triết học ứng dụng vào hóa học
Trang 1LỜI MỞ ĐẦU
Ngay từ buổi đầu của lịch sử, con người phải lao động sản xuất tạo
ra của cải vật chất để tồn tại Qua lao động mà kinh nghiệm
được tích lũy phong phú, đó là cơ sở cho việc khái quát lí luận
Phân công lao động phát triển, xã hội phân chia thành giai cấp đối
kháng, giai cấp thống trị có điều kiện vật chất để tách khỏi lao động
chân tay trong đó có một bộ phận chuyên nghiên cứu lí luận
Đó là cơ sở xã hội cho việc tách rời giữa thực tiễn với lí luận đi đến
đối lập chúng với nhau Triết học Mác Lênin đã thực hiện sự thống
nhất trở lại lí luận với thực tiễn Sự thống nhất này thực hiện trên cơ sở một
sự phát triển cao của cả thực tiễn và lí luận Quan điểm của triết học Mác
về sự thống nhất giữa lí luận và thực tiễn không chỉ ở chỗ vạch rõ vai
trò quyết định của thực tiễn đối với lí luận, coi thực tiễn là cơ sở,là tiêu
chuẩn, là mục đích quan trọng của lí luận với thực tiễn Vấn đề thống
nhất giữa lý luận và thực tiễn là một trong những nguyên tắc cơ bản của chủ nghĩa Mác-Lênin Quán triệt quan điểm Mácxit về mối quan hệ biện chứng giữa lý luận và thực tiễn không chỉ có ý nghĩa quan trọng trong công tác đổi mới giảng dạy nói chung và môn hóa phổ thông nói riêng nếu vận dụng một cách hợp lí chúng ta có thể cải tạo phần nào thực trạng nền
giáo dục hiện nay đó là lí do để em chọn tiểu luận với đề tài “Vận dụng
nguyên tắc thống nhất giữa lý luận và thực tiễn của chủ nghĩa Mác-Lênin vào công tác đổi mới giảng dạy môn hóa học ở phổ thông”.
Trang 2CHƯƠNG I: NGUYÊN TẮC THỐNG NHẤT GIỮA LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA TRIẾT HỌC MÁC-LÊNIN
I KHÁI NIỆM THỰC TIỄN VÀ LÝ LUẬN
1 Phạm trù thực tiễn
1.1.Khái niệm về thực tiễn
Một trong những khuyết điểm chủ yếu của lý luận nhận thức duy vật trước Mác là chưa thấy hết vai trò của thực tiễn đối với nhận thức Một số nhà triết học như Ph Bêcơn, Đ Diđơrô …đề cao vai trò của thực nghiệm khoa học, chưa đề cập đến vai trò của các hình thức khác của thực tiễn đối với nhận thức G Hêghen tuy có đề cập đến thực tiễn, nhưng ông không coi thực tiễn
là hoạt động vật chất mà là hoạt động tinh thần L Phoiơbăc chỉ coi lý luận mới là hoạt động đích thực, còn thực tiễn chỉ được ông xem xét ở khía cạnh biểu hiện là con buôn bẩn thỉu mà thôi C Mác và Ph Ăngghen đã thực hiện một bước chuyển biến cách mạng trong lý luận nhận thức bằng cách đưa phạm trù thực tiễn vào trong lý luận nhận thức Lênin nhấn mạnh:
“Quan điểm về đời sống, về thực tiễn, phải là quan điểm thứ nhất và cơ bản của lý luận về nhận thức”
Thực tiễn là toàn bộ những hoạt động vật chất có mục đích mang tính xã
hội - lịch sử của con người nhằm cải tạo tự nhiên, xã hội và bản thân con người
Thực tiễn không phải bao gồm toàn bộ hoạt động của con người, mà chỉ là những hoạt động vật chất (để phân biệt với hoạt động tinh thần, hoạt động lý
Trang 3luận), hay nói theo thuật ngữ của Mác là hoạt động cảm tính của con người Trong hoạt động thực tiễn, con người phải sử dụng các phương tiện, công cụ vật chất , sức mạmh vật chất của mình tác động vào tự nhiên, xã hội để cải tạo, biến đổi chúng phù hợp vớ nhu cầu của mình Bằng hoạt động thực tiễn, con người làm biến đổi bản thân sự vật trong hiện thực, từ đó làm cơ sở để biến đổi hình ảnh của sự vật trong nhân thức Do đó, hoạt động thực tiễn là hoạt động có tính năng động, sánh tạo, là hoạt động đối tượng hóa, là quá trình chuyển hóa cái tinh thần thành cái vật chất Hoạt động thực tiễn là quá trình tương tác giữa chủ thể và khách thể, trong đó chủ thể hướng vào việc cải tạo khách thể; trên cơ sở đó nhận thức khách thể Vì vậy, thực tiễn trở thành khâu trung gian nối liền ý thức con người với thế giới bên ngoài Hoạt động thực tiễn là hoạt động bản chất của con người, là hoạt động đặc trưng cho con người Nếu động vật chỉ hoạt động theo bản năng, nhằm thích nghi một cách thụ động với thế giới bên ngoài, thì con người nhờ vào thực tiễn – như là một hoạt động có ý thức, có mục đích của mình mà cải tạo thế giới để thoả mãn nhu cầu của mình, thích nghi một cách có chủ động, tích cực với thế giới và để làm chủ thế giới Con người không thể thỏa mãn với những gì
mà tự nhiên cung cấp cho mình dưới dạng có sẵn Con người phải tiến hành lao động sản xuất để làm ra của cài vật chất để nuôi sống mình Để lao động
và lao động có hiệu quả, con người phải biết chế tạo ra công cụ và sử dụng công cụ lao động Bằng hoạt động thực tiễn , trức hết là lao động sản xuất, con người tạo nên những vật phẩm vốn không có sẵn trong thiên nhiên Không có hoạt động đó, con người và xã hội loài người không thể tồn tại và phát triển được Vì vậy, có thể nói rằng thực tiễn là phương thức tồn tại cơ bản của con người và xã hội, là phương thức đầu tiên và chủ yếu của mối quan hệ giữa con người với thế giới Tuy trình độ và các hình thức của hoạt
Trang 4động thực tiễn có thay đổi qua các giai đoạn lịch sử khác nhau của xã hội, nhưng thực tiễn luôn luôn là hoạt động cơ bản và phổ biến nhất của xã hội loài người Thực tiễn là một hoạt động có tính chất cộng đồng, không phải chỉ là hoạt động của một vài cá nhân riêng lẻ, mà là hoạt động của đông đảo quần chúng nhân dân trong xã hội Do đó, về nội dung cũng như phương thức thực hiện, thực tiễn có tính chất lịch sử - xã hội Thực tế cũng có quá trình vận động và phát triển của nó, trìng độ phát triển của thực tiễn nói nên trình độ chinh phục giới tự nhiên, trình độ làm chủ xã hội của con người Thực tiễn có cấu trúc phức tạp, bao gồm nhiều yếu tố và nhiều dạng hoạt động Bất kỳ quá trình hoạt động thực tiễn nào cũng gồm các yếu tố như nhu cầu, lợi ích, mục đích phương tiện và kết quả Các yếu tố đó liên hệ với nhau, quy định lẫn nhau mà nếu thiếu chúng thì hoạt động thực tiễn không thể diễn ra được
1.2.Các hình thức cơ bản của thực tiễn
Hoạt động thực tiễn có 3 hình thức cơ bản:
- Lao động sản xuất vật chất là hình thức thực tiễn cơ bản nhất, là hoạt động trực tiếp tác động vào tự nhiên nhằm tạo ra của cải vật chất cho sự tồn tại và phát triển của xã hội
- Hoạt động chính trị-xã hội là hoạt dộng của con người trong các lĩnh vực chính trị xã hội nhằm phát triển và hoàn thiện các thiết chế xã hội, các quan
hệ xã hội làm địa bàn rộng rãi cho hoạt động sản xuất và tạo ra những môi trường xã hội xứng đáng với bản chất con người bằng cách đấu tranh giai cấp và cách mạng xã hội
Trang 5- Thực nghiệm khoa học là hình thức thực tiễn đặc biệt, nhằm mục đích phục vụ nghiên cứu khoa học và kiểm tra lý thuyết khoa học
Trên cơ sở những hình thức cơ bản, những hình thức khác, không cơ bản của thực tiễn được hình thành, chúng là các hình thức thực tiễn phát sinh ngay trong các hình thức cơ bản Đó là mặt thực tiễn của các hoạt động trong một
số lĩnh vực như đạo đức, nghệ thuật, giáo dục, tôn giáo, Sở dĩ gọi là không cơ bản không phải là những hình thức này kém quan trọng mà chỉ vì chúng được hình thành và phát triển từ các hình thức cơ bản
2 Phạm trù lý luận
Lý luận là hệ thống những tri thức được khái quát từ thực tiễn phản ánh
những mối liên hệ bản chất, những quy luật của sự vật, hiện tượng
Hồ Chí Minh chỉ rõ: “Lý luận là sự tổng kết những kinh nghiệm của loài người , là tổng hợp những tri thức về tự nhiên và xã hội tích trữ lại trong quá trình lịch sử” Để hình thành lí luận, con người phải thông qua quá trình nhận thức kinh nghiệm Nhận thức kinh nghiệm là quá trình quan sát sự lặp
đi lặp lại diễn biến của các sự vật hiện tượng Kết quả của nhận thức kinh nghiệm là tri thức kinh nghiệm Tri thức kinh nghiệm bao gồm tri thức kinh nghiệm thông thường và tri thức kinh nghiệm khoa học.Tri thức kinh nghiệm tuy là thành tố của tri thức ở trình độ thấp nhưng nó là cơ sở để hình thành lý luận Lý luận có những cấp độ khác nhau tùy phạm vi phản ánh và vai trò của nó, có thể phân chia lý luận thành lí luận ngành và lí luận triết học Lý luận ngành là lý luận khái quát những quy luật hình thành và phát triển của một ngành Nó là cơ sở để sáng tạo tri thức cũng như phương pháp luận hoạt động của ngành đó, như lý luận văn học, lý luận nghệ thuật… Lý
Trang 6luận triết học là hệ thống những quan niệm chung nhất về thế giới và con người, là thế giới quan và phương pháp luận nhận thức và hoạt động của con người
II NHỮNG YÊU CẦU CƠ BẢN CỦA NGUYÊN TẮC THỐNG NHẤT GIỮA LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN
1 Thực tiễn là cơ sở, là động lực, là mục đích và tiêu chuẩn của lý luận,
lý luận hình thành, phát triển phải xuất phát từ thực tiễn, đáp ứng yêu cầu thực tiễn
1.1 Thực tiễn là cơ sở cuả lý luận
Xét một cách trực tiếp những tri thức được khái quát thành lý luận là kết quả của quá trình hoạt động thực tiễn cuả con người Thông qua kết quả của hoạt động thực tiễn, kể cả thành công cũng như thất bại, con người phân tích cấu trúc, tích chất và các mối quan hệ của các yếu tố, các điều kiện trong các hình thức thực tiễn để hình thành lý luận Quá trình hoạt động thực tiễn là cơ
sở để bổ sung và điều chỉnh các lý luận đã được khái quát Mặt khác, hoạt động thực tiễn của con người làm nảy sinh những vấn đề mới đòi hỏi quá trình nhận thức phải tiếp tục giải quyết Thông qua đó, lý luận được bổ sung
mở rộng Chính vì vậy, V.I.Lênin nói: “Nhận thức lý luận phải trình bày khách thể trong tính tất yếu của nó, trong những quan hệ toàn diện cuả nó, trong sự vận động mâu thuẫn cuả nó tự nó và vì nó”
1.2.Thực tiễn là động lực của lý luận
Hoạt động của con người không chỉ là nguồn gốc để hoàn thiện các cá nhân
mà còn góp phần hoàn thiện các mối quan hệ của con người với tự nhiên, với xã hội Lý luận được vận dụng làm phương pháp cho hoạt động thực tiễn,mang lại lợi ích cho con người càng kích thích cho con người bám sát
Trang 7thực tiễn khái quát lý luận Quá trình đó diễn ra không ngừng trong sự tồn tại của con người, làm cho lý luận ngày càng đầy đủ, phong phú và sâu sắc hơn Nhờ vậy hoạt động của con người không bị hạn chế trong không gian
và thời gian Thông qua đó, thực tiễn đã thúc đẩy một ngành khoa học mới
ra đời – khoa học lý luận
1.3 Thực tiễn là mục đích của lý luận
Mặc dù lý luận cung cấp những tri thức khái quát về thế giới để làm thỏa mãn những nhu cầu hiểu biết của con người nhưng mục đích chủ yếu của lý luận là nâng cao những hoạt động của con người trước hiện thực khách quan
để đưa lại lợi ích cao hơn, thỏa mãn nhu cầu ngày càng tăng của cá nhân và
xã hội Tự thân lý luận không thể tạo lên những sản phẩm đáp ứng nhu cầu của con người Nhu cầu đó chỉ được thực hiện trong hoạt động thực tiễn Hoạt động thực tiễn sẽ biến đổi tự nhiên và xã hội theo mục đích của con người Đó thực chất là mục đích của lý luận Tức là lý luận phải đáp ứng nhu cầu hoạt động thực tiễn của con người
1.4 Thực tiễn là tiêu chuẩn chân lý của lý luận
Tính chân lý của lý luận chính là sự phù hợp của lý luận với thực tiễn khách quan và được thực tiễn kiểm nghiệm, là giá trị phương pháp của lý luận với hoạt động thực tiễn của con người Do đó mọi lý luận phải thông qua thực tiễn để kiểm nghiệm Chính vì thế mà C Mác nói : “vấn đề để tìm hiểu xem
tư duy của con người có thể đạt đến chân lý của khách quan không hoàn toàn không phải vẫn đề lý luận mà là một vấn đề thực tiễn Chính trong thực tiễn mà con người phải chứng minh chân lý” Thông qua lý luận những lý luận đạt đến chân lý sẽ được bổ sung vào kho tàng tri thức nhân loại, những kết luận chưa phù hợp thực tiễn thì tiếp tục điều chỉnh, bổ sung hoặc nhận thức lại Giá trị của lý luận nhất thiết phải được chứng minh trong hoạt động
Trang 8thực tiễn Tuy thực tiễn là tiêu chuẩn chân lý của lý luận, nhưng không phải mọi thực tiễn đều là tiêu chuẩn của chân lý Thực tiễn là tiêu chuẩn chân lý của lý luận khi thực tiễn đạt đến mức toàn vẹn của nó Tính toàn vẹn của thực tiễn là thực tiễn đã trải qua quá trình tồn tại, hoạt động, phát triển và chuyển hóa Đó là chu kỳ tất yếu của thực tiễn Thực tiễn có nhiều giai cấp phát triển khác nhau Nếu lý luận chỉ khái quát một giai đoạn nào đó của thực tiễn thì lý luận có thể xa rời thực tiễn Do đó chỉ những lý luận nào phản ánh được tính toàn vẹn của thực tiễn thì mới đạt đến chân lý Chính vì vậy mà V.I.Lênin cho rằng :“Thực tiễn của con người lặp đi lặp lại hàng nghìn triệu lần được in vào ý thức của con người bằng những hình tượng logic Những hình tượng này có tính vững chắc của một thiên khiến, có một tính chất công lý, chính vì sự lặp đi lặp lại hàng nghìn triệu lần ấy”
2 Thực tiễn phải được chỉ đạo bởi lý luận; ngược lại, lý luận phải được
vân dụng vào thực tiễn, tiếp tục bổ sung và phát triển trong thực tiễn
Lý luận đóng vai trò soi đường cho thực tiễn vì lý luận có khả năng định hướng mục tiêu, xác định lực lượng, phương pháp, biện pháp thực hiện.Lý luận còn dự báo được khả năng phát triển cũng như các mối quan hệ của thực tiễn, dự báo được những rủi ro đã xảy ra, những hạn chế những thất bại
có thể có trong quá trình hoạt động Như vậy lý luận không chỉ giúp con người hoạt động hiện quả mà còn là cơ sở để khắc phục những hạn chế và tăng năng lực hoạt động của con người Mặt khác, lý luận còn có vai trò giác ngộ mục tiêu, lý tưởng liên kết các cá nhân thành cộng đồng tạo thành sức mạnh vô cùng to lớn của quần chúng trong cải tạo tự nhiên và cải tạo xã hội Chính vì vậy, C Mác đã cho rằng: “Vũ khí của sự phê phán cố nhiên không thể thay thế được sự phê phán của vũ khí, lực lượng vật chất chỉ có thể bị đánh đổ bằng lực lượng vật chất, một khi nó thâm nhập vào quần chúng”
Trang 9Mặc dù lý luận mang tính khái quát cao, song nó còn mang tính lịch sử, cụ thể Do đó, khi vận dụng lý luận chúng ta còn phân tích cụ thể mỗi tính hình
cụ thể Nếu vân dụng lý luận máy móc, giáo điều, kinh viện thì chẳng những hiểu sai giá trị của lý luận mà còn làm phương hại đến thực tiễn, làm sai lệch
sự thống nhất tất yếu giữa lý luận và thực tiễn Lý luận hình thành là kết quả của quá trình nhận thức lâu dài và khó khăn của con người trên cơ sở hoạt động thực tiễn Hoạt động thực tiễn tuy phong phú, đa dạng nhưng không phải không có tính quy luật Tính quy luật của thực tiễn được khái quát dưới hình thức lý luận Mục đích của lý luận không chỉ là phương pháp mà còn định hướng cho hoạt động thực tiễn Đó là định hướng mục tiêu, biện pháp
sử dụng lực lượng, định hướng giải quyết các mối quan hệ trong hoạt động thực tiễn Không những thế lý luận còn định hướng mô hình của hoạt động thực tiễn Vận dụng lý luận vào hoạt động thực tiễn, trước hết từ lý luận để xây dựng mô hình thực tiễn theo những mục đích khác nhau của quá trình hoạt động, dự báo các diễn biến các mối quan hệ, lực lượng tiến hành và những phát sinh của nó trong quá trình phát triển để phát huy các nhân tố tích cực, hạn chế những yếu tố tiêu cực nhằm đạt kết quả cao Lý luận tuy là logic của thực tiễn, song lý luận có thể lạc hậu với thực tiễn Vận dụng lý luận vào thực tiễn đòi hỏi chúng ta phải bám sát diễn biến của thực tiễn để kịp thời điều chỉnh, bổ sung những khiếm khuyết của lý luận, hoặc có thể thay đổi lý luận cho phù hợp với thực tiễn Khi vận dụng lý luận vào thực tiễn, chúng có thể mang lại hiệu quả có thể không, hoặc kết quả chưa rõ ràng Trong trường hợp đó, giá trị của lý luân phải do thực tiễn quy định Tính năng động của lý luận chính là điều chỉnh cho phù hợp với thực tiễn Lênin nhận xét rằng: “Thực tiễn cao hơn lý luận, vì nó có ưu điểm không những của tính phổ biến, mà cả của tính hiện thực trực tiếp”
Trang 10CHƯƠNG II:VẬN DỤNG SỰ THỐNG NHẤT GIỮA LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA CHỦ NGHĨA MÁC-LÊ NIN VÀO ĐỔI MỚI PHƯƠNG PHÁP GIẢNG DẠY MÔN HÓA HỌC PHỔ THÔNG
1.Thực tiễn giảng dạy môn hóa học phổ thông hiện nay đòi hỏi phải vận dung nguyên tắc thống nhất giữa lý luận và thực tiễn của chủ nghĩa Mác-Lênin để đổi mới phương pháp.
Môn hoá học trong trường phổ thông là một trong môn học khó, nếu không có những bài giảng và phương pháp hợp lý phù hợp với thế hệ học trò
dễ làm cho học sinh thụ động trong việc tiếp thu, cảm nhận Đã có hiện tượng một số bộ phận học sinh không muốn học hoá học, ngày càng lạnh nhạt với giá trị thực tiễn của hoá học
Nhiều giáo viên chưa quan tâm đúng mức đối tượng giáo dục.Chưa đặt ra cho mình nhiệm vụ và trách nhiệm nghiên cứu, hiện tượng dùng đồng loạt cùng một cách dạy, một bài giảng cho nhiều lớp, nhiều thế hệ học trò là không ít Do phương pháp ít có tiến bộ mà người giáo viên đã trở thành người cảm nhận, truyền thụ tri thức một chiều Giáo viên nên là người hướng dẫn học sinh chủ động trong quá trình lĩnh hội tri thức hoá học
Có những vấn đề hoá học có thể giúp học sinh giải thích những hiện tượng trong tự nhiên, tránh việc mê tín dị đoan, thậm chí hiểu được những dụng ý khoa học hoá học trong những câu ca dao – tục ngữ mà thế hệ trước để lại và
có thể ứng dụng trong thực tiễn đời sống thường ngày chỉ bằng những kiến thức rất phổ thông mà không gây nhàm chán, xa lạ; lại có tác dụng kích thích tính chủ động, sáng tạo, hứng thú trong môn học; làm cho hoá học không khô khan, bớt đi tính đặc thù và phức tạp