tới sự nghèo nàn trong lựa chọn cũng như rủi ro tương ứng Có thể thấy rằng, nhu cầu về thông tin và kiến thức tài chính thực sự bùng nổ sau cuộc khủng hoảng tài chính gần đây Người tiêu dùng ngày càng quan tâm hơn đến việc trang bị cho bản thân những kiến thức cần thiết trước một nền kinh tế biến động khi mà họ nhận ra rằng hiểu biết tài chính là một công cụ thiết yếu để đưa ra các quyết định hàng ngày, thậm chí hàng giờ
Đối với các học giả Việt Nam và trên thế giới, hiểu biết tài chính là vẫn một đề tài mới còn nhiều khoảng trống cần khai thác Các nghiên cứu về hiểu biết tài chính chỉ thực sự phát triển sau cuộc khủng hoảng kinh tế thế giới năm 2007 khi mà các quyết định tài chính sai lầm trong lĩnh vực bất động sản ở Mỹ đã góp phần đưa nền kinh tế thế giới đi vào suy thoái Olson (2008) trong nghiên cứu của mình kết luận rằng “với một xã hội có hiểu biết tài chính, khủng hoảng tài chính có thể bị ngăn chặn trước khi nó đạt đến phạm vi như vậy” Bên cạnh đó, Các nghiên cứu trên thế giới còn chỉ
ra rằng hiểu biết tài chính là công cụ hữu dụng để đem lại một nền tài chính ổn định
và sự đảm bảo trong hưu trí của người dân
Mặc dù vậy, hiểu biết tài chính của người dân trên toàn thế giới nói chung và ở Việt Nam nói riêng đang ở mức đáng lo ngại Qua các con số được thống kê, hiểu biết tài chính của người dân trên thế giới đang ở mức thấp, đặc biệt là các đối tượng như phụ
nữ và những cá nhân chưa được giáo dục đầy đủ Đặc biệt hơn, hiểu biết tài chính còn có sự khác biệt trên phạm vi lãnh thổ cũng như thể chế chính trị Đến hiện tại vẫn chưa có một tổ chức toàn cầu nào đưa ra một thang đo thống nhất và quy chuẩn cho hiểu biết tài chính trên toàn thế giới dẫn đến việc hiểu biết tài chính vẫn còn là một vấn đề nan giải đối với các nhà chính sách
Trang 8Với Việt Nam, một trong các nền kinh tế đang phát triển trên thế giới và đang từng bước hội nhập vào công đồng kinh tế chung thông qua các hiệp định thương mại cũng như công đồng kinh tế, sự hội nhập đem lại thách thức lớn mà Việt Nam phải đối mặt để đảm bào một nền kinh tế, tài chính ổn định tại môi trường thuận lợi cho dòng vốn đầu tư Bên cạnh đó, dưới góc độ vi mô, vấn đề hưu trí sẽ trở thành một đề tài nóng được đặt ra khi người dân phải có khả năng thích ứng và lập kế hoạch tài chính cho tương lai để trở thành một công dân tự chủ toàn cầu Hiểu biết tài chính chính là câu trả lời cho Việt Nam trong việc hoạch định chính sách để có thể đem lại
sự phát triển bền vững cho nền kinh tế
Nhưng công cuộc cải thiện hiểu biết tài chính thông qua việc giáo dục đang là một trong những thách thức cho các nhà chính sách ở Việt Nam và quốc tế Nghiên cứu của Holzmann (2010) kết luận hoạt động giáo dục hiểu biết tài chính giữa các quốc gia vẫn đang còn giới hạn và chưa thiết thực và cần sự tương tác của các tổ chức nghiên cứu quốc tế Là một quốc gia năng động, Việt Nam cần có những biện pháp tiên phong trong công cuộc cải thiện hiểu biết tài chính và đảm bảo tính ổn định cho nền tài chính trước khi có sự thống nhất trên diễn đàn quốc tế trong giáo dục hiểu biết tài chính
Với Việt Nam, việc đưa giáo dục hiểu biết tài chính đến với từng cá nhân đặc biệt là phụ nữ và những người không được giáo dục trọn vẹn là một nhiệm vụ khó khăn Tác giả đã đặt ra mục tiêu tìm ra một cách thức dựa nhiều vào thực tiễn để có thể cải thiện hiểu biết tài chính của người dân Và qua kết quả của bài nghiên cứu: “ Ảnh hưởng của phát triển tài chính đến hiểu biết tài chính: Trường hợp các quốc gia Châu
Á -Thái Bình Dương”, tác giả hy vọng sẽ đem lại những yếu tố thiết thực, mới mẻ để kết hợp cùng những biện pháp giáo dục cho người dân nhằm đem lại giá trị cộng hưởng cho công cuộc cải thiện hiểu biết tài chính ở Việt Nam và trên thế giới
Trang 92 Tổng quan tài liệu
2.1 Sự phát triển của định nghĩa và cách đo lường hiểu biết tài chính
Từ đầu thập kỷ 90 của thế kỷ trước, các nhà học giả nước ngoài đã bắt đầu tiếp cận tới hiểu biết tài chính như là một vấn đề chính thống cần phải nghiên cứu Những nghiên cứu đó tiếp cận hiểu biết tài chính dưới nhiều thuật ngữ như “ Nhận thức tài chính”, “Kiến thức tài chính”, “Giáo dục tài chính” Mặc dù vậy, nhưng bài nghiên cứu trong khoảng thời gian này đi sâu vào khái niệm hóa “Thế nào là hiểu biết tài chính” và tập trung vào một số cá nhân và đối tượng cụ thể trong xã hội như nhà đầu
tư hay nhà quản trị Trong nghiên cứu của Marriot và Mellett (1996), kết quả cho rằng định nghĩa của Nhận thức tài chính - một cách tiếp cận khác của Hiểu biết tài chính - là ” khả năng của người quản trị dùng để hiểu và phân tích các thông tin tài chính và đưa ra các hành động tương ứng”
Những nghiên cứu và khảo sát về Hiểu biết tài chính chỉ bùng nổ khi Jump$tart Coalition for Personal Financial Literacy thực hiện khảo sát trên 1509 học sinh năm cuối phổ thông bằng cách đo lường các kiến thức về tín dụng, thế, bảo hiểu lạm phát, đầu tư, tiết kiệm (Jump$tart,1998) Nghiên cứu của Jump$tart sau này được đề cập đến rất nhiều trong các nghiên cứu như một nền tảng để giới khoa học bước sang thế kỷ mới với tầm nhìn khác về Hiểu biết tài chính
Đến năm 2009, Hung và ctv trong tác phẩm của mình tổng kết, những tranh luận vẫn diễn ra về vai trò của hiểu biết tài chính, phạm vi mà nó thể hiện và phương thức tốt nhất để có thể định nghĩa nó Và phần đông các cuộc tranh luận này có thể liên quan đến một thực trạng rằng có quá nhiều cách định nghĩa và đo lường hiểu biết tài chính đang còn tồn tại
Chiều cốt lõi của hiểu biết tài chính là kiến thức và hiểu biết tài chính, nhân tố cốt lõi của hiểu biết tài chính là khả năng số học, nhiều khía cạnh khác của hiểu biết tài chính là những định nghĩa nhấn mạnh và đối nghịch với định nghĩa được cung cấp bởi các nghiên cứu của cá nhân và tổ chức (Titko và Lace, 2013)
Ngân hàng Thế giới - World Bank (2013) và Tổ chức Hợp tác và Phát triển Kinh tế - OECD (2014) đã đưa ra các cuộc điều tra với quy mô rộng với mục đích đo lường
Trang 10hiểu biết tài chính của người dân ở các quốc gia đang phát triển Các cuộc điều tra đánh giá hiểu biết, kỹ năng, hành vi, thái độ và quyết định tài chính của người dân Sau đó, các tác giả ước lượng giá trị của các biến phụ thuộc, lấy giá trị đó nhân với
số điểm của mỗi câu trả lời trong từng phần Kết quả khảo sát cho thấy hiểu biết tài chính của người dân đang ở mức độ thấp
Tại Việt Nam, TS Đinh Thị Thanh Vân và TS Lê Trung Thành (2015) là số ít tài liên quan đến hiểu biết tài chính Tác giả xây dựng cơ sở lý thuyết để đo lường hiểu biết tài chính của Việt Nam và nêu ra các kinh nghiệm quốc tế trong việc giải quyết
sự thiếu hiểu biết tài chính
Có thể thấy rằng, trên thế giới vẫn chưa có một khái niệm hay cách đo lường nào được thống nhất và quy chuẩn cho hiểu biết tài chính và vẫn còn tồn tại sự lẫn lộn giữa các quan niệm về hiểu biết tài chính, kiến thức tài chính, khả năng tài chính trong các bài nghiên cứu
2.2 Hiểu biết tài chính dưới góc độ các hộ gia đình
Bắt đầu từ đầu thế kỷ 21, các bài nghiên cứu trong tiếp theo đề cập nhiều hơn đến tầm quan trọng của hiểu biết tài chính và với góc nhìn toàn diện hơn là những cá thể Theo Alan Greens (2002), hiểu biết là một công cụ để kinh tế phát triển, việc tiếp cận được với nhiều thông tin và công cụ tài chính nhiều hơn sẽ giúp những hộ gia đình dưới-chuẩn-thu-nhập có thể trở nên thịnh vượng hơn
Kết luận của Stone và ctv trong tác phẩm năm 2008 cho rằng hiểu biết tài chính có nhiều lợi ích khác nhau Đặc biệt, tác giả cho rằng giáo dục hiểu biết tài chính có thể giảm quan niệm quan trọng hóa vật chất, tăng cường những thái độ tài chính tích cực, tạo ra hạnh phúc và tâm lí khỏe mạnh
Đến năm 2009, Cole và ctv cho rằng lợi ích của tăng cường hiểu biết tài chính tốt có thể rất lớn Ở cấp độ cá các nhân, đối tượng có thể tiết kiệm nhiều hơn, quản trị rủi ro tốt hơn Và thậm chí tăng nhu cầu cho các dịch vụ tài chính bởi các hộ gia đình Bên cạnh đó, hiểu biết tài chính khuyến khích các hộ gia đình có thu nhập trên trung bình vạch ra kế hoạch cá nhân cho việc nghỉ hưu trong tương lai Nhưng mô hình còn chỉ ra rằng hiểu biết tài chính lại không có tác động một cách rõ rệt với các hộ có
Trang 11thu nhập dưới mức trung bình nhưng vẫn đem lại tác động tích cực (Pahnke và Honekamp, 2010) Behrman và ctv (2010) kết luận quan sát đối tượng trưởng thành mang tính đại diện cho thấy hiểu biết tài chính và giáo dục tri thức có mối tương quan cùng chiều với sự giàu có, giảm thiểu gánh nặng hưu trí và kế hoạch nghỉ hưu Nghiên cứu của Klapper và ctv (2011) về một thì trường mới nổi trong giai đoạn khủng hoảng thể hiện rằng hiểu biết tài chính có mối quan hệ mật thiết với sự gia tăng tham gia của cá nhân vào các thị trường tài chính truyền thống nhưng lại quan
hệ nghịch với việc sử dụng nguồn vốn vay phi truyền thống Các cá nhân có hiểu biết tài chính cao hơn có xu hướng giữ lại thu nhập nhiều hơn và ít có xu hướng tiêu dùng
ít Cuối cùng, mối quan hệ giữa hiểu biết tài chính và dòng thu nhập để lại sẽ cao hơn trong thời kì khủng hoảng tài chính Nghiên cứu khuyến nghị rằng hiểu biết tài chính tốt hơn cũng giúp các cá nhân có thể đối mặt với các cú sốc về kinh tế và thu nhập Theo một nghiên cứu tại Mỹ về mối tương quan giữa hiểu biết tài chính và địa lý, tác giả rút ra rằng hiểu biết tài chính khá thấp và hầu hết người Mỹ không quen thuộc với các yếu tố cơ bản để hình thành nên các quyết định tài chính Thứ hai, có một sự
đa dạng đáng chú ý về hiểu biết tài chính giữa các khu vực lãnh thổ, một vài trong số các sự khác biệt đó đến từ nhân chủng học và các đặc tính kinh tế của từng bang, nhưng vẫn chưa thể giải thích được hết sự khác biệt (Bumcrot và ctv, 2011) Nghiên cứu của Carpena và ctv (2011) trên những hộ gia đình có thu nhập thấp ở Ấn Độ tìm
ra rằng việc giáo dục tài chính đem lại tác động giới hạn đến việc tính toán tài chính, đặc biệt là không chỉ ra rằng các khóa đào tại về hiểu biết tài chính không thúc đẩy khả năng tính toán và so sánh, nhưng lại đem lại tác động cho những người tham gia
về nhận thức và thái độ về các sản phẩm tài chính và các công cụ hoạch định được cung cấp
Một cách tổng quát, các nghiên cứu về hiểu biết tài chính chỉ ra rằng việc cải thiện hiểu biết tài chính sẽ đem lại tác động tích cực đến thái độ, quan niệm, và xu hướng
ra quyết định tài chính của hộ gia đình
Trang 122.3 Hiểu biết tài chính dưới góc độ nền kinh tế
Trong 10 năm trở lại đây, đặc biệt là sau cuộc khủng hoảng kinh tế thế giới, quá trình nghiên cứu về hiểu biết tài chính mở ra một trang mới với góc nhìn vĩ mô hơn Các học giả trên toàn thế giới chú trọng hơn vào những lợi ích của Hiểu biết tài chính đem lại tới sự ổn định của nền kinh tế - tài chính
Trong nghiên cứu năm 2007, Brackin tổng kết rằng sự gia tăng trong hiểu biết tài chính ở mức khoảng 10% có thể đóng góp thêm vào GDP của Australia $6 triệu đô mỗi năm và tạo ra hơn 16,000 công việc mới Do vậy, không có cách nào khác ngoài chắc chắn rằng việc hiểu biết hệ thống thuế sẽ hình hành một phần của hiểu biết tài chính
Theo Lusardi (2008), trong môi trường kinh tế hiện hành, việc trang bị cho người tiêu dùng những công cụ cần thiết để đưa ra các quyết định tài chính là rất quan trọng Và một trong các công cụ đó chính là hiểu biết tài chính Nghiên cứu của Guiso và Jappenlli (2008) kết luận, sự thiếu hiểu biết tài chính và yếu tố chính giải thích cho việc thiếu sự đa dạng hóa của danh mục đầu tư Vậy nên cần phải có một chương trình giáo dục dài hạn để cải thiện hiểu biết tài chính của nhà đầu tư để tăng cường khả năng quản trị và đa dạng hóa danh mục của họ Bên cạnh đó, nghiên cứu của Engelbrecht (2008) khẳng định có một mối tương quan rõ ràng giữa giáo dục hiểu biết tài chính và việc cải thiện tình trạng đói nghèo Giáo dục hiểu biết tài chính nên được các nhà hoạt động xã hội sử dụng như một công cụ cải thiện nghèo đói với
sứ mệnh cốt lõi là thúc đẩy sự thay đổi của xã hội với mục đích cải thiện hơn của những người dễ bị tổn thương tài chính Do vậy, các nhà hoạt động xã hội nên liên kết những người dễ bị tổn thương tài và những người giáo dục tài chính trong quá trình giúp họ thoát khỏi đói nghèo Theo Olson (2008), có thể thấy được rằng từ góc nhìn về khủng hoảng nhà đất, vấn đề cốt lõi quan trọng hơn cả đó chính là sự thiếu hiểu biết tài chính Các quan sát và số liệu chứng minh rằng, sự thiếu kiến thức cho vay thực tế đã tạo ra cuộc khủng hoảng tài chính và với một xã hội có hiểu biết tài chính đã có cơ hội nhiều hơn để có thể ngăn chặn được khủng hoảng đạt được phạm
vi như vậy
Trang 13Almenberg và Gerdes (2011) trong nghiên cứu của mình đã làm nổi bật việc cẩn phải
có sự kiểm soát tương ứng với hiểu biết tài chính cơ bản và nâng cao Việc thất bại trong công tác kiểm soát có thể tạo ra thiên hướng thiên vị, đặc biệt là việc có sự thiên vị cấp số nhân trong đưa ra các quyết định tài chính
Có thể thấy rằng, với một phạm vi quan sát rộng hơn, các học giả đã phát hiện ra hiểu biết tài chính đem ảnh hưởng to lớn đến một quốc gia trên nhiều phương diện
từ thuế, đói nghèo, khủng hoảng, quản trị rủi ro đến hiệu ứng bầy đàn của nền kinh tế,…
2.4 Hiểu biết tài chính dưới góc nhìn đa quốc gia
Nghiên cứu của Holzmann (2010) kết luận việc tăng cường giáo dục tài chính là chìa khóa để giảm thiểu sự thiếu hiểu biết và cải thiện kết quả Trong những thập kỉ vừa qua các nước có thu nhập cao chú trọng vào các hoạt động về hiểu biết và giáo dục tài chính với mục đích cung cấp nền tàng phong phú, mặc dù chưa hoàn thiện, để hướng dẫn các nước thu nhập thấp và trung bình trên thế giới Các quá trình này chuyển từ phương diện kiến thức - hiểu biết tài chính sang phương diện hành vi – khả năng tài chính Nhưng các bằng chứng chỉ ra rằng các hoạt động này đang còn giới hạn và chưa thiết thực Do vậy, sự tương tác của các tổ chức nghiên cứu quốc tế trong quá trình thực hiện là cần thiết để kịp thời hướng dẫn và phản hồi đầy đủ Lusardi và Mitchell (2011) thông qua nghiên cứu trên tám quốc gia chỉ ra hiểu biết tài chính là quan trọng trong việc bảo đảm sau nghỉ hưu Đồng thời chỉ ra năm thực trạng còn tồn tại của hiểu biết tài chính trên thế giới Thứ nhất, hiểu biết tài chính đang rất thấp trên toàn thế giới, không tương xứng với sự phát triển của thị trường tài chính và các công cụ hưu trí được cung cấp Có một khoảng cách nhất định về giới tính và lứa tuổi đối với kiến thức về tài chính Hiểu biết tài chính tác động đến kế hoạch nghỉ hưu và không có chiều ngược lại Bên cạnh đó, hiểu biết tài chính không nên chung chung mà nên chú trọng vào các chương trình giúp người dân nhiều nhất Cuối cùng, các chương trình giáo dục tài chính sẽ hiệu quả nhất nếu được phân nhỏ
ra từng nhóm Trong một nghiên cứu khác, nhóm tác giả cũng chỉ ra rằng, sự thiếu hiểu biết tài chính trên phạm vi rộng lớn sẽ khiến cho việc những người tiêu dùng trở
Trang 14nên khó khăn trong việc thích ứng với môi trường tài chính phức tạp Vấn đề này không chỉ gặp phải ở các nước phát triển mà thậm chí còn khó khăn hơn ở các nước có thu nhập thấp và trung bình Cuối cùng, hiểu biết tài chính không chỉ gói gọn trong đảm bảo hưu trí nữa mà thực sự là một phần của sự ổn định nền tài chính toàn cầu
Nicolini và ctv (2013) khảo sát trên bốn quốc gia cho thấy yếu tố địa lý - xã hội không có tác động đồng nhất qua quan sát, nhưng vẫn có giá trị giải thích cao Bên cạnh đó, tiếp cận với các công cụ tài chính có thể làm đóng vai trò quan trọng đối với hiểu biết tài chính
Nghiên cứu của Singh (2014) cho rằng khả năng người tiêu dùng có thể đưa ra quyết định tài chính rất quan trọng trong việc phân bổ nguồn lực tài chính và sự ổn định tài chính Sự thiếu hiểu biết tài chính khiến cho nền tài chính trở nên mỏng manh hơn Hơn thế nữa, sự thiếu hiểu biết tài chính đa phần nằm ở các đối tượng: Phụ nữ, thu nhập thấp, vùng hẻo lánh và người già Hiểu biết tài chính làm tăng nhu cầu cho dịch
vụ ngân hàng những chỉ ở gia đoạn ban đầu
2.5 Hiểu biết tài chính và các khuyến nghị cho các nhà chính sách
Những năm gần đây, các nghiên cứu đã tập trung vào xây dụng chi tiết các kiến nghị dành cho nhà chính sách để có thể lập nên những kế hoạch hành động phù hợp nhằm cải thiện hiểu biết tài chính
Việc cải thiện hiểu biết tài chính nên là ưu tiên số một đối với các nhà hoạch định chính sách do lợi ích tiềm năng của nó Khu vực tư nhân đóng vai trò then chốt trong việc cải thiện hiểu biết tài chính nhưng bên cạnh đó, khu vực công cần cung cấp các thông tin đáng tin cậy theo thời gian thông qua các chiến dịch và website Thứ hai là
nỗ lực để tích hợp những chính sách tiết kiệm hiện hành có thể cải thiện các sáng kiến về hiểu biết tài chính (Gale và Levine, 2011)
Đề tài của Worldbank được thực hiện bởi Xu và Zia (2012) cho rằng để cải thiện giáo dục tài chính cần bắt đầu với các chính sách về nhận thức, theo đó là sử dụng đòn bẩy mạng xã hội và hiệu ứng lan tỏa ngang hàng, phát hiện và tập chung và các nhóm dân cư dễ bị tổn thương, tập trung thu hút các vấn đề được quan tâm, sáng tạo
Trang 15trong hình thức và chuyển tải các chương trình giáo dục, bổ sung thêm các can thiệp
để đạt được mục đích, phát hiện ra các khoảng hụt trong kiến thức, tập trung vào giáo trình được vạch ra, luôn ghi nhớ rằng nữ giới thường gặp khó khăn trong các sự can thiệp, quan tâm đến tính không đồng nhất của các nguồn
2.6 Các mối liên hệ đa dạng của sự phát triển tài chính
Sự phát triển về tài chính là một chủ đề được nhắc đến và thảo luận rất nhiều trong các nghiên cứu trước đây ở trên thế giới và cả Việt Nam Hầu hết các nghiên cứu trước đây đều tập trung vào mối liên hệ giữa sự phát triển của tài chính và sự phát triển kinh tế, sự phát triển của tài chính và thu nhập
Theo Jeremy Greenwood và Boyan Jovanovic (1989), sự tăng trưởng của thu nhập khiến cho cấu trúc tài chính phát triển sâu rộng hơn, sự phát triển kinh tế diễn ra nhanh hơn và sự bất bình đẳng trong thu nhập giữa người giàu và người nghèo được càng được nới rộng
Đến năm 2000, Luigi Guiso và ctv đã kết luận trong đều tài của mình rằng vốn xã hội đóng một vai trò rất quan trọng trong sự phát triển về tài chính tại Ý cũng như là một trong những yếu tố góp phần vào sự thành công của các nước phát triển
Kết luận nghiên cứu của Norman Loayza (2004) nêu ra sự phát triển về tài chính hỗ trợ và thúc đẩy nền kinh tế tăng trưởng, mối quan hệ giữa các trung gian tài chính và
sự phát triển tổng sản lượng là tích cực trong dài hạn nhưng có thể đồng thời tồn tài một cách tiêu cực trong ngắn hạn tại một số quốc gia
Ngoài ra, Trần Anh Tuấn (2008) chỉ ra sự phát triển của triển của tài chính có liên hệ chặt chẽ đối với sự tăng trưởng kinh tế tại Việt Nam
Bên cạnh đó, Guglielmo Maria Caporale và ctv (2009) trong nghiên cứu của mình tìm ra những tính chất chính của các nền kinh tế của 10 thành viên mới của EU là sự kém phát triển của thị trường chứng khoán và và tín dụng cũng như việc thiếu chiều sâu về tài chính
Nghiên cứu của Husam-Aldin N Al-Malkawi (2012) chỉ ra mối quan hệ ngược chiều giữa sự phát triển các lĩnh vực tài chính và sự phát triển kinh tế và nguyên nhân đến
từ cả hai phía
Trang 16Jeremy Greenwood Juan M Sánchez và Cheng Wang trong năm 2013 đã nghiên cứu
và kết luận chỉ có 31% sự khác biệt giữa sản lượng GDP thực tế và GDP tiềm năng được giải thích bằng sự khác biệt trong năng suất của những lĩnh vực phi tài chính Đến năm 2014, Mahyar Hami và Mahmood Yahyazadehfar nêu ra sự phát triển của tài chính có tác động tích cực đáng kể đến nguồn nhân lực ở Iran trong giai đoạn nghiên cứu (1% tăng trưởng về tài chính dẫn đến 0.11% tăng trưởng trong nguồn nhân lực Bên cạnh đó, nghiên cứu của Garba Salisu Balago chỉ ra vốn hóa thị trường, tín dụng ngân hàng cũng như đầu tư trực tiếp nước ngoài vào lĩnh vực tài chính sẽ tác động đáng kể trên tổng sản phẩm sản trong nước
Trong những nghiên cứu trước đây đã được tổng hợp, cũng có những nghiên cứu đề cập đến khía cạnh về phát triển tài chính và những tác động của nó đến những khía cạnh về con người trong nền kinh tế như nguồn nhân lực Nhưng những bài nghiên cứu chỉ ra sự tác động của sự phát triển tài chính dẫn đến tác động tới hiểu biết về tài chính của người dân gần như chưa có và chưa được khai thác
3 Mục đích nghiên cứu
Đề tài nghiên cứu “Ảnh hưởng của sự phát triển tài chính đến hiểu biết tài chính: Trường hợp các quốc gia Châu Á – Thái Bình Dương” hệ thống hóa lí luận và thực tiễn của Hiểu biết tài chính từ 1995 đến nay
Bên cạnh đó, đề tài nghiên cứu đánh giá tác động của sự phát triển tài chính tại các quốc gia châu Á Thái Bình Dương đến sự hiểu biết về tài chính của công dân khu vực bằng cách chạy mô hình định lượng các số liệu bảng hỏi sưu tầm của World Bank và Mastercard
Trên cơ sở các kết quả thu được từ quá trình tổng hợp và chạy mô hình, đề tài sẽ đưa
ra đánh giá về những yếu tố tác động nhiều nhất đến sự hiểu biết tài chính của người dân và từ đó đưa ra những khuyến nghị cho Việt Nam về việc cải thiện những yếu tố quan trọng nhằm nâng cao hiểu biết tài chính một cách hiệu quả và phù hợp
Trang 174 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đề tài tập trung phân tích tác động của sự phát triển hệ thống tài chính tại các quốc gia châu Á Thái Bình Dương gồm Úc, Trung Quốc, Ai Cập, Hồng Kong, Ấn Độ, Indonesia, Nhật Bản, Hàn Quốc, Kuwait, Lebanon, Malaysia, New Zealand, Oman, Philippines, Qatar, Saudi Arab, Singapore, Thái Lan, Các tiểu vương quốc Arap thống nhất, Việt Nam đến hiểu biết tài chính của người dân tại các quốc gia đó Khung thời gian sử dụng trong nghiên cứu với số liệu và các sự kiện trong giai đoạn 2010-2013
Đề tài tập trung đánh giá tác động của sự phát triển của hệ thống tài chính đến sự hiểu biết tài chính dựa trên số liệu được thu thập từ Ngân hàng Thế giới và Mastercard
5 Câu hỏi và giả thuyết nghiên cứu
Trong đề tài của mình, tác giả sẽ tập trung trả lời những câu hỏi câu hỏi:
- Q1: Sự phát triển của tài chính châu Á – Thái Bình Dương có tác động đến hiểu biết tài chính khu vực hay không?
Sự phát triển của hệ thống tài chính châu Á – Thái Bình Dương có tác động đến hiểu biết tài chính trong khu vực, các yếu tố đều có tác động cả tích cực và tiêu cực đến hiểu biết tài chính
- Q2:Những chính sách thúc đẩy hiểu biết tài chính của Việt Nam đã đem lại hiệu quả chưa?
Tác giả cho rằng hiện tại Việt Nam vẫn chưa có biện pháp rõ rệt nào để cải thiện hiểu biết tài chính và chưa đem lại hiệu quả Bên cạnh đó
- Q3: Việt Nam phải làm gì để cải thiện hiểu biết tài chính?
Trong định hướng mới, Việt Nam trong giai đoạn tới sẽ tăng cường nâng cao hiểu biết tài chính của người dân thong qua giáo dục Đồng thời, Việt Nam có thể gián tiếp sử dụng các yếu tố của hệ thống tài chính để tăng cường hiểu biết tài chính của người dân
Trang 186 Cấu trúc của bài nghiên cứu:
Chương 1 sẽ tập trung trình bày những lý thuyết tổng quan về tài chính, phát triển tài chính và hiểu biết tài chính Bên cạnh đó cũng khái quát lại tình hình nghiên cứu về hiểu biết tài chính tại các nước trên thế giới
Chương 2 trình bày những thực trạng về hiểu biết tài chính tại Việt Nam cũng như các quốc gia Châu Á – Thái Bình Dương
Chương 3 phân tích kết quả và đưa ra một số kết luận từ kết quả ước lượng của mô hình
Chương 4 dựa trên kết quả mô hình để đưa ra những kiến nghị cho Việt Nam để cải thiện hiểu biết tài chính
7 Những đóng góp của tổng quan tài liệu cho đề tài
Sau khi tổng hợp tài liệu từ 1995 đến 2016, tác giả cho rằng các nghiên cứu trước tuy chưa đủ đa dạng nhưng đã vạch ra tầm quan trọng của hiểu biết tài chính đối với nền kinh tế nói chung và các cá nhân nói riêng trong việc đưa ra các quyết định tài chính
Có thể nói, thiếu hiểu biết tài chính là nguyên nhân của cuộc khủng hoảng kinh tế mà xuất phát từ sự thiếu kiến thức phục vụ cho việc ra quyết định trong lĩnh vực bất động sản Chỉ có việc tăng cường hiểu biết tài chính mới giúp củng cố khả năng của người tiêu dùng trong việc sử dụng các công cụ tài chính hay đa dạng hóa danh mục đầu tư của mình Bên cạnh đó, sự cải thiện hiểu biết tài chính sẽ đem lại sự đảm bảo cho kế hoạch hưu trí cho từng cá nhân khi mà người tiêu dùng sẽ hình thành cho mình khả năng thích ứng và chuẩn bị kế hoạch cho tương lai dài hạn Hiểu biết tài chính chính là công cụ hữu hiệu để thu hẹp khoảng cách giàu nghèo và giúp các hộ gia đình thu nhập dưới chuẩn có thể trở nên thịnh vượng hơn Các chính phủ và tổ chức quốc tế cần phải hợp tác với nhau để có thể tháo gỡ khó khăn và rào cản trong việc giáo dục hiểu biết tài chính, đưa hiểu biết tài chính vào thực tiễn
Hơn thế nữa, nghiên cứu đi trước đã nêu ra một mối quan hệ mật thiết giữa hiểu biết tài chính và sự phát triển và ổn định của nền tài chính Nếu người dân có hiểu biết tài chính, cuộc khủng hoảng kinh tế thế giới đã có thể không đạt đến phạm vi rộng lớn đến vậy Mối liên hệ giữa tài chính nói chung và hiểu biết tài chính là nền tảng căn
Trang 19bản và hữu ích để sinh viên nghiên cứu có thể phát triển nghiên cứu về sự phát triển của hệ thông tài chính tới hiểu biết tài chính trên góc độ châu Á - Thái Bình Dương Ngoài ra, các nghiên cứu trước đã gợi mở ra các phương án tăng cường hiểu biết tài chính của người dân như đem giáo dục hiểu biết tài chính vào thực tiễn để thay đổi thực tiễn, sự dụng các hiệu ứng lan tỏa qua các phương tiện truyền thông Đây là cơ
sở để tác giả và đưa ra các khuyến nghị dành cho chính phủ Việt Nam
8 Những điểm mới của đề tài
Mặc dù các nghiên cứu trước đã chỉ ra sự tác động tích cực của việc gia tăng hiểu biết tài chính đem lại giá trị quan trọng cho nền tài chính nhưng chưa có một nghiên cứu nào kiểm định sự tác động ngược lại của sự phát triển của hệ thống tài chính đối với hiểu biết tài chính Tác giả hy vọng đề tài sẽ mang tới một cách tiếp cận mới trong việc cải thiện hiểu biết tài chính thông qua các yếu tố của hệ thống tài chính Bằng việc kết hợp cả giáo dục hiểu biết tài chính và các yếu tố thực tế trong nền tài chính, việc tăng cường hiểu biết tài chính sẽ có thể trở nên hiệu quả hơn và thực tế hơn
Đề tài sẽ góp vào trong tổng quan nghiên cứu thế giới một góc nhìn mới rộng và mới hơn về sự tác động của sự phát triển của hệ thống tài chính tới hiểu biết tài chính và,
cụ thể là trong trường hợp của châu Á – Thái Bình Dương, nơi có nền kinh tế sôi động và dân số đông nhất thế giới Đã có một số nghiên cứu quan tâm hơn tới hiểu biết tài chính dưới góc độ đa quốc gia nhưng chỉ trên phương diện thực trạng và chưa xét đến mối tác động qua lại trên quy mô của một châu lục Với quy mô tới 20 quốc gia và vùng lãnh thổ, đề tài nghiên cứu hứa hẹn sẽ đem lại kết luận có thể ứng dụng
và phát triển áp dụng trên nhiều nước, đặc biệt là Việt Nam
Với Việt Nam, đề tài là một trong những nghiên cứu đầu tiên về hiểu biết tài chính
Có thể thấy rằng, việc xếp hạng hiểu biết tài chính Việt Nam thấp trong khu vực là một vấn đề đáng lo ngại Trong quá trình hội nhập của mình, người dân Việt Nam cần phải có nền tảng về hiểu biết tài chính để có thể phong phú hơn các lựa chọn ra quyết định tài chính của mình Các kết quả thu nhận được từ nghiên cứu sẽ đem lại nền tảng để chính phủ có thể đưa ra các chính sách hợp lí nhằm tăng cường hiểu biết tài chính để không chỉ bắt kịp với thế giới mà đồng thời đảm bảo sự ổn định cho nền kinh tế - tài chính
Trang 20NỘI DUNG
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ THUYẾT
Với chương cơ sở lý thuyết, bài viết sẽ nêu ra cách tiếp cận của tác giả đối với các vấn đề liên quan đến đề tài Các khái niệm được đưa ra dựa trên quá trình tìm hiểu kĩ càng của sinh viên nghiên cứu về đối tượng nghiên cứu và lựa chọn ra những cơ sở
lý thuyết hợp lý Những cơ sở đó sẽ giúp cho tác giả có góc tiếp cận chính xác nhất đối với các hiện tượng được nghiên cứu
1 Những vấn đề chung
Trước khi tiếp cận vấn đề cần nghiên cứu, phần những vấn đề chung sẽ đưa ra góc nhìn của tác giả về các lĩnh vực tổng quát, bao hàm hiểu biết tài chính và phát triển tài chính
1.1 Tài chính
Trước hết, để có thể hiểu được khái niệm về hiểu biết tài chính và sự phát triển của
hệ thống tài chính, phải định nghĩa rõ ràng được khái niệm tài chính
Một cách khái quát, tài chính là hiện tượng đặc trưng bằng sự vận động độc lập tương đối của tiền tệ với chức năng phương tiện thanh toán và phương tiện cất trữ trong quá trình tạo lập hay sử dụng các quỹ tiền tệ đại diện cho những sức mua nhất định ở các chủ thể kinh tế – xã hội Tài chính phản ánh tổng hợp các mối quan hệ kinh tế trong phân phối các nguồn lực tài chính thông qua tạo lập hay sử dụng các quỹ tiền tệ nhằm đáp ứng yêu cầu tích luỹ hay tiêu dùng của các chủ thể (pháp nhân hay thể nhân) trong xã hội ( Giáo trình Tài chính học, NXB Tài chính 1997, tr 12.)
Có thể hiểu một cách đơn giản hơn, tài chính thể hiện ra là sự vận động của vốn tiền
tệ, diễn ra ở mọi chủ thể trong xã hội Nó phản ánh tổng hợp các mối quan hệ kinh tế nảy sinh trong phân phối các nguồn tài chính thông qua việc tạo lập hoặc sử dụng các quỹ tiền tệ nhằm đáp ứng các nhu cầu khác nhau của các chủ thể trong xã hội
Trang 211.2 Tài chính cá nhân
Đề cập đến hiểu biết tài chính không thể không nhắc tới tài chính cá nhân Tài chính
cá nhân là một phạm trù rộng hơn bao hàm hiểu biết tài chính Tài chính cá nhân là ứng dụng những nguyên tắc tài chính vào những quyết định về tiền bạc của một cá thể hoặc một gia đình Nó chỉ ra phương thức để những cá thể/ gia đình đó hoạch định ngân sách, tiết kiệm, kiếm tiền và tiêu tiền theo thời gian, có tính toán đến những rủi ro về tài chính và những kế hoạch trong cuộc sống tương lai Nói nôm na
là những hoạt động có liên quan đến tiền của bạn để giúp cá thể/ gia đình đạt được các mục tiêu mong ước tương lai Kế hoạch tài chính cá nhân tuỳ thuộc vào mục tiêu mỗi người, đặc biệt liên quan đến tuổi tác Tài chính cá nhân cũng có thể hiểu là việc quản lý, chi tiêu, sử dụng tiền bạc và của cải của cá thể hoặc hộ gia đình với các kế hoạch tương lai và một mức độ rủi ro đã lường trước
2 Hiểu biết tài chính
Hiểu biết tài chính đã được tiếp cân từ lâu và trên nhiều khía cạnh Mặc dù vậy, định nghĩa về vấn đề này vẫn đang còn là vấn đề tranh luận giữa các học giả
Dưới đây là bảng tổng hợp các định nghĩa được thu thập từ năm 2000
Bảng 1.1: Tổng hợp các định nghĩa được thu thập từ năm 2000
Hilgert, Hogarth, &
Beverley (2003)
Nhận thức tài chính
Finra (2003) Sự hiểu biết mà các nhà đầu tư thông thường có về
những nguyên tắc thị trường, các công cụ, tổ chức và luật lệ
Moore (2003) Các nhân được coi như có hiểu biết tài chính nếu họ có
năng lực và có thể chứng minh họ đã sử dụng kiến thức được học Hiểu biết tài chính không thể được đo lường một cách trực tiếp nên phải sử dụng các công cụ làm đại diện Hiểu biết này được thu nhận thông qua kinh nghiệm thực tế và phối hợp chủ động các kiến thức có
Trang 22được Khi các cá nhân trở nên hiểu biết hơn, hơn có kĩ năng tài chính tinh vi hơn, có nghĩa là một cá nhân đã trở nên thành thạo
National Council on
Economic Education
(NCEE) (2005)
Quen thuộc với các nguyên tắc kinh tế, kiến thức cơ bản
về nền kinh tế Mĩ, và hiểu về các thuật ngữ kinh tế cốt lõi
Mandell (2007) Có khả năng để đánh giá thông tin và các công cụ tài
chính phức tạp, đưa ra các đánh giá ở cả hai phương diện lựa chọn công cụ và cách sử dụng đem lại lợi ích lâu dài cao nhất
Lusardi and Mitchell
ANZ Bank (2008), drawn
from Schagen (2007)
Khả năng để đưa ra các đánh giá thông tin và đưa ra các quyết định hiệu quả dựa trên việc sử dụng và quản lý ngân quỹ
Lusardi (2008a, 2008b) Kiến thức về các khái niệm tài chính cơ bản như làm
việc với lãi gộp sự khác nhau giữa giá trị danh nghĩa và giá trị thực, và nhiều điều cơ bản về đa dạng hóa rủi ro OECD (2012) Là sự kết hợp của nhận thức, kiến thức, kỹ năng, thái độ
và hành vi cần thiết để đưa ra các quyết định tài chính hiệu quả và đạt được mức độ cao về hiểu biết tài chính
cá nhân
(nguồn Hung và ctv, 2009 và tổng hợp của tác giả)
Trang 23Có thể thấy rằng, sự đa dạng trong định nghĩa của hiểu biết tài chính bắt nguồn từ các góc nhìn khác của các học giả về hiểu biết tài chính
Thông qua tổng hợp các nghiên cứu có trong tổng quan, tác giả rút ra định nghĩa phù hợp nhất cho bài nghiên cứu: Hiểu biết tài chính là hiểu biết về các khái niệm tài chính, khả năng quản trị tài chính cá nhân, kĩ năng để đưa ra các quyết định tài chính thích hợp, việc lập kế hoạch hiệu quả cho nhu cầu tài chính tương lai, và đưa ra các quyết định đầu tư
3 Phát triển tài chính
Theo Noureen Adnan thì sự phát triển tài chính được định nghĩa là các chính sách, các yếu tố và các tổ chức dẫn đến sự hiệu quả của các trung gian tài chính và sự hiệu quả của thị trường tài chính
Còn theo nghiên cứu World Bank của Martin Čihák, Asli Demirgüč-Kunt, Erik Feyen, Ross Levine (2013) thì sự phát triển tài chính được định nghĩa là sự cải thiện
về chất lượng của 5 yếu tố tài chính sau:
1 Sự xây dựng và xử lý thông tin về những khả năng đầu tư và phân bổ nguồn vốn dựa trên các mức đánh giá
2 Sự giám sát các cá nhân, doanh nghiệp và sự quản trị doanh nghiệp sau khi đã phân bổ nguồn vốn
3 Sự thuận lợi cho việc kinh doanh, đa dạng hóa và quản lý rủi ro
4 Huy động và tổng hợp nguồn tiết kiệm
5 Sự dễ dàng trong việc trao đổi hàng hóa, dịch vụ và các công cụ tài chính
Từ các khái niệm được tổng hợp, định nghĩa về sự phát triển tài chính được sử dụng trong bài nghiên cứu là sự tăng cường hiệu quả của thị trường tài chính, trung gian tài chính và sự cải thiện về dịch vụ và các công cụ tài chính của các định chế tài chính
Trang 24CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG HIỂU BIẾT TÀI CHÍNH Ở CHÂU Á GIAI ĐOẠN 2010 ĐẾN 2015
Chương thực trạng sẽ cập nhật một cách toàn diện về tình hình hiểu biết tài chính của các quốc gia Châu Á từ đó tác giả có thể phát hiện ra điểm chung cũng như điểm khác biết về tình hình hiểu biết tài chính giữa các quốc gia Từ cơ sở đó, tác giả có thể đưa ra các đánh giá cũng như căn cứ cho mô hình
1 Thực trạng chỉ số hiểu biết tài chính
Trong báo cáo về chỉ số hiểu biết 2015, số liệu của Mastercard đã cho thấy xu hướng giảm trong tình hình hiểu biết tài chính chung của châu Á khi từ năm 2010 đến 2015 Qua 6 năm, bình quân chỉ số hiểu biết tài chính giảm 1.3666 điểm Trong đó Thái Lan (-7 điểm), Singapore (-5 điểm) và Nhật (-5 điểm) và là 3 nước có sự sụt giảm mạnh nhất
Biểu đồ 2.1: Bình quân chỉ số hiểu biết tài chính và các quốc gia có sự sụt giảm
01020304050607080
Trang 25Biều đồ 2.2: Hiểu biết tài chính của Đài Loan và Trung Quốc từ 2010 đến 2015
(nguồn Mastercard 2010-2015)
Bảng 2.1: Xếp hạng chỉ số hiểu biết tài chính trong khu vực Châu Á năm 2015
Xếp hạng Quốc gia và vùng lãnh thổ Chỉ số hiểu biết tài chính năm 2015
Trang 26Bên cạnh đó, trong báo cáo của Mastercard (2015) còn chỉ ra một số tồn tại qua các
số liệu thu thập được Trung Quốc trong 2015 đứng đầu trong chỉ số Đầu tư nhưng nằm trong nhóm thấp nhất trong Quản trị tiền cơ bản Đa phần người dân châu Á biết cách Quản lý ngân quỹ và Tiết kiệm thường xuyên Mặc dù vậy, hiểu biết về Nhu cầu hư trí vẫn còn thấp ở cả nước đã và đang phát triển Bên cạnh đó hiểu biết về rủi
ro trong đầu tư còn thấp ở các nước trong khu vực Đặc biệt là thuật ngữ “Lạm phát”
và “Đa dạng hóa tài sản” còn được hiểu không chính xác, đặc biệt là ở các quốc gia đang phát triển
Báo cáo của Mastercard (2015) còn chỉ ra rằng khoảng cách giới tính trong hiểu biết tài chính ở các quốc gia phát triển lớn hơn ở các quốc gia đang phát triển Khoảng cách này là lớn nhất ở Hàn Quốc, theo sau đó là Hong Kong
Về mặt tuổi tác, những quan sát dưới 30 tuổi tỏ ra ít hiểu biết tài chính hơn ở tất cả các thị trường Bên cạnh đó, những người đang đi làm có hiểu biết tài chính cao hơn hẳn so với những người chưa đi làm ở các nước trừ Ấn Độ
Nhìn chung, có thể thấy được rằng sự phát triển của hệ thống tài chính không thực sự tương đồng với trình độ hiểu biết tài chính của người dân
2 Chính sách và chương trình giáo dục hiểu biết tài chính ở các quốc gia
Theo Ngân hàng Phát triển Châu Á (ADB), vẫn còn có rất nhiều khoảng cách trong chính sách ở Châu Á trong lĩnh vực hiểu biết tài chính và giáo dục tài chính Ở Châu
Á, chỉ có Ấn Độ, Indonesia và Nhật Bản là đang có các chương trình hành động quốc gia về giáo dục tài chính
Trang 27Bảng 2.2 Chiến lược và chương trình cho giáo dục hiểu biết tài chính ở Châu Á
Những chương trình, chiến lược của các tổ chức khác Trung
Hoa
Trang Web về giáo dục tài chính
Yêu cầu các định chế tài chính cung cấp khách hàng các kiến thức tài chính cơ bản
Tiêu chuẩn hóa tài liệu cho hiểu biết tài chính (2013)
Chương trình BI:
Giáo dục tài chính
“Let’s go to the bank”
Chương trình OJK Chiến lược quốc gia về Hiểu biết tài chính
Trang 28Theo ADB, hầu hết chương trình giáo dục về hiểu biết tài chính ở Châu Á có xu hướng nhỏ và nhắm vào một số nhóm nhất định thay vì toàn bộ dân số Chỉ có Nhật Bản thực sự đưa giáo dục tài chính vào giáo trình giảng dạy trong lớp học, nhưng chương trình của Nhật đối diện với nhiều vấn đề như thiếu giáo viên có kinh nghiệm, không đủ thời gian hay thiếu động lực từ sinh viên
Kinh nghiệm của các quốc gia châu Á trong lĩnh vực giáo dục tài chính vẫn còn giới hạn, nhưng vẫn có những lợi ích tiềm năng để có thể tăng cường nhờ các nỗ lực về chính sách
Trang 29CHƯƠNG 3: THỰC TRẠNG HIỀU BIẾT TÀI CHÍNH Ở VIỆT NAM
Bảng 3.1: Xếp hạng Việt Nam trong các nước được khảo sát ở Châu Á về chỉ số
hiểu biết tài chính năm 2015
Xếp hạng Việt Nam trong các nước được khảo sát ở
Châu Á
Lập kế hoạc tài chính không chỉ cho người giàu 1
(nguồn thống kê của tác giả)
Trang 30Qua báo cáo của Mastercard, có thể thấy Việt Nam có chỉ số khả quan ở lĩnh vực lập
kế hoạch tài chính khi xếp thứ 2 trong khu vực, đặc biệt nhận thức được Lập kế hoạch tài chính không chỉ cho người giàu Bên cạnh đó, có thể thấy trong các mục như Tiết kiệm cho chi tiêu lớn, Tiết kiệm thường xuyên, Nhu cầu hư trí của các quan sát ở Việt Nam đều có thứ hạng cao Điều này chứng tỏ người dân có xu hướng giữ lại nhiều thu nhập hơn để dành cho các kế hoạch tương lai Mặc dù vậy, Việt Nam được xếp thứ hạng thấp ở khoản mục Đầu tư khi gặp khó khăn trong việc xác định khái niệm về đa dạng hóa và lạm phát Đặc biệt là Khả năng lên ngân quỹ và Cho vay không đảm bảo được xếp hạng rất thấp
Theo báo cáo của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam, hiểu biết tài chính ở Việt Nam không tương ứng với nhu cầu về các dịch vụ tài chính của người tiêu dùng cá nhân
và tổ chức Ngoài ra, có một mối liên hệ mật thiết giữa hiểu biết tài chính cá nhân và
sự tiếp cân tới các công cụ tài chính truyền thống
2 Góc nhìn tới các vấn đề còn tồn tại
Có thể thấy rằng báo cáo đã thể hiện cho sự thiếu tự tin của người tiêu dùng Việt Nam về nền kinh tế nói chung và hư trí nói riêng khi dành một phần không nhỏ trong thu nhập của mình để tiết kiệm Bên cạnh đó, các số liệu Quản trị tiền của người dân Việt Nam nằm ở nhóm trung bình thấp trong khu vực cũng là một điều đáng lo ngại Điều này thể hiện cho việc thiếu cân đối trong chi tiêu hàng ngày và chưa có một kế hoạch chi tiêu cụ thể Cuối cùng, có thẻ thấy số liệu về Đầu tư nằm được xếp hạng rất thấp trong khu vực là dấu hiệu thiếu hiểu biết tài chính rõ rệt của người dân Việt Nam Ngoài ra, số liệu còn phản ánh việc người dân còn chưa làm chủ được các khái niệm đơn giản như lạm phát, rủi ro, các công cụ đầu tư Điều này phản ánh một thực trạng phổ biến ở Việt Nam là đa phần người dân đều giữ tiền trong Ngân hàng, thay
vì đem đi phân bổ vào các công cụ khác nhau hay vào thị trường chứng khoán
Trang 313 Các chính sách và chương trình hành động tăng cường hiểu biết tài chính của Việt Nam
Báo cáo của Ngân hàng Nhà nước cho biết, hầu hết các doanh nghiệp vừa và nhỏ và các hộ gia đình (đặc biệt là gia đinh nghèo và thu nhập thấp) không được tiếp cận với giáo dục tài chính một cách đúng mức mà chỉ dành cho một vài bộ phận học sinh sinh viên Hiện tại không có một chương trình quốc gia hoặc chính sách nào cho giáo dục về hiểu biết tài chính mà chỉ có một vài chương trình của các tổ chức đơn lẻ dành cho người tiêu dùng, người đi vay hoặc học sinh sinh viên Trong số đó có các chương trình của Ngân hàng Chính sách Việt Nam bắt đầu từ 2007 bởi Citi Foundation, HSBC Việt Nam trong năm 2012
Do vậy, chương trình phổ cập kiến thức tài chính của Việt Nam vẫn còn gặp nhiều khó khắn như vẫn còn nhỏ và chỉ giới hạn, có khinh hướng nghiêng về lợi ích của tổ chức đào tạo, chưa có tính liên tục cũng như chưa có một tiến trình cụ thể nào
Ngoài ra, còn tồn tại rất nhiều thách thức cho các chương trình giáo dục hiểu biết tài chính quốc gia như cần phải tuân thủ theo pháp luật, đặc biệt là cần sự vào cuộc của tất cả các tổ chức liên quan Việc tạo ra một chiến lược giáo duc quốc gia với hai mục tiêu: Bảo vệ người sử dụng dịch vụ tài chính và cải thiệ hiển biết tài chính Bên cạnh đó, cần phải có một cơ chế điều phối, giám sát cho chương trình, phải có một tổ chức kiểm soát
Ngân hàng Nhà nước cũng vạch ra một số tiêu chí cần thiết để cải thiện hiểu biết tài chính bao gồm: Cung cấp các hướng dẫn và các chuẩn mực cho một số tổ chức và thúc đẩy thực tế, cần thiết phải đáp ứng và cung cấp cho diện rộng và vì lợi ích chung Ngân hàng Nhà nước cũng chỉ ra rằng cẩn phải có một chương trình liên tục
và theo chiến lược quốc gia, thúc đẩy nhiều bên tham gia cũng như phát triển kế hoạch hành động trong dài hạn
Chương trình giáo dục quốc gia được đặt ra gồm có hai giai đoạn
Giai đoạn 1: Giáo dục cho người nghèo, thu nhập thấp, phụ nữ ở vùng sâu vùng xa
và các doanh nghiệp vừa và nhỏ
- Được cụ thể hóa bởi tổ chức nhà nước
- Phát triển chương trình giáo dục quốc gia
Trang 32- Phát triển các chuẩn mực cơ bản và các chương trình đào tạo cụ thể
- Phát triển nguồn nhân lực và vật lực cho giáo dục tài chính
- Khuyến nghị cho các cơ quan chính phủ khác để có thể cùng tham gia
Giai đoạn 2: Giáo dục chung cho toàn bộ người dân thông qua hệ thống giáo dục
chính thống
- Kết hợp giáo dục hiểu biết tài chính như một môn học chính thống cho các bậc học
- Lập ra một trung tâm hỗ trợ cho nhu cầu đa dạng của người dân
- Bắt buộc đào tạo cho các khách hàng ở ngân hàng, các công ty tài chính, tổ chức tài chính
Trang 33CHƯƠNG 4: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU DỮ LIỆU
Từ các cở sở lập luận đã trình bày và số liệu thu thập được, tác giả thiết kế nghiên cứu và xây dựng mô hình đánh giá tác động của phát triển tài chính đến hiểu biết tài chính ở các quốc gia châu Á – Thái Bình Dương nhằm trả lời cho câu hỏi nghiên cứu của đề tài
1 Thiết kế nghiên cứu
- Nghiên cứu sơ bộ bao gồm tìm hiểu tài liệu và xác định mối liên hệ giữa các yêu tố tài chính đối với hiểu biết tài chính
- Nghiên cứu chính thức bao gồm thu thập tài liệu từ các nguồn khác nhau, so sánh tính liên quan tới đề tài và chọn số liệu phù hợp để sử dụng
- Xử lí số liệu bao gồm các bước lập mô hình, chạy mô hình, phát hiện các khuyết tật, nhận xét mô hình
- Báo cáo và lập báo cáo
1.1 Tổng quan về phương pháp và mô hình nghiên cứu
Nghiên cứu sử dụng phương pháp nghiên cứu định lượng với dữ liệu mảng ( Panel data) để phân tích các yếu tố phát triển tài chính ảnh hưởng đến chỉ số hiểu biết tài chính của các quốc gia Châu Á – Thái Bình Dương
Dữ liệu mảng là mẫu dữ liệu mà ở đó sự thay đổi hành vi của các thực thể được quan sát qua thời gian Các thực thể ở đây có thể là các công ty, các cá nhân hoặc các quốc gia Dữ liệu mảng cho phép người nghiên cứu kiểm soát các biến không thể quan sát hay đo lường hoăc những biến thay đổi qua thời gian những không thay đổi giữa các thực thể Với đề tài nghiên cứu, dư liệu mảng được sử dụng để quan sát sự thay đổi của hiểu biết tài chính và phát triển tài chính ở các nước qua thời gian
Để phân tích dữ liệu mảng có hai kĩ thuật đó là mô hình nhân tố tác động cố định ( Fixed Effects Model - FEM) và mô hình nhân tố tác động ngẫu nhiên ( Random Effects Model – REM)
Mô hình nhân tố tác động cố định (FEM) được sử dụng khi nghiên cứu chỉ tập trung vào phân tích ảnh hưởng của các biến thay đổi theo thời gian FEM sẽ tìm hiểu mối
Trang 34liên hệ giữa biến phụ thuộc và biến độc lập trong một thực thể Mỗi thực thể có các tính chất riêng có hoặc không ảnh hưởng tới biến độc lập Khi sử dụng FEM, nghiên cứu sẽ giả định rằng có một yếu tố nào đó giữa các cá thể có thể ảnh hưởng hoặc làm thiên vị biến phụ thuộc và biến độc lập
Khác với mô hình FEM, mô hình REM giả định sự khác biệt giữa các thực thể là ngẫu nhiên và không liên quan đến các biến trong mô hình Mô hình REM nên được
sử dụng khi sự khác biệt giữa các thực thể có ảnh hưởng đến biến phụ thuộc
Để có thể quyết định xem nên sử dụng mô hình nào để phân tích dữ liệu mảng, nhà nghiên cứu có thể sử dụng kiểm định Hausman để kiểm tra xem có hay không sai số
dị thường có tương quan đến biến hồi quy độc lập
1.2 Xây dựng thang đo trong mô hình định lượng
1.2.1 Đo lường hiểu biết tài chính
Từ trước đến nay, đã có rất nhiều cuộc khảo sát về mức độ hiểu biết tài chính được tiếng hành bằng những phương pháp khác nhau, trong năm 1996 cho đến 2014 đã có nhiều nhà nghiên cứu đưa ra những phương pháp đánh giá khả thi và thực hiện khảo sát Điển hình là những phương pháp được sử dụng sau được ghi lại:
Trang 35Bảng 4.1: Tổng hợp các cách đo lường hiểu biết tài chính trong các nghiên cứu
khoa học trước đây
tự hiệu quả Các câu hỏi đã được trả lời trên 5 điểm thang Likert từ 1) hầu như không bao giờ đến 5) hầu như luôn luôn
Tennyson và
Nguyễn (2001)
Bảng hỏi $tart với khoảng 50 câu hỏi với 31 là cốt lõi câu hỏi
về tài chính Có bốn lĩnh vực chính của bảo hiểm: (1) thu nhập, (2) quản lý tiền bạc, (3) tiết kiệm và đầu tư, và (4) chi tiêu và tín dụng
Hilgert, Hogarth,
và Beverly (2003)
Đúng/Sai câu hỏi mà là một phần của các cuộc khảo sát người tiêu dùng Các chủ đề bao gồm quản lý dòng tiền, quản lý tín dụng nói chung, tiết kiệm, đầu tư, thế chấp, và chủ đề tài chính-quản lý khác
Hira và Loibl
(2005)
4 câu hỏi đánh giá về 5 mục quy mô khác nhau, từ rất không đồng ý = 1 để rất đồng ý = 5 Các câu hỏi bao gồm: (1) Tôi có một kế hoạch rất rõ ràng về nhu cầu tài chính của tôi trong thời gian nghỉ hưu, (2) Tôi có một sự hiểu biết tốt hơn bây giờ để làm thế nào để đầu tư tiền của tôi hơn tôi đã làm cách đây sáu tháng, (3) Tôi cảm thấy thông tin nhiều hơn để cung cấp cho tương lai tài chính của tôi hơn tôi đã làm cách đây sáu tháng,
và (4) tôi có một sự hiểu biết tốt hơn bây giờ làm thế nào để quản lý sử dụng tín dụng của tôi hơn tôi đã làm cách đây sáu tháng
Varcoe et al
(2005)
Bài kiểm tra trước và sau sử dụng 19 câu hỏi đúng sai đánh giá kiến thức