1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Nghiên cứu khoa học ( Bán)

87 16 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 87
Dung lượng 2,06 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

XKLĐ đãtrở thành một hoạt động kinh tế quan trọng trong nhiều thập kỷ qua và còn có vai trò lớn tronghiện tại cũng như trong tương lai.Chính vì vậy, nhóm tác giả đã chọn và nghiên cứu đề

Trang 3

Lời cam đoan

Tôi xin cam đoan đây là báo cáo nghiên cứu khoa học do nhómnghiên cứu thực hiện Các kết quả nghiên cứu trong báo cáo làtrung thực, đảm bảo độ tin cậy

Xác nhận của giảng viên hướng dẫn Nhóm sinh viên nghiên cứu

Trang 4

Để thực hiện và hoàn thành đề tài nghiên cứu khoa học này, nhóm nghiên của chúng

em đã nhận được sự trợ, trợ giúp và sự quan tâm động viên quý thầy cô phía phòng Nghiêncứu Khoa Học Đề tài này được hoàn thành trên sự tham khảo, học hỏi kinh nghiệm từ các kếtquả nghiên cứu liên quan, các nguồn thông tin tài liệu chính thống, sách báo chuyên khảo vàcác tổ chức nghiên cứu, tổ chức chính trị - xã hội Cùng với sự động viên của nhiều thầy côgiảng viên trong Học viện Tòa án

Chúng em xin gửi lời cảm ơn chân thành nhất đến TS Nguyễn Thanh Hải, người đãtrực tiếp hướng dẫn, giúp đỡ tận tình, nhiệt huyết và truyền đạt những kiến thức, kỹ năng quýbáu trong quá trình thực hiện đề tài

Tuy đã có nhiều nỗ lực nhưng do điều kiện về năng lực bản thân còn hạn chế, đề tàinghiên cứu khoa học sẽ không tránh khỏi những thiếu sót Kính mong nhận được sự cảmthông, đóng góp ý kiến đề đề tài của chúng em hoàn thiện hơn

Chúng em xin trân trọng cảm ơn!

Nhóm sinh viên nghiên cứu

Trang 5

STT KÝ HIỆU NGUYÊN NGHĨA

Trang 6

PHẦN MỞ ĐẦU 1

1.3.4 Thế chế, luật pháp và định hướng của quốc gia xuất khẩu lao động và nhập khẩu lao

1.4 Sơ lược chung về hoạt động xuất khẩu lao động qua các thời kỳ: 17

CHƯƠNG II THỰC TRẠNG VỀ XUẤT KHẨU LAO ĐỘNG CỦA VIỆT NAM HIỆN

2.2 Tổng quan về người lao động đi làm người nước ngoài theo hợp đồng 32

2.2.1 Nguyên nhân dẫn tới xuất khẩu lao động sang các nước phát triển 32

2.2.2 Số lượng người lao động Việt Nam đi làm việc tại nước ngoài theo hợp đồng 33

2.2.3 Các ngành nghề người lao động xuẩu hướng tới 34

2.2.3 Các thị trường lao động mà người lao động xuất khẩu hướng tới 35

2.2.3 Tiền lương của người lao động đi làm việc tại nước ngoài theo hợp đồng 42

2.2.4 Chính sách cho người lao động đi xuất khẩu 45

Trang 7

2.3.1 Giải quyết vấn đề việc làm cho nguồn tài nguyên lao động dồi dào 48

2.3.2 Nâng cao trình độ chuyên môn, kỹ thuật cho người lao động 50

2.3.3 Tăng thu nhập cá nhân và đem lại nguồn ngoại tệ lớn cho đất nước 51

2.3.4 Người lao động học hỏi được kinh nghiệm, tác phong trong công việc 52

2.3.6 Quảng bá văn hóa, hình ảnh Việt Nam ra thế giới 52

2.4.1 Xuất khẩu lao động theo con đường bất hợp pháp 53

2.4.2 Người lao động bị một số doanh nghiệp lừa đảo chiếm đoạt tiền 54

2.4.3 Người lao động trốn ở lại làm việc bất hợp pháp 55

CHƯƠNG III: MỘT SỐ KIẾN NGHỊ VỀ HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT VỀ BẢO VỆ NGƯỜI NGƯỜI LAO ĐỘNG VIỆT NAM ĐI LÀM VIỆC Ở NƯỚC NGOÀI VÀ NHỮNG GIẢI PHÁP KHẮC PHỤC HẠN CHẾ NHẰM ĐẨY MẠNH XUẤT KHẨU

3.1 Những yêu cầu đặt ra cho việc hoàn thiện pháp luật về việc quản lý người lao động

3.1.1 Sự cần thiết cho hoàn thiện pháp luật về việc bảo vệ người lao động Việt Nam đi làm

3.1.2 Thực tiễn các hệ thống văn bản pháp luật về bảo vệ người lao động đi làm việc tại

3.2 Kiến nghị hoàn thiện pháp luật về quản lý bảo vệ người lao động Việt Nam làm việc

3.2.2 Kiến nghị với Chính phủ và các Bộ ngành liên quan 65

3.3 Những giải pháp khắc phục hạn chế nhằm đẩy mạnh xuất khẩu lao động 66

3.3.1 Xử lý các doanh nghiệp lừa đảo chiếm đoạt tiền của người lao động 66

3.3.2 Hỗ trợ các khoản vay vốn cho người lao động 66

3.3.3 Tăng cường công tác thông tin tuyên truyền đối với chương trình xuất khẩu lao động 68 3.3.4 Đẩy mạnh công tác đào tạo trình độ, chuyên môn cho người lao động 69

3.3.5 Hỗ trợ cho người lao động muốn đăng ký kết hôn với người nước sở tại 70

3.3.6 Chính sách bảo hiểm tai nạn nghề nghiệp cho người lao động 70

3.3.7 Hoàn thiện cơ chế pháp lý để bảo vệ quyền lợi người lao động làm cho doanh nghiệp

Trang 8

3.3.9 Hỗ trợ người lao động trong tình hình dịch bệnh Covid-19 72

Trang 9

PHẦN MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Nhóm nghiên cứu lựa chọn nghiên cứu đề tài: “Thực trạng xuất khẩu lao động ở Việt Nam - Mặt tích cực và những hệ lụy” bởi các lí do cơ bản sau đây:

Thứ nhất, trong tình hình xã hội của đất nước từ sau thời kỳ đổi mới đến nay đã có nhiềuchuyển biến mới trên những lĩnh lực khác nhau, và hoạt động xuất khẩu là một trong nhữnglĩnh vực được Đảng và nhà nước đặc biệt quan tâm Hoạt động xuất khẩu lao động của ViệtNam đang mở rộng đến nhiều quốc gia và vùng lãnh thổ trên toàn thế giới, đáp ứng một phầnnhu cầu về nguồn lao động của các nước, với đủ các loại hình đào tạo khác nhau Hoạt độngnày đã tạo ra nhiều cơ hội việc làm cho người lao động Việt Nam với nguồn thu nhập tốt Thứ hai, xung quanh việc hoạt động xuất khẩu lao động còn tồn đọng nhiều vấn đề cầngiải quyết Trong những năm gần đây nguồn lao động Việt Nam bị lãng phí rất lớn bởi có rấtnhiều lao động đang chờ để đi xuất khẩu lao động Tuy nhiên những người lao động này saukhi đi xuất khẩu lao động trở về lại không có việc làm Nguồn lao động này chủ yếu là nhữngngười nông dân đang chờ mong một cơ hội để thay đổi cuộc sống và những người dân cótrình độ chuyên môn sau khi được đào tạo về nước Tuy nhiên, niềm hy vọng của họ ngàycàng bị mai một bởi những chiêu thức lừa đảo quá tinh vi và cả những khoản nợ chồng chất

do đi vay để nộp tiền đặt cọc để đi xuất khẩu lao động Và sau đó là một loạt hệ quả nhưkhông xuất khẩu lao động được sau một thời gian dài chờ đợi và bị lừa số tiền đã đặt cọc Thịtrường lao động nước ngoài mặc dù đem lại cho nguồn lao động trong nước cơ hội làm việcvới mức thù lao lớn hơn trong nước nhưng cũng tiềm ẩn những vấn đề pháp lý có liên quan.Nếu không nắm bắt rõ các quy định của cả trong và ngoài nước thì quyền lợi của người laođộng Việt Nam sẽ rất khó được đảm bảo

Ngày nay, dịch chuyển lao động trên phạm vi toàn cầu là một hiện tượng kinh tế - xã hộiphổ biến Do vậy, thuật ngữ "Xuất khẩu lao động" cũng được sử dụng một cách rộng rãi hơn

và được coi như một phương thức thực hiện phân công lao động quốc tế Hiện nay, với sựphát triển mạnh mẽ như vũ bão của cuộc cách mạng công nghiệp 4.0, lực lượng sản xuất đãphát triển tới một trình độ cao chưa từng có Sự phát triển của nó đã vượt ra khỏi phạm vi củamỗi quốc gia Mỗi một quốc gia đã trở thành một khâu gắn kết chặt chẽ và không thể tách rờikhỏi nền kinh tế thế giới.Muốn phát triển và đạt hiệu quả về kinh tế phải có sự mở rộng quan

hệ và tham gia vào sự phân công lao động quốc tế

Thứ ba, cùng với sự phát triển chung là sự phát triển không đều về kinh tế - chính trị xãhội cũng như sự phân bố không đồng đều về tài nguyên và các nguồn lực khác Điều đó dẫnđến tình trạng không có quốc gia nào có lợi thế so sánh tuyệt đối và tương đối trên mọi lĩnh

Trang 10

vực, nên tất yếu phải tham gia thị trường quốc tế, trong đó có thị trường lao động XKLĐ đãtrở thành một hoạt động kinh tế quan trọng trong nhiều thập kỷ qua và còn có vai trò lớn tronghiện tại cũng như trong tương lai.

Chính vì vậy, nhóm tác giả đã chọn và nghiên cứu đề tài nghiên cứu khoa học về “Thực trạng xuất khẩu lao động tại Việt Nam - mặt tích cực và những hệ lụy” làm đề tài nghiên

cứu của mình với mong muốn góp phần nhỏ bé vào việc hoàn thiện chính sách và pháp luậttại Việt Nam Tuy nhiên, do tình hình thực tế số liệu mà nhóm tiếp cận trong toàn bộ bàinghiên cứu mới chỉ được công bố đến năm 2019 nên nhóm tác giả xin phép sử dụng số liệunày là số liệu chung cho cả đề tài

2 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

Để đạt được mục đích đã nêu trên, đề tài nghiên cứu có nhiệm vụ cụ thể dưới đây:

- Tổng quan về xuất khẩu lao động ở Việt Nam từ sau thời kỳ đổi mới đến nay

- Thực trạng về xuất khẩu lao động ở Việt Nam hiện nay

- Liên hệ với các nước trên thế giới về vấn đề xuất khẩu lao động,

- Những mặt tích cực của xuất khẩu lao động ở Việt Nam

- Những hệ lụy của xuất khẩu lao động ở Việt Nam

- Đề xuất những kiến nghị, giải pháp nhằm đẩy mạnh xuất khẩu lao động ở Việt Nam

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

3.1 Đối tượng nghiên cứu

Đề tài nghiên cứu về thực trạng, những mặt tích cực, hệ lụy xuất khẩu lao động của ViệtNam tới các nước truyền thống và những giải pháp nhằm đẩy mạnh xuất khẩu lao động củaViệt Nam

3.2 Phạm vi nghiên cứu

- Phạm vi về nội dung: Trên cơ sở lý thuyết để phân tích, đánh giá những tích cực củahoạt động xuất khẩu lao động tại Việt Nam và những hệ lụy của hoạt động này Xây dựng môhình nghiên cứu, từ đó đề xuất các giải pháp, kiến nghị, chính sách có tính khả thi nhằm giảiquyết thực trạng

Trang 11

- Phạm vi về không gian: Nghiên cứu về thực trạng của người lao động mang quốc tịchViệt Nam đang làm việc tại nước ngoài.

- Phạm vi về thời gian: Khi đánh giá được thực trạng xuất khẩu lao động của Việt Nam,

đề tài lấy mốc từ năm 1986 ( tức là từ thời kỳ đất nước đổi mới) để sơ lược chung về tình hìnhxuất khẩu lao động Nhưng chỉ tập trung nghiên cứu các vấn đề liên quan cũng như các số liệuđến năm 2019

4 Phương pháp nghiên cứu

Trong đề tài, các tác giả sẽ sử dụng chủ yếu các phương pháp sau:

Thứ nhất: Hệ thống hóa những vấn đề lý luận và thực tiễn về XKLĐ

Thứ hai: Làm rõ thực trạng, mặt tích cực, tiêu cực của XKLĐ Việt Nam

Thứ ba: Đánh giá và đưa ra những giải pháp mang tính lý luận và thực tiễn của XKLĐViệt Nam

6 Bố cục công trình NCKH

Nội dung của đề tài gồm 3 chương:

Chương 1: Khái quát về xuất khẩu lao động của Việt Nam

Chương 2: Thực trạng về xuất khẩu lao động ở Việt Nam hiện nay

Chương 3: Một số giải pháp để khắc phục những hạn chế nhằm đẩy mạnh xuất khẩu laođộng của Việt Nam

Với thời gian thực hiện và trình độ có hạn nên việc công trình nghiên cứu khoa họckhông tránh khỏi các khiếm khuyết Vì vậy, nhóm nghiên cứu rất mong nhận được ý kiếnđóng góp của các thầy cô và những người quan tâm đến lĩnh vực này

Trang 12

NỘI DUNG ĐỀ TÀI CHƯƠNG I: KHÁI QUÁT VỀ XUẤT KHẨU LAO ĐỘNG CỦA VIỆT NAM 1.1 Tổng quan về tình hình nghiên cứu

Qua quá trình khảo sát tình hình, nhóm tác giả thấy ở Việt Nam cũng có nhiều các loạitài liệu, công trình nghiên cứu, luận án tiến sĩ, thạc sĩ của các tác giả đăng trên tạp chí khoahọc ở trong nước khỏi, nghiên cứu các khía cạnh khác nhau liên quan đến hoạt động XKLĐ

và các quy định trong các văn bản quy phạm pháp luật Tiêu biểu trong số đó có các côngtrình như sau:

- Năm 2007, tác giả Nguyễn Phúc Khanh đã xuất bản cuốn sách với tên gọi: “Xuất khẩu sức lao động với chương trình quốc gia về việc làm- thực trạng và giải pháp” trong đó phân

tích những vấn đề về xuất khẩu lao động và đưa ra giải pháp để đẩy mạnh XKLĐ trong mốiquan hệ với xây dựng chương trình quốc gia về việc làm

-“Thực trạng xuất khẩu lao động ở nước ta hiện trong giai đoạn hiện nay” của tác giả

Phạm Thị Hường (năm 200009) đã đề cập đến vấn đề xuất khẩu lao động hiện nay, các yếu tốtác động đến nhu cầu đi xuất khẩu lao động của người lao động như cơ chế chính sách, đặcđiểm nhóm, giới tính, tuổi, thu nhập của người lao động

-“Hoạt động xuất khẩu lao động của Việt Nam sang thị trường Đài Loan”, luận văn

Thạc sĩ Kinh tế đối ngoại - Dương Thanh Thùy, Đại học Ngoại thương, 2013: luận văn đãphân tích thực trạng, làm rõ những thành tựu cũng như hạn chế Đồng thời dựa trên nhữngphân tích về cơ hội và thách thức đối với hoạt động xuất khẩu lao động của Việt Nam sang thịtrường Đài Loan, đề xuất một số giải pháp để phát triển hoạt động này trong thời gian tới

-“Những hạn chế trong xuất khẩu lao động của Việt Nam”, luận văn Thạc sĩ kinh tế chính

trị, năm 2010 - Đặng Hương Giang, Đại học Quốc gia Hà Nội đã nêu bật tính cấp thiết củahoạt động xuất khẩu lao động ở Việt Nam và điểm lại những thành tựu chủ yếu đã đạt được.Phát hiện những hạn chế và phân tích sâu những nguyên nhân chủ yếu của những hạn chếtrong xuất khẩu lao động của Việt Nam Đề xuất những giải pháp khắc phục những hạn chếtrên để đẩy mạnh xuất khẩu lao động ở nước ta trong thời gian tới

Trang 13

đã xây dựng chúng ở trong đầu óc của mình rồi”1

1.2.1.2 Người lao động

Theo khoản 1 điều 3 Bộ luật lao động 2019: “Người lao động là người làm việc cho người sử dụng lao động theo thỏa thuận, được trả lương và chịu sự quản lý, điều hành, giám sát của người sử dụng lao động Độ tuổi lao động tối thiểu của người lao động là đủ 15 tuổi, trừ trường hợp quy định tại Mục 1 Chương XI của Bộ luật này.”

1.2.1.3 Người lao động đi làm việc ở nước ngoài

NLĐ đi làm việc ở nước ngoài - thường được gọi bằng thuật ngữ "Lao động di migrant worker" Theo định nghĩa tại Điều 2 công ước của Liên hợp quốc về quyền của ngườilao động di cư và các thành viên trong gia đình họ, thì: "Lao động di cư là một người đã, đang

cư-và sẽ làm một công việc có hưởng lương tại một quốc gia mà người đó không phải là côngdân"

Ở Việt Nam, NLĐ đi làm việc ở nước ngoài bao gồm nhiều hình thức khác nhau Tuynhiên, ở phạm vi nghiên cứu của bài viết này, tác giả chỉ tập trung nghiên cứu nhóm NLĐViệt Nam đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng lao động (HĐLĐ)

NLĐ đi làm việc ở nước ngoài theo HĐLĐ được quy định tại khoản 1 Điều 3 Luật Ngườilao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng năm 2006, như sau: " Người laođộng đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng (sau đây gọi là người lao động đi làm việc ở

1 Giáo trình kinh tế chính trị Mác- Lênin 2006, trang 39

Trang 14

nước ngoài) là công dân Việt Nam cư trú tại Việt Nam, có đủ các điều kiện theo quy định củapháp luật Việt Nam và pháp luật của nước tiếp nhận người lao động, đi làm việc ở nước ngoàitheo quy định của Luật này."

1.2.1.4 Người lao động làm việc ở nước ngoài khi về nước

“Người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài khi về nước là đội ngũ những ngườilao động từ nước ngoài trở về nước sau khi hoàn thành hợp đồng di chuyển đi lao động ngoàinước của tổ chức được phép xuất khẩu lao động

1.2.1.5 Nguồn lao động phổ thông

Là một bộ phận người lao động mới chỉ đáp ứng về mặt số lượng chứ chưa đảm bảo được

về mặt chất lượng đặc biệt là người lao động chỉ có trình độ về văn hóa chứ chưa đạt trình độ

về chuyên môn kỹ thuật với từng ngành nghề nhất định do đó nhóm người lao động này ngàyrất khó để phục vụ được trong các nhà máy lớn các công ty xí nghiệp cần nguồn lao động chấtlượng cao

1.2.1.6 Nguồn lao động chất lượng cao

Là một bộ phận nhân lực có sức khỏe đáp ứng yêu cầu đã được đào tạo dài hạn có chuyênmôn kỹ thuật cao có phẩm chất đạo đức tiêu biểu có khả năng thích ứng nhanh với những thayđổi của công nghệ, biết vận dụng sáng tạo những tri thức kỹ năng Đã được đào tạo vào quátrình lao động sản xuất đóng góp cho sự phát triển kinh tế xã hội một cách hiệu quả nhất, chấtlượng nguồn nhân lực chất lượng cao được thể hiện qua 4 tiêu chí thể lực, trí lực, nhân cách,

và năng động xã hội

1.2.1.7 Thị trường lao động

Thị trường lao động có lẽ không còn là khái niệm xa lạ với bất cứ ai khi đủ độ tuổi laođộng đều phải bước vào thị trường lao động để kiếm thêm thu nhập cho bản thân, gia đình vàthay đổi cuộc sống hiện tại Tuy nhiên, không phải ai cũng thực sự hiểu về khái niệm “Thịtrường lao động” Do vậy, trong phạm vi nghiên cứu đề tài nhóm tác giả sẽ cung cấp thêmnhững kiến thức đúng hơn về thị trường lao động

Thị trường lao động là toàn bộ những quan hệ được xác lập dựa trên lĩnh vực thuê mướnlao động 0 Nó bao gồm cả những quan hệ lao động cơ bản thuê mướn không cần đến việcgiao kết hợp đồng lao động, sa thải lao động, tiền lương, tiền công và thất nghiệp của ngườilao động Theo các nhà kinh tế Nga thì cho rằng thị trường lao động như một hệ thống quan

hệ xã hội, những định mức và thể chế xã hội, hoặc thị trường lao động là hệ thống nhữngquan hệ được hình thành trên cơ sở giá trị giữa người sử dụng lao động và người lao động vềnhững vấn đề trước mắt như thỏa mãn nhu cầu của người sử dụng lao động và người laođộng, nhu cầu được làm việc và hưởng thành quả của người lao động Còn theo các nhà khoahọc và các kinh tế học Việt Nam thì Thị trường lao động là biểu thị của mối quan hệ giữa hai

Trang 15

chủ thể đó là người sử dụng lao động và người lao động về những quyền và nghĩa vụ củanhững bên này khi tham gia vào thị trường lao động Thị trường lao động là nơi diễn ra sựtrao đổi hàng hóa sức lao động giữa một bên là những người sở hữu sức lao động và một bên

là những người cần thuê sức lao động đó Thị trường lao động là một bộ phận không thể táchbiệt của nền kinh tế thị trường và chịu sự tác động bởi hệ thống quy luật của nền kinh tế thịtrường Một thị trường lao động tốt là thị trường mà ở đó lượng cầu về lao động tương ứngvới lượng cầu lao động Thị trường lao động hay gọi là thị trường hàng hóa sức lao động làlĩnh vực lưu thông trao đổi một loại hàng hóa đặc biệt, đó là hàng hóa sức lao động Thịtrường lao động là nơi cung và cầu lao động tác động qua lại với nhau, hay là nơi mua bánsức lao động diễn ra giữa người lao động (cung lao động) và người sử dụng lao động (cầu laođộng) Thị trường lao động hình thành, phát triển và hoạt động rất đa dạng Quá trình mua bánsức lao động diễn ra trong phạm v i một nước gọi là thị trường lao động quốc gia Quá trìnhmua bán sức lao động diễn ra trên phạm v i thế giới là thị trường lao động quốc tế Thị trườnglao động được cấu thành bởi ba yếu tố là cung sức lao động, cầu sức lao động và giá cả sứclao động Thị trường lao động cũng hoạt động theo các quy luật khách quan của nền kinh tếthị trường, đó là quy luật giá trị, quy luật cạnh tranh, quy luật cung - cầu2.

2 Đề tài: “Một số giải pháp phát triển hoạt động xuất khẩu lao động tại chỗ ở Việt Nam”(2013),truy cập tại nguồn https://m.tailieu.vn/doc/de-tai-mot-so-giai-phap-phat-trien-hoat-dong-xuat-khau-lao-dong-tai-cho-o-viet- nam-1602807.html

Trang 16

1.2.1.8 Thị trường lao động trong nước

Là loại thị trường trong đó mọi lao động đều có thể tự do di chuyển từ nơi này đến nơikhác tuy nhiên phải trong phạm vi của quốc gia mình

1.2.1.9 Thị trường lao động quốc tế

Là một bộ phận cấu thành của hệ thống thị trường trên thế giới, trong đó lao động từnước này có thể di chuyển sang nước khác thông qua Hiệp định, các thỏa thuận giữa hai haynhiều quốc gia trên thế giới

1.2.1.10 Xuất khẩu lao động ở các nước phát triển

Các nước này có xu hướng đưa người lao động kỹ thuật cao sang các nước chậm pháttriển, đang phát triển để thu thêm ngoại tệ, trường hợp này có thể hiểu là đầu tư chất xám cómục đích nhằm mục tiêu thu hồi lại những loại một phần chi phí đào tạo cho đội ngũ chuyêngia trong nhiều năm một phần khác là phát huy năng lực chuyên gia công nhân kỹ thuật bậccao để tăng thu ngoại tệ tìm kiếm lợi nhuận ở nước ngoài

1.2.1.11 Xuất khẩu lao động ở nước chậm phát triển và xuất khẩu lao động ở nước đang phát triển

Các nước này có xu hướng gửi lao động phổ thông và lao động tay nghề bậc chung vàbậc cao cho các nước nhập khẩu lao động để thu tiền công tăng thu nhập và tích lũy ngoại tệMặt khác để giảm bớt sức ép về nhu cầu việc làm trong nước

1.2.1.12 Việc làm

Dưới góc độ pháp lý, cụ thể theo điều 13- Bộ luật Lao động quy định: “ Mọi hoạt độngtạo ra nguồn thu nhập, không bị pháp luật cấm đều được thừa nhận là việc làm”

1.2.1.13 Xuất khẩu lao động

Xuất khẩu lao động (XKLĐ) là một hiện tượng kinh tế-xã hội xuất hiện từ cuối thế kỷ

XX Cho đến nay, XKLĐ ngày càng trở nên phổ biến và là xu thế chung của nhiều quốc giatrên thế giới Do đó, XKLĐ là vấn đề được nhiều nhà nghiên cứu quan tâm phân tích trong đó

có cả vấn về về việc xác định khái niệm về XKLĐ

Đã có nhiều quan điểm hình thành nên khái niệm XKLĐ, như : “Xuất khẩu lao động làhoạt động kinh tế của một quốc gia thực hiện việc cung ứng lao động cho một quốc gia kháctrên cơ sở những hiệp định hoặc hợp đồng có tính hợp pháp được thống nhất giữa các quốcgia đưa và nhận lao động”.3 Hay “ Xuất khẩu lao động là hoạt động kinh tế dưới hình thứccung ứng lao động Việt Nam ra nước ngoài theo hợp đồng có thời hạn, phục vụ cho nhu cầunhân công lao động của doanh nghiệp ở nước ngoài” Xuất khẩu lao động là hoạt động kinh tếcủa một quốc gia thực hiện việc cung ứng lao động cho một quốc gia khác trên cơ sở nhữnghiệp định hoặc hợp đồng có tính hợp pháp được thống nhất giữa các quốc gia đưa và nhận laođộng.Việc các nước đưa lao động đi làm việc ở nước ngoài theo nghĩa rộng tức là tham gia

3 Đề tài: “ Nghiên cứu thực trạng và giải pháp cho xuất khẩu lao động ở Việt Nam” (2013), truy cập tại nguồn:

https://tailieu.vn/doc/nghien-cuu-de-tai-thuc-trang-va-giai-phap-cho-xuat-khau-lao-dong-o-viet-nam 231825.htm

Trang 17

vào quá trình di dân quốc tế và nó phải tuân theo hoặc là Hiệp ước giữa hai quốc gia, hoặc làphải tuân theo Công ước quốc tế, hoặc thông lệ quốc tế, tùy thuộc theo từng trường hợp khácnhau mà nó nằm trong giới hạn nào Nhằm phát huy tối đa các mặt tích cực và hạn chế các tácđộng tiêu cực do di chuyển lao động quốc tế mang lại, các nước xuất khẩu phải tiến hànhquản lý, hỗ trợ và cho phép các cá nhân, tổ chức đưa lao động hoặc cho phép người lao động

ra nước ngoài làm việc, đây chính là hoạt động XKLĐ là hoạt động mang tính KT- XH, đemlại lợi ích không chỉ cho các quốc gia tham gia, xuất khẩu và nhập khẩu mà còn mang lại lợiích cho chính người lao động, tổ chức dịch vụ XKLĐ, người sử dụng lao động

Có quan điểm lại cho rằng: “XKLĐ là quá trình người lao động đi làm việc có thời hạn ởnước ngoài hợp pháp được quản lý và hỗ trợ của nhà nước theo hợp đồng của các doanhnghiệp hoạt động dịch vụ, các tổ chức sự nghiệp, các doanh nghiệp trúng thầu, nhận thầu, các

tổ chức cá nhân đầu tư ra nước ngoài, hợp đồng nâng cao tay nghề, hoặc hợp đồng các cánhân giữa người lao động và chủ sở hữu lao động”

Còn theo tác giả Nguyễn Phúc Khanh thì cho rằng “XKLĐ là hoạt động kinh tế đối ngoạiđặc thù của một quốc gia nhằm thực hiện việc cung ứng lao động cho một quốc gia khác trên

cơ sở hợp đồng có thời hạn, có tính chất pháp lý quy định thống nhất giữa các quốc gia đưa vànhận lao động” (Nguyễn Phúc Khanh 2005, tr ̀5) Với khái niệm này thì được hiểu rằngXKLĐ là một lĩnh vực hoạt động của hoạt động kinh tế đối ngoại, theo đó một quốc gia thựchiện việc cung ứng lao động cho một quốc gia khác và trong khái niệm cũng chỉ ra đượcXKLĐ vừa là hoạt động có thời hạn lại vừa có tính hợp pháp, được quốc gia nhận và đưa laođộng thỏa thuận thực hiện Tuy nhiên, quan điểm của tác giả Nguyễn Phúc Khanh chủ yếunêu rõ rằng XKLĐ là việc cung ứng nguồn lao động từ quốc gia này sang cho một quốc giakhác trên cơ sở hợp động thỏa thuận, ký kết, thống nhất giữa hai quốc gia Xuất khẩu lao động

là bán sức lao động ra thị trường nước ngoài vì sức lao động gắn liền với người lao động Dovậy để xuất khẩu lao động được thì việc đầu tiên mà Việt Nam cần làm đó là đưa người laođộng ra nước ngoài để họ bán sức lao động của mình cho người sử dụng lao động ở nướcngoài Với cách tiếp cận này, Việt Nam không ban hành luật về XKLĐ mà ban hành LuậtNgười Lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng 0(được Quốc hội khóa XIthông qua ngày 29 tháng 11 năm 2006, có hiệu lực ngày 01/7/2007) tại Điều 1 của Luật nàyquy định điều chỉnh của luật là “Hoạt động đưa người lao động đi làm việc ở nước ngoài theohợp đồng; quyền và nghĩa vụ của người lao động đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng;quyền và nghĩa vụ của doanh nghiệp, tổ chức sự nghiệp đưa người lao động “Xuất khẩu laođộng” Việc đưa người lao động của một nước sang một nước khác đương nhiên phải được sựđồng ý của Chính phủ hai quốc gia, ngoài ra còn phải được thực hiện bởi các doanh nghiệphoặc tổ chức có thẩm quyền với sự đồng ý của người lao động Đặt biệt còn phải dựa trên

Trang 18

những quy định của pháp luật và quy luật cung- cầu trên thị trường lao động ở nước gửi vànước tiếp nhận Như vậy có thể hiểu, XKLĐ mà thực chất là xuất khẩu hàng hóa ( hàng hóasức lao động), là hoạt động đưa người lao động đi làm việc ở nước ngoài trong một thời hạnnhất định theo hợp đồng hoặc theo thỏa thuận được ký kết giữa các bên có liên quan theođúng quy định của pháp luật nước gửi và nhận lao động nhằm tạo ra của cải vật chất và tinhthần cho cả người lao động lẫn người sử dụng lao động.

1.2.1.14 Hiệp định Đối tác Toàn diện và Tiến bộ xuyên Thái Bình Dương

Hiệp định Đối tác Toàn diện và Tiến bộ xuyên Thái Bình Dương gọi tắt là Hiệp định(CPTPP), là một hiệp định thương mại tự do (FTA) thế hệ mới, gồm 11 nước thành viên là:Ốt-xtrây-li-a, Bru-nây, Ca-na-đa, Chi-lê, Nhật Bản, Ma-lai-xi-a, Mê-hi-cô, Niu Di-lân, Peru,Singapore và Việt Nam

Hiệp định đã được ký kết ngày 08 tháng 3 năm 2018 tại thành phố San-ti-a-gô, Chi-lê, vàchính thức có hiệu lực từ ngày 30 tháng 12 năm 2018 đối với nhóm 6 nước đầu tiên hoàn tấtthủ tục phê chuẩn Hiệp định gồm Mê-hi-cô, Nhật Bản, Xinh-ga-po, Niu Di-lân, Ca-na-đa vàỐt-xtrây-lia Đối với Việt Nam, Hiệp định có hiệu lực từ ngày 14 tháng 01 năm 2019

1.2.2 Đặc trưng của xuất khẩu lao động

Khác với xuất khẩu hàng hóa, xuất khẩu lao động có những đặc điểm sau

Thứ nhất, đặc trưng cơ bản của hoạt động XKLĐ là đối tượng trao đổi ở đây chính là mộtloại hàng hóa đặc biệt - hàng hóa sức lao động Tính chất đặc biệt của loại hàng hoa này thểhiện ở chỗ con người là chủ thể lao động, có tư duy và có khả năng làm chủ bản thân, vậndụng linh hoạt những kỹ năng, kinh nghiệm chuyên môn vào để thực hiện công việc, vậnhành máy móc, các trang thiết bị

Thứ hai, hoạt động XKLĐ mang tính xã hội cao bởi lẽ nó đã tạo công ăn việc làm, nângcao tay nghề và kỹ năng chuyên môn cho nhiều người lao lao động Với mức thu nhập mà họ

có được sẽ là cơ sở để cải thiện đời sống gia đình, đảm bảo phúc lợi và trật tự xã hội và anninh địa phương

Thứ ba, theo quy định tại Điều 5 Luật người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoàitheo hợp đồng năm 2006 thì đối với người lao động khi đi XKLĐ trước, trong hoặc sau khithực hiện công tác đó thì sẽ được hưởng sự ưu đãi và quan tâm từ phía Nhà nước bằng việctạo điều kiện, hỗ trợ và bằng những chính sách thiết thực Từ đó giúp họ phát triển thêm kỹnăng chuyên môn để góp phần nhỏ bó của mình trong công cuộc cải tiến nền kinh tế đất nướcThứ tư, là đảm bảo lợi ích ba bên trong quan hệ XKLĐ - ba bên đó gồm lợi ích kinh tếcủa nhà nước; lợi ích của người lao động và lợi ích của doanh nghiệp XKLĐ Lợi ích củangười lao động được hiểu là những khoản thu nhập mà họ có được từ việc xuất khẩu lao động

Trang 19

Phân tích cụ thể hơn thì lợi ích của doanh nghiệp XKLĐ được hiểu là những khoản thu từ cácloại phí để phục vụ cho việc giải quyết việc làm ngoài nước Còn lợi ích kinh tế của Nhà nướcchính là khoản ngoại tệ và các khoản thuế mà người lao động gửi về nước Nhà nước cần phảiquản lý, giám sát chặt chẽ hơn những hành vi của người XKLĐ trong nhiều trường hợp vìkiếm tìm lợi nhuận mà vi phạm pháp luật Các tổ chức XKLĐ có thể vi phạm trong việc thuthêm nhiều loại phí dịch vụ nằm ngoài quy định với mức giá cao Còn phía người lao động cóthể vi phạm hợp đồng đã thỏa thuận như: trốn về nước, bỏ hợp đồng ra ngoài làm, khi hết thờihạn lao động nhưng vẫn cố tìm cách đề làm việc một cách bất hợp pháp…

Có thể thấy rằng cần phải có sự phối kết hợp chặt chẽ giữa ba chủ thể này để đảm bảo lợiích của ba bên Tuy nhiên hoạt động XKLĐ còn phụ thuộc vào nhiều yếu tố khác nhưng chủyếu là do nhu cầu của các nước có nhu cầu nhập khẩu lao động Vì thế sự phân tích và dự báotoàn diện nhu cầu tuyển dụng là một điều cần thiết với nhu cầu tuyển dụng quốc tế, các dự án

ở nước ngoài đang và sẽ được thực hiện để xây dựng chính sách và chương trình đào tạo, giáodục định hướng một cách linh hoạt và phù hợp

1.2.3 Nguyên nhân dẫn đến xuất khẩu lao động

1.2.3.1 Sự chênh lệch về trình độ phát triển kinh tế giữa các quốc gia

Đây là một trong những nguyên nhân khách quan và cơ bản của hoạt động xuất khẩu laođộng Sự chênh lệch đã phân chia thế giới thành hai nhóm nước đã phát triển và nhóm nướcđang phát triển với sự chênh lệch ngày càng tăng về mức sống

Thế giới ngày càng hội nhập và phát triển, do đó cùng với sự phát triển khoa học côngnghệ thì các quốc gia phát triển có những cải tiến vượt bậc trong các kinh vực cơ khí hóa và

tự động hóa Quá trình tái cơ cấu nền kinh tế được đẩy mạnh, nâng cao năng lực sản xuất vàhiệu quả của nền kinh tế từ đó dẫn đến hiện tượng, ở nhiều ngành, nhiều lĩnh vực đôi khichính lực lượng lao động của chính quốc gia đó cũng không đáp ứng được mà phải sử dụngđến lao động đến từ quốc gia khác Bên cạnh đó, tại các nước phát triển thì mức sống củangười dân rất cao, phúc lợi xã hội tốt và được phân bố đồng đều Hơn nữa trình độ nguồnnhân lực xét trên bình diện chung đều ở ngưỡng cao cấp, dẫn đến người dân tại các quốc gianày có tâm lý hưởng thụ và không muốn làm một số công việc, trong đó chủ yếu là lao độngchân tay, động giản đơn và những công việc có tính chất độc hại Trái ngược lại, ở nước đangphát triển nhưng đông dân, có mức tiền công lao động thấp, lại thường xuyên xảy ra tình trạng

dư thừa lao động do kinh tế yếu kém không tạo đủ công việc làm, tất yếu nảy sinh nhu cầucung ứng lao động cho những nơi đang thiếu nhân lực và có mức tiền công cao hơn cung vàcầu lao động gặp nhau trên cơ sở đó đã trở thành một trong những nguyên nhân chính xuấthiện hiện tượng di chuyển quốc tế sức lao động

Trang 20

1.2.3.2 Sự biến động về nhu cầu sức lao động

Những biến động về nhu cầu sức lao động là nguyên nhân khách quan gây nên xuất khẩulao động Dựa trên những cơ sở tìm hiểu các hiện tượng dân quốc tế, xuất hiện nhiều lý thuyết

về di dân đã được khái quát, trong đó phải kể đến lý thuyết “ Lực đẩy- lực hút ” doRavenstein là người đầu tiên đưa ra khi phân tích các dòng di dân chạy từ Ailen sang Anh hồiđầu thế kỷ XIX Tác giả đã khái quát các yếu tố tại các nước xuất cư thất nghiệp, nghèo đói,điều kiện làm việc không đảm bảo gọi là yếu tố lực đẩy và các yếu tố còn tồn tại ở một sốnước nhập cư nhưng cơ hội việc làm, thu nhập cao, khả năng thăng tiến, gọi là yếu tố lựchút Từ đó ông đưa ra lý thuyết di chuyển sức lao động quốc tế “lực đẩy-lực hút” và cho rằngchính các yếu tố lực hút là nguyên nhân quan trọng quyết định đến việc di cư của người laođộng từ Ailen sang làm Anh làm việc Điều này đến nay vẫn còn nguyên giá trị khi xem xétcác nguyên nhân của xuất khẩu lao động trong thời kỳ hội nhập kinh tế hiện nay, khi mà nhucầu trực tiếp nhận lao động nước ngoài, thu nhập, điều kiện sống và làm việc tại các nướcnhập khẩu lao động là yếu tố lực hút, là điều kiện quyết định đến việc xuất cư của người laođộng

1.2.3.3 Sự chênh lệch về mức tăng dân số tự nhiên

Hiện nay, sự phân hóa trong mức tăng dân số tự nhiên ngày càng gia tăng giữa nhóm cácnước phát triển, đang phát triển và chậm phát triển Tại các nước phát triển thì mức tăng dân

số tự nhiên chỉ dừng lại ở ngưỡng 1%/ năm, cá biệt một số nước còn có tỉ lệ gia tăng dân số tựnhiên bằng 0 hoặc âm, ví dụ như các quốc gia ở Bắc Âu (Thụy Điển, Phần Lan, ) Trong khi

đó tại các quốc gia đang phát triển, tỉ lệ này thường được duy trì từ 1% đến 2% và tại cácnước kém phát triển là trên 2% Ví dụ như ở Italia, dân số nước đó dự kiến giảm từ 57 triệungười xuống còn 54 triệu người năm 2020, trong khi đó tại Philippin và Việt Nam, dân số dựkiến tăng từ 62 triệu người năm 1987 nên 115 triệu người tại Philippin và 121 triệu người tạiViệt Nam năm 2020 Bên cạnh sự chênh lệch trong tỉ lệ gia tăng dân số tự nhiên là hiện tượnggià hóa dân số tại các nước phát triển, dẫn tới sự chênh lệch trong lực lượng dân số trong độtuổi lao động tại các nhóm nước kể trên, do vậy đã tạo ra sự chênh lệch trong cung cầu laođộng tại các nhóm nước Cụ thể, tại các nước phát triển xuất hiện tình trạng khan hiếm laođộng (dư cầu lao động), trong khi tại các nước đang và chậm phát triển lại xảy ra tình trạng dưthừa lao động, thiếu việc làm (dư cung lao động), thúc đẩy sự di chuyển quốc tế sức lao động

từ các nước đang và chậm phát triển sang các nước phát triển

1.3 Các nhân tố tác động đến xuất khẩu lao động

1.3.1 Quan hệ cung - cầu về lao động trên thị trường lao động quốc tế

Trang 21

Cũng như mọi hoạt động kinh tế khác thì xuất khẩu lao động cũng bị chi phối bởi quan hệcung cầu trên thị trường Ban đầu, khi chưa có xuất khẩu lao động Đường cung - cầu laođộng ở hai quốc gia 1 và quốc gia 2 lần lượt là 000( S1, D1) và (S2,D2) Mức lương tương ứng làW1 và W2 ( W1 > W2) Khi có hiện tượng xuất khẩu lao động: Sự di chuyển lao động giữahai quốc gia ( từ quốc gia 2 sang quốc gia 1, do có sự chênh lệch về mức lương) khiến cho tạiquốc gia 1, đường cung lao động dịch chuyển sang phải từ S1’, và tại quốc gia 2, đường cunglao động dịch chuyển sang trái, từ S2 sang S2’ Khi đó mức lương ở cả 2 nước cân bằng tại

WE (Phụ lục 16)

Như vậy, không chỉ cùng - cầu ở từng nước mà chính tương quan trong cung -cầu laođộng giữa hai nước đã tác động trực tiếp tới hoạt động xuất khẩu lao động Mở rộng hơn, tathấy, chính cung- cầu lao động thế giới tác động tới hoạt động xuất khẩu lao động Khi cầu

mở rộng sẽ làm gia tăng lượng lao động xuất khẩu, ngược lại, khi cầu lao động thu hẹp sẽ làmgiảm lượng lao động xuất khẩu

và trên thế giới Khi đó càng có nhiều nước tham gia xuất khẩu lao động trên một thị trườngthì sẽ làm cho mức độ cạnh tranh càng cao hơn, cơ hội đưa lao động tới thị trường đó càngthấp hơn và ngược lại Hơn nữa, trên một thị trường càng tập trung nhiều quốc gia xuất khẩulao động lớn và lâu năm thì áp lực cạnh tranh sẽ càng gia tăng, nhất là đối với những nướcmới tham gia thị trường

1.3.3 Chất lượng nguồn lao động xuất khẩu

Vì mức độ cạnh tranh giữa các quốc gia xuất khẩu lao động là rất lớn và tác động trựctiếp tới hoạt động xuất khẩu lao động của các quốc gia.Tuy nhiên nhân tố chính để tạo nên

Trang 22

mức độ cạnh tranh giữa các nguồn lao động lại nằm ở chất lượng lao động Khi mà mứclương, thủ tục xuất, nhập lao động đang dần đi tới sự chuẩn hóa thì nhân tố quyết định chủyếu còn lại là chất lượng của nguồn lao động Chất lượng được thể hiện một cách rõ nét nhấtthông qua những tiêu chí như :( sức khỏe, trình độ ngoại ngữ, kỹ năng về chuyên môn, khảnăng học hỏi và lĩnh hội với các yếu tố ở môi trường làm việc mới, thái độ và kỷ luật trongcông việc, trong cuộc sống thường ngày… Chất lượng nguồn lao động với cơ hội làm việc và

số lượng lao động có mối quan hệ biện chứng Nếu chất lượng nguồn lao động tốt thì cơ hội

và số lượng lao động của quốc gia đó được xuất khẩu cao và ngược lại Một quốc gia sẽ khó

có thể đưa lao động đi xuất khẩu nếu chất lượng nguồn lao động ở đó bị đánh giá thấp

1.3.4 Thế chế, luật pháp và định hướng của quốc gia xuất khẩu lao động và nhập khẩu lao động

Thể chế và luật phát là yếu tố tác động trực tiếp đến quốc gia có hoạt động xuất khẩu laođộng và nhập khẩu lao động Thực tế cho thấy, nếu giữa hai quốc hoa có chung các cam kết,các văn bản pháp luật có quy định về việc cho phép thực hiện, hoạt động xuất khẩu lao động,thì hoạt động này mới có thể diễn ra Bên cạnh đó, thông qua các hiệp định chung được kýkết, sẽ tạo ra hành lang pháp lý cho việc mở rộng hoạt động trao đổi lao động giữa hai nước.Đặc biệt, nếu giữa hai nước có sự thống nhất trong thể chế và hệ thống pháp luật thì hoạtđộng xuất khẩu lao động sẽ diễn ra nhanh gọn hơn, dễ dàng hơn, và người lao động cũng sẽnhanh chóng thích nghi với môi trường mới tại quốc gia nhập khẩu lao động Do vậy nênđược đào tạo những điều kiện thuận lợi về mặt pháp lý

Ngày nay, bên cạnh thể chế và pháp luật, các kế hoạch định hướng và nhận địng của haiquốc gia, đặc biệt là quốc gia tiếp nhận lao động cũng tác động mạnh đến hoạt động xuất khẩulao động Minh chứng cho thấy trong những năm gần đây, có rất nhiều thị trường xuất khẩu bịthu hẹp vì nguyên nhân lớn xuất phát từ sự bảo hộ việc làm trong nước của các quốc gia này.Hay khi nước tiếp nhận lao động nhận định hoạt động này có thể làm ảnh huownrh không tổtới tình hình chính trị, xã hội chung thì cũng sẽ có tác động nhằm giảm lượng lao động nhậpkhẩu vào quốc gia mình Ngược lại, nếu trong kế hoạch phát triển quốc gia khuyến khích tiếpnhận lao động nước ngoài, thì sẽ có tác dụng kích thích cho hoạt động này và mở rộng cơ hộiđối với các thị trường xuất khẩu lao động có liên quan

Trang 23

1.4 Sơ lược chung về hoạt động xuất khẩu lao động qua các thời kỳ:

1.4.1 Giai đoạn từ năm 1986 đến năm 1996:

Thời kỳ này lao động Việt Nam chủ yếu được đưa sang các nước thông qua việc Nhànước ký kết các Hiệp định lao động và trực tiếp thực hiện, chủ yếu là các nước xã hội chủnghĩa Đông Âu, gồm Liên Xô (cũ), Cộng hòa dân chủ Đức (cũ), Tiệp Khắc (cũ) và Bungari.Một bộ phận lao động với số lượng không nhỏ được đưa đi làm việc ở Iraq, Libya và đưachuyên gia trong các lĩnh vực y tế, giáo dục và nông nghiệp sang làm việc ở một số nước châuPhi Trong 10 năm (1980-1990), Việt Nam đã đưa được 244.186 lao động, 7.200 lượt chuyêngia đi làm việc và 23.713 thực tập sinh vừa học vừa làm ở nước ngoài Ngân sách Nhà nướcthu được khoảng 800 tỷ đồng (theo tỷ giá rúp/đồng Việt Nam năm 1990), hơn 300 triệu USD;Đồng thời, người lao động và chuyên gia đã đưa về nước một lượng hàng hóa thiết yếu với trịgiá hàng nghìn tỷ đồng

Từ năm 1980, nền kinh tế Việt Nam đã đạt được những thành tựu không nhỏ, đó là nhờvào những cuộc đổi mới và tái cơ cấu này Khi đất nước phát triển đến một thời điểm nhấtđịnh thì thay đổi đó chính là tất yếu, theo triết học Mác Lênin sự thay đổi về lượng sẽ dẫn đến

sự biến đổi về chất, mặc dù trước đó nền kinh tế quan liêu bao cấp phù hợp với tình hình xãhội lúc đó, nhưng để nền kinh tế đi lên sau chiến tranh thì phải thay đổi sang một nền kinh tếmới đó chính là nền kinh tế thị trường Chuỗi nguyên nhân này dẫn đến việc chúng ta khônggiữ được thành tích làm việc như trước, và cuối cùng là thu nhập của chúng ta giảm sút Chấtlượng cuộc sống theo đó mà đi xuống Khi rơi vào hoàn cảnh như vậy, điều cần thiết đối vớicon người là thay đổi cách thức sinh hoạt Còn đối với một nền kinh tế yếu kém thì điều cầnthiết chính là những cuộc tái cơ cấu nền kinh tế

Năm 1986, Đại hội đại biểu Toàn quốc lần thứ VI đã hoạch định đường lối đổi mới toàndiện, sâu sắc và triệt để, mở ra thời kỳ mới của sự nghiệp cách mạng nước ta trên con đường

đi lên chủ nghĩa xã hội Việt Nam bắt đầu công cuộc "Đổi mới" chuyển đổi từ nền kinh tế kếhoạch hóa tập trung sang nền kinh tế thị trường định hướng XHCN Trên cơ sở phân tích,đánh giá tình hình đất nước, tự phê bình về những sai lầm khuyết điểm, đổi mới tư lý luận trảiqua nhiều tìm tòi, khảo nghiệm từ thực tiễn, Đại hội đề ra đường lối đổi mới

Trước hết là đổi mới cơ cấu kinh tế (cơ cấu công – nông nghiệp; cơ cấu nội bộ ngànhnông nghiệp; ngành công nghiệp nhẹ và tiểu thủ công nghiệp; công nghiệp nặng và kết cấu hạtầng; cơ cấu kinh tế huyện) Thực hiện ba chương trình kinh tế bao gồm chương trình lươngthực, thực phẩm; chương trình hàng tiêu dùng; chương trình hàng xuất khẩu Xây dựng vàcủng cố quan hệ sản xuất xã hội chủ nghĩa, sử dụng và cải tạo đúng đắn các thành phần kinhtế

Trang 24

Với cuộc cải cách này, Việt Nam đã đưa GDP tăng trưởng liên tục từ năm 1986 đến 1996với mức tăng trưởng bình quân 6,6%/năm Lạm phát từ 3 con số được đưa về 12,7% năm

1995 và 4,5% năm 1996 Một thành tựu vẫn luôn được nhắc đến khi nói về giai đoạn này làViệt Nam từ một nước thiếu ăn đã có dư gạo để xuất khẩu

Vào cuối những năm 1980 và đầu những năm 1990, tại các nước xã hội chủ nghĩa Đông

Âu, Châu Phi, Iraq có tiếp nhận lao động Việt Nam đều xảy ra những biến động chính trị vàkinh tế Vì vậy, phần lớn các nước này không còn nhu cầu nhận tiếp lao động và chuyên giaViệt Nam Trước tình hình đó đặt ra yêu cầu bức xúc là phải đổi mới cơ chế xuất khẩu laođộng và chuyên gia cho phù hợp với tình hình trong nước và quốc tế Ngày 9 tháng 11 năm

1991, Chính phủ đã ban hành Nghị định 370/HĐBT về đưa người lao động Việt Nam đi làmviệc có thời hạn ở nước ngoài Theo Nghị định này, Các tổ chức kinh tế được thành lập vàđược Bộ Lao động Thương binh và Xã hội cấp giấy phép hoạt động cung ứng lao động vàchuyên gia cho nước ngoài

Ngày 23/06/1994, Quốc hội đã thông qua Bộ Luật lao động, trong đó có những quy định

về XKLĐ Dựa theo Luật này, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 07/CP quy định chi tiếtviệc đưa người lao động ở Việt Nam đi làm ở nước ngoài và thay thế Nghị định số 370/CP.Nghị quyết Hội nghị Trung ương 4 khóa VIII đã nêu rõ:Mở rộng xuất khẩu lao động trên thịtrường đã có và thị trường mới Cho phép các thành phần kinh tế tham gia xuất khẩu lao động

và làm dịch vụ xuất khẩu lao động trong khuôn khổ pháp luật dưới sự quản lý chặt chẽ củaNhà nước Kiên quyết chấn chỉnh những hoạt động dịch vụ xuất khẩu lao động trái quy địnhcủa Nhà nước”

Tại Chỉ thị số 41/CT-TW, Bộ chính trị tiếp tục khẳng định: “ Xuất khẩu lao động vàchuyên gia là một hoạt động kinh tế - xã hội, góp phần phát triển nguồn nhân lực giải quyếtviệc làm, tạo thu nhập và nâng cao trình độ tay nghề cho người lao động, tăng nguồn thungoại tệ cho đất nước, cùng với các giải pháp giải quyết việc làm trong nước là chính, xuấtkhẩu lao động và chuyên gia là một chiến lược quan trọng, lâu dài góp phần xây dựng đội ngũlao động cho công cuộc cuộc xây dựng đất nước trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đạihóa…”

1.4.2 Giai đoạn từ năm 1996 đến năm 2006:

Số lượng các doanh nghiệp được cấp giấy phép kinh doanh dịch vụ xuất khẩu lao độngtheo nghị định 07/CP là 77 doanh nghiệp trong đó có 53 doanh nghiệp thuộc Bộ, ngành và 24doanh nghiệp địa phương

Năm 1997, Khủng hoảng tài chính châu Á là cuộc khủng hoảng tài chính bắt đầu từ tháng

7 năm 1997 ở Thái Lan rồi ảnh hưởng đến các thị trường chứng khoán, trung tâm tiền tệ lớn,

và giá cả của những tài sản khác ở vài nước châu Á, nhiều quốc gia trong đó được coi như là

Trang 25

"những con Hổ Đông Á" Cuộc khủng hoảng này còn thường được gọi là Khủng hoảng tiền tệchâu Á Khủng hoảng tài chính Đông Á làm người ta nhận thức rõ hơn sự cần thiết phải cómột hệ thống tài chính - ngân hàng vững mạnh, minh bạch Điều này thôi thúc Quỹ Tiền tệQuốc tế và Ngân hàng Thanh toán Quốc tế đổi mới các quy chế về ngân hàng và các tổ chứctín dụng nói chung Chính phủ nhiều nước đang phát triển cho rằng các dòng vốn đầu tư giántiếp nước ngoài và vốn vay ngân hàng nước ngoài có thể đem lại những tác động bất lợi vớinền kinh tế của họ Do đó, nhiều chính phủ đã ban hành những quy chế nhằm điều tiết cácdòng vốn này Bên cạnh đó, những thỏa thuận ở cấp khu vực nhằm phát triển một hệ thốngphòng ngừa khủng hoảng tái diễn đã được thúc đẩy ở châu Á, ví dụ như Sáng kiến ChiangMai, Tiến trình Đánh giá và Đối thoại Kinh tế ASEAN+3, Sáng kiến Thị trường Trái phiếuchâu Á, Về mặt học thuật, các nhà nghiên cứu kinh tế đã nhận thấy sự hạn chế của các môhình lý luận về khủng hoảng tiền tệ trước đây trong việc giải thích nguồn gốc và sự lây lancủa khủng hoảng tài chính Đông Á Đã có nhiều nỗ lực nhằm đưa ra một mô hình mới vềkhủng hoảng tiền tệ, chẳng hạn như mô hình phương pháp tiếp cận bảng cân đối tài sản, lýthuyết bong bóng, lý thuyết về nguồn gốc khủng hoảng từ chính sách tài chính và chính sáchtiền tệ Việc xuất khẩu lao động và chuyên gia được thực hiện thông qua các hợp đồng do các

tổ chức kinh tế đó ký với bên nước ngoài Cho đến tháng 8 năm 1998, nước ta đã có 55 tổchức kinh tế là doanh nghiệp nhà nước có giấy phép đang hoạt động xuất khẩu lao động vàchuyên gia

Tại Chỉ thị 41/CT-TW, ngày 20/09/1999 Chính phủ đã ban hành Nghị định

152/1999/NĐ-CP quy định việc đưa lao động và chuyên gia đi làm việc có thời hạn ở nước ngoài Để phùhợp với tiến trình toàn cầu hóa về kinh tế và di dân quốc tế, phù hợp với tình hình kinh tế -xãhội của đất nước và thế giới ban hành, năm 2002 Quốc hội đã thông qua Luật sửa đổi bổ sung

Bộ Luật Lao động đối XKLĐ Tiếp đó, Chính phủ ban hành Nghị định số 81/2003/NĐ-CPquy định chi tiết và hướng dẫn thi hành Bộ Luật lao động về hoạt động XKLĐ Nghị định nàythể hiện một quan điểm phát triển về quản lý của Nhà nước đối với hoạt động XKLĐ, đánhgiá vai trò của XKLĐ về kinh tế- xã hội Đặc biệt, ngày 29/11/2006 Quốc hội đã thông quaLuật Người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài theo đồng, Chính phủ và các Bộ,ngành đã ban hành các văn bản hướng dẫn Luật đã tạo nên một hành lang pháp lý tương đốiđầy đủ và thông thoáng trong lĩnh vực này Nhờ đó mà hoạt động XKLĐ của Việt Nam đã đạtđược những thành tựu đáng kể

Tính đến tháng 9/2004 Số lượng các doanh nghiệp kinh doanh dịch vụ xuất khẩu laođộng là 144 doanh nghiệp, trong đó có 118 doanh nghiệp Nhà nước, 11 doanh nghiệp thuộccác tổ chức đoàn thể, 12 công ty cổ phần và 3 công ty trách nhiệm hữu hạn Nhờ đổi mới cơchế hoạt động xuất khẩu lao động và sự gia tăng số lượng các doanh nghiệp tham gia vào dịch

Trang 26

vụ xuất khẩu lao động làm cho số lượng lao động và chuyên gia của Việt Nam đi làm việc cóthời hạn ở nước ngoài gia tăng nhanh chóng Năm 1991 là 1.022 người, đến năm 2000 tănglên 31.500 người, năm 2003 là 75.000 người Trong giai đoạn này, nước ta đã đưa 320.699 laođộng đi làm việc ở nước ngoài Với mức lương bình quân (kể cả làm thêm giờ) của người laođộng ở nước ngoài khoảng 400 USD/tháng, ước tính từ năm 1996 lúc này, số lao động vàchuyên gia đi làm việc ở nước ngoài theo cơ chế mới đã chuyển về nước khoảng 500 triệuUSD/năm Ngoài ra, còn có khoảng 20 vạn lao động đang làm việc ở nước ngoài gồm nhữngngười đi lao động theo Hiệp định cũ (1980- 1990), những người sang Liên Xô cũ và Đông Âulàm việc theo nhiều hình thức khác nhau đã chuyển về nước khoảng trên 1 tỷ USD/năm.

1.4.3 Giai đoạn từ năm 2006 đến 2016:

Ở giai đoạn này, Việt Nam là một đất nước có dân số trẻ với hơn 84 triệu dân, nguồn lựclao động dồi dào cộng với chi phí nhân công rẻ, thị trường lao động Việt Nam được đánh giá

là một trong những thị trường hấp dẫn nhất khu vực Theo thống kê, năm 2006 số người trong

độ tuổi lao động của các nước là 43,44% triệu, trong đó số lao động trong độ tuổi thanh niênchiếm khoảng 47% Mục tiêu đề ra của Bộ Lao động Thương binh và Xã hội, từ nay đến năm

2010 đảm bảo và tạo việc làm cho 49,5 triệu lao động, giảm tỷ lệ thất nghiệp ở thành thịxuống dưới 5% Cụ thể, bình quân mỗi năm giải quyết việc làm cho khoảng 1,52-1,6 triệu laođộng Điều này đặt ra một thách thức to lớn cho các nhà quản lý Trong khi đó, theo Quỹ tiền

tệ quốc tế (IMF), thị trường lao động thế giới hiện nay đã tăng gấp 4 lần so với năm 1980 và

dự báo sẽ tăng gấp đôi vào 2050

Theo như thống kê của Bộ Lao động, Thương binh và xã hội thì hiện có 500 nghìn laođộng đang làm việc có thời hạn ở nước ngoài Nếu chỉ tính riêng năm 2006, số lao động đượcđưa đi làm việc có thời hạn ở nước ngoài là 78.885 lao động, bằng 105% so với chỉ tiêu, vượt12% so với 2005; trong đó, đưa sang thị trường Malaysia nhiều nhất: 37.950 người, tiếp đến

là Đài Loan: 14.120 người, Hàn Quốc: 10.500 người, Nhật Bản: gần 5.400 người Hàng năm

số lao động này chuyển về gia đình khoảng 1,6 tỷ USD, góp phần nâng cao thu nhập cho bảnthân, gia đình và xã hội Song song với việc giữ vững các thị trường truyền thống, Việt Nam

đã mở rộng thị phần tại một số thị trường như, tại Trung Đông, hiện có khoảng 3.000 lao độnglàm việc ở các Tiểu vương quốc Ả- rập thống nhất, gần 2.000 lao động làm việc tại Ca-ta.Đồng thời, Việt Nam đang triển khai kế hoạch đưa lao động sang Ả-rập Xê-út Đặc biệt, nhằm

đa dạng hóa thị trường, đa dạng hóa ngành nghề phù hợp với yêu cầu của nhiều loại thịtrường, chúng ta đã đầu tư nghiên cứu thí điểm đưa lao động sang một số thị trường mới nhưCanada, Macao, Australia, Hoa Kỳ… Với thành công của năm 2006, Bộ Lao động, Thươngbinh và Xã hội cho biết, năm 2007, phấn đấu đưa 80.000 lao động đi làm việc ở nước ngoài,

Trang 27

đồng thời đặt ra kế hoạch từ 2007 đến năm 2010 đưa khoảng 32 vạn lao động đi làm việc ởnước ngoài, tăng tỷ lệ lao động có nghề trong số lao động xuất khẩu lên 65% vào năm 2010 4

(Phụ lục 02)

Theo Tổng cục Thống kê ngày 31-12-2007, tổng sản phẩm trong nước (GDP) năm 2007ước tính tăng 8,48% so với năm 2006, đạt kế hoạch đề ra (8,2-8,5%) Ngân hàng phát triểnchâu Á (ADB) đánh giá, tăng trưởng kinh tế năm 2007 của nước ta đứng vào hàng các quốcgia có tốc độ tăng trưởng kinh tế cao trong khu vực Nền kinh tế Việt Nam năm 2007 có sựtăng trưởng toàn diện trong hầu hết các lĩnh vực Khối lượng vốn đầu tư toàn xã hội thực hiệnnăm 2007 theo giá thực tế ước đạt 461,9 nghìn tỷ đồng, bằng 40,4% GDP (đạt kế hoạch đề ra40% GDP) và tăng 15,8% so với năm 2006

Năm 2008, cả nước đã đưa được gần 87.000 người đi là việc có thời hạn sang nước ngoài

và vượt kế hoạch 0(85.000) Trong đó, Hàn Quốc là một trong những thị trường hấp dẫn nhấtđối với người lao động Việt Nam, vì điều kiện làm việc và thu nhập tương đối cao và ổn định.Trong năm đã có 18.000 lao động đi là việc ở thị trường này Tiếp theo đó Đài Loan cũng lànhững thị trường thu hút nhiều lao động, với 30.000 người lao động trong năm 2008

Năm 2009, Tính đến tháng 8/2009 theo thống kê của Cục Quản lý lao động ngoài nước,

cả nước đã xuất khẩu được 45.634 người, đạt 50,,̃7% so với kế hoạch cả năm Thị trường tiếpnhận chủ yếu là Đài Loan (13.202 người); Hàn Quốc (5.549 người); Nhật Bản (3.793 người);Các tiểu vương quốc Ả rập Thống Nhất (UAE) (3.051 người); Li Bi ( 2660 người); Ma Cao(2.349 người); Malaysia (1.666 người); các thị trường khác là 11.880 người Có thể thấy laođộng của ta tập trung chủ yếu ở các thị trường truyền thống như: Nhật Bản, Hàn Quốc, Đài

Loan Một số thị trường mới mở có số lượng lao động ít hơn (Phụ lục 03)

Năm 2010 - Là năm có dấu hiệu lạc quan Theo thông tin của Cục Quản lý lao động ngoàinước ( Bộ LĐ-TB&XH) cho biết, đến hết quý I-2010, cả nước đã có gần 1.7000 lao độngtham gia chương trình xuất khẩu lao động, cụ thể là: Ở các Tiểu Vương quốc Arập Thống nhất(UAE) có 3.553 người, Bahrain 1.204 người, Arập Xêút 1.038 người, Oman 25 người, Libya1.063 người Tiếp đến là thị trường Đài Loan (Trung Quốc) với 4.567 người, Lào 1.200người, Nhật Bản 1.046 người, Malaysia 728 người, Macau 642 người, Hàn Quốc 513 người,Campuchia 513 người, Liên bang Nga 142 người và các thị trường khác là 808 người Có thểthấy rằng những con số trên có thể sẽ trở thành nguồn cổ vũ tinh thần cho các doanh nghiệp

trong các chương trình XKLĐ (Phụ lục 04)

4 Tiểu luận: “Thị trường xuất khẩu lao động ở Việt Nam: Thực Trạng & Giải Pháp” (2011), truy cập tại nguồn:

https://m.tailieu.vn/doc/tieu-luan-thi-truong-xuat-khau-lao-dong-o-viet-nam-thuc-trang-giai-phap-1307090.html

Trang 28

Năm 2011 được đánh giá là một năm không khởi sắc đối với hoạt động xuất khẩu laođộng của Việt Nam Trong khi tình hình chính trị tại Châu Phi đang bất ổn đã khiến 10.000lao động đang làm việc tại Libya phải quay trở về nước trước thời hạn Ảnh hưởng của độngđất, sóng thần diễn ra tại Nhật Bản để lại hậu quả thương tâm khiến nhiều lao động rơi vàotình cảnh lao đao Suy thoái nền kinh tế thế giới khiến cho nhiều thị trường giảm nhu cầu tiếpnhận lao động Tuy nhiên, đứng trước những khó khăn thách thức đó, Việt Nam vẫn kiêncường vượt qua Đưa được 88.300 người lao động đi làm việc ở nước ngoài, đạt 101,5% như

kế hoạch đề ra ( 32.000 lao động nữ) và đã vượt mục tiêu 87.000 người do Quốc hội đề ra), đó

là một thành công lớn của ngành lao động nước nhà (Phụ lục 05)

Năm 2012 là một năm đầy biến động về kinh tế và thách thức cho ngành xuất khẩu laođộng Theo báo cáo từ Cục Quản lý lao động ngoài nước, kết thúc năm 2012, tổng số lao động

đi làm việc ở nước ngoài năm đạt 80.320 người Trong đó, thị trường Đài Loan hơn 30.500,Hàn Quốc hơn 9.200, Nhật Bản gần 8.800 người, Lào gần 6.200 người, Malaysia gần 9.300người, Campuchia hơn 5.200 người, Macau 2.300 người

Năm 2013 Đề án tái cơ cấu nền kinh tế được Chính phủ phê duyệt vào tháng 02/2013 vớicác 3 nhiệm vụ trọng tâm: tái cơ cấu đầu tư công, tái cơ cấu DNNN và tái cơ cấu NHTM.Theo nhận xét của Tiến sĩ Nguyễn Đình Cung tại Diễn đàn "Phục hồi tăng trưởng và tái cơcấu kinh tế: Cơ hội và thách thức" được CIEM tổ chức vừa qua thì việc thực hiện những nộidung này vẫn còn nhiều "sự ngập ngừng Năm 2013 Theo số liệu thống kê của Cục Quản lýlao động ngoài nước (Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội) vừa công bố, tổng số lao độngViệt Nam xuất khẩu lao động đến hết tháng 11 năm 2013 là 78.664 lao động, đạt 92,5% chỉtiêu kế hoạch năm Theo đó, chỉ tính riêng tháng Mười một vừa qua, số lao động là 8.411 lao

động (3.058 lao động nữ) (Phụ lục 06)

Năm 2014 với con số hơn 100.000 lao động được xem như là một kỷ lục đối với ngànhxuất khẩu lao động của Việt Nam- vượt mức kế hoạch đã đề ra Tuy nhiên, đây cũng là mộtthách thức lớn đối với năm 2015 ở ngành này Cụ thể như sau: Việt Nam có 105.000 lao độngxuất khẩu,đạt 110 % so với kế hoạch đề ra trong năm 2013 là 90.000 lao động Các thị trườngxuất khẩu lao động trọng điểm là Đài Loan hơn 60.000 lao động, tăng 14.000 LĐ so với năm2013; Nhật Bản gần 20.000 lao động, tăng hơn 10 nghìn LĐ so với năm 2013 ; Hàn Quốc gần7.000 lao động, tăng 1500 LĐ so với năm 2013 Đặc biệt hơn, ở năm 2014 có gần 20.000 thựctập sinh, tăng gấp 4 lần so với năm 2010 Tại vùng Trung Đông thì thị trường Ả rập Xê út đãtiếp nhận khoảng 16.000 lao động Việt Nam làm các nghề như giúp việc gia đình, xây dựng,dịch vụ khách sạn, vận tải…Trong đó, lao động Việt Nam làm nghề giúp việc gia đình có hơn4.000 người (chiếm 0,26% số lao động làm nghề này tại Ả rập Xê út)

Trang 29

Tuy nhiên, khi bước sang đến năm 2015 nước ta đưa đi được 115.980 lao động (trong đó,38.640 lao động nữ, chiếm 33,3%); vượt 122% so với kế hoạch năm và bằng 108,5% so vớitổng số lao động đi làm việc ở nước ngoài năm 2014 Đây là năm thứ hai liên tiếp số lượnglao động Việt Nam đi xuất khẩu lao động vượt mức 100.000 lao động/năm Tại các thị trườngĐài Loan, Nhật Bản số lượng lao động đưa đi đều tiếp tục tăng so với năm 2014, cụ thể là:Thị trường Đài Loan: 67.121 người tăng 108%, Thị trường Nhật Bản: 27.010 lao động tăng136.6% so với năm 2014 Riêng 7 tháng đầu năm 2015, cả nước đã đưa được 68.523 lao động

đi làm việc ở nước ngoài, đạt trên 72% kế hoạch năm 2015 và bằng 106,5% so với cùng kỳnăm 20145

Như vậy, trong giai đoạn từ năm 2006 cho đến năm 2016, ngành lao động của Việt Namluôn có những bước tiến mới, chuyển mình và thay đổi để đạt được những thành quả tốt Nếunhư năm 2006, Việt Nam mới đưa trên 78.800 người đi xuất khẩu lao động ở nước ngoài theohợp đồng, thì đến năm 2013, con số này đã vượt lên 88.155 người Đặc biệt, năm 2014, số laođộng Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài tăng kỷ lục, đạt 106.840 người, mức cao nhất từtrước tới nay Riêng 7 tháng đầu năm 2015, cả nước đã đưa được 68.523 lao động, đạt trên72% kế hoạch năm 2015 và bằng 106.5% so với cùng kỳ năm 2014 Nhìn chung, hoạt độngđưa người lao động đi làm việc ở nước ngoài đã đạt được những hiệu quả nhất định, số lượngđưa người đi tăng dần theo hằng năm Bên cạnh đó,chất lượng lao động đi làm việc ở nướcngoài không ngừng được nâng cao và hoạt động của các doanh nghiệp dần đi vào nề nếp.Theo Thông tin từ Bộ Lao động- Thương binh và Xã hội cho biết: “Trong 3 năm 2014 -2016,

tổng số lao động đi làm việc ở nước ngoài trong giai đoạn này xấp xỉ 350.000 người (Phụ lục 07)

Riêng trong năm 2016 có trên 126.00 lao động đi làm việc ở nước ngoài, trong đó ĐàiLoan trên 68.000 lao động, Nhật bản gần 40.000, Hàn Quốc trên 8.000 và Ả rập Xê út có trên4.000 lao động Chúng ta có thể thấy, số lượng người Việt Nam đi xuất khẩu lao động trongthời gian qua đều tăng lên theo các năm

1.4.4 Giai đoạn từ năm 2016 đến nay.

Có thể nói, năm 2018 là năm ấn tượng của kinh tế Việt Nam với các điểm nhấn về hộinhập kinh tế quốc tế khi Hiệp định Đối tác Toàn diện và Tiến bộ xuyên Thái Bình Dương(CPTPP) chính thức có hiệu lực Đây cũng là năm tăng trưởng kinh tế của Việt Nam đạt tốc

độ cao nhất trong vòng 10 năm, trong đó thu hút FDI là “điểm sáng”

5 Bài viết: “Xuất khẩu lao động Nhật Bản 2016 vì người lao động” (2016), link bài viết:

https://laodongxuatkhaunhatban.vn/xuat-khau-lao-dong-nhat-ban-2016-dinh-huong-vi-nguoi-lao-dong.html

Trang 30

Cụ thể, sau 30 năm thu hút đầu tư FDI, hiện cả nước có khoảng 334 tỷ USD vốn đăng kývới hơn 26.600 dự án còn hiệu lực Theo đó, khu vực FDI đã ngày càng phát triển, trở thànhmột trong những khu vực năng động nhất của nền kinh tế FDI đã đóng góp lớn trong việc giatăng năng lực sản xuất và xuất khẩu của Việt Nam Đến nay, khu vực FDI chiếm khoảng 25%tổng vốn đầu tư toàn xã hội, trên 70% tổng kim ngạch xuất khẩu của cả nước.

Ngoài ra, khu vực FDI cũng đã góp phần tăng thu ngân sách, tạo việc làm cho người dân,

ổn định tình hình xã hội Riêng năm 2018, Việt Nam đã thu hút 1.918 dự án cấp phép mới, với

số vốn đăng ký đạt hơn 13,481 tỷ USD, tăng 18,1% về số dự án và 0,2% về vốn đăng ký sovới năm 2017

Đánh giá về chặng đường 30 năm thu hút đầu tư FDI, đại diện Bộ Kế hoạch và Đầu tưkhẳng định, chặng đường 30 năm thu hút FDI đã đạt được nhiều kết quả quan trọng FDI cóvai trò quan trọng, trở thành “điểm sáng” của nền kinh tế Việt Nam

Một kết quả quan trọng khác là đầu tư FDI đã góp phần thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh

tế Hiện FDI đã tạo ra trên 50% giá trị sản xuất công nghiệp, góp phần hình thành một sốngành công nghiệp chủ lực như viễn thông, dầu khí, điện tử, công nghệ thông tin Đây là nềntảng quan trọng cho tăng trưởng dài hạn cũng như thúc đẩy quá trình công nghiệp hóa - hiệnđại hóa đất nước

Năm 2018 còn đánh dấu một bước ngoặt lớn trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế củaViệt Nam khi CPTPP chính thức có hiệu lực sau 7 năm với 40 vòng đàm phán Theo báo cáothuyết minh của Chính phủ, việc tham gia Hiệp định này là động lực giúp Việt Nam nâng caonội lực, đa dạng hóa thị trường để ứng phó với các tác động của kinh tế thế giới đang diễnbiến phức tạp với chiều hướng bảo hộ thương mại gia tăng của các nền kinh tế lớn

Tham gia Hiệp định, GDP của Việt Nam có khả năng tăng thêm 1,32% tính đến năm

2035, trong trường hợp đồng thời cắt giảm thuế quan và tự do hóa dịch vụ, GDP có thể tăngthêm 2,01% Với mức độ cam kết của các nước trong CPTPP, các mặt hàng xuất khẩu có thếmạnh của Việt Nam như nông, thủy sản, điện, điện tử đều được xóa bỏ thuế ngay khi Hiệpđịnh có hiệu lực Tổng giá trị xuất khẩu của Việt Nam có thể tăng thêm 4,04% và nhập khẩutăng thêm 3,8% vào năm 2035; tổng số việc làm tăng thêm hàng năm từ 20.000 đến 26.000lao động

Bên cạnh đó, CPTPP sẽ giúp ta có cơ hội cơ cấu lại thị trường xuất nhập khẩu theo hướngcân bằng hơn, từ đó giúp ta nâng cao tính độc lập tự chủ của nền kinh tế Đồng thời, Việt Nam

có điều kiện rất tốt để thu hút FDI của 10 thành viên còn lại Thông qua thành viên của hiệpđịnh, các nước có nền kinh tế phát triển cao, hệ thống pháp luật hoàn chỉnh, chúng ta sẽ họctập, trao đổi kinh nghiệm để hoàn thành hệ thống pháp luật nước ta, cũng như việc quản lý,điều hành nền kinh tế thị trường

Đánh giá về “Cơ hội vàng” mà CPTPP mang lại, nhiều chuyên gia cho rằng, việc thamgia hiệp định là cơ hội lớn thúc đẩy tăng trưởng kinh tế của Việt Nam cũng như vị thế của

Trang 31

Việt Nam trong khu vực châu Á - Thái Bình Dương, là cầu nối quan trọng đưa Việt Nam hộinhập sâu rộng vào nền kinh tế thế giới Ngoài việc tạo ra một khu vực tự do về thương mạithuộc hàng lớn nhất trên thế giới, CPTPP cũng hứa hẹn đem lại việc làm, tạo cơ hội mới cho

cả người lao động và doanh nghiệp, góp phần nâng cao mức sống của người lao động Bêncạnh đó việc ra nhập CPTPP cũng sẽ đặt ra những thách thức, tăng cạnh tranh trên thị trườnglao động quốc tế trong khi nguồn lao động chất lượng của ta chưa cao

Ngoài ra, CPTPP còn là động lực giúp doanh nghiệp Việt Nam tập trung đổi mới phươngthức sản xuất, nâng cao năng lực cạnh tranh, cải thiện chất lượng hàng hóa dịch vụ, chấtlượng lao động để bắt kịp xu hướng phát triển của thế giới

Năm 2019 Việt Nam là năm thứ sáu liên tiếp số lượng lao động Việt Nam đi làm việc ởnước ngoài vượt mức 100.00 lao động/năm và là năm thứ tư liên tiếp vượt mức 12.000 laođộng/năm (năm 2014:106.840 lao động, năm 2015: 115.980 lao động, năm 2016: 126.289 lao

động, năm 2017:134,751 lao động và năm 2018: 142,860 lao động) (Phụ lục 08)

Theo số liệu thống kê, năm 2019, tổng số lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài là147.387 lao động (trong đó có 49.324 lao động nữ) đạt 122,8% kế hoạch năm 2019, (kế hoạchđưa lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng năm 2019 là 120.000 laođộng), bằng 103,2% so với cả năm 2018 (năm 2018 tổng số lao động Việt Nam đi làm việc ởnước ngoài là 142.860 lao động) trong đó thị trường: Nhật Bản: 80.002 lao động (28.948 laođộng nữ), Đài Loan: 54.480 lao động (18.287 lao động nữ), Hàn Quốc: 7.215 lao động (514lao động nữ), Romania: 1.400 lao động (41 lao động nữ), Ả rập - Xê út: 1.357 lao động (1.062lao động nữ), Malaysia: 454 lao động (138 lao động nữ), Macao: 367 lao động (224 lao độngnữ), Algeria: 359 lao động nam và các thị trường khác

Cộng (12.452 nữ); Hàn Quốc: 1.309 lao động (44 nữ); Rumani: 924 lao động (113 nữ);Ca-ta: 776 lao động; Trung quốc: 596 lao động nam; Singapore: 537 lao động nam….Theo sốliệu mới nhất của Cục Quản lý lao động 00 (Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội), trong 11tháng, tổng số lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài là 54.307 lao động (20.170 laođộng nữ), chỉ đạt 77,6% kế hoạch đã điều chỉnh năm 2020 và chỉ bằng 40,9% so với cùng kỳnăm ngoái Trong 11 tháng năm 2019, tổng số lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài là

132.802 lao động (Phụ lục 09)

Theo số liệu báo cáo, tổng số lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài trong năm

2020 là 78.641 lao động (28.786 nữ), đạt 60,5% kế hoạch được giao năm 2020 (130.000 laođộng), bằng 112,3% kế hoạch đã điều chỉnh của năm (70.000 lao động) do ảnh hưởng củadịch bệnh Covid-19 Số liệu lao động xuất cảnh của một số thị trường chính như sau: Nhậtbản: 38.891 lao động (15.900 nữ); Đài Loan: 34.573 lao động (12.452 nữ); Hàn Quốc: 1.309lao động (44 nữ); Rumani: 924 lao động (113 nữ); Ca-ta: 776 lao động; Trung quốc: 596 laođộng nam; Singapore: 537 lao động nam….Theo số liệu mới nhất của Cục Quản lý lao động 00(Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội), trong 11 tháng, tổng số lao động Việt Nam đi làm

Trang 32

việc ở nước ngoài là 54.307 lao động (20.170 lao động nữ), chỉ đạt 77,6% kế hoạch đã điềuchỉnh năm 2020 và chỉ bằng 40,9% so với cùng kỳ năm ngoái Trong 11 tháng năm 2019, tổng

số lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài là 132.802 lao động

Trong 11 tháng qua, Nhật Bản là thị trường tiếp nhận nhiều người lao động đến từ ViệtNam nhất với 27.325 lao động (11.151 lao động nữ), sau đó là Đài Loan (Trung Quốc) 23.403lao động, Hàn Quốc 1.077 lao động Romania 481 lao động, Trung Quốc: 464 lao động.Singapore 341 lao động, Uzbekistan 227 lao động Algeria 150 lao động và các thị trườngkhác

Tuy nhiên do chịu ảnh hưởng bởi đại Dịch Covid-19 nên chỉ tính riêng trong tháng 11 thìViệt Nam có 7.007 lao động (2.397 lao động) đi làm việc ở nước ngoài, bằng 47,43% so vớicùng kỳ năm ngoái Các thị trường tiếp nhận lao động Việt Nam gồm có: Nhật Bản 3.562 laođộng, Đài Loan ( Trung Quốc) 3.027 lao động Trung Quốc 142 lao động, Singapore 92 laođộng, Romania 71 lao động, Hàn Quốc 45 lao động, Ba Lan 31 lao động và các thị trường

Trang 33

TIỂU KẾT CHƯƠNG 1

Ở nội dung chương I, nhóm tác giả đã tiến hành nghiên cứu, trình bày những vấn đề cóliên quan trực tiếp đến Xuất khẩu lao động của Việt Nam, cụ thể những vấn đề đã nêu ởchương I gồm có:

Khái quát được cơ sở lý luận về XKLĐ, nhóm tác giả đã nêu ra một số khái niệm chung

về xuất khẩu lao động để thấy rằng đây là một hoạt động thuộc lĩnh vực kinh tế- xã hội Nóđem lại lợi ích không chỉ cho các quốc gia tham gia, xuất -nhập khẩu lao động mà còn đem lạilợi ích cho chính người lao động, tổ chức dịch vụ XKLĐ, người sử dụng lao động Trong đó,nhóm tác giả còn đưa những khái niệm về “ Lao động” theo quan điểm của Chủ nghĩa Mác-Lênin, khái niệm “ Người lao động” dưới góc độ pháp lý được quy định tại khoản 1 Điều 3

Bộ luật Lao động 2019, khái niệm về “ Thị trường lao động” và chỉ ra được mối quan hệ giữacung lao động, cầu lao động tác động qua lại với nhau thông qua thị trường lao động Từ đólàm cơ sở để hình thành nên thị trường lao động trong nước và thị trường lao động quốc tế.Xuất phát từ vấn đề về XKLĐ, nhóm tác giả còn tìm hiểu và phân tích thêm những thuộc tínhcủa hoạt động xuất khẩu lao động để phân biệt với các hoạt động Kinh tế - Xã hội khác và chỉ

ra được nguyên nhân hình thành nên hoạt động xuất khẩu lao động này

Sau khi đã khái quát đầy đủ về những cơ sở lý luận trên, nhóm tác giả lại tiếp tục nghiêncứu về các nhân tố ảnh hưởng đến xuất khẩu lao động bao gồm: quan hệ cung- cầu về laođộng trên thị trường quốc tế; chất lượng nguồn lao động xuất khẩu; thể chế, luật pháp và địnhhướng của quốc gia xuất khẩu lao động và nhập khẩu lao động

Và cuối cùng là nhóm tác giả đã sơ lược tình hình xuất khẩu lao động của Việt Nam bắtđầu từ thời kỳ đất nước đổi mới 1986 Để độc giả có góc nhìn tổng quát hơn về hoạt độngxuất khẩu lao động xuyên suốt các giai đoạn lịch sử từ giai đoạn 1986 đến năm 2006; giaiđoạn từ năm 2006 đến năm 2016 và giai đoạn từ năm 2016 đến nay có những chuyển biếntích cực, đổi mới và từng bước phát triển, các số liệu cũng được đề cập và thống kê qua từnggiai đoạn Trên cơ sở đó, nhóm tác giả lại tiếp tục đi sâu tìm hiểu và nghiên cứu về thực trạngcủa hoạt động xuất khẩu lao động của Việt Nam hiện nay

Trang 34

CHƯƠNG II THỰC TRẠNG VỀ XUẤT KHẨU LAO ĐỘNG CỦA VIỆT NAM

HIỆN NAY 2.1 Tình hình dân số Việt Nam

2.1.1 Mật độ dân số của nước ta hiện nay

Theo kết quả TĐT năm 2019, tính tới 0 giờ ngày 01/4/2019, tổng số dân của Việt Nam là96.208.984 người, quy mô dân số Việt Nam tăng thêm 10,4 triệu người so với 2018 Trong đó,dân số nam là 47.881.061 người, chiếm 49,8%; dân số nữ là 48.327.923 người, chiếm 50,2%.Việt Nam là quốc gia đông dân thứ ba trong khu vực Đông Nam Á (sau In-đô-nê-xi-a và Phi-li-pin) và thứ 15 trên thế giới Như vậy sau 10 năm, quy mô dân số Việt Nam đã tăng thêm10,4 triệu người Tỷ lệ tăng dân số bình quân năm giai đoạn 2009-2019 là 1,14%/năm, giảmnhẹ so với giai đoạn 1999 - 2009 (1,18%/năm)

Trong tổng số 54 dân tộc tại Việt Nam, dân tộc Kinh chiếm đa số (85,3%) với quy mô82,1 triệu người Tỷ lệ tăng dân số bình quân năm của dân tộc Kinh giai đoạn 2009 - 2019 là1,09%/năm thấp hơn mức bình quân chung của cả nước (1,14%/năm) và thấp hơn tỷ lệ tăngdân số bình quân năm của nhóm dân tộc khác (1,42%) Trong 53 dân tộc thiểu số, 6 dân tộc

có dân số trên 1 triệu người là: Tày, Thái, Mường, Mông, Khmer, Nùng (trong đó dân tộc Tày

là dân tộc đông dân nhất với 1,85 triệu người); 11 dân tộc có dân số dưới 5000 người, trong

đó Ơ Đê là dân tộc có dân số thấp nhất (428 người)

Kết quả TĐT năm 2019 cho thấy, mật độ dân số của Việt Nam là 290 người/km2, tăng 31người/km2 so với năm 2009 Với kết quả này, Việt Nam là quốc gia có mật độ dân số đứngthứ ba trong khu vực Đông Nam Á, sau Phi-li-pin (363 người/km2) và Xin-ga-po (8.292người/km2)

Đồng bằng sông Hồng và Đông Nam Bộ là hai vùng có mật độ dân số cao nhất toànquốc, tương ứng là 1.060 người/km2 và 757 người/km2 Đây là những vùng bao gồm hai địaphương đông dân nhất cả nước, trong đó Hà Nội thuộc vùng Đồng bằng sông Hồng với mật

độ dân số là 2.398 người/km2 và thành phố Hồ Chí Minh thuộc vùng Đông Nam Bộ với mật

độ dân số là 4.363 người/km2

Trung du và miền núi phía Bắc và Tây Nguyên là hai vùng có mật độ dân số thấp nhất,tương ứng là 132 người/km2 và 107 người/km2 Thành phố Hồ Chí Minh có mật độ dân sốcao nhất, cao hơn gần 86 lần so với tỉnh Lai Châu (có mật độ dân số là 51 người/km2), là địaphương có mật độ dân số thấp nhất cả nước

2.1.2 Phân bố dân cư giữa các vùng

Theo kết quả TĐT năm 2019, dân số thành thị là 33.122.548 người, chiếm 34,4% tổngdân số cả nước; dân số nông thôn là 63.086.436 người, chiếm 65,6% Tỷ lệ tăng dân số bìnhquân năm khu vực thành thị giai đoạn 2009-2019 là 2,64%/năm, tăng gấp sáu lần so với tỷ lệ

Trang 35

tăng dân số bình quân năm khu vực nông thôn song vẫn thấp hơn mức tăng 3,4%/năm củagiai đoạn 1999-2009 Tỷ lệ dân số sống ở khu vực thành thị của Việt Nam đã tăng lên nhữngvẫn đang ở mức thấp so với các nước trong khu vực Đông Nam Á, chỉ cao hơn Ti-mo Lét-xtê(31%), Mi-an-ma (29%) và Cam-pu-chia (23%).

Dân số Việt Nam phân bố không đồng đều giữa các vùng kinh tế - xã hội, trong đó, Đồngbằng sông Hồng là nơi tập trung dân cư lớn nhất của cả nước với 22,5 triệu người, chiếm23,4% tổng dân số cả nước; tiếp đến là vùng Bắc Trung Bộ và Duyên hải miền Trung với 20,2triệu người đang sinh sống, chiếm 21,0% Tây Nguyên là nơi có ít dân cư sinh sống nhất với5,8 triệu người, chiếm 6,1% dân số cả nước Giai đoạn 2009-2019, Đông Nam Bộ có tỷ lệtăng dân số bình quân cao nhất cả nước (2,37%/năm), đây là trung tâm kinh tế năng động, thuhút rất nhiều người di cư đến làm ăn, sinh sống và học tập; Đồng bằng sông Cửu Long có tỷ

lệ tăng dân số bình quân thấp nhất (0,05%/năm )

Kết quả TĐT năm 2019 cho thấy, quy mô dân số chủ yếu của các tỉnh trên cả nước là từ 1đến 2 triệu người (35 tỉnh), tiếp đến là nhóm các tỉnh có quy mô dân số nhỏ, dưới 1 triệungười (21 tỉnh), 7 tỉnh có quy mô dân số trên 2 triệu người Hai thành phố là Hà Nội và thànhphố Hồ Chí Minh có quy mô dân số lớn nhất cả nước (tương ứng là 8.053.663 người và8.993.082 người), trong đó chênh lệch về dân số giữa địa phương đông dân nhất cả nước(thành phố Hồ Chí Minh) và địa phương ít dân số nhất cả nước (tỉnh Bắc Kạn) là trên 28 lần.Việc phân bố dân cư không đồng đều giữa các địa phương chủ yếu là do điều kiện kinh

tế, văn hóa, xã hội, tiếp cận việc làm, giáo dục và dịch vụ y tế của một số địa phương có lợithế hơn hẳn các địa phương khác nên di cư để lựa chọn nơi sinh sống phù hợp hơn là mộttrong những lý do làm gia tăng chênh lệch về tăng dân số ở một số địa phương Tình hình nàyxảy ra ngay cả trong điều kiện những tỉnh có đông dân nhưng tỷ lệ sinh luôn thấp hơn mứcsinh thay thế trong nhiều thập kỷ qua

2.1.3 Tỷ số giới tính ở các nhóm tuổi:

Kết quả TĐT năm 2019 cho thấy, tỷ số giới tính của dân số Việt Nam là 99,1 nam/100 nữ.Trong đó, tỷ số giới tính khu vực thành thị là 96,5 nam/100 nữ, khu vực nông thôn là 100,4nam/100 nữ Tỷ số giới tính của dân số Việt Nam liên tục tăng nhưng luôn ở mức dưới 100 kể

từ TĐT năm 1979 đến nay

Tỷ số giới tính có sự khác biệt theo các nhóm tuổi, tuổi càng cao tỷ số giới tính càngthấp, cao nhất ở nhóm 0-4 tuổi (110,3 nam/100 nữ) và thấp nhất ở nhóm từ 80 tuổi trở lên(48,6 nam/100 nữ) Tỷ số giới tính gần như cân bằng ở nhóm 45-49 tuổi (100,2 nam/100 nữ)

và bắt đầu giảm xuống dưới 100 ở nhóm 50-54 tuổi (95,9 nam/100 nữ) Kết quả TĐT năm

2019 cũng cho thấy có sự khác biệt đáng kể về tỷ số giới tính giữa các vùng Trung du và

Trang 36

miền núi phía Bắc và Tây Nguyên là hai vùng có tỷ số giới tính cao nhất, tương ứng là 100,9nam/100 nữ và 101,7 nam/100 nữ; trong khi đó, Đông Nam Bộ là vùng có tỷ số giới tính thấpnhất, 97,8 nam/100 nữ.

2.1.4 Cơ cấu dân số vàng:

Kết quả TĐT năm 2019 cho thấy tỷ trọng dân số từ 15-64 tuổi chiếm 68,0% (giảm 1,1điểm phần trăm so với năm 2009), tỷ trọng dân số dưới 15 tuổi và từ 65 tuổi trở lên chiếm lầnlượt là 24,3% và 7,7% Như vậy, Việt Nam đang trong thời kỳ “cơ cấu dân số vàng” khi mà

cứ một người phụ thuộc thì có hai người trong độ tuổi lao động Dự báo đến khoảng năm

2040, Việt Nam sẽ kết thúc thời kỳ “cơ cấu dân số vàng”

Mặc dù thời kỳ cơ cấu dân số vàng tạo ra nhiều thuận lợi, thế mạnh song cũng đặt rakhông ít những khó khăn, thách thức cần phải giải quyết Ngoài các vấn đề về nâng cao trình

độ kỹ năng của người lao động để nâng cao chất lượng nguồn nhân lực đáp ứng nhu cầu củathị trường lao động nhất là trong bối cảnh cuộc cách mạng công nghệ 4.0, kết nối cung cầu thịtrường lao động thì việc giảm bớt áp lực về thiếu việc làm, trật tự, an ninh xã hội cần tiếp tục

được quan tâm (Phụ lục 10)

2.1.5 Thực trạng già hóa dân số tại Việt Nam

Do sự biến đổi về cơ cấu tuổi của dân số theo xu hướng tỷ trọng của trẻ em dưới 15 tuổigiảm và tỷ trọng của dân số từ 60 tuổi trở lên tăng đã làm cho chỉ số già hóa có xu hướng tănglên nhanh chóng trong hai thập kỷ qua: Chỉ số già hóa năm 2019 là 48,8%, tăng 13,3 điểmphần trăm so với năm 2009 và tăng hơn hai lần so với năm 1999 Chỉ số già hóa có xu hướngtiếp tục tăng lên trong những năm sắp tới Đồng bằng sông Cửu Long và Đồng bằng sôngHồng là hai vùng có chỉ số già hóa cao nhất cả nước (tương ứng là 58,5% và là 57,4%) TâyNguyên là nơi có chỉ số già hóa thấp nhất so với các vùng còn lại trên cả nước (28,1%) Giàhóa dân số đang trở thành một trong những chủ đề được quan tâm không chỉ ở Việt Nam màtrên toàn thế giới Già hóa dân số sẽ tác động đến hầu hết các lĩnh vực của đời sống xã hội baogồm: thị trường lao động, lực lượng lao động, tài chính, nhu cầu về các hàng hóa, dịch vụ,giáo dục, an sinh xã hội và chăm sóc sức khỏe cho người cao tuổi, Kết quả TĐT năm 2019cũng cho thấy, trong 10 năm qua, tỷ số phụ thuộc chung của nước ta đã tăng 2,4 điểm phầntrăm, chủ yếu là do tăng nhóm dân số từ 65 tuổi trở lên

Như vậy, vấn đề già hóa đang đặt ra thách thức cho Việt Nam khi tốc độ già hóa nhanhtrong bối cảnh nước ta vẫn là một quốc gia có mức thu nhập trung bình thấp Vì vậy, cần cónhững chính sách để đảm bảo thích ứng với già hóa dân số Trong đó, cải thiện công tác chămsóc sức khỏe cho người cao tuổi và hệ thống an sinh xã hội, chính sách lao động cho ngườicao tuổi nhưng vẫn đang tham gia hoạt động kinh tế giúp giải quyết các vấn đề về xã hội,

Trang 37

nâng cao mức sống, góp phần thúc đẩy hoạt động sản xuất hàng hóa, dịch vụ, tăng quy môsản xuất.

2.2 Tổng quan về người lao động đi làm người nước ngoài theo hợp đồng

2.2.1 Nguyên nhân dẫn tới xuất khẩu lao động sang các nước phát triển

*Do nước ta có nguồn lao động dồi dào

Dân số trong độ tuổi từ 15 đến 64 chiếm đến 68% tổng dân số nên vấn đề giải quyết việclàm cho nhóm tuổi này là rất quan trọng, mặt khác trong nước, lượng cung cầu chênh lệch khácao nên người lao động thiếu việc làm đang là thực trạng đáng báo động Nguồn lao động củachúng ta đang có xu hướng chuyển dần từ lao động phổ thông sang lao động chất lượng cao,chuyên môn nghiệp vụ tốt Mà trong khi đó, các nước phát triển lại rất cần nguồn lao độngnày do họ đang thiếu nguồn nhân lực để làm chủ máy móc, công nghệ Chính vì vậy, chúng tamuốn giải quyết được vấn đề việc làm thì phải hướng tới các nước có nhu cầu cao hơn

*Do có chính sách hỗ trợ của nhà nước khuyến khích đi xuất khẩu lao động.

Trong những năm qua, nhà nước vô cùng chú trọng vấn đề giải quyết việc làm cho ngườilao động, một trong điểm nổi bật nhất đó chính là ban hành Luật Người lao động Việt Nam đilàm ở nước ngoài theo hợp đồng năm 2020 có hiệu lực thi hành vào 01/01/2022 thay thế choLuật Người lao động Việt Nam đi làm ở nước ngoài theo hợp đồng năm 2006 nhằm hoànthiện, bổ sung thêm cơ sở pháp lý để bảo vệ quyền và lợi ích cho người lao động xuất khẩulao động yên tâm đi làm

Bên cạnh đó có cả các khoản vay vốn giúp người lao động có thêm nguồn tài chính đểgiải quyết các thủ tục cũng như để tạo động lực đi xuất khẩu như lãi suất thấp, số tiền đượcvay bằng 80% số tiền cần thiết trong hợp đồng ký với doanh nghiệp xuất khẩu lao động, thờihạn vay tối đa bằng với thời gian ghi trong hợp đồng, cố định và được tính lãi suất theo thờiđiểm vay vốn Chính nhờ những khoản vay này đã giúp người lao động yên tâm đi làm xanhà

*Do điều kiện sinh hoạt và lao động ở các nước phát triển tốt hơn một số nước khác

Hiện nay, các nước phát triển họ đã tạo điều kiện tốt hơn cho người lao động nước ngoàiđến và ở lại làm việc, bởi họ luôn có những chính sách tốt nhất để níu giữ nguồn lao động kỹthuật cao ở lại cho nước mình Những người lao động xa quê hương rất cần những sự quantâm của nước sở tại nơi mà họ làm việc trong quá trình sinh hoạt cũng như lao động, nếu xảy

ra vấn đề về nhà ở và đi lại thì người lao động rất khó có thể tập trung cho công việc của mìnhcho nên đây là vấn đề vô cùng cần thiết cho người lao động ở nước ngoài

2.2.2 Số lượng người lao động Việt Nam đi làm việc tại nước ngoài theo hợp đồng

Trang 38

Về đưa người lao động đi làm việc ở nước ngoài: Nhìn chung, từ năm 2011 đến 2019, Sốngười đi Xuất khẩu lao động (XKLĐ) tăng dần đều từ 88.298 người lên 152.530 người, bình

quân hàng năm tăng hơn 5.700 người (Phụ lục 11)

Nhìn chung, qua các năm thị trường hướng tới của người lao động Việt Nam vẫn là cácnước truyền thống như Hàn Quốc, Nhật Bản và Đài Loan, Có thể thấy đây là những thịtrường vô cùng tiềm năng và phù hợp với lợi thế của Việt Nam Số lượng doanh nghiệp đưangười lao động ra nước ngoài tăng đều qua các năm tạo điều kiện thuận lợi cho người dân đixuất khẩu lao động Tính đến quý 3/2020 thị trường lao động Nhật Bản là nơi thu hút nhiềulao động Việt Nam đến nhất, sau đó phải kể đến Đài Loan

Tính tổng trong cả giai đoạn 2011 - 2019, thị trường XKLĐ chủ yếu tập trung ở Châu Ávới 985.730 lao động, chiếm tới hơn 96% thị trường Đứng thứ 2 là thị trường Châu Phi với2.9% tương đương với 29.777 người lao động Việt Nam làm việc tại đây Ba thị trường còn lại(Châu Âu, Châu Mỹ, Châu Đại Dương) chiếm tỷ lệ dưới 1% Số liệu trên cho thấy thị trườngxuất khẩu lao động của Việt Nam chủ yếu là ở Châu Á, Châu Phi Các thị trường đòi hỏi laođộng chất lượng cao, ngoại ngữ tốt như Châu Mỹ và Châu đại dương chưa được quan tâmkhai thác

Theo số liệu thống kê của Bộ Lao động - Thương binh và xã hội năm 2019 thì lượng laođộng ở nước ta xuất khẩu ra nước ngoài cao hơn so với năm 2018, trong đó tỷ lệ nữ còn thấphơn nam nhưng cũng đạt số lượng khá cao Trong năm 2019, tổng số lao động Việt Nam đi

làm việc ở nước ngoài là 152.530 người, nữ là 54.758 người (chiếm 35,9%).(Phụ lục 12)

Như vậy, lao động Việt Nam đã có chiều hướng cân bằng về giới tính trong xuất khẩu laođộng, những công việc không đòi hỏi đặc thù về giới tính đang ngày càng được chú ý đếnhơn, tạo việc làm cho nữ giới đi xuất khẩu Như trước đây, những công việc đòi hỏi cơ bắp chỉdành cho nam giới đi làm thì nay đã xuất hiện thêm một số ngành nghề đòi hỏi sự cẩn thậncho nữ giới có thể kể đến như may mặc, đóng hàng, …

2.2.3 Các ngành nghề người lao động xuẩu hướng tới

* Ở thị trường Nhật Bản, theo số liệu thống kê mới nhất thì Việt Nam có khoảng hơn 70ngành nghề có nhu cầu xuất khẩu lao động sang Nhật Bản Tuy nhiên chỉ có 7 ngành nghềphổ biến nhất trong những năm gần đây bao gồm có cơ khí, xây dựng, ngành chế biến thựcphẩm, ngành may mặc, ngành nông nghiệp, chế biến thủy sản, ngành ô tô

*Ở thị trường Đài Loan thì lại chia theo nhóm đơn hàng làm việc trong công xưởng vàđơn hàng giúp việc gia đình, hộ lý, viện dưỡng lão Với đơn hàng làm việc trong công xưởngthì có ngành cơ khí, ngành xây dựng, chế biến thực phẩm, ngành chế biến thủy hải sản,lắp ráplinh kiện điện tử

Trang 39

- Ngành cơ khí đóng vai trò chủ lực và cần nhiều nguồn lao động, tuy nhiên do nguồnlượng công nhân của quốc gia này không đủ để đáp ứng nên Đài Loan mở rộng tuyển dụnglao động từ Việt Nam Đối với ngành này thì Việt Nam hầu hết công nhân nam chiếm sốlượng đông, trung bình mỗi tháng họ nhận được lương khoảng từ 19-23 triệu

- Ngành xây dựng tuy không đòi hỏi kinh nghiệm quá nhiều tuy nhiên chỉ cần người laođộng cần cù chịu khó làm việc là có thể nhận vào làm lắp ráp giàn giáo, xây trát với mứclương cơ bản khoảng từ 18-20 triệu/ tháng

- Ngành chế biến thực phẩm với mức lương cơ khoảng từ 17-20 triệu đồng, còn vớingành chế biến thủy sản thì người lao động có thu nhập trong khoảng 19-21 triệu/ tháng vìnhu cầu tuyển dụng đơn hàng chế biến hải sản ở thị trường Đài Loan rất cao tuy nhiên yêu cầungười lao động phải chịu đựng được môi trường lạnh, không dị ứng với hải sản

- Ngành dệt may hiện nay đang mức lương trung bình khoảng từ 20-23 triệu/tháng Lắpráp linh kiện điện tử thì mức lương khoảng 17-20 triệu chưa tính tăng ca

Đối với nhóm đơn hàng giúp việc gia đình, hộ lý viện dưỡng lão bao gồm có giúp việcgia đình với mức lương thực tế nhận được từ 15-17 triệu/tháng; hộ lý trong viện dưỡng lão làmột công việc nhẹ nhàng, cẩn trọng thường yêu cầu nữ giới nhanh nhẹn, cẩn trọng (Ưu tiêncho người có trình độ Trung cấp hoặc Cao đẳng y tế, y điều dưỡng) Tổng thu nhập của ngànhnghề này khoảng từ 18- 19 triệu/tháng

Ở thị trường Trung Đông, người lao động Nam chủ yêu làm trong ngành nghề lắp ốngnước, lắp ống kẽm, thợ điện dân dụng, lương cơ bản 1400QR/tháng tương đương 390 USD;ngành đốc công xây dựng; ngành thợ điện, đóng gói

2.2.3 Các thị trường lao động mà người lao động xuất khẩu hướng tới

2.2.3.1 Nhật bản:

Các nước Đông Bắc Á, trong đó có Nhật Bản luôn là thị trường xuất khẩu lao động chủlực của Việt Nam Dân số Nhật Bản hiện nay là 126 triệu người tính đến ngày 03/03/2021theo số liệu từ Liên Hợp Quốc, chiếm 1.61% dân số thế giới Nhật Bản là cường quốc lớn thứ

3 trên thế giới Mức lương trung bình một năm của người Nhật là 1.140.000 yên tương đươngkhoảng 800 triệu đồng Có thể thấy mức lương trung bình của họ cao hơn rất nhiều so vớingười Việt Nam Hiện nay Nhật Bản đang phải đối mặt với một vấn đề xã hội có ảnh hưởngtiêu cực đến nguồn lao động trong nước, tỷ lệ người già ngày càng tăng lên trong khi tỉ lệ sinhngày càng giảm Điều này dẫn đến việc số lượng lớn người tham gia lao động ngày cànggiảm

Để đảm bảo cho sự tăng trưởng kinh tế của mình, Nhật bản đã tái cấu trúc lại cơ cấu nềnkinh tế theo hướng tăng nhanh hàm lượng chất xám của những người lao động có trình độcao, giảm dần lao động giản đơn và cơ bắp Họ di chuyển các nhà máy và xí nghiệp sử dụng

Trang 40

nhiều lao động ra nước ngoài ví dụ như sang Trung quốc, Việt Nam, Malaysia,… và tiếp nhậnnhững lao động có chuyên môn cao tại các nước này.

Chủ trương của Chính phủ Nhật bản là không tiếp nhận lao động từ nước ngoài, nhưng

do bối cảnh trong nước và sự thiếu hụt về nguồn nhân lực trầm trọng hiện nay buộc Nhật bảnphải ký các hiệp định về xuất khẩu lao động Nhật bản và các nước tăng cường hợp tác xuấtkhẩu dưới dạng tu nghiệp sinh giữa 2 nước với nhau để chuyển giao công nghệ, kiến thức và

kỹ năng chuyên môn nhằm đóng góp vào sự phát triển của nguồn nhân lực các nước đangphát triển

*Thực trạng xuất khẩu lao động sang Nhật Bản:

Xác định Nhật Bản là một trong những thị trường xuất khẩu lao động chủ lực nên ViệtNam đã tích cực khai thác thị trường tiềm năng này Bắt đầu từ năm 1992, chúng ta đã gửi tunghiệp sinh sang nhật và từ đó đến nay đã có đến hơn 40.000 tu nghiệp sinh đang học tập vàlàm việc trong các công ty của Nhật bản Tu nghiệp sinh sang nhật bản làm việc trong 53ngành nghề, trong đó lĩnh vực công nghiệp chiếm tỉ trọng cao nhất, tiếp đó là lĩnh vực giaothông, thủy sản Họ phân bố đồng đều trên mọi miền của Nhật bản

Nét mới đáng chú ý là gần đây Việt Nam đã đưa sang Nhật Bản khoảng 1.000 kỹ sư, kỹthuật viên tin học Số lao động này đi theo các công ty xuất khẩu lao động hoặc đi theo conđường cá nhân Hiện nay, Việt Nam có 99 doanh nghiệp được phép đưa lao động sang NhậtBản làm việc và tu nghiệp Ngoài ra, còn có khá nhiều công ty là các công ty con hoặc liêndoanh đã trực tiếp tuyển lao động sang Nhật Bản Mặc dù gần đây số lượng lao động sangNhật tăng chậm, song Việt Nam hiện là nước đứng thứ 2 sau Trung Quốc và vượt cả Philippin

và Indonesia về số lượng TNS ở thị trường này Nhìn chung, phía Nhật Bản đánh giá cao taynghề và sự cần cù chịu khó của người lao động Việt Nam Hầu hết lao động có thu nhập khá,cuộc sống ổn định và đóng góp tốt cho doanh nghiệp, gia đình Trong số TNS có nhiều ngườiđạt giải trong các kỳ thi tay nghề và tiếng Nhật.6

*Mặt tích cực :

Thứ nhất, mang lại thu nhập cao cho người lao động, tùy vào từng đơn hàng và việc làmthêm của từng cá nhân mà mức lương sẽ có sự dao động Tuy nhiên mặt bằng chung sẽ gấp 4đến 5 lần thu nhập bình quân của người lao động tại Việt Nam

Thứ hai đi xuất khẩu lao động tại Nhật Bản sẽ được đào tạo về tác phong và kĩ năng làmviệc Nhật bản được biết đến là quốc gia có tính kỷ luật cao nhất thế giới, họ tuân thủ nghiêm

6 Bài viết: “Xuất khẩu lao động năm 2019: Cơ hội việc làm tốt, thu nhập cao” (2019), truy cập tại nguồn:

https://www.vietnamplus.vn/xuat-khau-lao-dong-nam-2019-co-hoi-viec-lam-tot-thu-nhap-cao/544204.vnp

Ngày đăng: 20/10/2021, 16:11

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Dương Thanh Thủy (2013), Luận văn “ Hoạt động xuất lao động của Việt Nam sang thị trường Đài Loan”, Trường Đại học quốc gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: “ Hoạt động xuất lao động của Việt Nam sangthị trường Đài Loan”
Tác giả: Dương Thanh Thủy
Năm: 2013
2. Lê Quang Hiển (2017), Luận văn “ Quản lý nhà nước về xuất khẩu lao động thanh niên trên địa bàn tỉnh Vĩnh Phúc”, Trường Đại học quốc gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quản lý nhà nước về xuất khẩu lao động thanhniên trên địa bàn tỉnh Vĩnh Phúc”
Tác giả: Lê Quang Hiển
Năm: 2017
3. Nguyễn Thị Như Quỳnh (2009), “ Giải quyết tranh chấp về đưa người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài”, Trường Đại học quốc gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: “ Giải quyết tranh chấp về đưa người lao động ViệtNam đi làm việc ở nước ngoài”
Tác giả: Nguyễn Thị Như Quỳnh
Năm: 2009
4. Trần Thị Hồng Tuyết (2015), Luận văn “ Xuất khẩu lao động của Việt Nam sang thị trường Nhật Bản”, Trường Đại học quốc gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: “ Xuất khẩu lao động của Việt Nam sang thịtrường Nhật Bản”
Tác giả: Trần Thị Hồng Tuyết
Năm: 2015
5. Bùi Thu Thủy (2014), Luận văn “ Xuất khẩu lao động Việt Nam sang thị trường Đông Bắc Á: Thực trạng và giả pháp”, Trường Đại học quốc gia Hà Nội.● Bài báo, bài đăng tạp chí Sách, tạp chí
Tiêu đề: Xuất khẩu lao động Việt Nam sang thị trường ĐôngBắc Á: Thực trạng và giả pháp
Tác giả: Bùi Thu Thủy
Năm: 2014
1. Bài viết: “Xuất khẩu lao động Nhật Bản 2016 vì người lao động” (2016), truy cập tại nguồn: https://laodongxuatkhaunhatban.vn/xuat-khau-lao-dong-nhat-ban-2016-dinh-huong-vi-nguoi-lao-dong.html Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Xuất khẩu lao động Nhật Bản 2016 vì người lao động”
Tác giả: Bài viết: “Xuất khẩu lao động Nhật Bản 2016 vì người lao động”
Năm: 2016
2. Bài viết: “Xuất khẩu lao động năm 2019: Cơ hội việc làm tốt, thu nhập cao” (2019), truy cập tại nguồn: https://www.vietnamplus.vn/xuat-khau-lao-dong-nam-2019-co-hoi-viec-lam-tot-thu-nhap-cao/544204.vnp Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Xuất khẩu lao động năm 2019: Cơ hội việc làm tốt, thu nhập cao”
Tác giả: Bài viết: “Xuất khẩu lao động năm 2019: Cơ hội việc làm tốt, thu nhập cao”
Năm: 2019
3. Bài viết : “Trung Đông: Thị trường tiềm năng đối với lao động Việt Nam” (2009), truy cập tại nguồn Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Trung Đông: Thị trường tiềm năng đối với lao động Việt Nam”
Tác giả: Bài viết : “Trung Đông: Thị trường tiềm năng đối với lao động Việt Nam”
Năm: 2009
4. Bài viết: “Thực trạng và giải pháp tăng cường hiệu quả công tác xuất khẩu lao động tại Nghệ An” (2020), truy cập tại nguồn: https://tapchicongthuong.vn/bai-viet/thuc-trang-va-giai-phap-tang-cuong-hieu-qua-cong-tac-xuat-khau-lao-dong-tai-nghe-an-71234.htm Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Thực trạng và giải pháp tăng cường hiệu quả công tác xuất khẩu lao độngtại Nghệ An”
Tác giả: Bài viết: “Thực trạng và giải pháp tăng cường hiệu quả công tác xuất khẩu lao động tại Nghệ An”
Năm: 2020
5. Bài viết: “Xuất Khẩu 54.000 Lao động Có Trình độ Cao” (2020) truy cập tại nguồn:http://market.giavang.com.vn/article/1761/xuat-khau-54000-lao-dong-co-trinh-do-cao Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Xuất Khẩu 54.000 Lao động Có Trình độ Cao”
6. Bài viết: “Lao động Bình Dương xkld Nhật có đãi ngộ gì không” (2021) truy cập tại nguồn: https://baoasahi.com/lao-dong-binh-duong-xkld-nhat-co-dai-ngo-gi-khong.html#Thitruong lao dong_o_Binh_Duong nam 2021 Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Lao động Bình Dương xkld Nhật có đãi ngộ gì không”
7. Bài viết: “Nhiều rủi ro với phụ nữ khi lao động chui ở nước ngoài” (2019), truy cập tại nguồn: https://vtv.vn/van-de-hom-nay/nhieu-rui-ro-voi-phu-nu-khi-lao-dong-chui-o-nuoc-ngoai-20191219003401703.htm Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Nhiều rủi ro với phụ nữ khi lao động chui ở nước ngoài”
Tác giả: Bài viết: “Nhiều rủi ro với phụ nữ khi lao động chui ở nước ngoài”
Năm: 2019
8. Bài viết: “Xuất khẩu lao động năm 2015: Vẫn tăng trưởng nhưng kém bền vững” Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Xuất khẩu lao động năm 2015: Vẫn tăng trưởng nhưng kém bền vững
9. Bài viết: “Một số giải pháp phát triển hoạt động xuất khẩu lao động tại chỗ ở Việt Nam” (2013), truy cập tại nguồn: https://m.tailieu.vn/doc/de-tai-mot-so-giai-phap-phat-trien-hoat-dong-xuat-khau-lao-dong-tai-cho-o-viet-nam-1602807.html Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Một số giải pháp phát triển hoạt động xuất khẩu lao động tại chỗ ở ViệtNam”
Tác giả: Bài viết: “Một số giải pháp phát triển hoạt động xuất khẩu lao động tại chỗ ở Việt Nam”
Năm: 2013
10. Bài viết: “Nghiên cứu thực trạng và giải pháp cho xuất khẩu lao động ở Việt Nam” Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Nghiên cứu thực trạng và giải pháp cho xuất khẩu lao động ở Việt Nam
11. Bài viết: “Phân tích tác động của xuất khẩu lao động tới tăng trưởng kinh tế Việt Nam” (2015), truy cập tại nguồn: http://luanvan.net.vn/luan-van/khoa-luan-phan-tich-tac-dong-cua-xuat-khau-lao-dong-toi-tang-truong-kinh-te-viet-nam-72566/ Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phân tích tác động của xuất khẩu lao động tới tăng trưởng kinh tế ViệtNam
Tác giả: Bài viết: “Phân tích tác động của xuất khẩu lao động tới tăng trưởng kinh tế Việt Nam”
Năm: 2015
12. Bài viết: “Thị trường xuất khẩu lao động ở Việt Nam: Thực Trạng & Giải Pháp” Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Thị trường xuất khẩu lao động ở Việt Nam: Thực Trạng & Giải Pháp
(2011), truy cập tại nguồn: https://m.tailieu.vn/doc/tieu-luan-thi-truong-xuat-khau-lao-dong-o-viet-nam-thuc-trang-giai-phap-1307090.html Link
1. Giáo trình kinh tế chính trị Mác- Lênin 2006.● Luật, nghị định, chỉ thị Khác

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

w