Mối quan hệ nhân quả giữa giá cổ phiếu và khối lượng giao dịch trên thị trường chứng khoán việt nam Luận văn, đồ án, đề tài tốt nghiệp
Trang 1
Đề tài
Mối quan hệ nhân quả giữa giá cổ phiếu
và khối lượng giao dịch trên thị trường chứng
khoán Việt Nam”
Trang 2
1 LÝ DO CHỌN ĐÈ TÀI
2 MỤC TIỂU NGHIÊN CỨU
3 PHAM VI NGHIÊN CỨU
2.1.3 LƯỢC KHẢO TÀI LIỆU
2.2 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.2.1 Phương pháp chọn vùng nghiên cứu
2.2.2 Phương pháp thu thập số liệu
2.2.3 Phương pháp phân tích xử lý số liệu
Chương 2 “
KHAI QUAT TTCK VIET NAM, SG GIAO DICH CHUNG KHOAN THANH PHO HO CHi MINH VA CAC LOẠI CÔ PHIẾU NGHIÊN CỨU 2-2 £+2+£EEE2E+££EE2EEE+EE£EEEe+Ez+ree 22 2.1 QUÁ TRINH HINH THANH VA PHAT TRIEN CUA THI TRUONG CHUNG KHOANG
Mi 80) 007 5 5 2.2 KHÁI QUÁT SỞ GIAO DỊCH CHỨNG KHOÁN THÀNH PHÓ HÒ CHÍ MI
2.3 GIỚI THIỆU CÁC LOẠI CÔ PHIẾU TRONG NGHIÊN CỨU
Chương 3
KÉT QUẢ NGHIÊN CỨU
3.1 CTCP Xuất nhập khẩu thủy sản An Giang
3.2 CTCP Sản xuất kinh doanh xuất nhập khâu Binh Thanh
Trang 3
LỜI NÓI ĐÀU
o£Hœ4
1 LÝ DO CHñN Đñ TÀI
Một nên kinh tê phát triên luôn gắn liên với sự phát triên của thị trường vôn mà trong đó đặc biệt quan trong là vai trò của thị trường chứng khoán (TTCK) Có thể nói
như vậy là vì TTCK là kênh huy động vốn lớn nhất, nhanh nhất góp phần thúc day sy phat
triển của thị trường vốn ngày càng hiệu quả hơn Điều này đã được chứng minh qua hình ảnh các nước phát triển chắng hạn như Mỹ, Anh, Nhật Bản mỗi nước đều có một TTCK qui mô không lồ và phát triển mạnh mẽ
Việt Nam là một nước đang phát triển, vì vậy sự ra đời của TTCK ở nước ta là cần thiết và đóng vai trò quan trọng cho sự phát triển của nền kinh tế đất nước Sự ra đời của
TTCK Việt Nam là một cơ hội lớn để các nhà đầu tư có thể tham gia vào, nó không chỉ là
kênh huy động vốn trong nước mà còn thu hút cá vốn đầu tư bên ngoài như các nhà đầu tư nước ngoài và cả các tập đoàn kinh tế quốc tế Tuy nhiên để có thể tham gia vào TTCK
một cách có hiệu quả nhằm tạo khả năng sinh lợi cao nhất thì nhà đầu tư cần phải có một
kiến thức nhất định về TTCK và những thông tin cần thiết về nó Chính vì vậy mà thông
tin đóng một vai trò hết sức quan trọng đối với TTCK, một thông tin tốt có thể làm cho
giá cổ phiếu tăng và ngược lại một thông tin xấu có thể làm giá cổ phiếu giảm Hay nói cách khác thông tin là trung tâm đánh giá mức độ hiệu quả của thị trường Việc su dung thông tin và phản ánh nó trung thực, nhanh chóng vào giá và lợi suất của một cô phiếu thì
đó được xem là một thị trường có hiệu quả về mặt thông tin
Xuất phát từ vấn đề cung cấp nhiều thông tin hơn về TTCK cho nha dau tư để họ có thêm những cơ sở đề có thê đưa ra các quyết định đầu tư hợp lý nhằm mục đích sinh lợi
cao nhất Vì vậy đề tài nghiên cứu “Mối quan hệ nhân quả giữa giá cỗ phiếu và khối
lượng giao dịch trên thị trường chứng khoán Việt Nam” được thực hiện Kết quả nghiên
cứu của đề tài này rất cần thiết đối với nhà đầu tư khi họ họ quyết định tham gia vào
TTCK Bởi vì những thông tin này giúp cho các nhà đầu tư có thêm cơ sở đề có thể đưa ra
chiến lược đầu tư đúng đắn, hợp lý và hiệu quả nhằm mục đích sinh lợi cao nhất góp phần vào sự phát triển của TTCK Việt Nam.
Trang 4a Không gian nghiên cứu
Bài nghiên cứu nhằm kiểm định mối quan hệ qua lại giữa giá cỗ phiếu và khối lượng
giao dịch của TTCK Việt Nam nên địa bàn nghiên cứu là TTCK Việt Nam và cụ thể là Sở
giao dịch chứng khoán Thành phó Hồ Chí Minh
b Thời gian nghiên cứu
Các dữ liệu nghiên cứu trong bài được thu thập trên Sở giao dịch chứng khoán
Thành phố Hồ Chí Minh trong khoảng thời gian từ khi cổ phiếu có phiên giao dịch đầu tiên đến hết ngày 30-12-2009
Về phần thực hiện, luận văn được tiến hành nghiên cứu trong khoảng thời gian hơn
3 tháng ( tháng 2, 3 và 4/2010) , sau đó là thời gian chuẩn bị và hoàn thành Đến đầu tháng 6-2010 là thời gian thực hiện báo cáo đề tài
c Đối tượng nghiên cứu
Như đã giới thiệu ở trên, đề tài nghiên cứu về mối quan hệ nhân quả giữa giá cổ phiếu và khối lượng giao dịch của TTCK Việt Nam mà cụ thê là Sở giao dịch chứng khoán Thành phó Hồ Chí Minh Chính vì vậy đối tượng nghiên cứu trong bài bao gồm chỉ
số giá và khối lượng giao dịch của 5 loại cổ phiếu thuộc 5 ngành kinh tế khác nhau được
niêm yết trên Sở giao dịch chứng khoán Thành phố Hồ Chí Minh
Năm loại cổ phiếu được chọn nghiên cứu trong bài là:
Trang 5+ AGE: Công ty cổ phần xuất nhập khẩu thủy sản An Giang
GIL: Công ty cô phần sản xuất kinh doanh xuất nhập khẩu Bình Thạnh
+ DHG: Công ty cỗ phần Dược Phẩm Imexpharm
+ REE: Công ty cổ phần Cơ điện lạnh
s* STB: Ngân hàng Thương mại cổ phần Sài Gòn Thương Tín
4 Cấu trúc luận văn
Luận văn có cấu trúc bao gồm 5 phần chính như sau:
s Giới thiệu chung
% Chương L : Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu
+ Chương 2 : Khái quát TTCK Việt Nam, Sở giao dịch chứng khoán Thanh Phố
Hồ Chí Minh và các công ty có cổ phiếu nghiên cứu
+ Chương 3 : Trình bày tóm tắt các kết quả nghiên cứu
# Kết luận.
Trang 6PHñIBING PHÁP LUñN VÀ PHữNG PHÁP NGHIÊN CñU
wll
1.1 PHAZNG PHAP LUAN
1.1.1 Khái niZm vữl chững khoán
1.1.1.1 Khái niệm
Chứng khoán là những giấy tờ có giá xác định số vốn đầu tư và nó xác nhận quyền đòi nợ hay quyền sở hữu về tài sản, bao gồm những điều kiện về thu nhập trong một khoảng thời gian nào đó và có khả năng chuyển nhượng
Chứng khoán có thu nhập ồn định là các trái phiếu có lãi suất cố định, thu nhập của
nó không phụ thuộc vào kết quả sản xuất kinh doanh của công ty
Chứng khoán có thu nhập không ôn định là các cô phiếu thường và trái phiếu có lãi
suất thả nồi, thu nhập của nó phụ thuộc vào kết quả sản xuất kinh doanh và chính sách trả
cổ tức của công ty
Chứng khoán hỗn hợp là cô phiếu ưu đãi, có một phần thu nhập là không phụ thuộc vào kết quả sản xuất kinh doanh của công ty
c Căn cứ theo chủ thể phát hành có chứng khoán Chính phú và chứng khoán công ty
Chứng khoán Chính phủ là các chứng khoán do các cơ quan của Chính phủ trung ương hay chính quyền địa phương phát hành như trái phiếu kho bạc, trái phiếu công trình, trái phiếu Chính phủ, công trái Nhà nước
Trang 7Chứng khoán công ty là chứng khoán do các doanh nghiệp, công ty cổ phần phát hành như trái phiếu, cổ phiếu và các công cụ có nguồn gốc chứng khoán
1.1.1.3 Trái phiếu
a Đặc điểm
Trái phiếu là giấy tờ có giá xác định số vốn đầu tư và xác nhận quyền đòi nợ bao gồm những điều kiện và thu nhập trong một khoảng thời gian nào đó và có khả năng chuyên nhượng
Từ khái niệm trên ta thay trái phiếu có đặc điểm là có thu nhập ôn định, có khả năng
chuyên nhượng, có thời gian đáo hạn Đồng thời trái chủ không có quyền tham gia bầu cử, ứng cử vào Hội đồng quản trị Nhưng trái phiếu đem lại cho trái chủ quyền được ưu tiên trong phân chia lợi nhuận cũng như thanh lý tài sản khi công ty phá sản
b Một vài loại trái phiếu
Trái phiếu có lãi suất có định là trái phiếu cho lãi suất có định ngay tại thời điểm
phát hành
Trái phiếu có lãi suất thả nồi là trái phiếu cho lãi suất được điều chỉnh theo từng thời
kỳ
Trái phiếu không có lãi là trái phiếu không cho lãi suất thường kỳ, nó được mua với
giá thấp so với mệnh giá Toàn bộ tiền lời và giá trị tăng thêm sẽ bằng đúng mệnh giá vào ngày đáo hạn
Trái phiếu thu nhập là trái phiếu được phát hành bởi các công ty đang trong thời kỳ
tổ chức lại Công ty phát hành hứa sẽ trả số gốc khi trái phiếu hết hạn nhưng chỉ hứa trả lãi nếu công ty có đủ thu nhập
Trái phiếu có thể thu hồi là trái phiếu cho phép công ty có thé mua lai trai phiếu vào một thời gian nào đó Tuy nhiên trái phiếu không thể thu hồi một vài năm sau khi chúng
được phát hành
Trái phiếu có thể chuyền đổi là trái phiếu cho phép người giữ nó được chuyền đổi
sang một số lượng cô phiếu nhất định với giá xác định
Trái phiếu phiếu kèm giấy bảo đảm là trái phiếu cho phép, người giữ nó có quyền mua thêm một số lượng cổ phiếu nhất định của đơn vị phát hành ở một giá xác định (một
giấy bảo đảm ở góc trái phiếu bằng một cô phiều)
Trái phiếu Euro là trái phiếu phát hành bằng đồng tiền của nước phát hành tại một nước khác
Trang 8Trái phiếu Dollar là trái phiếu phát hành bằng đồng Đôla Mỹ ở các nước ngoài nước
Cổ phiếu thường là cổ phiếu không có thời gian đáo hạn, không có thu nhập ồn định
mà thu nhập của nó phụ thuộc vào kết quả sản xuất kinh doanh hay chính sách chi trả cổ tức của công ty Cổ phiếu thường có khả năng chuyên nhượng đễ dàng Người nắm giữ cổ phiếu thường có quyền tham gia bầu cử vào Hội đồng quản trị nhưng không được ưu tiên trong phân chia lợi nhuận cũng như thanh lý tài sản khi công ty phá sản Ngoài ra cô phiếu thường còn đem lại quyền đặt mua cổ phiếu mới cho các cô đông
Cổ phiếu ưu đãi
Cổ phiếu ưu đãi là loại cô phiếu có sự ưu tiên hơn cô phiếu thường trong việc phân chia lợi nhuận cũng như chỉ trả cô tức và thanh lý tài sản khi công ty pha san
Cổ phiếu ưu đãi cũng như cổ phiếu thường là nó không có thời gian đáo hạn Nó tồn tại ở sự tồn tại của công ty Nó cũng có khả năng chuyển nhượng nhưng phải thêm một số
điều kiện nhất định Cổ tức của cổ phiếu ưu đãi lẫn cỗ phiếu thường đều không phải là nợ
của công ty do đó không có thu nhập ồn định trong điều kiện bình thường và nó có thể
được mua lại bởi nhà phát hành
Cổ phiếu ưu đãi còn có một số điều khoản kèm theo Thứ nhất, cổ phiếu ưu đãi có
tính chất tham dự trong phân chia lợi nhuận khi công ty làm ăn có lãi vượt một mức nào
đó Thứ hai, cổ phiếu ưu đãi có tính chất bỏ phiếu Trong điều kiện bình thường, cổ phiếu
ưu đãi không có tính chất bỏ phiếu Nhưng khi công ty làm ăn thua lỗ, cổ phiếu ưu đãi sẽ
có tính chat bỏ phiếu Thứ ba, cổ phiêu ưu đãi có tính chất tích luỹ hay không tích luỹ tức
là do công ty làm ăn không hiệu quả, công ty sẽ không trá cô tức Nhưng khi công ty làm
Trang 9ăn có lãi công ty có thê trả cổ tức cho những năm bị thua lỗ trước đó hoặc không trả cô
tức của những năm chưa trả được
1.1.1.5 Các công cụ phái sinh
a Khái niệm
Công cụ phát sinh là những công cụ được phát hành trên cơ sở những công cụ đã có
như cổ phiếu nhằm nhiều mục tiêu khác nhau như phân tán rủi ro, bảo vệ lợi nhuận hoặc tạo lợi nhuận
b Một số công cụ phát sinh là quyền lựa chọn và hợp đồng tương lai
Quyền lựa chọn là một công cụ cho phép người nắm giữ nó được mua (nếu là quyền
chọn mua) hoặc bán (nếu là quyền chọn bán) một khối lượng nhất định hàng hoá với một mức giá xác định và trong một thời hạn nhất định Các hàng hoá này có thể là cổ phiếu, trái phiếu hay hợp đồng tương lai
Hợp đồng tương lai là một thoả thuận trong đó một người mua và một người bán
chấp thuận thực hiện một giao dịch tại một thời điểm xác định trong tương lai với một
mức giá được ấn định vào ngày hôm nay Hợp đồng tương lai được niêm yết trên sở giao
dịch, nó xoá bỏ rủi ro tín dụng vì nó được công ty thanh toán bù trừ phục vụ như là một
trung gian trong tất cá các giao dịch Người bán và người mua đều mua bán qua công ty thanh toán bù trừ Hợp đồng tương lai đều được tiêu chuẩn hóa về việc giao nhận một
khối lượng cụ thể của một hàng hoá cụ thể đáp ứng các tiêu chuẩn chất lượng tối thiểu,
theo một thời hạn được ấn định trước Hợp đồng tương lai còn được chuyển giao theo giá thị trường tức là bat ky món lợi nào cũng được giao nhận hàng ngày Cụ thê là nếu giá của hàng hoá cơ sở biến động khác với giá đã thỏa thuận (giá thực hiện hợp đồng) thì bên bị
thiệt hại do sự thay đồi giá này phải trả tiền cho bên được lợi từ sự thay đôi giá đó Việc
thanh toán như thế được tiến hành hàng ngày
1.1.2 Thñ
1.1.2.1 Khái niệm
ng chñng khoán
Thị trường chứng khoán là thị trường có tổ chức, là nơi mà các chứng khoán được
mua bán theo các qui tắc đã được ấn định
1.1.2.2 Phân loại
Trang 10a Căn cứ theo tính chất pháp lý có thị trường chứng khoán chính thức và thị trường chứng khoán phi chính thức
Thị trường chứng khoán chính thức hay còn gọi là Sở giao dịch chứng khoán là nơi mua bán loại chứng khoán được niêm yết có địa điểm và thời biểu mua bán rõ rệt, giá cả
được xác định theo hình thức đấu giá hoặc đấu lệnh
Thị trường chứng khoán phi chính thức hay còn gọi là thị trường OTC là nơi mua bán chứng khoán bên ngoài Sở giao dịch, không có ngày giờ nghỉ hay thủ tục quyết định
mà do thoả thuận giữa người mua và người bán
b Căn cứ vào quá trình luân chuyến chứng khoán có thị trường phát hành và thị trường giao dịch
Thị trường phát hành hay còn gọi là thị trường sơ cấp là nơi các chứng khoán được
phát hành lần đầu bởi các nhà phát hành và bán cho các nhà đầu tư
Thị trường giao dịch hay còn gọi là thị trường thứ cấp là nơi diễn ra các giao dịch
mua bán chứng khoán sau khi đã phát hành lần đầu Nói cách khác thị trường thứ cấp là
thị trường mua đi bán lại các loại chứng khoán đã phát hành qua thị trường sơ cấp
c Căn cứ vào phương thức giao dịch có thị trường giao ngay và thị trường tương
lai
Thị trường giao ngay là thị trường mua bán chứng khoán theo giá của ngày giao dịch nhưng việc thanh toán và chuyên giao chứng khoán sẽ diễn ra tiếp theo sau đó vài ngày theo qui định
Thị trường tương lai là thị trường mua bán chứng khoán theo một loạt hợp đồng định sẵn, giá cả được thoả thuận trong ngày giao dịch nhưng việc thanh toán và chuyền giao chứng khoán sẽ điễn ra trong một ngày kỳ hạn nhất định trong tương lai
d Căn cứ vào đặc điểm hàng hoá trên thị trường chứng khoán có thị trường trái phiếu, thị trường cỗ phiếu và thị trường phát sinh
Thị trường trái phiếu là nơi mua bán các trái phiếu
Thị trường cô phiếu là nơi mua bán các cô phiếu
Thị trường phát sinh là nơi mua bán các công cụ có nguồn gốc chứng khoán
1.1.2.3 Chí số chứng khoán
Khi nói đến thị trường chứng khoán không thể không nói đến chỉ số chứng khoán Người ta thường coi chỉ số chứng khoán là chiếc "phong vũ biểu" của thị trường chứng
Trang 11khoán mà ở dạng này hay dạng khác người ta dùng chỉ số chứng khoán dé thể hiện sự phát triển của thị trường và các thành phần của nó Các chỉ số này thường được thông báo trên các phương tiện thông tin đại chúng và các tờ nhật báo lớn, ở các nước chỉ số chứng khoán phản ánh tình hình hoạt động của các công ty trên thị trường Nếu các công ty làm
ăn có lãi, giá chứng khoán của các công ty đó sẽ tăng và làm tăng theo chỉ số chứng khoán Ngược lại, chỉ số chứng khoán sẽ giảm Dựa vào chỉ số chứng khoán các nhà đầu
tư có thể xác định được hiệu quả của một cỗ phiếu hoặc một danh mục các chứng khoán
để đầu tư vào
Bất kỳ một thị trường chứng khoán nào cũng có một chỉ số chứng khoán của riêng
nó Ví dụ thị trường chứng khoán New york có chỉ số Dow Jones, thị trường chứng khoán Tokyo áp dụng chỉ số Nikkei, Hong Kong áp dụng chỉ số Hang - xieng, Singapore áp dụng chỉ số "Strai taime"
Một loại chỉ số chứng khoán được nhiều người biết đến nhất là chỉ số Dow Jones ra
đời năm 1896 Chỉ số này được coi như một cột mốc của thị trường chứng khoán thế giới
do hai nhà kinh tế Mỹ Edward David Jones và Charles Hery Dow đề xuất đo lường mức
độ biến động của thị giá cô phiếu trên thị trường chứng khoán New York Chỉ số Dow Jones bao gồm 65 loại cô phiếu được chia thành 3 nhóm chỉ số bình quân nhỏ như sau: Chỉ số Dow Jones công nghiệp bao gồm giá cỗ phiếu của 30 công ty hàng đầu ngành công nghiệp cộng lại rồi chia cho 1504 (con số này có khi có giảm)
Chỉ số Dow Jones vận tải bao gồm giá cô phiếu của 20 công ty hàng đầu ngành giao thông vận tải cộng lại chia cho 2785 (con số này có khi tăng)
Chỉ số Dow Jones dịch vụ công cộng bao gồm giá cô phiếu của 15 công ty hàng đầu ngành dịch vụ công cộng
Để biết được tình hình phát triển kinh tế gan đây người ta xác định thêm một số tiêu chuẩn khác Đó là các điểm giới hạn và điểm liệt Chăng hạn điểm giới hạn của chỉ số
Dow Jones là 800, điểm liệt là 700 Nếu chỉ số Dow Jones hàng ngày vượt quá 800 điểm chung trong nền kinh tế đang đi lên, nếu dưới 800 điểm cho biết có nguy cơ xảy ra suy
thoái kinh tế
1.1.2.4 Cơ cấu hoạt động của thị trường chứng khoán
Thị trường chứng khoán chính thức được thê hiện bằng sở giao dịch chứng khoán Thông thường một thị trường chứng khoán bao gồm hai thị trường cùng tham gia là thị trường sơ cấp và thị trường thứ cấp
Trang 12a Thị trường sơ cấp
Là thị trường cấp một hay thị trường phát hành, hàm ý chỉ nơi diễn ra hoạt động giao dịch mua bán những chứng khoán mới phát hành lần đầu, kéo theo sự tăng thêm qui mô đầu tư vốn Nguồn cung ứng vốn chủ yếu tại thị trường này là nguồn tiết kiệm của dân chúng như của một số tô chức phi tài chính Thị trường sơ cấp là thị trường tạo vốn cho
đơn vị phát hành
b Thị trường thứ cấp
Còn gọi là thị trường cấp hai hay thị trường lưu thông, là nói đến nơi diễn ra hoạt động giao dịch mua bán chứng khoán đến tay thứ hai, tức là việc mua bán tiếp thu sau lần bán đầu tiên Nói cách khác, thị trường thứ cấp là thị trường mua đi bán lại các loại chứng khoán đã được phát hành qua thị trường sơ cấp
Điểm khác nhau căn bản giữa thị trường sơ cấp và thị trường thứ cấp không phải là
sự khác nhau về hình thức mà là sự khác nhau về nội dung, về mục đích của từng loại thị
trường Bởi lẽ, việc phát hành cổ phiếu hay trái phiếu ở thị trường sơ cấp là nhằm thu hút mọi nguồn vốn đầu tư và tiết kiệm vào công cuộc phát triển kinh tế Còn ở thị trường thứ cấp, đù việc giao dịch rất nhộn nhịp có hàng chục, hàng trăm thậm chí hàng ngàn tỉ đô la
chứng khoán được mua đi bán lại, nhưng không làm tăng thêm qui mô đầu tư vốn, không
thu hút thêm được các nguồn tài chính mới Nó chỉ có tác dụng phân phối lại quyền SỞ hữu chứng khoán từ chủ thể này sang chủ thê khác, đảm bảo tính thanh khoản của chứng khoán
Thị trường sơ cấp và thị trường thứ cấp gộp lại được gọi là thị trường chứng khoán
Hai thị trường này ton tai quan hé mat thiết với nhau được ví dụ như hai bánh xe của một
chiếc xe, trong đó thị trường sơ cấp là cơ sở, là tiền đề, thị trường thứ cấp là động lực
Nếu không có thị trường sơ cấp thì sẽ chăng có chứng khoán đề lưu thông trên thị trường thứ cấp và ngược lại, nếu không có thị trường thứ cấp thì việc hoán chuyển các chứng
khoán thành tiền sẽ bị khó khăn, khiến cho người đầu tư sẽ bị thu nhỏ lại, hạn chế khả
năng huy động vốn trong nền kinh tế
Việc phân biệt thị trường sơ cấp và thị trường thứ cấp chỉ có ý nghĩa về mặt lý
thuyết Trong thực tế tổ chức thị trường chứng khoán không có sự phân biệt về thị trường
sơ cấp và thị trường thứ cấp Nghĩa là, trong một thị trường chứng khoán vừa có giao dịch của thị trường sơ cấp vừa có giao dịch của thị trường thứ cấp Vừa có việc mua bán chứng
khoán theo tính chất mua đi bán lại.
Trang 13Tuy nhiên, điểm cần chú ý là phải coi trọng thị trường sơ cấp, vì đây là thị trường phát hành là hoạt động tạo vốn cho đơn vị phát hành đồng thời phải giám sát chặt chẽ thị trường thứ cấp, không để tình trang đầu cơ lũng đoạn thị trường đề đảm bảo thị trường chứng khoán trở thành công cụ hữu dụng của nền kinh tế
Thứ nhất: Sở giao dịch chứng khoán được tổ chức theo hình thức "Câu lạc bộ" tự
nguyện của các thành viên Trong hình thức này, các thành viên của sở giao dịch (hội viên) tự tổ chức và tự quản lý sở giao dịch chứng khoán theo pháp luật không có sự can
thiệp của nhà nước Các hội viên của Sở giao dịch bầu ra Hội đồng quản trị và Hội đồng
quản trị bầu ra ban điều hành
Thứ hai: Sở giao dịch chứng khoán được tổ chức dưới hình thức một công ty cổ
phần có các cô đông là các công ty thành viên Đây là hình thức phổ biến nhất hiện nay
Sở giao dịch chứng khoán tô chức dưới hình thức này được hoạt động theo luật công ty cô
phan, phải nộp thuế cho nhà nước và chịu sự giám sát của một cơ quan chuyên môn do
chính phủ lập ra Cơ quan chuyên môn này là cơ quan quản lý nhà nước về chứng khoán
và thị trường chứng khoán Quản lý và điều hành sở giao dịch chứng khoán là Hội đồng quản trị do các công ty chứng khoán thành viên bầu ra và ban điều hành sở giao dịch chứng khoán do Hội đồng quản trị đề cử
Thứ ba: Sở giao dịch chứng khoán được tổ chức dưới dạng một công ty cô phần nhưng có sự tham gia quản lý và điều hành của nhà nước Đây là hình thức phổ biến ở hầu
hết các nước Châu á Cơ cấu tổ chức và quản lý điều hành cũng tương tự như hình thức
trên nhưng trong thành phần Hội đồng quản trị có một số thành viên do uỷ ban chứng khoán quốc gia đưa vào, giám sát điều hành Sở giao dịch chứng khoán quốc gia bổ
nhiệm
Quán lý và điều hành sé giao dịch chứng khoán
Uỷ ban chứng khoán quốc gia là cơ quan quản lý nhà nước về thị trường chứng
khoán do chính phủ thành lập Uỷ ban chứng khoán quốc gia có nhiệm vụ xác định loại
doanh nghiệp nào được phép phát hành chứng khoán và loại chứng khoán nào được mua
Trang 14bán Uỷ ban này cấp giấy phép và kiểm tra hoạt động của các công ty môi giới và thực hiện các công việc quản lý nhà nước khác
Hội đồng quản trị và ban điều hành sở giao dịch chứng khoán quản lý và điều hành
sở giao dịch chứng khoán Tất cả các quyết định đều được Hội đồng quản trị đưa ra Hội
đồng này bao gồm các công ty chứng khoán thành viên của sở giao dịch chứng khoán, các thành viên liên doanh thậm chí có một số không phải là thành viên của sở giao dịch chứng khoán do Uỷ ban chứng khoán quốc gia đưa vào Hội đồng quản trị có quyền quyết định những thành viên nào được phép buôn bán tại sở giao dịch, những loại chứng khoán nào
đủ tiêu chuẩn được phép niêm yết tại phòng giao dịch Hội đồng này có quyền đình chỉ
hoặc huý bỏ việc niêm yết một chứng khoán nào đó Hội đồng quản trị có quyền kiểm tra quá trình kinh doanh của các thành viên sở giao dịch Nếu phát hiện vi phạm, Hội đồng quản trị có quyền phạt hoặc đình chỉ việc kinh doanh của thành viên trong một thời gian nhất định hoặc trục xuất không cho phép mua bán trên sở giao dịch chứng khoán nữa Thành viên sở giao dịch chứng khoán
Thành viên sở giao dịch chứng khoán có thể là các cá nhân hoặc các công ty chứng khoán Để trở thành thành viên của sở giao dịch chứng khoán trước hết công ty phải được công ty có thâm quyền của nhà nước cấp giấy phép hoạt động Phải có số vốn tối thiểu theo quy định, có chuyên gia kinh tế, pháp lý đã được đào tạo về phân tích và kinh doanh chứng khoán Ngoài ra công ty còn phải thoả mãn các yêu cầu của từng sở giao dịch chứng khoán cụ thê Một công ty chứng khoán có thể là thành viên của nhiều sở giao dịch chứng khoán khác nhau nhưng không được là thành viên của thị trường chứng khoán phi tập trung và ngược lại công ty chứng khoán có thể thực hiện một hay nhiều nghiệp vụ khác nhau trên thị trường chứng khoán
Giám sát thị trường chứng khoán
Để đảm bảo cho các giao dịch được công bằng đảm bảo lợi ích của các nhà đầu tư,
Sở giao dịch chứng khoán có một bộ phận chuyên theo dõi giám sát các giao dịch chứng khoán để ngăn chặn kịp thời các vi phạm trong giao dịch chứng khoán Nhiệm vụ chủ yếu
của các bộ phận giám sát là kiểm tra theo dõi và ngăn chặn kịp thời các hoạt động tiêu cực
như gây nhiễu giá, giao dịch tay trong, giao dich lòng vòng, giao dịch có dan xếp trước
1.1.2.5 Các nguyên tắc cơ bản về hoạt động cúa TTCK
a Nguyên tắc trung gian
Trang 15Trên thị trường chứng khoán, các giao dịch thường được thực hiện thông qua tổ
chức trung gian và môi giới là các công ty chứng khoán Trên thị trường sơ cấp, các nhà đầu tư thường không mua trực tiếp của nhà phát hành mà mua từ các nhà bảo lãnh phát hành Trên thị trường thứ cấp, thông qua nghiệp vụ môi giới kinh doanh các công ty chứng khoán mua chứng khoán giúp các nhà đầu tư hoặc mua chứng khoán của nhà đầu
tư này để mua và bán cho các nhà đầu tư khác Nguyên tắc này nhằm đảm bảo các loại chứng khoán được giao dịch là chứng khoán thực và giúp thị trường hoạt động lành mạnh, bảo vệ quyền lợi của các nhà đầu tư
b Nguyên tắc định giá
Việc định giá chứng khoán trên thị trường phụ thuộc hoàn toàn vào các nhà trung gian môi giới Mỗi nhà trung gian môi giới định giá mỗi loại chứng khoán tại một thời
điểm tuỳ theo sự xét đoán và tùy vào số cung cầu chứng khoán có trên thị trường Việc
định giá chứng khoán được thực hiện thông qua cuộc thương lượng giữa những người
trung gian môi giới với người cần mua và cần bán Giá cả được xác định khi hai bên đã thống nhất Tất cả các thành viên có liên quan trên thị trường không ai có thể can thiệp vào sự tác động qua lại của số cung cầu chứng khoán trên thị trường và cũng không ai có quyền định giá chứng khoán một cách độc đoán Vì thế thị trường chứng khoán được coi
là thị trường tự do nhất trong các thị trường
c Nguyên tắc công khai hoá
Tất cả các hoạt động trên thị trường chứng khoán đều được công khai hoá về các
loại chứng khoán được đưa ra mua bán trên thị trường, cũng như tình hình tài chính về kết
quả kinh doanh của công ty phát hành và số lượng chứng khoán và giá cả từng loại đều được công khai trên thị trường và trong các báo cáo Khi kết thúc một cuộc giao dịch số lượng chứng khoán được mua bán, giá cả từng loại đều được lập tức thông bán ngay Nguyên tắc này nhằm đảm bảo quyền lợi cho người mua và người bán chứng khoán không bị lầm trong mua bán chứng khoán và người mua chứng khoán dễ dàng chọn loại chứng khoán theo sở thích của mình
1.1.2.6 Giao dịch trên TTCK
Các chứng khoán được giao dịch trên thị trường theo lô chăn hoặc lô lẻ Trên sàn
giao dịch, có nhiều loại lệnh khác nhau được nhà đầu tư sử dụng tùy theo mục đích của
từng người Để mua hay bán chứng khoán, các nhà đầu tư sẽ đưa ra các lệnh thuê các công ty môi giới chứng khoán thực hiện hộ
Trang 16a Lệnh thị trường: Đây là loại lệnh thông dụng nhất Các công ty môi giới căn cứ vào
giá thị trường hiện tại của loại chứng khoán mà nhà đầu tư yêu cầu thực hiện để tiến hành
giao dịch, xong họ cũng phải xem xét để mua hoặc bán sao cho có lợi nhất cho khách
hàng của họ, các khách hàng biết chắc lệnh sẽ được thực hiện nhưng không biết chắc giá
hiện trong một thời gian nhất định cho đến khi hết thời hạn và huỷ bỏ Trong khi chưa bị
huỷ bỏ mà lệnh chưa được thực hiện thì nhà đầu tư vẫn có thê tăng hay giảm giá giới hạn (giá mua, giá bán)
c Lệnh ngừng: Đây là lệnh đặc biệt mà các nhà đầu tư dùng đề bảo vệ thu nhập của họ tránh thua lỗ khi có sự tăng giảm giá cả Lệnh ngừng bán có giá đặt ra cao hơn giá thị
trường hiện tại còn lệnh ngừng mua có giá đặt ra thấp hơn thị trường hiện tại
Các lệnh trên khi đấu giá sẽ được ưu tiên theo thứ tự
Ưu tiên về giá: Giá đặt mua cao nhất và giá đặt bán thấp nhất được ưu tiên
Ưu tiên về thời gian: Trong cùng một mức giá lệnh nào được đưa ra trước sẽ được
ưu tiên
Ưu tiên về số lượng: Khi có nhiều lệnh cùng thoả mãn hai điều kiện trên, lệnh nào
có số lượng chứng khoán nhiều hơn sẽ được ưu tiên
Trên thị trường chứng khoán phi tập trung, hoạt động mua bán chứng khoán cũng
diễn ra khá đơn giản Khi một khách hàng muốn mua một số lượng chứng khoán nhất
định, anh ta sẽ đưa lệnh cho công ty chứng khoán đang quản lý tài sản của anh ta yêu cầu giao dịch hộ Thông qua hệ thống viễn thông công ty môi giới sẽ liên lạc với tất cả các nhà tạo thị trường của loại chứng khoán nay dé biết được giá chào bán thấp nhất của loại chứng khoán này sau đó công ty này thông báo lại cho khách hàng biết và nếu khách hàng
chấp nhận, công ty sẽ thực hiện lệnh và giao dịch của khách hàng được thực hiện
2.1.2.7 Vai trò của TTCK
a Đối với chính phú
Trang 17Thị trường chứng khoán cung cấp các phương tiện đề huy động vốn và sử dụng các nguồn vốn một cách có hiệu quả cho nền kinh tế quốc dân Chính phủ huy động vốn bằng
việc bán trái phiếu và dùng số tiền đó đề đầu tư vào các dự án cần thiết của mình
Thị trường chứng khoán còn góp phần thực hiện quá trình cổ phần hoá Chính thị trường chứng khoán có thực mới có thể tuyên truyền sự cần thiết của thị trường chứng
khoán một cách tốt nhất Từ đó khuyến khích việc cổ phần hoá nhanh lên các doanh
nghiệp quốc doanh
Thị trường chứng khoán là nơi đề thực hiện các chính sách tiền tệ Lãi suất thị
trường có thê tăng lên hoặc giảm xuống do việc chính phủ mua hoặc bán trái phiếu Ngoài ra thị trường chứng khoán là nơi thu hút các nguồn vốn đầu tư gián tiếp từ nước ngoài qua việc nước ngoài mua chứng khoán
b Đối với các doanh nghiệp
Thị trường chứng khoán giúp các công ty thoát khỏi các khoản vay khi có chi phí tiền vay cao ở các ngân hàng Các doanh nghiệp có thê phát hành cô phiếu hoặc trái phiếu Hoặc chính thị ttường chứng khoán tạo ra tính thanh khoản dé cho công ty có thể bán chứng khoán bất kỳ lúc nào đề có tiền Như vậy, thị trường chứng khoán giúp các doanh nghiệp đa dạng hoá các hình thức huy động vốn và đầu tư
Thị trường chứng khoán là nơi đánh giá giá trị của doanh nghiệp và của cá nền kinh
tế một cách tổng hợp và chính xác (kế cả giá trị hữu hình và vô hình) thông qua chỉ số giá
chứng khoán trên thị trường Từ đó tạo ra một môi trường cạnh tranh lành mạnh nhằm
nâng cao hiệu quả sử dụng vốn, kích thích áp dụng công nghệ mới, cải tiến sản phẩm
Thị trường chứng khoán còn là nơi giúp các tập đoàn ra mắt công chúng Thị trường chứng khoán chính là nơi quảng cáo ít chi phí về bản thân doanh nghiệp
c Đối với nhà đầu tư
Thị trường chứng khoán là nơi mà các nhà đầu tư có thé dé dàng tìm kiếm các cơ hội đầu tư đề đa dạng hoá đầu tư, giảm thiểu rủi ro trong đầu tư
2.1.2.8 Nhược điểm của TTCK
a Yếu tố đầu cơ
Đầu cơ là yếu tố có tính toán của người chấp nhận rủi ro Họ có thể mua cô phiếu ngay với hy vọng giá cỗ phiếu sẽ tăng trong tương lai va thu hồi được lợi nhuận trong từng thương vụ Yếu tố này gây ảnh hưởng lan truyền làm cho giá cô phiếu có thể tăng giả tạo Tuy nhiên thị trường không cắm yếu tố này
Trang 18b Mua bán nội gián
Mua bán nội gián là việc một cá nhân nào đó lợi dụng vị trí công việc của mình, nắm được những thông tin nội bộ của đơn vị phát hành dé mua hoặc bán cổ phiếu của đơn vị
đó một cách không bình thường nhằm thu lợi cho mình và làm ảnh hưởng tới giá của cô phiếu trên thị trường Đây là hành vi phi đạo đức thương mại và bị cấm ở các nước
c Phao tin đồn không chính xác hay thông tin lệch lạc
Đây là việc đưa ra các thông tin sai sự thật về tình hình tài chính, tình hình nội bộ
của công ty hay về môi trường kinh doanh của công ty nhằm tăng hay giảm giá cô phiếu
dé thu lợi nhuận cho cá nhân
2.1.3 LAC KHEZO TAI LIQU
Phân này sẽ giới thiệu một sô bài nghiên cứu đã được thực hiện nghiên cứu về môi
quan hệ nhân quả giữa giá cô phiếu và khối lượng giao dịch của các nước trên thế giới Mối quan hệ giữa giá cổ phiếu và khối lượng giao dịch đã nhận được sự quan tâm đặc biệt của các nhà kinh tế tài chính trong những năm gần đây Những nghiên cứu đầu tiên về mối quan này chủ yếu tập trung vào mối quan hệ tại một thời điểm (contemporaneous relationship) giữa sự thay đổi giá cổ phiếu và khối lượng giao dich
(xem Karpoff, 1987; Gallant và các cộng sự, 1992) Phần lớn các nghiên cứu này chỉ ra
rằng có mối quan hệ tỷ lệ thuận giữa sự thay đồi của giá cô phiếu và khối lượng giao dịch
(Ying, 1966; Crouch, 1970; Wood và các cộng sự, 1985; Harris và Gurel, 1986)
Trong những năm gần đây, mối quan hệ nhân quả (causal relation) giữa giá cô phiếu
và khối lượng giao dịch đã được nghiên cứu rộng rãi ở cả các thị trường phát triển và các
thị trường mới nổi Phương pháp sử dụng phổ biến trong các nghiên cứu này là kiểm định
Granger va kiém định sự hòa hợp (co-integration tests) Ở thị trường chứng khoán Newyork, Hiemstra và Jones (1994) đã chỉ ra rằng có mối quan hệ tác động qua lại giữa
sự thay đổi giá cổ phiếu và khối lượng giao dịch trong giai đoạn 1915-1990 Thêm vào
đó, các nghiên cứu của Chen và các cộng sự (2001), Lee và Rui (2002) đã cho thấy rằng
Trang 19mối quan hệ tác động qua lại giữa sự thay đồi giá cổ phiếu và khói lượng giao dịch tồn tại
ở thị trường chứng khoán Thuy Sĩ, Hà Lan và Hong Kong Các nghiên cứu này còn tìm
thấy sự tác động của sự thay đổi giá cô phiếu đến khối lượng giao dịch ở thị trường chứng
khoán Mỹ, Nhật, Anh, Pháp và Ý Một nghiên cứu khác được thực hiện bởi Martikainen
và các cộng sự (1994) trên Sở giao dịch chứng khoán Helsinki đã chỉ ra rằng có sự tác
động qua lại giữa giá cổ phiếu và khối lượng giao dịch trong giai đoạn 1983-1988
Ở các thị trường chứng khoán mới nồi, Moosa và Al-Loughani (1996) chỉ ra rằng có mối quan hệ tác động qua lại giữa giá cô phiều và khối lượng giao dịch ở thị trường chứng
khoán Singapore và Thái Lan, và mối quan hệ một chiều từ khối lượng giao dịch đến giá
cổ phiếu ở Malaysia Tuy nhiên, không có bắt kỳ mối quan hệ nào giữa giá cổ phiếu và khối lượng giao dịch được tìm thấy ở thị trường chứng khoán Philippines Cũng ở khu vue Chau A, Lee va Rui (2000) tìm thấy rằng sự thay đổi của giá cô phiếu có ảnh hưởng
đến khối lượng giao dịch ở 2 Sở giao dịch chứng khoán Thượng Hải và Thâm Quyến Ở
khu vực Châu Mỹ La Tỉnh, Saatcioglu và Starks (1998) cung cấp những bằng chứng về mối quan hệ nhân quả giữa sự thay đổi giá cô phiếu và khói lương cô phiếu giao dich ở thị trường chứng khoán Colombia và Venezuela Ngoài ra, nghiên cứu này còn chỉ ra rằng sự
thay đổi của giá cổ phiếu dẫn đến sự thay đổi của khối lượng giao dịch ở thị trường chứng khoán Chile và sự thay đối khối lượng giao dịch dẫn đến sự thay đổi giá cổ phiếu ở thị
trường chứng khoán Brazil và Mexico Liên quan đến các thị trường mới nổi ở khu vực Châu Au, Gunduz va Hatemi-J (2005) đã ghi nhận có sự tác động qua lại giữa giá cô phiếu và khối lượng giao dịch ở thị trường chứng khoán Hungary và Ba Lan Gunduz và Hatemi-J (2005) cũng đã chỉ ra rằng sự thay đồi của giá cổ phiếu tao ra sự thay đôi của khối lượng giao dịch ở thị trường chứng khoán Nga và Thổ Nhĩ Kỳ Tuy nhiên, không có mối quan hệ nào giữa giá cổ phiếu và khối lượng giao dịch được tìm thấy ở thị trường chứng khoán Cộng hoà Séc
Mặc dù mối quan hệ giữa giá cô phiếu và khối lượng giao dịch đã được nghiên cứu rất nhiều trong những thập niên gần đây, nhưng đến nay ở thị trường chứng khoán Việt
Nam chỉ có một nghiên cứu mối quan hệ nhân quá giữa giá và khối lượng giao dịch của
các cô phiếu có vốn hoá thị trường lớn nhất trên Sở Giao dịch chứng khoán thành phố Hồ Chi Minh (HOSE) của Trương Đông Lộc-ĐHCT đã tìm thấy mối quan hệ nhân quả (bi-
directional causality) giữa giá và khối lượng giao dịch ở cổ phiếu VNM Vì vậy, mục tiêu
Trang 20của nghiên cứu nay là nghiên cứu mối quan hệ nhân quả giữa giá và khói lượng giao dịch của một số loại cổ phiếu trong các ngành kinh tế của thị trường chứng khoán Việt Nam
2.2 PHữñING PHÁP NGHIÊN CñIU
2.2.1 Phữlng pháp chữn vùng nghiên cñu
Vì đê tài nghiên cứu vê môi quan hệ nhân quả giữa giá cô phiêu và khôi lượng giao dịch của thị trường chứng khoán Việt Nam nên số liệu sẽ được thu thập trên TTCK Việt Nam TTCK Việt Nam có hai trung tâm giao dịch là Sở giao dịch chứng khoán Thành phố
Hồ Chí Minh và Sở giao dịch chứng khoán Hà Nội Trong đó Sở giao dịch chứng khoán
Thành phó Hồ Chí Minh là trung tâm giao dịch chứng khoán lớn nhất và lâu đời nhất Việt
Nam nên Sở giao dịch chứng khoán Thành phố Hồ Chí Minh được chọn làm vùng nghiên cứu
2.2.2 Phñlñng pháp thu thip s1 liñu
Sô liệu sử dụng trong nghiên cứu này bao gôm chuôi giá cô phiêu và khôi lượng
giao dịch theo thời gian của 5 loại cổ phiếu với tần suất tuần được thu thập từ khi bắt đầu giao dịch đến ngày 30-12-2009 Giá và khối lượng giao dịch của từng cô phiếu được sử
dụng là giá và khối lượng giao dịch đóng cửa vào ngày thứ tư hàng tuần Nếu ngày thứ Tư của một tuần nào đó không có giao dịch thì số liệu đóng cửa của ngày thứ Năm ( hoặc thứ
Ba nếu ngày thứ Năm không có giao dịch) được sử dụng Nếu cả ngày thứ Năm và thứ Ba đều không có giao dịch thì số liệu tuần đó sẽ được bỏ qua Sau đó trên cơ sở giá đóng cửa
của mỗi cô phiếu, thay đổi của giá cô phiếu ( lợi suất ) ở hai phiên liền kề được tính như sau:
r¡,= log (p is) — log (pits) = log (pit/ Pits)
Trong đó : Tit : Thay đôi giá cổ phiếu ở thời điểm t
Pit : Giá cô phiếu ¡ tại thời điểm đóng cửa ở phiên thứ t
P iti: Giá cổ phiếu ¡ tại thời điểm đóng cửa ở phiên thir t-1
Chỉ tiết về các công ty niêm yết được chọn nghiên cứu được thể hiên trong bảng sau Bang 1:Chi tiết các công ty niêm yết được chon nghiên cứu:
Trang 21
STT Tên công ty Mã cô 'Vôn hóa thị Ngày niêm
phiêu | trường (tỷ đông) yêt
I1 | CTCP XNK thủy sản An Giang AGF 429,50 | 02/05/2002
2_ | CTCP Sản xuất KD XNK Bình Thạnh | GIL 462,67 | 02/01/2002
3 | CTCP Dược Phâm Imexpharm IPM 816,00 | 04/12/2006
4 | CTCP Co dién lanh REE 3.549,69 | 28/07/2000
5 | Ngân hàng thương mại cd phan Sai] STB 14.941,79 | 12/07/2006
Gon Thuong Tin
Nguon: www.cafef.vn
2.2.3 Phññng pháp phân tích x1 lý sñ liñu
2.2.3.1 Kiêm định nghiệm đơn vị
Để kiểm tra tính dừng của các chuỗi số liệu theo thời gian, chúng ta có thể sử dụng
nhiều phương pháp khác nhau, chẳng hạn như: Kiểm định Dickey — Fuller (DF), kiém định Augmented Dickey Fuller (ADF) và kiểm định Phillips — Person (PP) Trong nghiên
cứu này, kiểm định ADEF được sử dụng để kiểm định tính dừng của các chuỗi số liệu
nghiên cứu Phương trình của kiểm định ADF có dạng như sau:
k
Ay,= a+ By + EGA; + &, œ@)
k
Ay= at 6,+ fy + 2 gAy ite (2) =
Mô hình (2) khác với mô hình (1) là có thêm biến xu hướng về thời gian 5, Cac ky hiệu trong mô hình (1) và (2) được giải thích như sau:
A=Yyi=Yu
y,: chuỗi số liệu theo thời gian đang xem xét
k : chiều dài độ trễ (lag time)
z, : nhiễu trắng
Vì kết quả của kiểm định ADF rất nhạy cảm với sự lựa chọn chiều đài độ trễ (k) nên
tiêu chuẩn thông tin được phát triển bởi Akaike (Akaike Information Criterion — AIC)
được sử dụng đề chọn lựa k tối ưu cho mô hình ADE (giá trị k được lựa chọn sao cho AIC
nhỏ nhất) Gia thuyét Ho (Null Hypothesis) trong kiểm định ADF là tồn tại một nghiệm
đơn vị (B=0) và nó sẽ bị bác bỏ nếu giá trị kiểm định ADF lớn hơn giá trị tới hạn của nó
Trong kiểm định ADF, giá trị kiểm định ADF không theo phân phối chuẩn, vì vậy giá trị
Trang 22tới hạn được dựa trên bảng giá trị tính sẵn của Mackinnon (1991) So sánh giá trị kiểm
dinh ADF với giá trị tới hạn của Mackinnon chúng ta sẽ có được kết luận về tính dừng
cho các chuỗi quan sát
2.2.3.2 Kiếm định Granger
Kiểm định Granger được sử dụng phô biến trong nghiên cứu đề trả lời cho câu hỏi đơn giản là có hay không sự thay đổi của X gây ra sự thay đổi của Y và ngược lại Phương trình hồi quy trong kiêm định Granger có dạng:
Nếu ở, không có ý nghia théng ké, nhung p, khác không và có ý nghĩa thống kê, thì
chúng ta kết luận rằng X chịu ảnh hưởng bởi sự thay đôi của Y (uni-directional causality)
Nếu cả ở, và ø, đều khác không và có ý nghĩa thống kê thì chúng ta kết luận rằng X
và Y tác động qua lại lẫn nhau (bi-directional causality)
Nếu cả ở, và ø, đều không có ý nghĩa thống kê thì chúng ta kết luận rằng X và Y
độc lập với nhau
Trong nghiên cứu này, X là giá của cổ phiếu và Y là khối lượng giao dịch của cổ
phiếu Trong kiểm định Granger, chiều dài độ trễ (k) cũng được lựa chọn dựa trên tiêu chuẩn AIC
Chññng 2
KHÁI QUÁT TTCK VIT NAM, Sữ GIAO DEICH CHữNG KHOÁN
THÀNH PHñI Hñ CHÍ MINH VÀ CÁC LOñI Cữ PHIðU NGHIÊN CñU
o£Hœ4
Trang 232.1 QUÁ TRÌNH HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIZN CA THữI TREING
CHữNG KHOÁNG VIäT NAM
Ủy Ban Chứng khoán Việt Nam ra đời ngày 28-11-1996 theo Nghị định 75/CP Ngày 11-07-1998 Chính phủ đã ký Nghị định số 48/CP ban hành về chứng khoán và Thị trường chứng khoán Việt Nam chính thức ra đời Chính phủ cũng ký quyết định thành lập
Trung tâm Giao dịch Chứng khoán đặt tại TP.HCM và Hà Nội
Trung tâm Giao dịch Chứng khoán TP.HCM (TTGDCK TP.HCM) được thành lập theo Quyết định số 127/1998/QĐ-TTG ngày 11-07-1998 và ra đời vào 20/7/2000 nhưng chính thức đi vào hoạt động thực hiện phiên giao dịch đầu tiên vào ngày 28-7-2000 với hai công ty hợp doanh cô phần niêm yết 2 loại cổ phiếu (REE - CTCP Cơ Điện Lạnh và
SAM - CTCP Cáp và Vật liệu viễn thông) với số vốn 270 tỷ đồng và 2 loại trái phiếu
Chính phủ được niêm yết giao dịch, trong đó nhà nước chiếm đa số vồn
Trung tâm Giao dịch chứng khoán (TTGDCK) Hà Nội đã chính thức ra đời vào
ngày 8/3/2005 TTGDCK TP.HCM vốn là nơi niêm yết và giao dịch chứng khoán của các
công ty lớn và TTGDCK Hà Nội sẽ là “sân chơi” cho các Doanh nghiệp nhỏ và vừa (với
vốn điều lệ từ 5 đến 30 tỷ đồng)
Ngày thứ nhất sau khi phát hành, cổ phần sẽ được niêm yết và mua bán trên thị trường chứng khoán (Secondary market) Nếu giá cô phần thấp hơn lúc phát hành, cỗ phần đó đã bán quá giá và nếu cao hơn cô phần đã được định giá thấp Trường hợp này có thể là dụng ý của công ty nhằm khuyến khích các cổ phần viên cho lần gây vốn tương lai
Đề được niêm yết trên thị trường chứng khoán, một công ty cần phải kinh doanh ít nhất 2 năm và có lời Vốn đầu tư tối thiêu 5 tỷ đồng Việt Nam, cần có 50 cô phần và giữ ít nhất
20% vốn đầu tư
Năm 2001: Cơn sốt vào năm 2001 chỉ số VN-Index cao nhất đạt 571,04 điểm sau 6
tháng đầu năm nhưng chỉ trong vòng chưa đây 4 tháng, từ tháng 6 đến tháng 10, các cổ
phiếu niêm yết đã mắt giá tới 70% giá trị, chỉ số VN-Index sụt từ 571,04 điểm vào ngày 25/4/2001 xuống chỉ còn khoảng 200 điểm vào tháng 10/2001
Trong năm 2003: Lần đầu tiên, giá cổ phiếu niêm yết đã giảm xuống dưới 10 nghìn đồng/cổ phiếu - mệnh giá quy định Suốt trong 4 tháng liền, cổ phiếu BBC điểm rơi thấp nhất là 7 nghìn đồng/cô phiếu Tuy nhiên, năm 2003 được coi là năm được mùa của trái phiếu Trong khi với khoảng 24,8 tỷ trái phiếu tương đương với giá trị giao dịch hơn
2.483,4 tỷ đồng (chiếm 83,2% giá trị toàn thị trường).