1. Trang chủ
  2. » Nông - Lâm - Ngư

Tài liệu Thị trường không hoàn hảo và sự chọn lựa các hệ thống nông lâm kết hợp docx

7 687 0
Tài liệu được quét OCR, nội dung có thể không chính xác
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Thị trường không hoàn hảo và sự chọn lựa các hệ thống nông lâm kết hợp
Tác giả Trân Chí Thiện
Trường học Đại học Nông lâm Thái Nguyên
Chuyên ngành Kinh tế nông nghiệp
Thể loại Luận án tiến sĩ
Thành phố Thái Nguyên
Định dạng
Số trang 7
Dung lượng 228,84 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Trân Chí Thiện, Đại học Nông lâm Thái Nguyên TOM TAT Thị trường ở miên núi thường không hoàn hảo nhưng tính hoàn hảo của thị trường lại là một nhân tô chủ yếu quyết định các hệ thông nô

Trang 1

THỊ TRƯỜNG KHÔNG HOÀN HẢO VÀ SỰ CHỌN LỰA CÁC HỆ THÓNG NÔNG

LAM KET HOP

TS Trân Chí Thiện, Đại học Nông lâm Thái Nguyên

TOM TAT Thị trường ở miên núi thường không hoàn hảo nhưng tính hoàn hảo của thị trường lại là một nhân tô chủ yếu quyết định các hệ thông nông lâm kết hợp Thị trường càng hoàn hảo các

hệ thống nông lâm kết hợp càng hoàn hảo, các hệ thông nông lâm kết hợp càng được lựa chọn tốt hơn Khi thị trường là không hoàn hảo, sự lựa chọn hệ thong nông lâm kết họp không dựa trên lợi thế so sánh của vùng hay của mỗi trang trại, mỗi hộ nông đân Điễu đó làm cho các hệ thông nông lâm kết hợp được lựa chọn sẽ không đảm bảo tính hiệu quả về kinh tế, tính bên vững về môi trường Các giải pháp để có thể lựa chọn và phát triển các hệ thống nông lâm kết hợp tốt-hiệu quả và bên vững, do đó, chính là các giải pháp đề tăng cường tính hoàn hảo của thị trường

I Tầm quan trọng của việc lựa chọn các hệ thống nông lâm kết hợp và vai trò của thị trường hoàn hảo

Nông lâm kết hợp là hình thức canh tác trong đó cây nông nghiệp được trồng xen canh với cây rừng vê mặt không gian hoặc luân canh vê mặt thời gian

Các hệ thống nông lâm kết hợp bao gồm các loại cây trồng có khả năng cải tạo độ phì cho đất, giúp quản lý tốt hơn vùng đầu nguồn và tăng cường tính đa dạng về cây trồng trong khu vực Phát triển các hệ thông nông lâm kết hợp sẽ cho phép bảo tồn tốt hơn các nguồn tài nguyên thiên nhiên trong khi vẫn có thể đáp ứng một cách có hiệu quả các nhu cầu của người dân

Sự hoàn hảo của thị trường là một yếu tô quyết định trong việc lựa chọn áp dụng các hệ thống nông lâm kết hợp Thị trường càng hoàn hảo càng đảm bảo lựa chọn được các hệ thống nông lâm kết hợp vừa có hiệu quả cao về kinh tế vừa bền vững về mặt môi trường sinh thái

Vì thế, các giải pháp phát triển các hệ thống này hiệu quả về mặt kinh tế và bền vững về mặt môi trường, chính là các giải pháp tăng cường tính hoàn hảo của thị trường, nâng cao sự công băng trong việc tiếp cận hàng hoá và các thị trường yếu tô đầu vào (đất đai, lao động, vốn và vật tư), cũng như tiếp cận về kỹ thuật sản xuất và khuyến nông

2 Các hệ thống nông lâm kết hợp được lựa chọn như thế nào trong điều kiện thị trường cạnh tranh hoàn hảo?

1.1 Các đặc điểm chính của thị trường cạnh tranh hoàn háo

Thị trường cạnh tranh hoàn hảo là một thị trường lý tưởng và công bằng đôi với bất ki

ai Thứ nhất, cơ chế giá cả trong thị trường này rất trung lập, ảnh hưởng đến tất cả các quyết định về kinh tế trong đó người mua và người bán đều tham gia vào quá trình xác định giá

Không một ai có khả năng làm thay đổi giá cả Thứ hai, mọi người đều biết rõ giá cả và số

lượng của các yếu tô đầu vào và đầu ra được trao đổi trên thị trường Thứ ba, mọi người đều

có thể tự do tham gia thị trường nếu họ muôn, vì các nguôn lực về vốn, tín dụng, kĩ thuật và

Trang 2

nguyên liệu đâu vào, và các thông tin về thị trường đều lưu động va công băng đôi với mọi người

2.2 Lợi thế so sánh là cơ sở cho việc lựa chọn các hệ thong nong lam két hop

Ly thuyét vé kinh té cho rang với các điều kiện về thị trường cạnh tranh hoàn hảo, các loại hình sử dụng đất dựa trên các lợi thê so sánh, và việc trao đôi thương mại g1ữa các vùng

và giữa các nông hộ sẽ phát sinh lợi ích lớn nhất đối với cả nước Các vùng đông băng châu thổ có lợi thê trong việc sản xuất lúa gạo, các cây trông hàng năm sẽ được chuyên môn hoá sản xuất để trao đổi với các sản phẩm khác trên thị trường Ngược lại, vùng trung du và miền núi (hay gọi chung là vùng cao) với lợi thế so sánh về trồng rừng, cây ăn quả, cây công nghiệp và các loại cây bụi khác được trao đổi trên thị trường để lấy gạo và các sản phâm khác

ở những vùng đồng bang Do những hoạt động sản xuất này dựa trên lợi thê so sánh, tổng chỉ phí ở mức thấp nhất, va vi thé tong lợi ích của toàn xã hội thu được sẽ đạt mức cao nhất Đối với mỗi nhà sản xuất, nhờ lợi thê so sánh, chi phí sản xuất tư nhân nhỏ hơn chỉ phí xã hội, và

vì vậy anh ta sẽ nhận được lợi nhuận cao hơn lợi nhuận thông thường của xã hội

Vì lí do trên, trong các điều kiện của thị trường canh tranh hoàn hảo, nông dân vùng cao

sẽ tận dụng tôi đa lợi thế so sánh của họ trong việc trồng các loại cây trồng lâu năm và các loại cây trồng cạn khác Các hệ thống nông lâm kết hợp gồm các loại cây trồng có lợi thé so sánh do vậy, sẽ được lựa chọn và phát triển

Tuy nhiên, trên thực tẾ, không có thị trường cạnh tranh một cách hoàn hảo, và người nông dân vùng núi và trung du vẫn phải sản xuất các loại cây lương thực trên đất dốc (chứ không phải là các loại cây trông mà họ có lợi thê so sánh) đê duy trì cuộc sông của họ

3 Các hệ thống nông lâm kết hợp được lựa chọn hình thức nông lâm kết hợp trong điều kiện thị trường cạnh tranh không hoàn hảo?

l.I — Thị trường cạnh tranh không hoàn hảo

Thị trường cạnh tranh không hoàn hảo có thể có một hoặc nhiều hơn, hoặc thậm chí tất cả các khía cạnh sau:

e_ Tiếp cận không hoàn hảo thị trường hàng hoá

Thị trường hàng hoá ở vùng cao, đặc biệt là ở vùng sâu vùng xa không hoàn hảo do cơ

sở hạ tâng không phát triên, trình độ giáo dục thâp và truyện thong tu cung tu cap

Giao thông và cơ sở hạ tầng tiêu thụ sản phẩm ở vùng cao thường kém phát triển Ở

nhiều xã như Nà Ớt, Phiêng Păn, Tà Hộc ở huyện Mai Sơn, tỉnh Sơn La, không có điện lưới hoặc điện thoại Thậm chí ở Nà Ớt không có chợ Ở rất nhiều bản như Huôi Khẹt ở xã Nà Ot,

ở huyện Mai Sơn, Bản Kheẹt ở huyện Chợ Đồn, tỉnh Bắc Kạn không có đường nỗi từ các bản đến xã Người dân phải đi bộ trên những con đường mòn xuyên qua núi rừng Nhiều trường hợp, người dân phải đi bộ mất một ngày đường để đến được chợ gần nhất Vì vậy, nông dân rất khó khăn, vất vả để có thể mua được nguyên liệu đầu vào sản xuất và bán nông sản của họ

Ở những vùng ít hẻo lánh hơn, các tư thương có thê đến tận bản để bán các nguyên liệu đầu vào sản xuất và sản phâm thương mại và mua nông sản Tuy nhiên, do thiếu thông tin về giá

cả, chất lượng và cách sử dụng các liệu đâu vào nên nông dân thường phải bán nông sản với giá rẻ và mua các nguyên liệu đầu vào đắt hơn so với giá thực tế

Trang 3

Đặng và các cộng sự (2003) đă kết luận trình độ giáo dục của người dân vùng cao thâp, đặc biệt ở các vùng sâu vùng xa Điêu này đã hạn chê khả năng hiêu biệt, nhận thức về tiêu thụ sản phâm và ứng dụng các công nghệ nông lâm mới

Frank Elis (1993) nhắn mạnh thị trường không hoàn hảo là do truyền thống tự cung tự cấp và lượng lao động và đất đai sẵn có Nông dân phụ thuộc vào thị truờng để đáp ứng nhụ cầu của họ về phân bón, thuốc trừ sâu, và để bán một phân sản phẩm của họ Ngược lại, những trang trại lớn phải thuê và/hoặc mua hau hét lao động, nguyên liệu đầu vào, và bán hầu hết các sản phẩm của họ Vì thế, họ tham gia thị trường nhiều hơn

e_ Tiệp cận không hoàn hảo về tín dụng:

Frank Elis (1993) chỉ rõ thiếu tài sản thê chấp và diện tích đất đai nhỏ đã hạn chế nông dân tiếp cận với các khoản vay ngắn hạn Họ phải phụ thuộc vào hệ thông tín dụng không chính thống như tư thương hoặc chủ dat dé vay vốn với lãi xuất dựa vào các đặc điểm cu thé của thoả thuận giữa người vay và người đi vay mà không dựa vào các điều kiện thị trường

Ở Việt Nam, Ngân hàng Người nghèo là một hệ thống ngân hàng đặc biệt phục vụ người nghèo với mức lãi xuất thập nhất Tuy nhiên, không phải người nghèo nào cũng dễ dàng vay được vôn và lượng vôn tối đa được vay thường nhỏ Ngược lại, những nông dân khá giả thể

dễ dàng tiếp cận với các tô chức tín dụng và có nhiêu lợi thê trong việc vay vốn Họ có tài sản thê chấp lớn và dự án đầu tư của họ thường lớn hơn, tiềm năng hơn và thuyết phục hơn e_ Tiệp cận không hoàn hảo về công nghệ:

Thông tin về các công nghệ canh tác nông lâm tiên tiến cũng cân thiết đối với việc sản xuất nông nghiệp ở vùng cao Tuy nhiên, nhiều trang trại đã không tiếp cận với các công nghệ này vì ở nhiều nơi những công nghệ tiên tiên không có sẵn ngay cả ở dạng các mô hình trình diễn Thậm chí nhiều nông dân không có báo, tạp chí, ti vi hoặc đài để tiếp cận các thông tin

về công nghệ sản xuất

Nguyệt, N.B (2003) cho rằng chuyển giao công nghệ thông qua hệ thông khuyến nông ở Việt nam gan đây gặp nhiều khó khăn do thiếu cán bộ khuyên nông và các nguôn lực khác Năm 2000, chỉ có 70% các huyện trên cả nước có các trung tâm khuyến nông, và chỉ có 30% tong số xã có các trung tâm khuyến nông Chỉ có 2800 cán bộ khuyến nông phục vụ khoảng

10 triệu nông hộ Ngân sách dành cho các nghiên cứu trong lĩnh vực nông nghiệp chiếm khoảng 0,2% GDP hàng năm của khu vực này

Tuy nhiên, nông dân những người được hưởng lợi ích từ các dự án phát triển nông thôn

và những người dân sông gần các trục đường chính hoặc thị trấn huyện và các thành phố của tỉnh, thường tiêp cận tôt hơn vê các dịch vụ khuyên nông và công nghệ

e_ Tiệp cận không hoàn hảo về đât đai:

Thị trường đất đai cũng không hoàn hảo Ở nhiều vùng khác nhau, do áp lực gia tăng dân số, nông dân có thê có diện tích đất đai khác nhau Thậm chí trong cùng một vùng, các trang trại cũng có diện tích đất thừa kế khác nhau Những trang trại lớn có xu hướng được thừa kế nhiều hơn và mua đất đai Tiếp cận tốt hơn các khoản vay ngắn hạn lớn cũng cho phép các trang trại lớn mua nhiều đất đai hơn, trong khi các trang trại nhỏ phải bán đất với giá

rẻ do các khoản vay nợ lớn Đất đai có xu hướng tích tụ dân về phía các trang trại lớn Vì thế,

ở nhiều vùng nông thôn, nhiều nông dân (thường là người giàu và khá giả) tích tụ ruộng đất

nhiều trong khi nhiều nông dân khác không có hoặc có ít đất canh tác (Chung, 2000).

Trang 4

2.2 Thị trường không hoàn hảo quyết định việc lựa chọn các mô hình nông lâm kết

hợp như thế nào?

3.2.1 Lựa chọn hệ thống nông lâm kết hợp ở mỗi vùng phụ thuộc vào sức ép dân số và khả năng tiêp cận thị trường

Tiếp cận thị trường là một trong những yếu tô chính quyết định đặc điểm của các hệ thống sản xuất nông nghiệp (Boseyup, 1981) Thứ nhất, cây thương phẩm cho nhiều lợi nhuận/đơn vị diện tích hơn cây lương thực nên sản xuất cây hoa màu tăng có thê tăng lợi nhuận của đất đai và khuyến khích áp dụng canh tác nông lâm kết hợp Thu nhập từ cây hoa màu sẽ giúp làm giảm khó khăn về khả năng thanh toán, khó khăn này có thể hạn chế đâu tư Thứ hai, tiếp cận thị trường sẽ tăng chi phí cơ hội của lao động băng việc tạo ra các cơ hội việc làm phi nông nghiệp Điều này làm cho canh tác nông lâm kết hợp sử dụng nhiều lao động tôn nhiều chỉ phí, vì vậy cân thúc đây phương thức canh tác sử dụng ít lao động, đặc biệt

khi mật độ dân số thấp (Pandey, 2001)

Trong điều kiện tiếp cận thị trường tốt, do cơ sở hạ tầng cho giao thông và tiêu thụ sản phẩm tốt, chi phí tiêu thụ sản phẩm sẽ giảm đi Do đó, các hệ thống nông lâm kết hợp có nhiều cây thương phẩm, có ít cây lương thực sẽ được khuyên khích Người nông dân có thể thấy các khoản đầu tư vào nông lâm kết hợp sẽ hấp dẫn hơn về mặt kinh tế nếu trồng cây hàng hoá (theo Clarke, 1992) Ở Philipin, khoảng cách đến chợ-là một biến số rất quan trọng giải thích tại sao nông dân áp dụng hay không áp dụng mô hình trồng hàng rào xanh (theo Pandey

và Lapar, 1998) Thêm vào đó, đối với các tác động trực tiếp, chi phí tiếp cận các kiến thức và thông tin về kĩ thuật ở các vùng có sự tiếp cận tốt hơn sẽ ít hơn so với các vùng sâu vùng xa

Vi thé no gop phan thúc đây việc sản xuất cây hàng hoá phát triển (theo Pandey, 2001) Tương tự, ở Thái Lan, nhờ có hệ thông đường xá mà việc tiếp cận thị trường được cải thiện và

vì thế giup da dang hoa cac hé thong canh tac vung cao (theo Shinawatra, 1985) Da dang hoa cây trông có thể cho phép cây trông có lợi thế so sánh phát triển, giúp giải quyết rào cản về khả năng thanh toán cũng như nâng cao an ninh lương thực vì các loại hình sử dụng đất phụ thuộc vào các lợi thế so sánh (Pandey, 2001)

Ở những nơi mật độ dân số thấp dẫn đến áp dụng các mô hình nông lâm kết hợp sử dụng

ít lao động hay thâm canh không cao Trong các hệ thống nông lâm kết hợp này, lao động là yếu tô hạn chế nhất Vì thể, các công nghệ sản xuất tiết kiệm lao động trong nông lâm kết hợp

sẽ được sử dụng để tối đa hoá năng suất lao động Các hệ thống này có tính về vững về mặt sinh thái

Ngược lại, những nơi có mật độ dân số cao sẽ thường áp dụng các hệ thống nông lâm kết hợp sử dụng nhiều lao động Trong các hệ thống này, nguôn lao động dôổi dào nhưng đất đai lại là yếu tô bị hạn chê Vì thế, công nghệ sử dụng tiết kiệm lao động sẽ được lựa chọn để tối năng suất của đất Hệ thống nông lâm kết hợp sử dụng nhiều lao động để tận dụng tối đa sức sản xuất của đất sẽ được lựa chọn Tuy nhiên, các hệ thống này không bền vững về mặt sinh thái nêu mật độ dân số cao, không có công nghệ canh tác phù hợp

Trong điều kiện tiếp cận thị trường kém, người nông dân buộc phải sản xuất các sản phâm tự cung tự cấp Họ sẽ ít lựa chọn các hệ thống nông lâm kết hợp vì trong các hệ thông này thường có nhiều cây trồng thương phẩm Các loại cây lương thực, thực phâm sẽ được trồng chủ yếu Các hệ thống nông lâm kết hợp được lựa chọn sẽ bền vững về mặt sinh thái nếu mật độ dân số thấp Ngược lại, nếu mật độ dân số cao chúng không thể bên vững về mặt

sinh thái vì đất sẽ bị bóc lột và thoái hoá.

Trang 5

3.2.2 Việc lựa chọn hệ thống nông lâm kết hợp của các hộ gia đình phụ thuộc vào các diéu kiện không hoàn hảo của thị trường

Thị trường của các nước đang phát triển thường không hoàn hảo và chính sự không hoàn hảo nay đã dẫn đến sự khác biệt về giá tương đối giữa các yếu tô sản xuất (Elis 1993) Sự khác biệt về giá tương đối này ảnh hưởng đến quyết định áp dụng mô hình nông lâm kết hợp không chỉ của các trang trại nhỏ/hộ nghèo mà còn cả của các trang trại lớn/hộ giàu

Tổng diện tích đất giữ nguyên trong khi nhu câu về đất đang tăng lên, do đó giá đất tiếp tục tăng lên Các trang trại lớn/hộ giàu thường có diện tích đất lớn do được thừa kế hoặc mua lại trước đây với giá rẻ so với giá hiện tại Thậm chí hiện giờ nêu họ cần phải mua đất họ có thể vay được vốn với lãi xuất thấp để mua Do đó, họ luôn ước lượng giá đất của mình rẻ hơn

SO VỚI những trang trại nhỏ/hộ nghèo Cùng một thời điểm, người giàu thường mua nguyên vật liệu đầu vào và trang thiết bị phục vụ cho sản xuất với giá rẻ hơn nhiều do mua với số lượng lớn và do giá vốn (lãi tiền vay) thấp hơn

Hộ nghèo cũng được thừa kế đất nhưng không đủ để thành lập trang trại một cách tôi

ưu Họ không có đủ khả năng dé mua thêm đất do khả năng tiếp cận vốn còn hạn chế Nhiều nông dân nghèo phải thuê đất của các trang trại lớn với chi phí cao Tương tự như vậy, những trang trại nhỏ không có khả năng mua nguyên vật liệu đầu vào với số lượng lớn và họ thường phải chấp nhận giá cao Họ không thể mua trang thiết bị phục vụ cho sản xuất do chúng quá đắt và đôi khi những máy móc thiết bị đó quá lớn so với quy mô của các trang trại nhỏ Khi cần dùng đến, họ phải thuê từ các trang trại lớn với giá thuê đắt đỏ Do đó giá tương đôi về đất của các trang trại nhỏ cao hơn giá tương đối về lao động và vật tư

Điều này giải thích tại sao các trang trại lớn thường chọn kỹ thuật nông lâm kết hợp sử dụng nhiều vốn và ít lao động nhằm đạt được năng suất lao động cao nhất trong khi đó trang trại nhỏ thường chọn kỹ thuật nông lâm kết hop su dung it von va nhiều lao động nhằm đạt được năng suất đất và hiệu quả sử vôn cao nhất

3.2.3 Các trang trại/các nông hộ lựa chọn hệ thống nông lâm kết hợp phụ thuộc vào nguồn vốn và khả năng tiếp cận tín dụng: Sự thiết yếu của hỗ trợ tài chính

Một trong những đặc điểm của thị trường không hoàn hảo đó là sự khác nhau về nguồn vốn đâu tư giữa các trang trại/nông hộ cũng như khả năng tiếp cận tín dụng của họ Những trang trại nhỏ/hộ nghèo thường khó đứng vững trên thị trường Bất kỳ sự thay đôi về giá cả thị trường nào cũng có thể ảnh hưởng nghiêm trọng đến kinh tế của họ trong khi đó lại ít ảnh hưởng đến các trang trại lớn/hộ giàu

Do đó, các trang trại nhỏ/hộ nghèo có xu hướng gắn chặt với hệ thông canh tác hiện tại

Họ thường sợ rủi ro và không mạnh dạn áp dụng kỹ thuật mới Tuy nhiên, các trang trại lớn/hộ giàu lại không sợ rủi ro và sẵn sàng chấp nhận chúng

Mặt khác, khả năng tiếp cận vốn của các trang trại nhỏ/hộ nghèo còn hạn chế do các tô chức tín dụng thường đòi hỏi tài sản thế chấp lớn Điều này có thê cản trở các hộ áp dụng mô hình nông lâm kết hợp Hình 1 cho thấy rằng để xây dựng một hệ thông nông lâm kết hợp có hiệu quả theo hình thức ruộng bậc thang hoặc theo đường đông mức, cân phải đâu tư một khoản vốn lớn trong những năm kiến thiết cơ bản khi cây trông chưa cho thu hoạch

Để trang trại nhỏ/hộ nghèo có thê áp dụng được mô hình nông lâm kết hợp, cần tạo điều kiện cho các hộ tiếp cận nhiều hơn với các nguồn vốn và trợ cấp Nguôn trợ cấp từ nhà nước hoặc vốn vay ưu đãi là rất cần thiết cho các trang trại nhỏ/hộ nghèo trong những năm bắt đầu

Trang 6

thiết lập các hệ thông nông lâm kết hợp, khi cây lâu năm trong hệ thống đó còn chưa cho thu hoạch

USD$ Giai doan kién thiét co

v

Nam

Hình 1 Lãi thuần đạt được từ hệ thống nông lâm kết hợp với cây lâu năm

hoặc cây bảo vệ đất

4 Giải pháp phát triển hệ thống nông lâm kết hợp tại Việt Nam

Đề phát triển hệ thống nông lâm kết hợp có hiệu quả, cần thiết phải xây dựng một thị trường cạnh tranh hoàn hảo Đối với vùng cao Việt Nam, cân phải thực hiện các giải pháp

sau:

a) Cân phát triển hơn nữa cơ sở hạ tầng giao thông và thị trường, các thông tin thị trường cân được phổ biến kịp thời đến cho các hộ gia đình thông qua các phương tiện thông tin đại chúng như đài, báo, tivi v.v

b) Cần phát triển dịch vụ khuyến nông nhăm chuyên giao kỹ thuật đến cho người dân

và phải đảm bảo răng hệ thông nông lâm kêt hợp khả thi vê mặt kỹ thuật

c) Cân phát triển hệ thông tín dụng nhằm đảm bảo rằng hệ thông nông lâm kết hợp khả thi vê mặt tài chính

d) Các dự án thuỷ lợi nhỏ cũng như các kỹ thuật canh tác lúa nước phù hợp với từng địa phương cân được chú trọng phát triển nhằm giảm sức ép về an ninh lương thực

lên hoạt động canh tác nương tấy

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1 Chung, D.K.2000 Thị trường chuyển nhượng và cho thuê đất đai trong nông nghiệp ở Việt Nam- Thực trạng và các định hướng chính sách Trong Kinh tế và Chính sách đất đai

ở Việt Nam (Kỷ yếu Hội thảo Khoa học-Thái Nguyên 17-18/12/1999) Hội Khoa học

Kinh tế nông lâm nghiệp NXBNN Hà Nội

2 Đặng và các cộng sự, 2003 Đất đôi núi Việt Nam NXB Nông nghiệp Hà Nội

3 Nguyet, N.B 2003 Tạp chí Kinh tế và Phát triển ĐH KTQD Tháng 2 năm 2003.

Trang 7

4 Frank Ellis 1993 Kinh té hé gia dinh nong dan va phat trién nong nghiép NXBNN Ban dịch từ nguyên bản tiéng Anh "Peasant Economics: farm households and agrarian development" Cambridge University

5 Pandey, S 2001 Adoption of soil conservation practices in developing countries: Policy and institutional factors In "Response to land" edited by E M Bridges, et.al Oxford & IBH Publishing Co Pvt Ltd 2001

6 Thien, T.C., 2002 Food security and environmental sustainability in upland rice production systems in Maison district, Northern Uplands of Vietnam Unpublished Ph.D Dissertation University of the Philippines Los Banos

Ngày đăng: 16/01/2014, 11:37

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w